Cuộc khảo sát cho thấy một số kết quả chính như sau: ● Xu hướng về khối lượng vận chuyển nội địa chỉ số vận chuyển hàng hóa "Chỉ số vận chuyển hàng hóa" trong kết quả tháng 10 đến tháng
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG LOGISTICS NHẬT BẢN, HÀN QUỐC
SỐ THÁNG 01/2021
THUỘC NHIỆM VỤ “Xây dựng Hệ thống cung cấp, kết nối thông tin, dữ liệu logistics
giai đoạn 2021-2025”
Hà Nội, năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH 1
TÓM TẮT 2
1 THỊ TRƯỜNG NHẬT BẢN 3
1.1 Tình hình chung 3
1.2 Vận tải và cảng biển 5
1.2.2 Vận tải đường bộ 7
1.2.3 Vận tải đường sắt 7
1.2.4 Vận tải đường hàng không 8
1.2.5 Vận tải đường biển và cảng biển 9
1.3 Các hoạt động logistics khác 10
2 THỊ TRƯỜNG LOGISTICS HÀN QUỐC 14
2.1 Tình hình chung 14
2.2 Vận tải và cảng biển 16
2.2.1 Chỉ số phụ vận tải trong CPI của Hàn Quốc 16
2.2.2 Vận tải đường bộ 16
2.2.3 Vận tải đường sắt 17
2.2.4 Vận tải hàng không 21
2.2.5 Vận tải đường biển và cảng biển 23
2.3 Các hoạt động logistics khác 26
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Chỉ số phụ về vận tải trong CPI hàng tháng của Nhật Bản năm 2020 5
Hình 2: Một đoàn tàu chở dầu của Nhật Bản 8
Hình 3: Vận chuyển dược phẩm và vật tư y tế tại Nhật Bản 12
Hình 4: Thị trường 3PL của Hàn Quốc giai đoạn 2016-2020 và dự báo đến 2025 14
Hình 5: Chỉ số phụ vận tải trong CPI của Hàn Quốc qua các tháng 16
Hình 6: Korean Air dỡ bỏ ghế ngồi trên máy bay để chuyển sang chở hàng 23
Hình 7: Kết quả xếp dỡ hàng hóa tại các cảng biển của Hàn Quốc 24
Hình 8: Cảng Busan- Hàn Quốc 26
Trang 3✓ Ngành logistics chạy đua để chuẩn bị cho Thế vận hội 2021
Bộ Đại dương và Thủy sản Hàn Quốc vừa công bố một kế hoạch 10 năm nhằm đầu tư hơn 6 tỷ USD vào việc tái phát triển hệ thống cảng trên khắp đất nước
Trang 4NỘI DUNG BÁO CÁO
Trước tình hình đó, các công ty logistics của Nhật Bản đã buộc phải đẩy nhanh hơn nữa tiến độ số hóa, tự động hóa hoạt động của mình Ví dụ, công ty
UD Trucks Corp đã thử nghiệm xe tải hạng nặng tự lái của mình trên tuyến đường được chỉ định dài 1,5 km trong và xung quanh nhà máy đường ở Shari, phía đông Hokkaido với các xe tải di chuyển với tốc độ 20 km / h, điều hướng thành công bằng cách sử dụng hệ thống định vị toàn cầu và các cảm biến hiện đại Khả năng Cấp 4 của xe tải cho phép xe thực hiện tất cả các nhiệm vụ lái xe
mà không cần sự can thiệp của con người trong một khu vực nhất định, ngay cả trong trường hợp khẩn cấp
Toyota Industries Corporation và All Nippon Airways cũng đã công bố hợp tác thử nghiệm máy kéo tự động đầu tiên của Nhật Bản tại Sân bay Saga, với kế hoạch cài đặt các tính năng tự lái tiên tiến trên xe thương mại trước khi thêm chúng vào những chiếc xe được chế tạo cho mục đích cá nhân và hiện đang nghiên cứu phát triển công nghệ lái xe tự động, robot và trí tuệ nhân tạo (AI) cho thị trường logistics của Nhật Bản
Tóm tắt kết quả của "Khảo sát tình hình vận chuyển hàng hóa ngắn hạn ở Nhật Bản (Nittsu Soken Tan-kan)" (khảo sát tháng 12 năm 2020, được công bố vào ngày 28 tháng 01 năm 2021)
