Dự kiến tháng 12/2021 ban hành Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ công tác quản lý và đảm bảo chất lượng cơ sở GDMN độc lập, quy định c
Trang 1HỘI ĐỒNG QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC
TIỂU BAN GIÁO DỤC MẦM NON
“Giải pháp nâng cao chất lƣợng tổ chức, quản lý hoạt động
các cơ sở giáo dục mầm non”
Hà Nội, ngày 17 tháng 12 năm 2021
Trang 2NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÓM TRẺ, LỚP MẪU GIÁO,
LỚP MẦM NON ĐỘC LẬP
Vụ Giáo dục Mầm non
1 Vai trò của nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non độc lập (cơ sở GDMN độc lập) trong việc đáp ứng nhu cầu nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em
Hiện nay toàn quốc có 16.013 cơ sở GDMN độc lập dân lập và tư thục, trong đó có khoảng hơn 1200 nhóm trẻ độc lập có tối đa 7 trẻ Tổng số nhóm/lớp
là 35.552, bao gồm 14.686 nhóm trẻ, 20.866 lớp mẫu giáo; huy động: 600.175 trẻ em, trong đó: nhà trẻ: 216.737 trẻ, mẫu giáo: 383.438 trẻ So với tổng quy
mô của cấp học mầm non, số lớp chiếm 17,3%, số trẻ chiếm 11,2% Trong đó: trẻ nhà trẻ chiếm 24,2%, trẻ mẫu giáo chiếm 8,6% tổng số trẻ em tới cơ sở GDMN
Cơ sở GDMN độc lập chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ, nơi có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN, KCX), nơi phát triển nóng về công nghiệp, đông dân cư, chưa đủ trường mầm non Các cơ sở GDMN độc lập đã góp phần giảm bớt gánh nặng và tình trạng quá tải cho cơ sở GDMN công lập ở nhiều địa phương, đóng góp vai trò rất lớn cho cấp học mầm non để huy động trẻ em ra lớp, mang lại những tác động tích cực cho sự phát triển GDMN nói chung Trong đó, nhóm trẻ quy mô tối đa 07 trẻ hoạt động theo nhu cầu đặc biệt của cha mẹ trẻ em đã tháo gỡ khó khăn cho những nơi mạng lưới cơ sở GDMN không đáp ứng được nhu cầu đưa trẻ em đến trường
Bên cạnh đó, cơ sở GDMN độc lập cung ứng các dịch vụ như đón sớm, trả muộn, ăn uống, tắm gội, trông ca, trông trẻ dưới 24 tháng ngoài việc hỗ trợ rất lớn cho lực lượng lao động cống hiến cho xã hội (nhất là lao động nữ tại các KCN, KCX) còn gách vác trách nhiệm cùng xã hội trong việc đảm bảo quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của trẻ em
Trang 32 Những khó khăn hạn chế trong quản lý tổ chức hoạt động của cơ sở GDMN độc lập
2.1 Về công tác quản lý cơ sở GDMN độc lập
- Việc phát triển hệ thống cơ sở GDMN độc lập chưa được quan tâm sâu sát, tính toán việc phát triển trong tổng thể quy mô phát triển của GDMN từng địa phương Cơ sở GDMN độc lập ở nhiều địa phương được thành lập với quy
mô nh không đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ một
số địa phương, cơ sở GDMN độc lập hoạt động không ổn định, thường xuyên có
sự thay đổi về địa điểm, cơ sở vật chất và đội ng nên ảnh hưởng đến công tác quản lý và chất lượng hoạt động
- Đa số nhóm trẻ có quy mô nh dưới 7 trẻ vẫn tổ chức và hoạt động tự phát, nằm rải rác trong các khu dân cư, rất khó quản lý và chưa được quan tâm
về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ
- Nhân lực quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn cho nhóm trẻ, lớp MG, lớp mầm non độc lập tư thục chưa đảm bảo dẫn đến công tác chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động chưa hiệu quả;
+ Cán bộ UBND xã (phường) phụ trách quản lý nhóm trẻ, lớp MG, lớp
MN độc lập tư thục là cán bộ văn hóa, phải kiêm nhiệm nhiều công việc và không có chuyên môn về giáo dục nên khó khăn trong công tác chỉ đạo, kiểm tra
+ Phòng GDĐT nguồn nhân lực m ng so với số lượng cơ sở GDMN trên địa bàn huyện (quận) nên không thể sát sao trong công tác quản lý nhóm trẻ, lớp
MG, lớp MN độc lập tư thục
+ Trường mầm non công lập trên địa bàn xã (phường) có trách nhiệm hỗ trợ chuyên môn cho nhóm trẻ, lớp MG, lớp MN độc lập tư thục nhưng khối lượng công việc của cán bộ quản lý tại trường mầm non công lập rất lớn nên khó khăn trong việc bố trí quỹ thời gian dành cho việc hỗ trợ chuyên môn bên ngoài
2.2 Về điều kiện đảm bảo chất lượng của cơ sở GDMN độc lập
a) Đội ng :
Trang 4- Chủ cơ sở GDMN độc lập hiện nay phần lớn không có chuyên môn về giáo dục mầm non
