1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận định môn Luật Hình Sự phần chung (có đáp án chi tiết theo 4 cụm) Năm 2022

43 65 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận Định Môn Luật Hình Sự Phần Chung (Có Đáp Án Chi Tiết)
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHẬN ĐỊNH MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG (CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT) 2022 CỤM 1 1 Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Sai Vì đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là QHXH phát sinh giữa NN và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm Còn QHXH được luật hình sự bảo vệ là các quan hệ xã hội được quốc gia tuyên bố bảo vệ trước sự xâm hại của tội phạm Các quan hệ này khi bị xâm phạm sẽ trở thành khách thể của tội phạm 2 Đối tượng điều chỉnh luật hình sự. Cụm 1, cụm 2, cụm 3, cụm 41. Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Sai. Vì đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là QHXH phát sinh giữa NN và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm. Còn QHXH được luật hình sự bảo vệ là các quan hệ xã hội được quốc gia tuyên bố bảo vệ trước sự xâm hại của tội phạm. Các quan hệ này khi bị xâm phạm sẽ trở thành khách thể của tội phạm 2. Đối tượng điều chỉnh luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện. Sai. Vì khi có một tội phạm được thực hiện sẽ phát sinh nhiều quan hệ xã hội (quan hệ dân sự, quan hệ hành chính, ...). Trong khi luật hình sự chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm, hay còn gọi là quan hệ pháp luật hình sự. Ví dụ: Khi cá nhân phạm tội mà đang đi học thì cơ quan điều tra sẽ gửi giấy về nhà trường -> nhà trường sẽ gửi giấy buộc thôi học cho tội phạm đó -> không nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật hình sự. 3. Việc thực hiện hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự. Đúng - Sửa lần 1: Đúng. Vì sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự là hành vi phạm tội đã thực hiện trên thực tế. Hành vi phạm tội có thể do nhiều ngành luật điều chỉnh khác nhau, trong đó có luật hình sự. 4. Người phạm tội và người bị hại có quyền thoả thuận với nhau về mức độ chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Sai. Xuất phát từ phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là phương pháp quyền uy – phục tùng. Trong đó Nhà nước buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện. Vì thế, không có sự thỏa thuận nào trong TNHS giữa người phạm tội và người bị hại. 5. Bãi nại của người bị hại là căn cứ pháp lý có giá trị bắt buộc làm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự. 3 / 43 Sai Bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên không phải mọi các hành vi phạm tội đều không bị xử lí hình sự khi có bãi nại. Căn cứ vào Điều 155 BLTTHS 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại (hoặc đại diện người bị hại) đối với 10 tội danh được quy định điều luật này quy định. Vì thế, bãi nại chỉ có giá trị pháp lí bắt buộc làm chấm dứt quan hệ PL hình sự đối với một số tội danh do luật định mà thôi. Cơ sở pháp lý: Điều 155 BLTTHS 2015 6. Quan hệ pháp luật hình sự chỉ là quan hệ xã hội giữa nhà nước và người phạm tội khi có một tội phạm thực hiện. Sai. Vì trong một số trường hợp thì chỉ khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại (hoặc đại diện của người bị hại). Khi đó, quan hệ pháp luật hình sự còn là quan hệ xã hội giữa người bị hại, nhà nước và ngừoi phạm tội khi có một hành vi được thực hiện. 7. Trong Phần thứ hai (Các tội phạm) của Bộ luật hình sự năm 2015, mỗi điều luật quy định một quy phạm pháp luật hình sự. Đúng - Sửa lần 1: Sai. Vì: + Có thể có trường hợp 1 điều luật quy định 2 hay nhiều tội phạm cụ thể. + Ví dụ như tại Điều 124 BLHS qui định 2 tội phạm cụ thể khác nhau là tội vứt bỏ con mới đẻ và tội giết con mới đẻ. 8. Phần quy định trong quy phạm pháp luật tại Khoản 1 Điều 259 BLHS là loại quy định viện dẫn. Đúng Vì điều luật này có nội dung không được thể hiện ngay trong điều luật mà được chỉ dẫn sang điều luật khác, cụ thể ở đây là Chương XX BLHS. Phân tích lại- Quy định Đ 299 có giải thích người có trách nhiện trong quản lý chất ma tuý? – đây là viện dẫn - Sửa lần 1: Đúng. + Vì quy định viện dẫn là quy định nêu ra tội phạm nhưng muốn xác định các dấu hiệu của nó thì phải xem xét thêm các quy định khác của PL. Như vây, qui định tại khoản 1 Điều 259 BLHS về tội vi

Trang 1

NHẬN ĐỊNH MÔN LUẬT HÌNH SỰ

PHẦN CHUNG (CÓ ĐÁP ÁN CHI TIẾT)

2022

Trang 2

2 Đối tượng điều chỉnh luật hình sự là tất cả các quan hệ xã hội phát sinh khi có một tội phạm được thực hiện