Trang 5Trong cuộc khảo sát tháng 12 năm 2020, các bảng câu hỏi được gửi đến 2.500 cơ sở sản xuất và kinh doanh bán buôn lớn ở Nhật Bản và đã nhận được phản hồi từ 838 cơ sở kinh doanh Tỷ lệ phản hồi là 33,5% Cuộc khảo sát cho thấy một số kết quả chính như sau:
● Xu hướng về khối lượng vận chuyển nội địa (chỉ số vận chuyển hàng hóa)
"Chỉ số vận chuyển hàng hóa" trong kết quả tháng 10 đến tháng 12 năm
2020 cho thấy sự gia tăng đáng kể và mức tăng tiếp theo được dự báo trong tháng 1 đến tháng 3 năm 2021 Chỉ số quý IV (từ tháng 10-12) năm 2020 là âm
40, cao hơn 19 điểm so với kỳ trước (quý III năm 2020) Chỉ số cho dự báo từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2021 là âm 34, tăng thêm 6 điểm so với nhiệm kỳ hiện tại (tháng 10 đến tháng 12 năm 2020)
● Những thay đổi trong "Chỉ số vận chuyển hàng hóa" (giai đoạn 2020)
2016-Sau khi giảm vào tháng 1-tháng 3 năm 2018 và tháng 4-tháng 6 năm
2018, chỉ số này đã tăng trở lại vào tháng 7-tháng 9 năm 2018 và tháng tháng 12 năm 2018, cho thấy một "đỉnh cao kinh doanh"
10-Kết quả tháng 1 - 3 năm 2019 giảm mạnh 17 điểm và kết quả tháng 4 - 6 năm 2019 giảm mạnh 7 điểm cho thấy nền kinh tế đã xấu đi trong giai đoạn đó Mặc dù nó phục hồi 1 điểm trong kết quả tháng 7-9 năm 2019, nhưng nó lại giảm xuống trong kết quả tháng 10-12 năm 2019 do thuế tiêu dùng tăng và tiếp tục giảm trong kết quả tháng 1 đến tháng 3 năm 2020
Trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng COVID-19 khiến chỉ số này sụt giảm đáng kể Đây là mức thấp nhất sau tháng 1-tháng 3 năm 2009 (-75) và tháng 4-tháng 6 năm 2009 (-69) khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Sau đó, kết quả từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2020 đã được cải thiện hơn Chỉ số này tăng hơn nữa trong kết quả tháng 10 đến tháng 12 năm 2020 và triển vọng cho kỳ tới là từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2021 cũng khá khả quan
Khảo sát về Triển vọng Kinh tế và Vận tải hàng hóa của Nhật Bản là một cuộc khảo sát được thực hiện liên tục trong hơn 40 năm kể từ cuộc khảo sát đầu tiên vào năm 1974 Mục đích là điều tra và phân tích các xu hướng của nền kinh
tế Nhật Bản và khối lượng vận chuyển hàng hóa của hàng hóa nội địa và hàng
Trang 6hóa quốc tế của Nhật Bản; từ đó dự đoán xu hướng ngắn hạn từ sáu tháng đến một năm sắp tới
"Khảo sát ngắn hạn về dịch chuyển hàng hóa ở Nhật Bản (Nittsu Soken Tan-kan)" là một cuộc khảo sát chỉ số lan tỏa về hoạt động vận chuyển hàng hóa ở Nhật Bản Cuộc khảo sát đầu tiên được thực hiện vào tháng 10 năm 1988 với mục đích nắm bắt những xu hướng mới nhất trong lĩnh vực logistics của doanh nghiệp Kể từ đó, tiếp tục được thực hiện hai lần một năm (nửa đầu và nửa sau) và kể từ năm 2002, khảo sát này được tiến hành hàng quý Bảng câu hỏi được gửi tới 2.500 cơ sở sản xuất và kinh doanh bán buôn lớn ở Nhật Bản