- Khả năng tự tổ chức bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao năng lực chuyên môn c ng như hỗ trợ giáo viên mầm non học tập nâng chuẩn trình độ được đào tạo của các cơ sở giáo dục mầm non độc lập tư thục rất hạn chế
- Số giáo viên chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ tại các cơ sở GDMN độc lập chưa đạt chuẩn chiếm tỉ lệ 59%, trong đó: trình độ trung cấp sư phạm mầm non chiếm tỉ lệ 52,7%, chưa qua đào tạo sư phạm mầm non chiếm tỉ lệ 3%, chỉ
có chứng chỉ nghiệp vụ mầm non chiếm tỉ lệ 3,3%
- Người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em tại các nhóm trẻ có tối đa 7 trẻ có
trình độ thấp (theo quy định chỉ cần có chứng chỉ bồi dưỡng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em), thiếu cơ hội được bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ
- Hơn 65% giáo viên, người chăm sóc trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non độc lập không có điều hiện đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện
- Đội ng không ổn định, tình trạng giáo viên mầm non tại các cơ sở GDMN độc lập tư thục nghỉ làm, chuyển chỗ làm xảy ra thường xuyên
b) Cơ sở vật chất:
- 11,7% cơ sở giáo dục mầm non độc lập chưa đảm bảo phòng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ theo quy định; 17,4% chưa đảm bảo khu vệ sinh theo quy định; 21,5% cơ sở chỗ chơi cho trẻ em chưa đảm bảo theo quy định; 22,4%
cơ sở chưa đảm bảo nhà bếp theo quy định Đặc biệt, tỉ lệ số cơ sở chưa đảm bảo
đồ dùng, đồ chơi tối thiểu theo quy định lên đến 80,5% Đây là một con số không nh , phản ánh thực trạng việc không đảm bảo điều kiện tổ chức hoạt động cho trẻ hàng ngày c ng như các vấn đề về sức kh e, an toàn và quyền trẻ
em tại các cơ sở GDMN độc lập
- 1,6% cơ sở GDMN độc lập có nguồn nước sạch chưa theo quy định ảnh hưởng nghiêm trong tới sức kh e và an toàn tính mạng của trẻ em và giáo viên nhân viên
Trang 5- 26% cơ sở GDMN độc lập có hệ thống phòng chống cháy nổ chưa theo quy định, không có lối thoát hiểm riêng, tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn trong phòng cháy chữa cháy
3 Sự cần thiết nâng cao chất lƣợng cơ sở GDMN độc lập
- Hệ thống cơ sở GDMN độc lập hiện có vai trò rất lớn trong việc đáp ứng nhu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ của nhân dân
- Các điều kiện đảm bảo chất lượng (đội ng , cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi…) của nhiều cơ sở GDMN độc lập chưa đảm bảo việc thực hiện Chương trình GDMN, chưa đáp ứng được nhu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ của cha mẹ trẻ, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho trẻ
- Trẻ em cần được đảm bảo công bằng về quyền lợi tại mọi cơ sở GDMN Cha mẹ cần môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con tốt để yên tâm công tác cống hiến cho xã hội
- Tình hình thiên tai, dịch bệnh kéo dài đặc biệt là dịch Covid 19 ảnh hưởng tới nguồn thu của cơ sở GDMN độc lập, gây mất ổn định trong tổ chức hoạt động, đặc biệt vấn đề duy trì nguồn giáo viên để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em đảm bảo chất lượng
4 Các giải pháp đã đƣợc thực hiện
Những năm qua, Bộ GDĐT đã tham mưu chính phủ, phối hợp với các bộ, ban, ngành ban hành các văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục; Thông tư số 13/2015/TT-BGDĐT ngày 36 tháng 6 năm 2015 của Bộ GDĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục
Năm 2020, Bộ GDĐT đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 105/2020/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2020 quy định chính sách phát triển
GDMN (Nghị định 105), trong đó quy định cụ thể Chính sách khuyến khích tổ
chức, cá nhân đầu tư phát triển giáo dục mầm non, trong đó có Chính sách hỗ
Trang 6trợ đối với nhóm, lớp độc lập tại khu vực có KCN như hỗ trợ cơ sở vật chất, hỗ trợ cho giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ là con công nhân…
Năm 2021, Bộ GDĐT đã tham mưu Chính phủ xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 46/2017/NĐ-CP và Nghị định số 135/2018/NĐ-CP quy định về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục (Dự kiến tháng 6/2022 ban hành); Xây dựng Thông tư ban hành Quy chế nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non độc lập (Dự kiến tháng 12/2021 ban hành)