Sai

Vì khi có một tội phạm được thực hiện sẽ phát sinh nhiều quan hệ xã hội (quan hệ dân sự, quan hệ hành chính, …) Trong khi luật hình sự chỉ điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm, hay còn gọi là quan hệ pháp luật hình sự

Ví dụ: Khi cá nhân phạm tội mà đang đi học thì cơ quan điều tra sẽ gửi giấy về nhà trường -> nhà trường sẽ gửi giấy buộc thôi học cho tội phạm đó -> không nằm trong sự điều chỉnh của pháp luật hình sự

3 Việc thực hiện hành vi phạm tội là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự

Đúng

- Sửa lần 1: Đúng Vì sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật

hình sự là hành vi phạm tội đã thực hiện trên thực tế Hành vi phạm tội có thể do nhiều ngành luật điều chỉnh khác nhau, trong đó có luật hình sự

4 Người phạm tội và người bị hại có quyền thoả thuận với nhau

về mức độ chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội

Sai

Xuất phát từ phương pháp điều chỉnh của luật hình sự là phương pháp quyền

uy – phục tùng Trong đó Nhà nước buộc người phạm tội phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện Vì thế, không có sự thỏa thuận nào trong TNHS giữa người phạm tội và người bị hại

5 Bãi nại của người bị hại là căn cứ pháp lý có giá trị bắt buộc làm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự

Trang 3

Sai

Bãi nại được hiểu là rút yêu cầu khởi kiện Tuy nhiên không phải mọi các hành vi phạm tội đều không bị xử lí hình sự khi có bãi nại Căn cứ vào Điều 155 BLTTHS 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại (hoặc đại diện người bị hại) đối với 10 tội danh được quy định điều luật này quy định Vì thế, bãi nại chỉ có giá trị pháp lí bắt buộc làm chấm dứt quan hệ PL hình

sự đối với một số tội danh do luật định mà thôi

Cơ sở pháp lý: Điều 155 BLTTHS 2015

6 Quan hệ pháp luật hình sự chỉ là quan hệ xã hội giữa nhà nước

và người phạm tội khi có một tội phạm thực hiện

Sai

Vì trong một số trường hợp thì chỉ khởi tố vụ án hình sự khi có yêu cầu của người bị hại (hoặc đại diện của người bị hại) Khi đó, quan hệ pháp luật hình sự còn là quan hệ xã hội giữa người bị hại, nhà nước và ngừoi phạm tội khi

có một hành vi được thực hiện

7 Trong Phần thứ hai (Các tội phạm) của Bộ luật hình sự năm

2015, mỗi điều luật quy định một quy phạm pháp luật hình sự

Trang 4

phạm quy định về quản lý chất ma tuý, tiền chất, thuốc nghiện, thuốc hướng thần Và quy định được xem xét thêm là tại Chương

đa và tối thiểu là từ 3 đến 10 năm tù nên đây là chế tài tương đối dứt khoác

12 BLHS Việt Nam chỉ có hiệu lực áp dụng đối với hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam

Vì Tội phạm được xem là thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam khi tội phạm

ấy có một giai đoạn được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam Nghĩa là tội phạm

đó có thể được thực hiện trọn vẹn trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc bắt đầu hoặc diễn ra hoặc kết thúc trên lãnh thổ Việt Nam

14 Một số điều luật của BLHS năm 2015 được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điệu luật đó có hiệu lực thi hành

Đúng

Vì trong trường hợp có lợi cho người phạm tội thì BLHS 2015 được áp dụng đối với các hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều lực đó có hiệu lực thi hành

Trang 5

CSPL: Đ7.3 BLHS 2015

Phân tích lại

- Sửa lần 1: Đúng Vì trong trường hợp có lợi cho người phạm tội thì

BLHS 2015 được áp dụng đối với các hành vi phạm tội đã được thực hiện trước khi điều lực đó có hiệu lực thi hành

+ CSPL: Đ7.3, Đ7.2 BLHS 2015

15 BLHS năm 2015 không được áp dụng đối với hành vi phạm tội

do người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Sai

Vì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm HS theo BLHS VN trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều quốc tế mà công cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Trong trường hợp xảy ra trên tàu biển tàu bay không mang quốc tịch Việt Nam thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo bộ luật này nếu điều ước quốc tế nước Việt Nam là thành viên có quy định

CSPL: Đ6.2, Đ6.3 BLHSVN

- Sửa lần 1: Sai Vì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm HS theo BLHS VN

trong trường hợp hành vi phạm tội xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc theo quy định của điều quốc tế mà công cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

+ CSPL: Đ6.2 BLHS

16 BLHS năm 2015 có thể được áp dụng đối với hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam

Đúng

Vì có thể được áp dụng trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định

CỤM 2

Trang 6

1 Căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 BLHS là mức hình phạt do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội

3 Mọi tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định là phạt tiền thì đều là tội phạm ít nghiêm trọng

Sai

Vì trường hợp nếu là pháp nhân phạm tội ví dụ tội sản xuất, buôn bán hàng cấm, theo khoản 5 Điều 190 thì mức cao nhất trong khung hình phạt tại các điểm

a, b, c đều là phạt tiền; tuy nhiên loại tội phạm lại khác nhau, theo điểm b khoản

5 Điều 190 thì nếu pháp nhân phạm tội theo khoản 2 điều luật này sẽ bị phạt tiền

từ 3.000.000.000 đến 6.000.000.000 nhưng loại tội phạm ở đây không phải là tội phạm ít nghiêm trọng, vì theo khoản 2 Điều 190 mức cao nhất trong khung hình phạt là phạt 10 năm tù nên theo điểm b khoản 1 điều 9 BLHS là tội phạm nghiêm trọng

4 Trong một tội danh luôn có cả ba loại cấu thành tội phạm: cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng và cấu thành giảm nhẹ

Sai

Vì trong một tội danh có thể không có đủ 3 loại cấu thành tội phạm, ví dụ Điều 108 quy định về tội phản bội tổ quốc thì chỉ có 2 loại cấu thành tội phạm là cấu thành cơ bản và cấu thành giảm nhẹ

Trang 7

5 Trong cấu thành tội phạm giảm nhẹ không có dấu hiệu định tội

Sai

Vì cấu thành tội phạm giảm nhẹ bao gồm cấu thành tội phạm cơ bản và định khung giảm nhẹ, mà trong cấu thành tội phạm cơ bản thì luôn có dấu hiệu định tội

6 Một tội phạm mà trên thực tế chưa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội là tội phạm có cấu thành hình thức

Sai

Vì cấu thành tội phạm hình thức hay vật chất được xác định theo tội phạm

mà điều luật quy định chứ không dựa vào tình huống thực tế Cụ thể theo khoản

1 Điều 132 tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, loại cấu thành tội phạm được xác định là cấu thành vật chất, thì trong bất

cứ trường hợp nào nó vẫn là vật chất, ví dụ A thấy B đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, A có đủ điều kiện cứu giúp nhưng không cứu và có một anh

C nào đó đã cứu B thì trên thực tế tuy không có hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng trường hợp của A vẫn là cấu thành tội phạm vật chất

7 Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội mà luật hình sự

có nhiệm vụ điều chỉnh

Sai

Vì khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội mà luật hình sự có nhiệm

vụ bảo vệ

Bổ sung phân tích – qhxh LHS điều chỉnh là gì?

- Sửa lần 1: Sai Vì khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội mà luật

hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chứ không phải là điều chỉnh, đây là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau

8 Mỗi tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp

Đúng

Vì khách thể trực tiếp của tội phạm là “quan hệ xã hội cụ thể” được pháp luật hình sự bảo vệ và bị “một tội phạm cụ thể” trực tiếp xâm hại

Trang 8

- Sửa lần 1: Sai Vì mỗi tội phạm có thể có nhiều hơn một khách thể trực

tiếp, ví dụ đối với tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS thì khách thể trực tiếp của tội phạm bao gồm cả quyền tài sản và quyền được bảo vệ sức khỏe

9 Mọi tội phạm, suy cho cùng, đều xâm hại đến khách thể chung

Đúng

Vì tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 8 là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm một cách cố ý hoặc vô ý đến các quan hệ xã hội được quy định tại khoản 1 Điều này, mà những quan hệ xã hội đó chính là khách thể chung

10 Một tội phạm nếu trên thực tế đã làm cho đối tượng tác động của tội phạm tốt hơn so với tình trạng ban đầu thì không bị coi là gây thiệt hại cho xã hội

Trả lời: Nhận định này Sai Vì việc xâm hại các quan hệ xã hội bằng cách

tác động đến các đối tượng tác động không có nghĩa là các đối tượng tác động

đó luôn luôn bị thiệt hại cùng các quan hệ xã hội Có những trường hợp trong

đó đối tượng tác động không rơi vào tình trạng xấu hơn trước khi phạm tội xảy

ra

Ví dụ: Kẻ trộm cắp tài sản thường không gây hư hỏng cho đối tượng tác động mà còn có những biện pháp bảo vệ giá trị vật chất của tài sản đã chiếm đoạt để mang đi tiêu thụ

11 Mọi hành vi phạm tội đều gây thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm

Trả lời: Nhận định sai Mọi hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình

thường của đối tượng tác động đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm Nhưng không phải mọi hành vi phạm tội đều gây thiệt hại cho đối tượng tác động của tội phạm Trong nhiều trường hợp, hành vi phạm tội gây thiệt hại cho khách thể nhưng không làm xấu đi tình trạng của đối tượng tác động so với trước khi bị tác động