và tỷ lệ trả lời xấp xỉ 30 - 40% Người trả lời được yêu cầu chọn từ ba phương
án "tăng", "giữ nguyên", "giảm" để biết kết quả thực tế (dự kiến) cho kỳ hiện tại
và dự báo cho kỳ tiếp theo đối với 6 chỉ tiêu chính (lượng hàng nội địa, phương thức vận tải, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, hàng tồn kho, cước phí và tỷ lệ chi phí phân phối) Sau đó, số lượng công ty phản hồi cho mỗi phương án được tổng hợp cho mỗi mục khảo sát và tỷ lệ trên tổng số cơ sở kinh doanh được tính toán và trình bày dưới dạng chỉ số phán đoán xu hướng
1.2 Vận tải và cảng biển
1.2.1 Tình hình chung về vận tải
Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê quốc gia Nhật Bản chỉ số phụ về vận tải trong CPI của nước này đã liên tục giảm trong 5 tháng đầu năm 2020, bắt đầu tăng trở lại từ tháng 6-tháng 8, sau đó giảm đến tháng 11/2020 Đến tháng 12/2020, nhu cầu vận chuyển hàng hóa, đi lại cuối năm gia tăng giúp chỉ số này tăng nhẹ trở lại
Hình 1: Chỉ số phụ về vận tải trong CPI hàng tháng của Nhật Bản năm 2020
Nguồn: Cơ quan Thống kê quốc gia Nhật Bản
100,5 100,1 99,9
97,9 97,5 97,8
98,6
99,1
98,6 98,5
98,3 98,6
Trang 7Trong nửa đầu năm 2020, ngoài cuộc khủng hoảng COVID-19, việc tăng thuế tiêu dùng trong năm trước đó cũng có tác động khiến lượng hàng hóa vận chuyển của tất cả các mặt hàng trong thị trường nội địa của Nhật Bản đều giảm đáng kể Mặc dù tỷ suất lợi nhuận âm dự kiến giảm phần nào trong nửa cuối năm, nhưng diễn biến chậm chạp, tập trung vào vận tải hàng hóa liên quan đến sản xuất, trong bối cảnh đầu tư vốn và sản xuất công nghiệp trì trệ Trong cả năm tài chính 2020, vận tải hàng hóa giảm khoảng 7,0%, trong khi đó vào thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009 mức giảm là 6,0%
Trong năm tài chính 2021, thị trường vận chuyển hàng hóa được dự báo
sẽ chuyển biến tích cực hơn dù mức tăng chỉ là 1,7% Sau mức giảm mạnh của năm trước, cước phí vận chuyển hàng hóa tiêu dùng sẽ tăng 3% Vận chuyển hàng hóa liên quan đến sản xuất dự kiến chỉ tăng khoảng 4%, thấp hơn nhiều so với mức trong năm 2019 Mặc dù chi tiêu cho các công trình công cộng dự kiến
sẽ tăng lên, nhưng cước vận tải liên quan đến xây dựng sẽ tiếp tục giảm khoảng 2%, do các công trình xây dựng dân dụng quy mô lớn dự kiến sẽ không được thực hiện
Bảng 1: Vận chuyển hàng hóa nội địa của Nhật Bản năm 2019, 2020
Nửa cuối năm
Cả năm
Nửa đầu năm
Nửa cuối năm
Cả năm
Trang 81.2.2 Vận tải đường bộ
Vận chuyển hàng hóa bằng xe cơ giới
Do hậu quả của cuộc khủng hoảng COVID-19, lưu thông hầu hết các mặt hàng đã giảm đáng kể và vận tải bằng xe cơ giới thương mại ước giảm 7,0% trong năm tài chính 2020
Đặc biệt, do sản xuất công nghiệp đình trệ trong khi vốn đầu tư tồn nhiều nên cước vận tải liên quan đến sản xuất giảm gần 10%
Sau sự sụt giảm mạnh trong năm trước, dự kiến vận chuyển hàng hóa bằng xe cơ giới trên đường bộ sẽ tăng 2,5% trong năm tài chính 2021 và chuyển biến tích cực lần đầu tiên sau hai năm