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ công tác quản lý và đảm bảo chất lượng cơ sở GDMN độc lập, quy định cụ thể tổ chức và hoạt động cơ sở GDMN độc lập để phù hợp hơn với thực tế; cải cách thủ tục hành chính; quan tâm đến việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ Đặc biệt, việc quy định cụ thể điều kiện tổ chức và hoạt động của nhóm trẻ độc lập có quy mô tối đa 7 trẻ sẽ có tác động tích cực tới công tác quản lý loại hình này hiện nay đang còn thả nổi; đảm bảo công bằng về quyền lợi cho mọi trẻ em, giúp cha mẹ trẻ yên tâm công tác cống hiến cho xã hội
Hằng năm, Bộ GDĐT đều ban hành các văn bản chỉ đạo, tài liệu hướng dẫn công tác quản lý tổ chức và hoạt động cơ sở GDMN độc lập; coi nhiệm vụ quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra cơ sở GDMN độc lập là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm của bậc học mầm non
Căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật, các địa phương đã triển khai thực hiện các chính sách của Chính phủ, ban hành chính sách địa phương để hỗ trợ cơ sở vật chất, tài chính…cho cơ sở GDMN độc lập tại KCN, KCX; thực hiện phân cấp trong quản lý để phối hợp kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong cơ sở GDMN độc lập
5 Đề xuất, kiến nghị
5.1 Đối với Chính phủ:
- Kịp thời xây dựng, ban hành các chính sách hỗ trợ các cơ sở GDMN độc lập gặp khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch covid-19 để duy trì hoạt động và
Trang 7đảm bảo đời sống cho người lao động, giảm áp lực b nghề của giáo viên mầm non, đảm bảo các điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ khi cơ sở hoạt động trở lại (hỗ trợ tín dụng, thuê mặt bằng, hỗ trợ cơ sở vật chất, hỗ trợ lương
cơ bản cho giáo viên mầm non…)
- Xây dựng, ban hành các chính sách đặc thù về loại hình cơ sở GDMN độc lập, đảm bảo công bằng về quyền lợi đối với các cơ sở GDMN độc lập trong các chính sách về xã hội hóa như ưu đãi đất, cho thuê đất và tài sản công; xem xét bổ sung phạm vi áp dụng bao gồm cả cơ sở GDMN độc lập trong Nghị định
số 69/2008/NĐ-CP (về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường); quan tâm tới các chính sách về giáo viên, người chăm sóc trẻ em tại các cơ sở GDMN độc lập để hỗ trợ các điều kiện đảm bảo chất lượng của cơ sở GDMN độc lập tại một số vùng đặc thù
- Khuyến khích một số tỉnh, thành phố (nơi có nhiều KCN, KCX, đông dân cư, vùng khó kinh tế đặc biệt khó khăn, nơi mà mạng lưới cơ sở GDMN công lập không đáp ứng đủ) thí điểm triển khai cấp ngân sách hỗ trợ hoạt động chi thường xuyên cho cơ sở GDMN độc lập
5.2 Đối với các bộ, ban ngành:
(4) Tiếp tục nghiên cứu việc thực hiện Chương trình GDMN và các điều kiện đảm bảo chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ tại cơ sở GDMN
Trang 8độc lập như: điều kiện về cơ sở vật chất tối thiểu, đồ dùng đồ chơi tối thiểu, việc
tổ chức nhóm trẻ/lớp mẫu giáo/lớp ghép; giải pháp nâng cao chất lượng đội ng ; phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục đối với nhóm/lớp ghép
(5) Tham mưu, xây dựng, ban hành các tiêu chí tiêu chuẩn thi đua, đưa đối tượng cơ sở GDMN độc lập (chủ cơ sở, giáo viên, nhân viên, người chăm sóc trẻ) vào các hoạt động thi đua của ngành GDĐT
- Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan sớm tham mưu,
xây dựng trình Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về chính sách
hỗ trợ các điều kiện đảm bảo chất lượng (hỗ trợ về tài chính, nhân sự), tạo cơ chế công bằng đối với các cơ sở GDMN độc lập
- Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các đoàn thể liên quan:
(1) Phối hợp huy động nguồn lực để giáo viên mầm non được đào tạo nâng chuẩn trình độ theo Luật Giáo dục; được miễn giảm học phí; được hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn; được đóng Bảo hiểm xã hội
(2) Tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các hiệp hội, đoàn thể địa phương phối hợp với ban ngành có liên quan cập nhật, bồi dưỡng kiến thức chăm sóc giáo dục trẻ cho các hội viên, bà mẹ; giám sát việc thực hiện các quy định đối với cơ sở GDMN độc lập tại cộng đồng;