VD: Anh H trộm xe máy có giá trị 20 triệu đồng của chị N Hành vi này làm biến đổi tình trạng bình thường của chiếc xe nhưng khi H mang về, cất đi

và không làm xe bị hư hỏng, không gây thiệt hại cho đối tượng

12 Đối tượng tác động của tội phạm là đối tượng điều chỉnh của luật hình sự

Trang 9

Trả lời: Nhận định sai Vì đối tượng tác động của tội phạm là 1 bộ phận

của khách thể của tội phạm, khi hành vi phạm tội tác động đến sẽ gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Đối tượng điều chỉnh cũa luật hình sự là quan hệ xã hội phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm

13 Đối tượng tác động của tội phạm luôn là đối tượng vật chất cụ thể

Trả lời: Nhận định sai Khách thể chung của tội phạm là thống nhất đối

với tất cả các tội phạm Vì các QHXH được luật hình sự bảo vệ là những quan

hệ hữu cơ, luôn có sự tương tác, tác động lẫn nhau, tác động lên quan hệ này cũng sẽ tác động đến quan hệ kia, do đó mỗi hành vi phạm tội, khi xâm phạm đến bất kỳ QHXH cụ thể nào đều trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến khách thể chung

- Sửa lần 1: Nhận định sai Đối tượng tác động của tội phạm bao gồm

các dạng sau đây: Con người đối với tội phạm xâm phạm tính mạng,

sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; Các vật thể như tài sản, phương tiện thuộc quyền sở hữu hợp pháp của con người; Sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội

14 Mọi hành vi phạm tội được thực hiện đều gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm

Trả lời: Nhận định đúng Khi xâm phạm khách thể bao giờ cũng tác động

đến đối tượng nhất định Đối tượng tác động của tội phạm là những phần trong khách thể của tội phạm mà khi tác động đến nó người phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho khách thể

15 Phương tiện phạm tội của Tội đua xe trái phép (Điều 266 BLHS) là

xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ

16 Mọi xử sự của con người gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho

xã hội đều được coi là hành vi khách quan của tội phạm

Trả lời:

Nhận định sai.Mọi xử sự cụ thể của con người được thể hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệc

Trang 10

hại cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ mới được xem là hành vi khách quan của tội phạm

Để một hành vi được xem là hành vi khách quan của tội phạm thì phải hội

tụ đủ các điều kiện sau:

+ Phải có tính nguy hiểm cho xã hội

+ Phải là hành vi trái pháp luật

hệ xã hội và cùng bị chi phối bởi một ý định phạm tội cụ thể, thống nhất Tức là

ở trường hợp này, hành vi phạm tội của người phạm tội là sự tổng hợp của nhiều hành vi cụ thể Ví dụ như hành vi mua vét hàng hóa trong tội đầu cơ (Điều 196 BLHS) có thể bao gồm từ nhiều hành vi mua vét hàng hóa cụ thể, xảy ra kế tiếp nhau

Còn phạm tội nhiều lần là trường hợp thực hiện một tội phạm mà trước đó chủ thể đã phạm tội đó ít nhất một lần và chưa bị xét xử

18 Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu luôn được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản

Trả lời:

Nhận định sai Hậu quả của tội phạm đúng là được quy định trong CTTP

cơ bản nhưng không phải là dấu hiệu luôn được quy định trong mọi CTTP cơ bản Vì hậu quả của tội phạm chỉ là điều kiện phải có trong cấu trúc mặt khách quan của CTTP vật chất, không có trong cấu trúc mặt khách quan của CTTP hình thức

Ví dụ: Đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193 BLHS 2015) thì CTTP cơ bản đối với tội này là người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực

phẩm mà không đề cập gì đến hậu quả của tội phạm – Nên lấy ví dụ 1 tội phạm phổ biến, thông dụng như Tội cướp ts, cướp giật ts, hiếp dâm

19 Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu định tội đối với tội phạm có cấu thành hình thức

Trả lời:

Nhận định sai

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu định tội đối với tội phạm có cấu thành vật chất chứ

Trang 11

không phải cấu thành hình thức Vì ở CTTP hình thức, cấu trúc mặt khách quan chỉ có hành vi nguy hiểm, không cần có hậu quả và mối quan hệ nhân quả

Ví dụ: Đối với Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193 BLHS 2015) thì dấu hiệu định tội của tội này là người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm mà không đề cập gì đến hậu quả của tội phạm hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Nên lấy ví dụ 1 tội phạm phổ biến, thông dụng như Tội cướp ts, cướp giật ts, hiếp dâm

20 Người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trả lời:

Nhận định sai.Theo quy định tại Điều 21 BLHS 2015 thì người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì mới không phải chịu TNHS Tức là nếu bị bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì vẫn phải chịu TNHS

Ví dụ: A được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần nhưng vẫn còn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Trong một lần cãi vã với vợ mình là B, A trong cơn nóng giận đã xô ngã vợ mình khiến chị đập đầu vào cạnh bàn và tử vong Trường hợp này A vẫn phải chịu TNHS, tình tiết A mắc bệnh tâm thần có thể được đưa vào làm tình tiết giảm nhẹ