Vận tải hàng hóa liên quan đến tiêu dùng và vận tải liên quan đến sản xuất vẫn ổn định do sự phục hồi của tiêu dùng cá nhân, đầu tư vốn, khai thác
mỏ và sản xuất công nghiệp
Cước vận chuyển liên quan đến xây dựng vẫn ở mức thấp do việc xây dựng nhà ở diễn ra chậm chạp và các công trình xây dựng dân dụng công cộng quy mô lớn dự kiến sẽ chưa thể thực hiện theo đúng tiến độ trong năm 2021
1.2.3 Vận tải đường sắt
Khối lượng vận chuyển hàng hóa bằng container của Japan Rail (Công ty Đường sắt Nhật Bản) ước giảm 7,3% trong năm tài chính 2020, do khối lượng của hầu hết hàng hóa giảm xuống dưới mức của năm trước do suy thoái kinh tế
do cuộc khủng hoảng COVID-19 gây ra
Khi lối sống mới như làm việc từ xa trở nên phổ biến, nhu cầu sử dụng giấy và bột giấy cho các công việc in ấn tài liệu ở văn phòng cũng giảm
Thương mại và lưu thông nhóm hàng phụ tùng ô tô được kỳ vọng sẽ phục hồi vào nửa cuối năm 2021
Nhìn chung, mặc dù sản lượng vận chuyển hàng hóa bằng container của
JR dự kiến sẽ tăng 5,6% trong năm tài chính 2021, nhưng chưa thể trở lại mức của năm tài khóa 2019 Vận chuyển cũng tăng nhờ sự bổ sung của các đoàn tàu mới dành riêng cho vận tải hàng hóa
Đối với vận tải hàng hóa bằng toa xe, nhu cầu về dầu mỏ đã giảm đáng
kể do việc tự hạn chế đi ra ngoài và các hoạt động sản xuất bị hạn chế Mặc dù
có thể phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, nhưng dự kiến vận chuyển dầu sẽ tăng
Trang 91,2% trong năm tài chính 2021 do nhu cầu dầu phục hồi, đánh dấu mức tăng đầu tiên trong 4 năm kể từ năm 2017
Hình 2: Một đoàn tàu chở dầu của Nhật Bản
Vận tải hàng hóa bằng đường sắt không thuộc hệ thống của Japan Rail ước giảm 9,9% trong năm tài chính 2020, sau đó tăng tăng 4,9% trong năm tài chính 2021, chủ yếu do sự gia tăng của dầu, xi măng và đá vôi
1.2.4 Vận tải đường hàng không
a) Vận tải hàng không nội địa
Vận tải hàng không nội địa ước giảm mạnh 33,3% trong năm 2020 do nhu cầu thấp và khả năng cung cấp máy bay giảm do cuộc khủng hoảng COVID-19 Trong năm tài chính 2021, vận tải hàng hóa nội địa bằng đường hàng không được dự báo sẽ tăng 27,2%, lần đầu tiên sau 8 năm kể từ năm 2013
b) Vận tải hàng không tuyến quốc tế
Hàng không quốc tế ước giảm 11,4% trong năm 2020 sau đó tăng 12,8% trong năm tài chính 2021, chuyển sang mức dương hai con số và phục hồi về mức như trước COVID-19 (năm 2019) Các tuyến Thái Bình Dương và châu
Âu tăng khoảng 10% do COVID-19 lắng xuống và mức tăng cũng được tính trong tương quan giảm mạnh của năm trước Cước phí tăng trên các tuyến châu
Á đã mở rộng, và mặc dù mức tăng có phần chậm lại trong nửa cuối năm, nhưngsẽ tăng hai con số trong cả năm tài chính
Trang 10Doanh số vận chuyển chất bán dẫn (các bộ phận điện tử và thiết bị sản xuất) đã ổn định nhờ sự phát triển của AI, IoT và 5G
Đối với phụ tùng ô tô, nhu cầu liên quan đến vận chuyển xe điện (EV) và thiết bị điện đang tăng lên, doanh số đang mở rộng sẽ là động lực cho sự phục hồi của vận chuyển hàng không