(3) Tuyên truyền cho các cấp hội quan tâm việc đưa trẻ ra nhóm/lớp đảm bảo an toàn về thể chất, tinh thần
(4) Phối hợp xây dựng cơ chế giám sát đối với hoạt động của các nhóm trẻ độc lập tư thục theo hướng dựa vào cộng đồng, nhằm tạo cơ chế khuyến khích người dân tham gia giám sát thực hiện Luật Trẻ em tại địa phương
5.3 Đối với chính quyền địa phương
(1) Tiếp tục bám sát các chính sách hiện hành của Chính phủ, ban hành các chính sách địa phương để hỗ trợ các điều kiện đảm bảo chất lượng (hỗ trợ cơ
sở vật chất, tài chính tại các khu vực khó khăn; hỗ trợ nhân sự quản lý, hỗ trợ việc nâng chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên; hỗ trợ bồi dưỡng nâng cao
Trang 9nghiệp vụ chuyên môn của chủ cơ sở, giáo viên, nhân viên, người chăm sóc trẻ…), nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ của hệ thống cơ
sở GDMN độc lập
(2) Thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với cơ sở GDMN độc lập tại khu vực có KCN như hỗ trợ cơ sở vật chất, hỗ trợ cho giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ là con công nhân…theo Nghị định số 105/2020/NĐ-CP;
Có chính sách hỗ trợ đối với cơ sở GDMN độc lập tại khu vực đông dân cư, vùng khó khăn, dân tộc thiểu số
(3) Thực hiện tốt việc phân cấp quản lý cơ sở GDMN độc lập; sắp xếp hợp lý nhân sự quản lý trực tiếp cơ sở GDMN độc lập tại các địa bàn; quan tâm bồi dưỡng năng lực cho các cán bộ quản lý cơ sở GDMN độc lập cấp xã; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; kịp thời chấn chỉnh và xử lý các vi phạm trong cơ sở GDMN độc lập; tuyệt đối không cấp phép cho các cơ sở chưa đảm bảo các điều kiện thành lập; có chính sách hỗ trợ, động viên các cán bộ quản lý trường mầm non công lập và các hiệp hội, đoàn thể phối hợp trong việc quản lý, hướng dẫn chuyên môn, giám sát hoạt động của cơ sở GDMN độc lập trên địa bàn
(4) Tăng cường các giải pháp để thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn cho trẻ, nâng cao năng lực cho chủ cơ sở, giáo viên, người chăm sóc trẻ trong công tác đảm bảo an toàn, phòng chống bạo hành trẻ tại các cơ sở GDMN độc lập; triển khai thực hiện Chương trình GDMN phù hợp với tình hình địa phương, cơ sở GDMN độc lập và trẻ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ, tạo niềm tin ở phụ huynh
(5) Chỉ đạo, phối hợp liên ngành, các cơ quan đoàn thể, hiệp hội tại các địa bàn trong công tác quản lý, giám sát hoạt động của cơ sở GDMN độc lập; chế khuyến khích người dân tham gia giám sát việc thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, đảm bảo quyền trẻ em tại các cơ sở GDMN độc lập
(6) Tạo mọi điều kiện thuận lợi, thực hiện các thủ tục hỗ trợ cho các cơ sở GDMN, người lao động hợp đồng trong các cơ sở GDMN độc lập theo Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ Về các biện pháp hỗ trợ
Trang 10người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Có chính sách địa phương để hỗ trợ các cơ sở GDMN độc lập khắc phục khó khăn trong thời gian khắc phục hậu quả do dịch bệnh, thiên tai
CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CHUYÊN MÔN TẠI CÁC NHÓM TRẺ, LỚP MẪU GIÁO, LỚP MẦM NON ĐỘC LẬP
TƢ THỤC
Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội
Căn cứ Công văn số 154/VPHDQGGDPTNL ngày 22 tháng 9 năm 2021 về việc mời viết báo cáo tham luận tại Tọa đàm thứ hai của Tiểu ban giáo dục mầm non, Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) báo cáo tham luận thực trạng chất lượng hoạt động chuyên môn tại các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non độc lập tư thục (sau đây gọi là nhóm lớp tư thục) trên địa bàn thành phố Hà Nội:
1 Đặc điểm tình hình
- Toàn Thành phố có 1.162 trường mầm non, trong đó 357 trường ngoài công lập; 07 trường mầm non công lập chất lượng cao, 28 trường mầm non có vốn đầu tư nước ngoài Có 2.742 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục, đã cấp phép thành lập đạt 99,6% Các nhóm lớp tổ chức với đa dạng các mô hình công giáo, khu công nghiệp, khu chế xuất; tại các khu đô thị (chung cư|) và nhà dân…