CSPL: Điều 21 BLHS 2015

21 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Trả lời:

Nhận định này Sai Vì theo Khoản 2 Điều 12 BLHS: “2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134,

141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251,

252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.” Như vậy chỉ khi thuộc trường hợp tại các điều quy định tại khoản 2 Điều 12 BLHS thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

22 Người 15 tuổi thực hiện hành vi được quy định tại Khoản 2 Điều

128 BLHS thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trả lời:

Đúng Vì khoản 2 Điều 128 BỘ LUẬT HÌNH SỰmức tối đa của khung hình phạt là 10 năm tù, căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 9 đây là tội phạm rất

Trang 12

nghiêm trọng hưng lại không thuộc một trong các điều quy định tại khoản 2 điều 12 nên người 15 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự

23 Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với người bị hại

Trả lời:

Sai.Vì Lỗi là thái độ tâm lý của 1 người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

24 Xử sự của một người được coi là không có lỗi nếu gây thiệt hại cho

xã hội trong trường hợp không có tự do ý chí

Trả lời:

Nhận định này Đúng Vì người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội

bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi có

đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội Như vậy, xử sự của 1 người được coi là không có lỗi nếu gây thiệt hại cho xã hội trong trường hợp không có tự do ý chí

25 Nhận thức được hậu quả cho xã hội tất yếu xảy ra là nội dung của lỗi cố ý gián tiếp

- Sửa lần 1: Sai Vì việc nhận thức được hậu quả cho xã hội tất yếu xảy

ra có nghĩa là nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả chắc chắn xảy ra của hành vi đó Nên theo khoản 1 Điều 10 BLHS thì nhận thức được hậu quả cho xã hội tất yếu xảy ra là nội dung của lỗi cố ý trực tiếp

26 Người bị cưỡng bức thân thể thì không phải chịu trách nhiệm hình

sự về xử sự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLHS

Trả lời:

Đây là nhận định sai Vì người bị cưỡng bức thân thể vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về xử sự gây ra thiệt hại cho xã hội Căn cứ vào điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 thì “Phạm tội vì bị người khác đe dọa và cưỡng bức” chỉ được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS

Trang 13

- Sửa lần 1: Sai Vì việc người bị cưỡng bức thân thể có xử sự gây thiệt

hại cho xã hội không thỏa một trong các căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 29 BLHS Và việc phạm tội vì bị người khác cưỡng bức chỉ được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm k khoản 1 Điều 51 BLHS

Phân tích lại- xem lý thuyết “cưỡng bức thân thể” và trả lời câu hỏi có

phải chịu TNHS không?

27 Người bị cưỡng bức về tinh thần thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về xử sự gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong BLHS

Trả lời:

Nhận định Sai Vì:

Nếu người bị cưỡng bức không hoàn toàn bị tê liệt về ý chí, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điểm k Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị đe dọa hay cưỡng bức chỉ được xem là một yếu tố để giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Tại Điểm a Khoản 1 Điều 29 Bộ Luật hình sự đã quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, trường hợp bị cưỡng bức về tinh thần dẫn đến việc phạm tội không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật

28 Tuổi chịu TNHS là tiền đề để xác định lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội

Trả lời:

Đúng.Vì Chỉ khi một người đạt đến một độ tuổi nhất định (do luật quy định) thì người này mới có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân Từ đó, vấn đề “lỗi” mới được đặt ra nếu người này đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự

29 Trong mọi trường hợp sai lầm về pháp luật, người thực hiện hành

vi không phải chịu trách nhiệm hình sự

- Sửa lần 1: Sai Vì: Tùy vào tính chất khác nhau của từng loại sai lầm

mà mức độ, giới hạn trách nhiệm hình sự cũng khác nhau Người có hành vi có tính gây thiệt hại hiểu lầm hành vi của mình là hành vi phạm tội nhưng thực tế luật không quy định hành vi đó là tội phạm Trường

Trang 14

hợp này là trường hợp không có hành vi phạm tội và vấn đề trách nhiệm hình sự không được đặt ra Người có hành vi có tính gây thiệt hại cho rằng hành vi của mình không phải là hành vi phạm tội nhưng thực tế luật quy định hành vi đó là tội phạm Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại vẫn có lỗi nếu họ nhận thức được hoặc

có thể nhận thức được tính gây thiệt hại cho xã hội của hành vi của mình vì dấu hiệu có lỗi không đòi hỏi chủ thể phải nhận thức được tính trái pháp luật hình sự của hành vi

Ví dụ: A đi săn trong rừng, thấy B bị thương nhưng không cứu giúp Vì A nghĩ B bị thương không phải A làm dẫn đến B mất máu quá nhiều mà chết Vậy

A vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không cứu giúp người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng

CỤM 3:

1 Mọi trường hợp biểu lộ ý định phạm tội đều không bị xử lý theo pháp luật hình sự

Trả lời: Sai Vì người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho bị đe

doạ sợ rằng việc đe doạ sẽ được thực hiện thì đã bị xử lý theo pháp luật hình sự

về tội đe doạ giết người

CSPL: Khoản 1 điều 133 BLHS năm 2015

2 Mức độ thực hiện tội phạm là một trong những căn cứ ảnh hưởng đến mức độ TNHS

Trả lời: Đúng Vì trách nhiệm hình sự của phạm tội chưa đạt và chuẩn bị

phạm tội nhẹ hơn so với phạm tội hoàn thành

CSPL: điều 57 BLHS 2015

3 Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức thì không có giai đoạn phạm tội chưa đạt

Trả lời: Sai Vì cấu thành tội phạm hình thức nhiều hành vi thì vẫn có giai

đoạn phạm tội chưa đạt nếu chưa thoả mãn dấu hiệu định tội Ví dụ, tội hiếp dâm thì khi người này dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để giao cấu trái với ý muốn nạn nhân nhưng chưa giao cấu được thì đã bị bắt thì cũng là giai đoạn phạm tội chưa đạt

CSPL: khoản 1 điều 141 BLHS 2015

Bổ sung phân tích

- Sửa lần 1: Nhận định này là sai Vì cấu thành tội phạm hình thức nhiều

hành vi thì vẫn có giai đoạn phạm tội chưa đạt nếu chưa thoả mãn dấu

Trang 15

hiệu định tội Nếu người phạm tội chưa thực hiện hết tất cả các hành vi

mà dừng lại do nguyên nhân khách quan thì được coi là phạm tội chưa đạt theo Điều 15 BLHS năm 2015 Ví dụ, tội hiếp dâm thì khi người này dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực để giao cấu trái với ý muốn nạn nhân nhưng chưa giao cấu mà bị bắt giữ thì trường hợp này là giai đoạn phạm tội chưa đạt

CSPL: khoản 1 điều 141 BLHS 2015

4 Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hết hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm

Trả lời: Nhận định này là đúng Tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thoả hết các dấu hiệu mô tả trong cấu thành tội phạm

5 Tội phạm có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành từ thời điểm

có hậu quả của tội phạm xảy ra

Trả lời: Sai Vì tội phạm có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi

người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây hậu quả của tội phạm

Bổ sung phân tích

- Sửa lần 1: Nhận định này là sai Vì tội phạm có cấu thành vật chất được

coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi cho là cần thiết để gây hậu quả của tội phạm Theo quy định tại điều 123

BLHS năm 2015 thì các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm bao gồm hành vi giết người , hậu quả chết người và mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Do vậy tội giết người có cấu thành tội phạm vật chất Vậy khi xảy ra hậu quả chết người thì tội phạm mới ở giai đoạn tội phạm hoàn thành, nếu hậu quả chết người không xảy ra thì tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm chưa đạt

Phân tích lại câu này – xem thời điểm hoàn thành trong CTTP vật chất?

6 Thời điểm tội phạm kết thúc có thể xảy ra trước khi tội phạm hoàn thành

Trả lời: Đúng Ví dụ về hành vi của Lê Văn Luyện với bé gái 8 tuổi nếu

em bé không may mắn thiệt mạng, thời điểm tội phạm kết thúc là Lê Văn Luyện thực hiện xong hành vi và bỏ đi, còn thời điểm tội phạm hoàn thành là khi em

bé này chết

Bổ sung phân tích dựa vào lý luận Xác định thời điểm tội phạm hoàn

thành, thời điểm tội phạm kết thúc

Trang 16

- Sửa lần 1: Đúng Ví dụ về hành vi của Lê Văn Luyện với bé gái 8 tuổi

trong vụ án Giả sử hắn dùng hung khí chém liên tiếp làm nạn nhân tử vong sau đó rời khỏi hiện trường Vậy thời điểm tội phạm kết thúc là Lê Văn Luyện thực hiện xong hành vi và bỏ đi, còn thời điểm tội phạm hoàn thành là khi em bé này chết

7 Thời điểm tội phạm kết thúc có thể xảy ra sau khi tội phạm hoàn thành

Nhận định đúng

Thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm tội phạm đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP.Thời điểm tội phạm kết thúc là thời điểm mà hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt trên thực tế.Như vậy, thời điểm tội phạm hoàn thành và thời điểm tội phạm kết thúc có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau.Tội phạm

có thể kết thúc ở thời điểm nào đó thuộc giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc giai đoạn phạm tội chưa đạt hoặc có thể trùng thời điểm tội phạm hoàn thành, nhưng cũng có thể xảy ra sau thời điểm tội phạm hoàn thành

8 Thời điểm tội phạm hoàn thành là thời điểm hành vi phạm tội

đã thực sự chấm dứt trên thực tế

Nhận định sai Thời điểm tội phạm hoàn thành của tội phạm được xác định

là thời điểm người phạm tội thực hiện hết các hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm

Mặt khác, thời điểm hành vi phạm tội đã thực sự chấm dứt trên thực tế là thời điểm tội phạm kết thúc

9 Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là trường hợp không

bị coi là tội phạm

Nhận định sai Người phạm tội chỉ được miễn TNHS về tội định phạm, nhưng nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đầy đủ các yếu tố của một tội khác thì người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội vẫn phải chịu TNHS về tội này Ví dụ: Một người mua một quả lựu đạn để giết người, mặc dù người này tự

ý nửa chừng chấm dứt việc giết người thì anh ta vẫn phải chịu TNHS về hành vi mua bán trái phép vũ khí quân dụng

CSPL: Điều 16 BLHS 2015

Trang 17

11 Mọi trường hợp có từ hai người bất kỳ trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm

Nhận định sai Vì có trường hợp có hai người trở lên cùng thực hiện một tội phạm nhưng chỉ có một người đủ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS thì không phải là đồng phạm mà lạ tội đơn lẻ

CSPL: Khoản 1 Điều 17 BLHS 2015, Điều 12 BLHS, ĐIều 21 BLHS

12 Mọi trường hợp có từ hai người trở lên cố ý thực hiện một tội phạm là đồng phạm

Nhận định sai Nếu có nhiều người thực hiện tội phạm những giữa họ không có liên kết với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để cùng thực hiện một tội phạm thì những người này không phảu là đồng phạm mà chỉ là những trường hợp phạm tội đơn lẻ

13 Hành vi của mỗi người đồng phạm đều là nguyên nhân trực tiếp đưa đến hậu quả chung của tội phạm

Nhận định đúng Khi các đồng phạm đều là người trực tiếp thực hiện hành

vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm- đồng phạm giản đơn thì hành vi của mỗi người đồng phạm đều là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả chung của tội phạm

- Sửa lần 1: Nhận định sai Khi có sự phân công vai trò giữa những người

“cùng thực hiện tội phạm” (có người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục, người thực hành) thì chỉ hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh hậu quả chung; còn hành vi của những người con khác thì thông qua hành vi của người thực hành mà gây ra hậu quả

đó, hay nói cách khách, hành vi của người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục là nguyên nhân gián tiếp đưa đến hậu quả chung

14 Bàn bạc thoả thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm là dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm

Nhận định sai Sai Vì theo LHS VN có 2 hình thức đồng phạm dựa vào dấu hiệu chủ quan, đồng phạm được phân chia :

Đồng phạm có thông mưu trước

Đồng phạm không có thông mưu trước

Trong hình thức đồng phạm có thông mưu trước có sự bàn bạc thoả thuận trước về việc cùng thực hiện tội phạm giữa những người cùng phạm tội còn trong đồng phạm không có thông mưu trước thìn không có dấu hiệu này hoặc có nhưng không đáng kể

15 “Cùng mục đích” là dấu hiệu bắt buộc của đồng phạm

Nhận Định đúng Vì “cùng mục đích” phạm tội khi những người tham gia thực hiện tội phạm biết rõ và tiếp nhận mục đích của nhau Nếu cấu thành

tội phạm quy định “cùng mục đích” là dấu hiệu bắt buộc , nhưng những người

Trang 18

tham gia thực hiện tội phạm không có chung mục đích thì không phải là đồng phạm

- Sửa lần 1: Nhận định Sai Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ

quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khithực hiện 1 tội phạm Trong quá trình cố ý cùng thực hiện 1 tội phạm, mục đích phạm tội của mỗi người đồng phạmcó thể khác nhau Đối với những tội phạm không quy định mục đích là dấu hiệu định tội thì cácđồng phạm không buộc phải có chung dấu hiệu “cùng mục đích” Như vậy, dấu hiệu mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với người phạm tội trong mọi trường hợp

16 Đối với những tội phạm có chủ thể đặc biệt, những người đồng phạm buộc phải có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt

Bổ sung phân tích

Xem trong Giáo trình

- Sửa lần 1: Nhận định sai Đối với những tội phạm đòi hỏi dấu hiệu chủ

thể đặc biệt thì (những) người thực hành phải có đủ dấu hiệu của chủ thể đặc biệt đó Nếu không, họ chỉ có thể là người giúp sức, hoặc cá biệt họ

có thể phạm tội khác Người tổ chức, người giúp sức, người xúi giucj không buộc phải có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt

17 Người thực hành chỉ là người tự mình thực hiện hành vi phạm tội

Nhận định sai

Theo khoản 3 Điều 17 BLHS 2015 quy định về người thực hành như sau:

“Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.”