Vận chuyển máy móc như máy móc nói chung và các bộ phận máy công
cụ sẽ dần dần tăng lên để đáp ứng nhu cầu đầu tư vốn ra nước ngoài phục hồi
Vận tải hàng không quốc tế đối với hàng nhập khẩu dự kiến ước giảm 9,4% trong năm 2020, sau đó tăng 3,4% trong năm tài chính 2021, đánh dấu chuyển biến tích cực nhất sau bốn năm Đối với nhóm hàng tiêu dùng, mức tăng doanh số mở rộng trong nửa đầu năm do tiêu dùng cá nhân và vận tải hàng hóa đang hồi phục
Việc cắt giảm thuế nhập khẩu do hiệp định thương mại mới (hiệp định EPA / RCEP Nhật-Anh) cũng là một yếu tố thúc đẩy tăng giá Đối với các mặt hàng sản xuất như linh kiện điện tử và linh kiện cơ khí bao gồm chất bán dẫn, vốn đầu tư dần hồi phục trong nửa cuối năm và chuyển biến tích cực, mặc dù giảm nhẹ
Trong số các yếu tố cản trở vận tải quốc tế, việc một số doanh nghiệp Nhật Bản sẽ từ nước ngoài trở về thị trường nội địa nhằm giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc cũng khiến các chuyến bay chở hàng quốc tế giảm và có thể được chuyển thành vận tải nội địa, nhưng bằng các phương thức khác Ngoài ra, tiến độ mua sắm các bộ phận và linh kiện trong nước cho các dự án mới có thể
sẽ không cao như kỳ vọng
Trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6/2021, dự kiến vận tải hàng không quốc tế sẽ được thúc đẩy bởi sự gia tăng khẩn cấp nhập khẩu dược phẩm và các sản phẩm y tế như vắc xin COVID-19
1.2.5 Vận tải đường biển và cảng biển
a) Vận chuyển hàng hóa ven biển
Vận tải hàng hóa bằng đường biển ước giảm 10,2% trong năm 2020, sau
đó tăng 3,9% trong năm 2021 Trong năm tài chính 2020, giá cước vận tải liên quan đến sản xuất và xây dựng được giảm mạnh Tuy nhiên, trong năm tài chính 2021, sản xuất dự kiến sẽ tăng và dự báo sẽ tăng 3,9%, mức tăng đầu tiên trong 8 năm kể từ năm 2013 Điều này chủ yếu do sự gia tăng của các sản phẩm xăng dầu, thép, sản phẩm công nghiệp hóa chất, v.v
Trang 11b) Vận chuyển container đường biển quốc tế
Xuất khẩu hàng hóa bằng container trên các tuyến đường biển quốc tế của Nhật Bản ước giảm 10,9% trong năm 2020 và tăng 6,5% trong năm 2021, chuyển biến tích cực nhưng chưa đạt mức trước COVID-19 (năm 2019) Sau khi đại dịch COVID-19 lắng xuống và sự phục hồi dần dần của nền kinh tế thế giới giúp thương mại toàn cầu tăng trưởng, xuất khẩu hàng hóa container của Nhật Bản được kỳ vọng sẽ chuyển biến tích cực lần đầu tiên sau ba năm
Nhu cầu vốn đầu tư ra nước ngoài dần hồi phục sẽ kéo theo nhu cầu vận chuyển các loại máy móc nói chung như máy xây dựng và máy công nghiệp từ giữa năm 2021 Đối với phụ tùng ô tô, xu hướng phục hồi của thị trường ô tô toàn cầu đang mở rộng và hoạt động vận tải hàng hóa ngày càng sôi động Các Hiệp định thương mại mới (Anh-Nhật EPA và RCEP- Hiệp định Đối tác Kinh
tế Toàn diện Khu vực ở Đông Á) được kỳ vọng sẽ thúc đẩy và hỗ trợ xuất khẩu sang châu Âu và châu Á