- Tổng số trẻ ra lớp công lập , ngoài công lập: 562.846 trẻ, trong đó: trẻ nhà trẻ 124.865 đạt 51%, trẻ mẫu giáo đi học 437.981 đạt 100%, trẻ 5 tuổi 157.770 - 100% Số lượng trẻ đi học ở trường, lớp ngoài công lập đạt tỷ lệ 32%
- Có 18.974 chủ nhóm lớp và giáo viên trong đó: 2.742 chủ nhóm, lớp trình
độ đào tạo, 937 THSPMN đạt 34%; 1.126 trình độ đạt chuẩn từ Cao đẳng SPMN trở lên đạt 41%; 679 chuyên ngành khác 25% Có 16.232 giáo viên, trình
độ chuyên môn 9.965 Trung cấp SPMN; 6.358 CĐSPMN đạt 39%
- Số giáo viên được đóng BHXH đạt 43%, nhân viên được đóng BHXH đạt 19,2% (lý do: Đội ng giáo viên, nhân viên làm việc tại các cơ sở không ổn
Trang 11định; học phí thấp 800.000đ >1.200.000 đồng, nhiều giáo viên, nhân viên không trích tiền lương để đóng BHXH
1.1 Thuận lợi:
- Công tác quản lý các cơ sở GDMN ngoài công lập được quan tâm chỉ đạo, hoạt động của cơ sở nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non độc lập tư thục cơ bản đúng quy định Các phòng GDĐT xây dựng quy chế phối hợp quản lý chỉ đạo nhóm, lớp tư thục với UBND các phường, xã, thị trấn
- Cơ bản các nhóm lớp tư thục được cấp phép đảm bảo các điều kiện giáo viên, CSVC, trang thiết bị, quyền lợi của trẻ theo yêu cầu của nhiệm vụ giáo dục
- Chủ nhóm lớp có ý thức nâng cao chất lượng chuyên môn, xây dựng thương hiệu chất lượng để khẳng định tín nhiệm của phụ huynh Công tác bồi dưỡng nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn cho các nhóm lớp tư thục được thực hiện thường xuyên cùng với công lập Hầu hết các nhóm lớp tư thục
có Tổ trưởng chuyên môn là giáo viên có kinh nghiệm ít nhất 3 năm
- Cơ sở vật chất nhóm lớp tư thục đa số đều thuê nhà dân nên điều kiện phục
vụ hoạt động cho trẻ có khu vực còn hạn chế, đặc biệt ở địa bàn khó khăn phụ huynh có thu nhập chưa cao
- Dịch bệnh Covid-19 kéo dài gây khó khăn lớn cho nhóm lớp tư thục dẫn đến giải thể và nguy cơ giải thể, tính đến tháng 10/2021 có khoảng 20% số nhóm lớp tư thục có nguy cơ giải thể, một số quận huyện có tỷ lệ 40% Hoạt động duy trì kết nối online khi trẻ mầm non nghỉ học ở nhà gặp nhiều khó khăn
2 Thực trạng chất lƣợng hoạt động chuyên môn tại nhóm trẻ tƣ thục 2.1 Thực hiện chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ:
Trang 12Thời gian đón trẻ và trả trẻ, chế độ sinh hoạt thường điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu của phụ huynh và của nhóm lớp tư thục: Thời gian dành cho việc chăm sóc ăn, ngủ, chơi tự do tăng, giảm hoạt động học và chơi có chủ đích Nội dung hoạt động chưa phong phú, thiết thực với trẻ, chưa cân bằng giữa hoạt động tĩnh
và động, hoạt động trong và ngoài lớp học, hoạt động ngoài trời…
2.2 Thực hiện quy chế chuyên môn chăm sóc nuôi dưỡng:
Các nhóm lớp có nhiều cố gắng đảm bảo chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng
và an toàn sức kh e và nâng cao các điều kiện hoạt động Đảm bảo an toàn thực phẩm, nguồn nước sạch, xây dựng thực đơn cân đối phù hợp theo tuần, theo mùa, khẩu phần và chế độ ăn cho trẻ đúng độ tuổi theo quy định Tuy nhiên, cá biệt vẫn còn có cơ sở chưa thực hiện đúng theo thực đơn, việc tổ chức hoạt động
ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân còn chưa đúng quy định
2.3 Thực hiện chương trình GDMN
- 100% các nhóm lớp thực hiện chương trình GDMN của Bộ GDĐT, trẻ đi học tại các nhóm lớp tư thục chủ yếu tuổi nhà trẻ, mẫu giáo bé, nhu cầu chính là chăm sóc nuôi dưỡng, nhiều nhóm lớp đã chủ động phát triển chương trình giáo dục riêng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tạo thương hiệu riêng đáp ứng nhu cầu của phụ huynh, chú trọng các lĩnh vực thể chất, ngôn ngữ, kỹ năng sống
kỹ năng tự phục… cơ bản giáo viên đã vận dụng phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm theo phương châm “Học bằng chơi - Chơi mà học”, tận dụng, sử dụng các đồ dùng đồ chơi, phương tiện để dạy trẻ
