1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực từ duới góc độ vụ việc nga và ucraina (công pháp quốc tế)

20 76 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 48,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực Nội dung của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận cụ thể trong Tuyên bố 1970 của Đại

Trang 1

Đề bài : Phân tích nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực từ duới góc độ vụ việc Nga và Ucraina

1 Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực

Nội dung của nguyên tắc cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế được ghi nhận cụ thể trong Tuyên bố 1970 của Đại hội đồng LHQ: “Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực để vi phạm biên giới quốc gia của các nước khác hoặc dùng nó làm phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề có liên quan đến biên giới các nước”

Về nguyên tắc không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, Tuyên bố 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đưa ra những nội dung sau:

- Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác

- Cấm cho quân vượt qua biên giới quốc tế, trong đó có tuyến hòa giải;

- Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực;

- Không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lược chống nước thứ ba

- Không tổ chức, khuyến khích, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố quốc gia khác

- Không tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác

- Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược

Theo Khoản 4 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc quy định:

“Tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc trong quan hệ quốc tế không được đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập

Trang 2

chính trị của bất kỳ quốc gia nào, hoặc nhằm những mục đích khác không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc”.

Trong đó, đặc biệt thuật ngữ “từ bỏ” được sử dụng, trong khi đó thời Hội Quốc liên quy định “hạn chế” dùng vũ lực, là một phần nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ 2

=> Liên Hợp quốc ra đời, chuyển từ “hạn chế” thành “từ bỏ” (không được sử dụng nữa)

- Ngoại lệ:

+.Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc có thể dùng vũ lực để duy trì hòa bình và

an ninh quốc tế (Điều 39 & 42 HC LHQ)

Đ39 & 42 Chương VII trao cho Hội đồng Bảo an quyền lực gần như không có giới hạn về việc xác định khi nào sử dụng vũ lực và biện pháp sử dụng vũ lực nào đuọc

sử dụng

+ Quyền tự vệ của quốc gia khi quốc gia đó bị tấn công vũ trang (Điều 51

HC LHQ)

Các biện pháp vũ lực được sử dụng để tự vệ phải thỏa mãn điều kiện về tính cần thiết và tính tương xứng

+Các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập được dùng vũ lực để tự giải phóng mình (Nội dung nguyên tắc các dân tộc bình đẳng và tự quyết)

+Bên cạnh đó còn có một số các ngoại lệ khác như:

- Can thiệp nhân đạo (humanitarian intervention)

- Sự đồng ý của quốc gia liên quan

2 Vụ việc Nga và Ukraine

Cuộc khủng hoảng chính trị Nga - Ukraine hiện nay bắt nguồn từ sau khi kết thúc Chiến tranh lạnh đến nay, gần hơn là năm 2014 khi Nga sáp nhập bán đảo Crimea,

Trang 3

tiếp theo là một số bất ổn ở khu vực Donbass, phía đông của Ukraine - nơi có hai nước Cộng hòa tự xưng là Donetsk (DPR) và Luhansk (LPR)

Gần đây nhất là từ cuối năm 2021 đến nay, tình hình trở nên đặc biệt căng thẳng vào thời điểm tháng 12/2021, Nga gửi đến Mỹ và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm, trong đó nêu rõ các quan ngại về

an ninh được coi như những “lằn ranh đỏ”, đó là:

1) Ukraine không thể trở thành thành viên của NATO;

2) NATO không tiếp tục mở rộng sang phía đông;

3) NATO quay trở lại điểm xuất phát năm 1997, nghĩa là trước khi mở rộng sang phía đông, kết nạp các nước Đông Âu và ba nước Cộng hòa Baltic làm thành viên mới mà Nga cho là đe dọa nghiêm trọng đến an ninh và lợi ích chiến lược của Nga Sau khoảng 1 tháng rưỡi, Mỹ và NATO gửi lại bản phản hồi tới Nga kèm theo các

đề nghị không được đáp ứng thỏa đáng Theo Mỹ và NATO, tất cả quốc gia có chủ quyền như Ukraine nếu có yêu cầu về an ninh, có thể làm đơn xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức nào khác phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine Bản phản hồi cũng nhấn mạnh, việc Nga yêu cầu NATO quay trở lại điểm xuất phát năm 1997 là không hợp lý Điều này khiến Nga cho rằng, những đề nghị chính đáng của mình không được Mỹ và NATO coi trọng