Nhập khẩu bằng container đường biển quốc tế dự kiến ước giảm 3,6% trong năm 2020 và tăng 2,5% trong năm 2021 Tác động gây giảm đột ngột của việc tăng thuế tiêu dùng lên tiêu dùng cá nhân sẽ giảm dần và xu hướng phục hồi đang mở rộng Trước tình hình này, nhập khẩu hàng tiêu dùng được dự báo
sẽ chuyển động tích cực từ nửa đầu năm Đầu tư vốn hồi phục vừa phải trong nửa cuối năm, và nhập khẩu các bộ phận / linh kiện sản xuất và máy móc tăng nhẹ so với năm trước Trong quý III năm 2021, nhập khẩu hàng hóa container thậm chí có thể tăng mạnh, một mặt do nhu cầu, mặt khác do so sánh với cung
kỳ năm 2020 là thời điểm nhập khẩu khá thấp
1.3 Các hoạt động logistics khác
Những thách thức về logistics chuỗi lạnh cho chiến dịch tiêm chủng vắc-xin chống COVID-19 của Nhật Bản trong giai đoạn chuẩn bị cho Thế vận hội 2021
Khái quát về thị trường logistics chuỗi lạnh của Nhật Bản:
Nhật Bản là thị trường dược phẩm phát triển nhanh thứ hai trên thế giới, sau Hoa Kỳ Sự quan tâm của quốc tế đến thị trường dược phẩm Nhật Bản đã tạo cơ hội cho các nhà cung cấp dịch vụ logistics chuỗi lạnh tại thị trường này Các công ty trong nước đang ứng biến mạnh mẽ và cập nhật dịch vụ của họ bằng cách thực hiện các giao dịch, quan hệ đối tác và thỏa thuận với các đối thủ cạnh tranh và các công ty cung cấp dịch vụ nền tảng cho các công ty 3PL
Trang 12Theo Statista, giá trị bán hàng của thị trường logistics chuỗi lạnh ở Nhật Bản được dự báo sẽ tăng trưởng ổn định năm tài chính 2021 Khi đó, quy mô thị trường dự kiến sẽ đạt trên 2 nghìn tỷ Yên Nhật Trong năm tài chính 2018, quy
mô thị trường đã tăng lên khoảng 1,8 nghìn tỷ yên, tăng từ khoảng 1,7 nghìn tỷ yên trong năm tài chính trước đó
Thị trường logistics chuỗi lạnh tại Nhật Bản bao gồm tất cả các dịch vụ cần thiết để bảo quản, lưu thông phân phối các mặt hàng thực phẩm, dược phẩm, mĩ phẩm… trong một phạm vi nhiệt độ thấp nhất định để đảm bảo chất lượng và an toàn cho người sử dụng
Vào năm 2019, DHL Global Forwarding, công ty giao nhận quốc tế đối với hàng thủy sản dễ hỏng từ Nhật Bản, đã công bố việc mở rộng mạng lưới logistics chuỗi lạnh của mình tại Sapporo, tỉnh Hokkaido, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trên toàn cầu đối với thủy sản cao cấp và nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu thủy sản của Nhật Bản
Vào tháng 8 năm 2019, tổ chức chuỗi cung ứng dược phẩm Marken, đã công bố việc mua lại Công ty TNHH PCX International có trụ sở tại Nhật Bản Việc mua lại này sẽ củng cố dấu ấn chuỗi cung ứng hiện tại của Marken với việc cung cấp hơn 3.000 lô hàng thử nghiệm lâm sàng mỗi tháng tại Nhật Bản,
bổ sung năng lực cho nội địa và lâm sàng quốc tế
Những yêu cầu mới đối với logistics chuỗi lạnh khi Nhật Bản gấp rút tiêm chủng để chuẩn bị cho Thế vận hội Tokyo
Mặc dù có một nền tảng thị trường tốt, cả về cơ sở hạ tầng phần cứng và công nghệ, đầu năm 2021, việc triển khai tiêm chủng của Nhật Bản phải đối mặt với những trở ngại về logistics có thể khiến chiến dịch chậm tiến độ hơn nữa, điều này làm phức tạp thêm kế hoạch cung cấp dịch vụ tiêm chủng coronavirus quy mô rộng kịp thời cho Thế vận hội