- Đối với các nhóm lớp tư thục có nguồn lực tài chính và trình độ quản lý, điều kiện đảm bảo tốt, chủ động xây dựng phát triển bổ sung nâng cao chương trình giáo dục; Ứng dụng phương pháp tiên tiến như Steam, Montessori, Reggio Emilia…mời chuyên gia, giảng viên tập huấn, bồi dưỡng đội ng giáo viên phương pháp giáo dục tiên tiến Tuy nhiên chương trình tự xây dựng nên việc kiểm tra, phê duyệt của cấp quản lý còn khó khăn Cá biệt có cơ sở chỉ tập trung thực hiện chương trình giáo dục nhà trường, chưa thực hiện theo quan điểm xây
Trang 13dựng và thực hiện chương trình GDMN của Bộ GDĐT Việc kiểm tra, xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục còn hạn chế
- Đối với nhóm lớp tư thục thực hiện theo Chương trình GDMN của Bộ GDĐT cơ bản thực hiện khá tốt, còn một số nhóm lớp tư thục thực hiện mang tính hình thức, sao chép kế hoạch giáo dục chưa căn cứ điều kiện thực tế, tổ chức hoạt động, đánh giá trẻ hạn chế hoạt động tích cực do thiếu các điều kiện phương tiện, môi trường, năng lực của giáo viên Ứng dụng CNTT còn hạn chế
- Một số cơ sở ghép các độ tuổi trong lớp, tuy nhiên lập kế hoạch và thực hiện chương trình lớp ghép còn hạn chế
2.4 Tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn:
- Sinh hoạt chuyên môn tại các nhóm lớp tư thục đã thực hiện, tuy nhiên còn khá nhiều khó khăn: Chưa thực hiện đúng định kỳ theo lịch sinh hoạt, chất lượng sinh hoạt chuyên môn hạn chế, chưa phát huy vai trò Tổ chuyên môn do năng lực, kinh nghiệm và phân công kiêm nhiệm
3 Giải pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn của nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, mầm non độc lập tư thục
3.1 Giải pháp liên quan đến chính sách địa phương
- Thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 04/6/2019 của Chính phủ về tăng cường huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 - 2025: Thành phố chỉ đạo các Quận, huyện, thị xã công khai quy hoạch các ô đất xã hội hóa để các tổ chức, cá nhân tiếp cận, tạo điều kiện thực hiện chính sách xã hội hóa theo quy định Tạo điều kiện cấp phép thành lập
và hoạt động trên địa bàn
- Hà Nội là một trong địa phương đầu tiên ban hành các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Thành phố để thực hiện chính sách cho trẻ em, giáo viên, nhóm trẻ lớp mẫu giáo độc lập tư thục thuộc địa bàn khu công nghiệp, cơ sở giáo dục mầm non công lập thuộc địa bàn khó khăn theo Nghị định 105/2020/NĐ-CP ngày 08/9/2020 của Chính phủ quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non với mức chi vượt 1,5 lần theo quy định
Trang 14- Ban hành Nghị quyết số 15/NQ-HĐND ngày 13/8/2021 chính sách đặc thù
hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng, gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, không thuộc đối tượng được hỗ trợ theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19: Hỗ trợ người lao động làm việc tại các cơ sở giáo dục dân lập, tư thục 1.500.000 đồng/ người; Hỗ trợ Chủ nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục 3.000.000 đ/ chủ cơ sở
- Hỗ trợ giảm 50% học phí cả năm học 2021- 2022 cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông công lập, dân lập, tư thục do ảnh hưởng dịch Covid-19
- Sở GDĐT trình Thành phố ban hành Kế hoạch nâng trình độ chuẩn đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học, trung học cơ sở sau khi được UBND Thành phố ban hành, theo đó giáo viên làm việc tại trường công lập và ngoài công lập
đủ điều kiện sẽ được ngân sách nhà nước cấp kinh phí đi học để đạt chuẩn
- Một số quận, huyện ban hành văn bản vận động hỗ trợ chủ cho thuê miễn giảm tiền thuê mặt bằng hỗ trợ chủ nhóm lớp tư thục
3.2 Giải pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lƣợng nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ của cơ quan quản lý giáo dục trên địa bàn
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách về GDMN Công khai các cơ sở GDMN đã được cấp phép thành lập và cấp phép hoạt động đảm bảo đủ điều kiện chăm sóc giáo dục trẻ đăng tải 2 lần/1 năm học tại Cổng thông tin điển tử Sở GDĐT, UBND quận, huyện để phụ huynh biết, lựa chọn trường, nhóm lớp cho con em
- Phát động thực hiện chủ đề năm học “Kỷ cương trong quản lý cơ sở GDMN ngoài công lập”; Xây dựng nhóm lớp tư thục điểm ở các mô hình khu chung cư, nhóm lớp tôn giáo, phát triển nhân rộng trên địa bàn pơhường, xã