Xoay quanh việc Nga triển khai lực lượng quân sự lớn tới khu vực giáp biên giới với Ukraine từ cuối tháng 11/2021, ngày 22/2/2022, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã công bố quyết định công nhận độc lập của hai nước DPR và LPR, đồng thời điều quân đến đây để thực hiện “nhiệm vụ gìn giữ hòa bình” Trước nguy cơ

an ninh ngày càng hiện hữu sau khi Ukraine dự kiến ký kết một hiệp định quân sự chiến lược với Anh và Ba Lan, vào ngày 24/2/2022, Tổng thống Nga V Putin tiếp tục tuyên bố mở “chiến dịch quân sự đặc biệt” ở miền Đông Ukraine, nhằm đáp lại lời đề nghị hỗ trợ bảo đảm an ninh của lãnh đạo hai nước DPR và LPR

Trang 4

Có thể thấy Cả thế giới đều đang hướng tới sự việc này, nhất lại mới đây đã

có sự can thiệp của Tòa án Công lí ( ICJ)

Trong số 15 thẩm phán của ICJ, 13 người đồng ý yêu cầu Nga "ngừng ngay lập tức" các hoạt động quân sự ở Ukraine Có hai người phản đối là các thẩm phán quốc tịch Nga và Trung Quốc

Đây được gọi là phán quyết "các biện pháp tạm thời" - một phán quyết khẩn cấp được đưa ra trước khi tòa án xét xử toàn bộ vụ án

Các biện pháp tạm thời có giá trị ràng buộc Đó là điều quan trọng Điều đó có nghĩa là ngay cả khi Nga khẳng định chiến dịch này hợp pháp, thì dù sao nước này cũng đang vi phạm luật pháp quốc tế do không tuân thủ mệnh lệnh của ICJ

Tuy nhiên, một phán quyết ràng buộc không giống như một phán quyết bắt buộc Không có thể chế toàn cầu nào trao thêm quyền lực cho ICJ và cũng không có lực lượng cảnh sát toàn cầu để thực thi lệnh của toà án này

3 Phân tích

Theo ý kiến các nhân em thì Nga đang vi phạm nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế với Ukraine Vì ở đâng nga đã vi phạm nội dung của nguyên tắc đó là Nga đã dùng vũ khí, sức mạnh về quân sự để can thiệp vào Ukraine ( không cho Ukraine tham gia Nato, không cho mở rộng lãnh thổ về phía Đông, ) đây hoàn là những nguyên nhân không nằm trong Liên hợp quốc, cũng không nằm trong các nguyên tắc ngoại lệ của nguyên tắc cấm dùng vũ lực và

đe doạ sử dụng vũ lực trong quan hệ với Ukraine

Nếu Ukraine chống trả lại Nga thì hợp lệ vì Ukraine đang thực hiện quyền tự

vệ của quốc gia mình khi có sự tấn công vũ trang của các quốc gia khác ( Điều 51-Hiến chương Liên hợp quốc)

Trang 5

Phân tích nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực từ dưới góc độ vụ việc Nga và Ucraina

***

Nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực là nguyên tắc rất quan trọng trong cộng đồng quốc tế , để có thể ổn định , hòa bình , bảo vệ sự hòa bình của quốc tế cũng như là quyền con người Nếu dùng vũ lực sẽ gây ra những nguy hiểm đối với công dân không chỉ trong đất nước có chiến tranh mà còn ảnh hưởng đến công dân trên toàn cầu “Vũ lực” theo nguyên tắc này bao gồm hai nghĩa , nghĩa hẹp thuật ngữ này được hiểu là hành động sử dụng sức mạnh vũ trang để chống lại một quốc gia độc lập có chủ quyền Đồng thời, vũ lực cũng bao hàm cả việc quốc gia này sử dụng lực lượng vũ trang để gây sức ép , đe dọa quốc gia khác nhằm đạt được mục đích chính trị của mình Theo nghĩa rộng , thuật ngữ “ vũ lực” trong Luật Quốc tế hiện đại nghĩa là tất cả những biện pháp kinh tế , chính trị , quân sự

mà quốc gia này sử dụng để chống lại các quốc gia khác trong quan hệ quốc tế Khoản 4 , Điều 2 của Hiến chương LHQ:

“4 Tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của Liên hợp quốc.”