Là quốc gia công nghiệp lớn cuối cùng bắt đầu tiêm chủng hàng loạt, Nhật Bản có khả năng bị cản trở do thiếu thùng chứa và đá khô cũng như khó khăn trong việc tuyển dụng nhân viên y tế Thủ tướng Yoshihide Suga đã nhán mạnh rằng vắc-xin là yếu tố quan trọng để tổ chức Thế vận hội thành công sau khi bị trì hoãn vào năm ngoái Những mũi tiêm đầu tiên cho các nhân viên y tế được lên kế hoạch vào cuối tháng 2/2021, trong khi Thế vận hội sẽ bắt đầu vào ngày 23 tháng 7 năm 2021 Nhật Bản sẽ cần cung cấp khoảng 870.000 mũi tiêm mỗi ngày để tiêm chủng cho một nửa dân số vào thời điểm đó, với mỗi người cần tiêm hai mũi vắc xin
Trang 13Koji Wada, một cố vấn về ứng phó với Covid-19 của chính phủ cho biết:
“Kế hoạch của chính phủ đặt ra gánh nặng lớn cho các thành phố tự quản trong việc bảo quản và phân phối vắc-xin Các khu vực đô thị lớn như Tokyo có thể
có cơ sở hạ tầng để triển khai tiêm chủng thuận lợi, nhưng các khu vực nông thôn hơn… có thể gặp nhiều khó khăn hơn”
Các công ty chuyên vận chuyển thuốc cho biết có thể không có đủ hộp đựng chuyên dụng để vận chuyển vắc xin Pfizer, loại vắc xin này phải được bảo quản ở nhiệt độ âm 75 độ C, lạnh hơn nhiều so với tủ đông tiêu chuẩn Hiện nay các chuyên gia vẫn lo lắng liệu có đủ thùng chứa hoặc đá khô để đóng hộp đông lạnh để toàn bộ chiến dịch diễn ra nhanh chóng và an toàn hay không?
Việc điều phối các nhân viên y tế, vận chuyển, sản xuất tủ đông lạnh, xử
lý kim tiêm và giao dịch với chính quyền địa phương do các bộ khác nhau đảm nhiệm Nhân viên y tế, phần nhiều đã mệt mỏi vì chăm sóc một số lượng bệnh nhân lớn từ đợt bùng phát dịch bệnh thứ ba Nay phần lớn trong số họ sẽ cần được huy động để thực hiện chiến dịch tiêm phòng gấp rút, trong đó có những công việc liên quan đến logistics chuỗi lạnh ở các điều kiện đặc thù mà thậm chí
họ chưa từng làm quen
Hình 3: Vận chuyển dược phẩm và vật tư y tế tại Nhật Bản
Trang 14Khả năng đáp ứng về đá khô để giữ lạnh cho vắc-xin:
Nhật Bản đã mua đủ vắc-xin Pfizer để tiêm chủng cho 72 triệu người, hơn một nửa dân số của nước này Chính phủ đang mua khoảng 20.000 máy làm mát đặc biệt và tìm nguồn cung cấp khối lượng lớn đá khô để vận chuyển
Nhật Bản sản xuất khoảng 350.000 tấn đá khô mỗi năm, nhưng chủ yếu
là để bảo quản thực phẩm, theo một trong những nhà sản xuất lớn Để vận chuyển vắc-xin, chính phủ sẽ cần loại đá dạng hạt hoặc dạng bột, có thể giữ nhiệt độ lạnh hơn so với các khối đá khô tiêu chuẩn được sử dụng cho thực phẩm
Khả năng đáp ứng về tủ đông để bảo quản vắc-xin
Nihon Freezer, công ty sản xuất tủ lạnh công nghiệp, đang sản xuất 2.300
tủ mát cho chính phủ, nhưng không có hợp đồng chính thức cho đến khi vắc xin đầu tiên được phê duyệt Chúng có thể được cắm vào bất kỳ ổ cắm 100V nào theo tiêu chuẩn ở Nhật Bản Nhưng các chuyên gia cũng lưu ý các trung tâm tiêm chủng tạm thời như trường học có thể cần phải điều chỉnh hệ thống điện, ổ cắm để phù hợp