- Xây dựng quy chế phối hợp tại quận huyện, chỉ đạo trường công lập hỗ trợ nhóm lớp tư thục trên địa bàn Chỉ đạo ứng dụng CNTT, duy trì kết nối để tư vấn, phối hợp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ tại nhàcổng thông tin điện tử Website, mạng xã hội youtube, fabook, Zalo…của nhóm lớp tư thục
Trang 15- Chỉ đạo các phòng GDĐT triển khai công tác đào tạo bồi dưỡng cho đội
ng giáo viên công lập và ngoài công lập, tham mưu UBND quận, huyện, thị xã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành hỗ trợ, tư vấn, giám sát, kiểm tra về công tác quản lý cấp phép và việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, xử lý nghiêm các cơ sở GDMN không thực hiện đúng theo qui định
- Trong thời gian dịch bệnh trẻ chưa đến trường, Sở GDĐT phối hợp với cơ quan truyền thông về GDMN hỗ trợ cha mẹ trong chăm sóc nuôi dạy trẻ thời gian nghỉ phòng dịch tại nhà như “Đồng hành cùng bé”; “ nhà mùa dịch”; Sở GDĐT xây dựng, duy trì kho học liệu dùng chung tại Cổng thông tin điện tử ngành GDĐT hỗ trợ các quận, huyện khó khăn và cơ sở GDMN ngoài công lập giúp giáo viên, phụ huynh tiếp cận khai thác
4 Đề xuất kiến nghị với Bộ GDĐT
- Đề nghị Bộ GDĐT bổ sung, sửa đổi các quy định: Quy chế tổ chức hoạt động, công tác phòng cháy chữa cháy, thuế, sử dụng thuê nhà chung cư hoặc tầng dịch vụ hỗn hợp, Bảo hiểm XH, thẩm quyền công nhận Tổ trưởng chuyên môn Bổ sung quy trình, thủ tục chuyển đổi chủ nhóm trẻ, chuyển đổi địa điểm
tổ chức hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ Mô hình đối với nhóm trẻ tối đa 07 trẻ chỉ nên áp dụng đối với địa phương khó khăn, qui định rõ trình độ chuyên môn của chủ nhóm hoặc người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, cơ sở vật chất, qui trình và hồ sơ cho phép cá nhân tổ chức chăm sóc trẻ
- Ban hành quy chế nuôi dạy trẻ để thống nhất thực hiện ở các loại hình
- Sửa đổi Thông tư 13/2020 quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
- Sửa đổi văn bản hợp nhất số 01/VBHN-BGDĐT ngày 23/3/2015 về danh mục Đồ dùng - Đồ chơi - Thiết bị dạy học tối thiểu dùng cho giáo dục mầm non, khuyến khích bổ sung danh mục đồ dùng, đồ chơi hiện đại, tiên tiến
- Đề nghị cho phép cơ sở GDMN NCL được th a thuận với PHHS mức thu phù hợp đủ chi tương ứng với hoạt động giáo dục do cơ sở GDMN cam kết công
Trang 16khai chất lượng với PHHS theo hình thức trực tuyến trong tình hình dịch bệnh khi trẻ phải nghỉ học ở nhà
- Đề nghị có chính sách hỗ trợ định mức từ ngân sách/trẻ em học ngoài công lập với tỷ lệ phù hợp để giúp cơ sở GDMN ngoài công lập phát triển
CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
CỦA NHÓM TRẺ, LỚP MẪU GIÁO TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Sở Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn
1 Đặc điểm tình hình
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới, thuộc vùng Đông Bắc của Tổ quốc với diện tích tự nhiên 8.310,09 km2 Dân số trên 781.660 người, chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn (chiếm 79,55 %) Có 07 dân tộc chủ yếu là Nùng (42,97%), Tày (35,92%), Kinh (16,50%) và các dân tộc khác như: Dao, Sán Chay, Hoa, Mông, chiếm 4,61%
Tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện (10 huyện, 01 thành phố là đô thị loại II), 200 đơn vị hành chính cấp xã (181 xã, 14 thị trấn, 05 phường); có 5 huyện biên giới với 20 xã, 01 thị trấn biên giới
Toàn tỉnh hiện có 232 trường mầm non, trong đó có 225 trường mầm non công lập và 07 trường mầm non tư thục; 13 trường phổ thông có lớp mầm non (12 trường phổ thông công lập thuộc 07 huyện và 01 trường tư thục thuộc thành phố Lạng Sơn) Tổng số trẻ mầm non/nhóm, lớp: 53.293 trẻ/2.225 nhóm, lớp; trong đó nhà trẻ: 11.198 trẻ/520 nhóm; mẫu giáo: 42.095 trẻ/1.705lớp; riêng mẫu giáo 5 tuổi: 15.236 trẻ/738 lớp Riêng số trẻ đến trường phổ thông Riêng trẻ em/ nhóm, lớp trong trường phổ thông: 719 trẻ/42 nhóm, lớp; trong đó: nhà trẻ 122 trẻ/07 nhóm, mẫu giáo lớp mẫu giáo 597 trẻ/35 lớp, riêng mẫu giáo 5 tuổi: 211/24 lớp
Tổng số có 642 điểm trường, trong đó có 383 điểm trường lẻ trong trường mầm non và 27 điểm trường phổ thông có lớp mầm non
