Năm 2011-2012, đề tài nghiên cứu cấp cơ sở của các cán bộ phòng Tài nguyên thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra và đề xuất giải pháp bảo tồn đối với hai
Trang 1Mục lục
I THÔNG TIN CHUNG 1
II NỘI DUNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 3
11 Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu của Nhiệm vụ Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: 3
12 Nội dung nghiên cứu: 14
III KẾT QUẢ 15
13 Các kết quả thu được: 15
13.1 Thực trạng phân bố và tình trạng bảo tồn của một số loài thực vật quý hiếm tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận 16
13.1.1 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov 16
13.1.2 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance 19
13.1.3 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Hoa tiên Asarum glabrum Merr 22
13.1.4 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Bách vàng việt Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep 24
13.1.5 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Aspidistra neglecta Aver., Tillich & K.S Nguyen 27
13.2 Thăm dò nhân giống một số loài thực vật quan tâm 30
13.2.1 Thăm dò nhân giống Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov 30
13.2.2 Thăm dò nhân giống Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance 33
13.3 Bảo tồn nguyên vị Thìa là hóa gỗ việt 35
13.4 Đề xuất hướng bảo tồn đối với một số loài thực vật có giá trị và tiềm năng 39
13.4.1 Bảo tồn nguyên vị 39
13.4.2 Vai trò của quản lý nhà nước và cộng đồng 41
14 Ý nghĩa thực tiễn và ứng dụng của kết quả nhiệm vụ: 42
15 Các tác động khác của kết quả nhiệm vụ: 42
16 Đánh giá so sánh kết quả thu được với dự kiến ban đầu trong thuyết minh: 44
Tài liệu tham khảo 44
IV KINH PHÍ SỬ DỤNG 48
17 Tổng kinh phí của đối tác nước ngoài: 48
18 Tổng kinh phí của Việt Nam: 200 triệu đồng 48
V TÓM TẮT NHIỆM VỤ 48
19 Tóm tắt Nhiệm vụ: 48
VI KIẾN NGHI, ĐỀ XUẤT, KẾT LUẬN 50
Trang 2Danh mục hình
Hình 1 Bản đồ huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang 15
Hình 2 Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang (Ảnh Trần Huy Thái, Phan Kế Lộc, Nguyễn Sinh Khang) 18
Hình 3 Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance (hình vẽ theo Thực vật chí Trung Quốc (Shumei H et al., 2003)) 20
Hình 4 Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, Hà Giang 21
Hình 5 Hoa tiên Asarum glabrum Merr 22
Hình 6 Hoa tiên Asarum glabrum Merr tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, Hà Giang 23
Hình 7 Bách vàng việt Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep 26
Hình 8 Bách vàng việt Xanthocyparis vietnamensis tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, Hà Giang (Ảnh Nguyễn Sinh Khang) 26
Hình 9 Aspidistra neglecta (Ảnh Nguyễn Sinh Khang, L Averyanov) 28
Hình 10 Thí nghiệm thăm dò khả năng nảy mầm của hạt Thìa là hóa gỗ việt tại phòng thí nghiệm (Ảnh Chu Thị Thu Hà) 31
Hình 11 Thìa là hóa gỗ việt được gieo từ hạt tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn (Ảnh Nguyễn Phương Hạnh) 32
Hình 12 Thí nghiệm đánh giá khả năng nảy mầm của hạt Thổ tế tân 33
Hình 13 Nhân giống sinh dưỡng Thổ tế tân (Ảnh Chu Thị Thu Hà, Nguyễn Anh Tuấn) 35
Hình 14 Gây trồng Thìa là hóa gỗ việt (Ảnh Chu Thị Thu Hà, Nguyễn Phương Hạnh) 38
Hình 15 Công tác điều tra thực địa tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang 42
Danh mục bảng Bảng 1 Kết quả nhân giống hữu tính Thìa là hóa gỗ việt tại Khu BTTN Bát Đại Sơn 32
Bảng 2 Kết quả nhân giống sinh dưỡng Thổ tế tân Asarum caudigerum 34
Bảng 3 Đặc điểm phân bố Thìa là hóa gỗ việt tại Khu BTTN Bát Đại Sơn năm 2016 36
Bảng 4 Đặc điểm phân bố Thìa là hóa gỗ việt tại Khu BTTN Bát Đại Sơn năm 2017 37
Bảng 5 Khả năng trồng mới Thìa là hóa gỗ việt tại Khu BTTN Bát Đại Sơn năm 2017 37
Các từ viết tắt
Stt Từ viết tắt Từ viết đầy đủ
1 IUCN International Union for the Conservation of Nature and Natural
Resources (Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)
2 Khu BTTN Khu Bảo tồn thiên nhiên
3 VQG Vườn Quốc gia
Trang 3BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ HTQT VỀ KHCN CẤP VIỆN HÀN LÂM
I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên Nhiệm vụ (tiếng Việt): Bảo tồn các loài thực vật quý hiếm ở Khu Bảo tồn
thiên nhiên Bát Đại Sơn và phụ cận thuộc tỉnh Hà Giang, Việt Nam
Tên Nhiệm vụ (tiếng Anh)Conservation of rare and precious plant species at Bat
Dai Son Nature Reserve and surroundings in Ha Giang province of Vietnam
Mã số Nhiệm vụ: VAST.HTQT.PHAP.01/16-17
Hướng khoa học công nghệ: (Thuộc 7 hướng nghiên cứu của Viện Hàn lâm )