Hay tuyên bố 1970 của Đại hội đồng LHQ ở nội dung :

“Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác

Cấm cho quân vượt qua biên giới quốc tế, trong đó có tuyến hòa giải

Trang 6

Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực

Không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lược chống nước thứ ba

Không tổ chức , khuyến khích , xúi giục , giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố của các quốc gia khác

Không tổ chức , giúp đỡ các băng đẳng vũ trang , nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác

Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược”

=> Theo những nguyên tắc này , “ sử dụng vũ lực” trước hết chúng ta hiểu đó là việc sử dụng vũ trang để chống lại quốc gia độc lập có chủ quyền Việc một quốc gia sử dụng vũ lực vi phạm nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế trước hết việc quốc gia sử dụng lực lượng vũ trang , tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác nhằm mục đích xâm lược dài lâu hoặc chiếm đóng trong một thời gian dài lâu hoặc chiếm đóng trong một thời gian nhất định , nhằm mục đích buộc quốc gia khác phải phục tùng mình , phục vụ cho các lợi ích của mình Việc sử dụng các phương tiện khác như kinh tế , chính trị cũng được coi là sử dụng vũ lực trong nguyên tắc nêu trên nếu ảnh hưởng của nó dẫn đến kết quả là các biện pháp quân sự được áp dụng Chúng ta có thể gọi đó là biện pháp gián tiếp sử dụng vũ lực

* “Đe dọa sử dụng vũ lực” được hiểu là hành vi mà các chủ thể luật quốc tế sử dụng không nhằm tấn công xâm lược nhưng để gây sức ép , đe dọa quốc gia khác hoặc các hành vi được sử dụng để gây sức ép , đe dọa quốc gia khác hoặc các hành

vi được sử dụng hàm chứa nguy cơ, mầm mống dẫn đến việc sử dụng vũ lực

Những trường hợp ngoại lệ :

Trang 7

+ Quyền tự vệ của quốc gia khi quốc gia đó bị tấn công vũ trang (Điều 51 HC LHQ) , các biện pháp vũ lực được sử dụng để tự vệ phải thỏa mãn điều kiện về tính cần thiết và tính tương xứng Năm 2001, với sự kiện tòa tháp đôi bị tấn công và sau

đó Mỹ lên án khủng bố , Mỹ sử dụng một số biện pháp quân sự để đáp trả lại khủng bố , những phần tử khủng bố Bản thân thời điểm đó vẫn chưa có tiền lệ nào trước đấy diễn ra như vậy , tuy nhiên khi Mỹ thực hiện hoạt động quân sự chống lại khủng bố thì cộng đồng thế giới không có quốc gia nào đứng lên phản đối hoạt động của Mỹ Sau năm 2001 , các quốc gia từ im lặng dần trở thành sự ngầm định đồng ý cho việc các quốc gia được sử dụng vũ lực để chống lại khủng bố Vì vậy ,

đó trở thành ngoại lệ cuối cùng của nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực

=> Do đó , pháp luật quốc tế sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh , phụ thuộc vào sự kiện diễn ra để thay đổi hoặc mất đi các quy định cũ Pháp luật quốc tế luôn có sự vận động

Tóm lại : Các trường hợp ngoại lệ phổ biến :

Liên quan đến hội đồng bảo an được quyền sử dụng bất cứ biện pháp nào để bảo đảm an ninh quốc tế trong đó bao gồm cả biện pháp phi quân sự lẫn quân sự.Hội đồng bảo an LHQ có thể dùng vũ lực để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế (Điều

39 & 42 HC LHQ) Đ39 & 42 Chương VII trao cho Hội đồng Bảo an quyền lực gần như không có giới hạn về việc xác định khi nào sử dụng vũ lực và biện pháp sử dụng vũ lực nào được sử dụng

*Với dân tộc đang đấu tranh giành quyền tự quyết : có thể sử dụng lực lượng quân

sự để giải phóng dân tộc mình

Trang 8

*Can thiệp nhân đạo (còn gây tranh cãi): Quốc gia này dùng vũ lực can thiệp vào quốc gia khác nhằm mục đích loại trừ một thảm họa nhân đạo ở quốc gia đó - Sự đồng ý của quốc gia liên quan

-VD: Tình trạng bạo lực ở Myanmar

• Không vi phạm nguyên tắc dùng vũ lực vì đây chỉ là vấn đề nội bộ

• Vi phạm nguyên tắc này nếu sử dụng trong quan hệ quốc tế

• Hội đồng bảo an có quyền can thiệp vào nội bộ Myanmar nếu cảm thấy đe dọa đến hòa bình quốc tế hoặc xâm phạm nghiêm trọng quyền cơ bản con người Trung Quốc xâm lược Việt Nam:

• Việt Nam tự vệ nhưng lại không có Nghị quyết của HĐBA

• Hội đồng bảo an có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như cấm vận (Đ41), vũ lực (Đ42) nhưng theo Điều 27 về Quyền phủ quyết

* Về trường hợp giữa Nga và Ukraine:

Theo Đại sứ Nebenzya, quốc gia của ông hành động "tự vệ", phù hợp với Điều 51 của Hiến chương LHQ Tuy nhiên, các thành viên khác của LHQ đã bác bỏ lập luận này, nói rằng Nga đã vi phạm Điều 2, trong đó nói rằng các quốc gia không nên sử dụng vũ lực để giải quyết khủng hoảng.Nếu Ukraine đáp trả Nga thì đó đơn giản là trường hợp tự vệ : nếu như một quốc gia bị xâm phạm vào lãnh thổ quốc gia mình Ukraine không vi phạm vì họ đang sử dụng quyền tự vệ của họ và Nga đang vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực và cấm sử dụng vũ lực , chúng ta chưa cần để ý đến lý do tại sao Nga làm như vậy nhưng việc Nga dùng sức ép quân

sự để áp đặt Ukraine là đang vi phạm nguyên tắc không đe dọa vũ lực và cấm sử dụng đe dọa vũ lực

Trang 10

Phân tích nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực từ duới góc độ vụ việc Nga và Ucraina

I Mở đầu:

Trong lịch sử thế giới, rất nhiều cuộc xung đột chiến tranh đã nổ ra, từ các cuộc nội chiến đến các cuộc chiến tranh xâm lược giữa các quốc gia, điển hình là cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ I và lần thứ II

Năm 1945, Liên Hợp quốc ra đời với mục tiêu cao cả là ngăn chặn các cuộc xung đột quy mô toàn cầu trong tương lai, gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế Theo đó, nguyên tắc “Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực” cũng được đưa ra trong Tuyên bố năm 1970 cũng như được quy định trong Hiến chương của Liên Hợp quốc

Tuy nhiên, vấn đề gần đây về việc Nga đưa quân sang Ucraina đang là tâm điểm nóng toàn cầu, vi phạm nghiêm trọng đến các nguyên tắc cơ bản của Liên Hợp quốc

II Nội dung:

1 Nội dung của nguyên tắc cấm dùng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực:

Không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực là một trong những nguyên tắc cơ bản

và quan trọng nằm trong Tuyên bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế của Đại hội đồng Liên Hợp quốc, gồm các nội dung sau:

● Cấm xâm chiếm lãnh thổ quốc gia hoặc sử dụng lực lượng vũ trang vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ quốc gia khác

● Cấm cho quân vượt qua biên giới quốc tế, trong đó có tuyến hòa giải;

● Cấm các hành vi đe dọa trấn áp bằng vũ lực

Trang 11

● Không cho phép quốc gia khác sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành xâm lược chống nước thứ ba

● Không tổ chức, khuyến khích, xúi giục, giúp đỡ hay tham gia vào nội chiến hay các hành vi khủng bố quốc gia khác

● Không tổ chức, giúp đỡ các băng đảng vũ trang, nhóm vũ trang, lính đánh thuê đột nhập phá hoại lãnh thổ quốc gia khác

● Cấm tuyên truyền chiến tranh xâm lược

Cùng với đó, tại Điều 2 của Hiến chương Liên Hợp quốc cũng quy định:

“Tất cả các quốc gia thành viên LHQ từ bỏ đe dọa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trái với những mục đích của LHQ.”

Tại thời Hội Quốc liên, nguyên tắc này cũng đã được quy định nhưng thay vì sử dụng “từ bỏ đe dọa bằng vũ lực” như hiện nay thì nguyên tắc đó chỉ yêu cầu “hạn chế đe dọa bằng vũ lực”, có nghĩa là hiện nay thì toàn bộ các quốc gia đều không được phép sử dụng vũ lực để đe dọa quốc gia khác

Tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp ngoại lệ như:

● Hội đồng bảo an LHQ có thể dùng vũ lực để duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Điều 39 và 42 HC LHQ chương VII trao cho Hội đồng Bảo an quyền lực gần như không có giới hạn về việc xác định khi nào sử dụng vũ lực và biện pháp

sử dụng vũ lực nào đuọc sử dụng

Ngày đăng: 07/04/2022, 14:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w