Trang 17Có 2.225 phòng học/2.225 nhóm, lớp Trong đó nhóm, lớp ghép từ 2 - 4 độ tuổi: 482/2.225 (21,66%) với tổng số 9.334/53.293 (17,5%) trẻ học trong các lớp ghép Riêng phòng học dành cho nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trong trường phổ thông: 42 (kiên cố 29, bán kiên cố 13)
Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên (CBQL, GV, NV): 7.087 người, trong đó: CBQL: 644; GV: 4.627 (4.378 GV công lập + 249 GV tư thục), nhân viên 1.816 Riêng giáo viên mầm non dạy trong trường phổ thông: 74 người (biên chế 45, hợp đồng 29)
1.1 Thuận lợi
Giáo dục mầm non tỉnh Lạng Sơn luôn nhận được sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp; các ban, ngành, tổ chức đoàn thể; sự quan tâm của các bậc phụ huynh và cộng đồng trong công tác chăm lo cho sự nghiệp giáo dục mầm non (GDMN)
Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Lạng Sơn đã tham mưu ban hành, triển khai đầy đủ, kịp thời các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ trong năm học tới các huyện, thành phố; chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực hiện kế hoạch phù hợp với đặc điểm của từng đơn vị, địa phương
Hằng năm, GDMN được đầu tư, bổ sung kinh phí; hỗ trợ mua mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ công tác nuôi dướng, chăm sóc, giáo dục trẻ
cơ bản đáp ứng yêu cầu thực hiện Chương trình GDMN; Đặc biệt quan tâm đến các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trong trường phổ thông
Quy mô mạng lưới trường, lớp được rà soát, sắp xếp đến tận thôn bản tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trên địa bàn trong việc đưa trẻ đến trường.Các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non trong trường phổ thông trên địa bàn tỉnh đều tổ chức, hoạt động theo quy định của Điều lệ trường mầm non
Hằng năm, bố trí đủ số lượng giáo viên đáp ứng yêu cầu tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN; đặc biệt bố trí
đủ cho các nhóm, lớp trong trường phổ thông
1.2 Những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân
Trang 18Toàn tỉnh hiện còn 13 trường phổ thông có gắn nhóm, lớp mầm non Do một
số xã có số trẻ ít (dưới 50 trẻ) chưa đủ kiện thành lập; số còn lại chưa đủ điều kiện cơ sở vật chất, đất xây dựng
Số lớp học ghép 2-4 độ tuổi chiếm tỷ lệ cao (482/2.225, tỷ lệ 21,66%); riêng lớp ghép trong trường phổ thông là 31/42, tỷ lệ 73,8% do dân cư thưa, số trẻ ít
Cơ sở vật chất mặc dù đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là vùng khó khăn: thiếu phòng học, phải học nhờ trường phổ thông, nhà văn hóa thôn phòng học chật hẹp ảnh hưởng đến không gian, môi trường cho trẻ hoạt động; hiện nay toàn tỉnh, còn 42/2.225 phòng học chung trường phổ thông nên gặp khó khăn trong việc xây dựng môi trường, tổ chức các hoạt động phù hợp với đặc trưng GDMN
Một số ít CBQL, GV còn hạn chế về năng lực; chưa chủ động tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương và các bậc phụ huynh, cộng đồng trong việc nâng cao chất lượng thực hiện chương trình GDMN, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay
Nhiều nơi địa bàn rộng, địa hình đồi núi phức tạp, đường giao thông đi lại khó khăn thôn bản cách xa nhau, dân cư thưa thớt; nhiều điểm trường lẻ phải tổ chức học ghép 3-4 độ tuổi nên khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục và cho trẻ được ăn bán trú tại trường Đồng thời, khó khăn trông tổ chức sinh hoạt chuyên môn cho đội ng giáo viên, nhân viên trong các nhà trường Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về cơ chế hoạt động, quản lý nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non trong trường phổ thông nên khó khăn trong việc quản lý và tổ chức các hoạt động
2 Một số giải pháp thực hiện
2.1 Hằng năm, Sở GDĐT Lạng Sơn chỉ đạo, hướng các huyện, thành phố;
các cơ sở GDMN trên địa bàn tình tỉnh thực hiện quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường, lớp mầm non theo tinh thần Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 25/10/2017
về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đơn vị sự nghiệp công lập, đảm bảo việc sáp nhập các điểm trường mầm