Người thực hành được hiểu với 2 dạng sau:

Dạng thứ nhất, người thực hành là người tự mình trực tiếp thực hiện toàn

bộ hoặc một phần hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm

Dạng thứ hai, người thực hành là người không tự mình trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà có hành vi cố ý tác động đến người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm

Vậy, người thực hành “không chỉ” là tự mình thực hiện hành vi phạm tội,

mà người tác động đến người khác để thực hiện hành vi phạm tội cũng được coi

Trang 19

nhân trực tiếp gây ra hậu quả tác hại, xác định những yếu tố khách quan cấu thành tội phạm của đông phạm Và với nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự chung “Tất cả những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã gây ra”, do đó việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm trong đồng phạm phải căn cứ vào hành vi của người thực hành

19 Giúp sức để kết thúc tội phạm vào thời điểm sau khi tội phạm hoàn thành là đồng phạm

Nhận định đúng

Vì căn cứ vào khoản 3 Điều 17 BLHS 2015 quy định thì: “Người giúp sức

là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”

Hành vi giúp sức cho tội phạm có thể được thực hiện khi tội phạm đã bắt đầu và chưa kết thúc Việc giúp sức để kết thúc tội phạm vào thời điểm tội phạm đã hoàn thành là điệu kiện để hành vi giúp sức của người giúp sức trở thành đồng phạm

20 Hành vi giúp sức trong đồng phạm phải được thực hiện trước khi người thực hành bắt tay vào việc thực hiện tội phạm

Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa

những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 2 Điều 17 BLHS 2015)

Ta có thể thấy trong thực tiễn, có những trường hợp là đồng phạm phức tạp nhưng không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm

Trang 20

thì đó không phải là phạm tội có tổ chức Thậm chí có những trường hợp phạm tội có tổ chức nhưng tất cả những người phạm tội đều là người thực hành thì cũng không phải là đồng phạm phức tạp mà là đồng phạm giản đơn Vậy đồng phạm phức tạp không phải lúc nào cũng là phạm tội có tổ chức

22 Những người đồng phạm khác phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm do người thực hành thực hiện trên thực tế

Nhận định sai

Vì nếu trên thực tế người thực hành thực hiện hành vi vượt quá thì chỉ người thực hành mới phải chịu TNPL cho hành vi đó

CSPL khoản 4 Điều 17

23 Mọi hành vi cố ý chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà

có đều coi là hành vi giúp sức trong đồng phạm

Nhận định sai

Vì người giúp sức là người hứa hẹn sẽ che dấu người phạm tội, che dấu vật chứng, tiêu thụ tài sản sau khi gây án Nếu không có sự hứa hẹn trước với người thực hành thì sẽ không được coi là người giúp sức Khi đó người đó sẽ phạm tội chưa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Cơ sở pháp lý: từ Điều 20 đến Điều 26 BLHS 2015

Bổ sung phân tích

- Sửa lần 1: Nhận định đúng Tình thế loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội

của hành vi được ghi nhận trong BLHS 2015 từ Điều 20 đến Điều 26 Theo đó, tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là một trong 2 dạng tình tiết loại trừ tính chất phạm tội (cùng với tình tiết loại trừ tính có lỗi của hành vi) Tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là những tình tiết mà với tính chất đặc biệt của mình làm cho hành vi cố ý gây thiệt hại cho người đang có hành vi xâm phạm những lợi ích và giá trị mà pháp luật bảo vệ, do đó những trường hợp này hành vi không mang tính nguy hiểm cho xã hội, tức là không còn có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể nên không bị coi là tội phạm và người thực hiện nó

Trang 21

không bị coi là người phạm tội Cơ sở pháp lý: từ Điều 20 đến Điều 26 BLHS 2015

25 Tình tiết loại trừ tính có lỗi là tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

- Sửa lần 1: Nhận định đúng Tình tiết loại trừ tính có lỗi của hành vi như:

Sự kiện bất ngờ; Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; chưa đạt độ tuổi trách nhiệm hình sự Là 1 trong 2 tình tiết loại trừ tính

chấtphạm tội của hành vi Đây chính là cơ sở pháp lý để phân định giữa tội phạm với các hành vi khôngLuật Hình sự phải là tội phạm, bảo đảm pháp lý cho ngươì dân tích cực tham gia vào việc tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình cũng như lợi ích của xã hội

+ Cơ sở pháp lý: từ Điều 20 đến Điều 26 BLHS 2015

26 Tình trạng không có năng lực TNHS là tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự

Nhận định đúng

Vì nếu người phạm tội ko có năng lực trách nhiệm hình sự (không nhận thức và không có khả năng điều khiển hành vi) thì hành vi của họ không có lỗi nên không phải chịu TNHS về hành vi đó Hơn nữa không có lỗi không là chủ thể của tội phạm

Cơ sở pháp lí: Điều 22 BLHS 2015

28 Hành vi tấn công của người không có năng lực trách nhiệm hình sự dù nguy hiểm đáng kể cho xã hội cũng không làm phát sinh quyền phòng vệ

Ngày đăng: 07/04/2022, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG - Nhận định môn Luật Hình Sự phần chung (có đáp án chi tiết theo 4 cụm) Năm 2022
MÔN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CHUNG (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w