2 Thời gian thực hiện (từ … đến …): từ 01/2016 đến 12/2017
3 Kinh phí xin hỗ trợ từ ngân sách SNKH (triệu đồng): 200 triệu đồng
4 Thuộc chương trình hợp tác với (tên tổ chức, nước): Cộng Hòa Pháp
5 Chủ nhiệm Nhiệm vụ phía Việt Nam:
- Họ và tên: Chu Thị Thu Hà - Chức danh, học vị, ngành: TS.NCVC
- Điện thoại cơ quan: 04 37913827 Nhà riêng: Di động: 0912513505
6 Đơn vị chủ trì phía Việt Nam:
- Tên cơ quan: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam
- Thủ trưởng đơn vị: PGS TS Nguyễn Văn Sinh
- Hướng nghiên cứu: Sinh học, sinh thái, đa dạng sinh học và bảo tồn
- Địa chỉ: Nhà A11, số 18 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội
- Website: iebr.ac.vn - E.mail: iebr@iebr.ac.vn
7 Chủ nhiệm Nhiệm vụ phía phía đối tác:
- Họ và tên: Thomas Haevermans - Chức danh, học vị, ngành: TS
- Chức vụ: Trưởng nhóm nghiên cứu thực vật - E.mail: haever@hmnh.fr
PL8– Mẫu báo cáo tổng kết
Trang 4- Điện thoại cơ quan: +33140793366 - Fax:
8 Đơn vị chủ trì phía đối tác:
- Tên cơ quan (tiếng Việt, tiếng Anh): Viện Hệ thống học, tiến hóa và đa dạng sinh học – Bảo tàng lịch sử tự nhiên quốc gia Pháp
Institute of Systematics, Evolution, Biodiversity - National Museum of Natural History
- Thủ trưởng đơn vị: TS Philippe Grandcolas, DR CNRS, Viện trưởng Viện ISYEB; TS Bruno David, Giám đốc Bảo tàng MNHN
- Hướng nghiên cứu: Sinh học, sinh thái, hệ thống học, tiến hóa, đa dạng sinh học và bảo tồn
- Địa chỉ: CP39 - 57, rue Cuvier, 75231 Paris Cedex 05, FRANCE
- Điện thoại: - Fax: +33140793342
- Website: http://isyeb.mnhn.fr/ - E.mail:
9 Danh sách cán bộ Việt Nam và đối tác nước ngoài thực hiện:
Danh sách cán bộ phía Việt Nam đã tham gia thực hiện:
và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chủ nhiệm nhiệm vụ
Danh sách cán bộ phía đối tác đã tham gia thực hiện:
1 Thomas Haevermans Viện Hệ thống học,
tiến hóa và đa dạng sinh học, Bảo tàng lịch
sử tự nhiên quốc gia Pháp (MNHN)
Chủ nhiệm nhiệm vụ
Trang 5II NỘI DUNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
10 Mục tiêu của Nhiệm vụ:
- Đánh giá được thực trạng phân bố của các loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị
đe dọa ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn và phụ cận, tỉnh Hà Giang
- Bảo tồn nguyên vị từ 1 đến 2 loài thực vật quý hiếm Đề xuất hướng bảo tồn thích hợp đối với một số loài thực vật có giá trị và triển vọng
- Nâng cao năng lực nghiên cứu và hợp tác khoa học cho cả hai bên tham gia thực hiện nhiệm vụ
11 Tổng quan lĩnh vực nghiên cứu của Nhiệm vụ Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
- Tình hình nghiên cứu trong nước:
Việt Nam là quốc gia có hệ thực vật khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, việc khai thác tài nguyên thực vật đối với các cây
có giá trị kinh tế, y dược, mỹ phẩm đã vượt quá khả năng kiểm soát của các Ban, Ngành địa phương Nhiều Vườn quốc gia (VQG), Khu Bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN), Khu Bảo tồn loài đã được thành lập để duy trì giữ gìn các nguồn gen quý hiếm Các nghiên cứu về đa dạng thành phần loài thực vật, bảo tồn thực vật nhất là các loài quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa đã được tiến hành ở nhiều vùng miền của cả nước, ví dụ như ở Khu BTTN Xuân Nha, tỉnh Sơn La (Đinh Thị Hoa, Hoàng Văn Sâm, 2016), VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai (Hoàng Văn Sâm, 2013; Nguyễn Quốc Trị và cs., 2008), Khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (Trịnh Ngọc Bon và cộng sự, 2014), với nhiều loài thực vật quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam, nghị định 32/2006/NĐ-CP và danh lục đỏ của IUCN (2014, 2017)
Nhiều loài thực vật đã được quan tâm nghiên cứu đánh giá khả năng bảo
tồn, trong đó có một số loài của chi Tế tân Asarum L được đánh giá có nguy cơ
bị đe dọa Biến hóa núi cao Asarum balansae Franch là loài được ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) với cấp đánh giá bị đe dọa (EN) và thuộc Danh lục thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quí hiếm (nhóm 2A) trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Các điểm phân bố không nhiều và cách xa nhau, dễ gặp rủi ro vì cây chủ yếu mọc
Trang 6ven rừng, cạnh lối đi Một số công bố cho thấy Biến hóa núi cao phân bố tại Hà Nội (Ba Vì), quần thể mọc chủ yếu ở độ cao từ 400-500 m, gần khu vực Đền Trung, tuy nhiên, cây thường mọc rải rác số lượng cá thể không nhiều, và tại Tuyên Quang (Bản Bung, Na Hang), các điểm bắt gặp ở độ cao từ 200 đến 600
m, mật độ phân bố cao hơn, nhưng không đồng đều trong khu vực (Nguyễn Anh Tuấn, 2015) Tổ chức BirdLife và Viện Điều tra quy hoạch rừng đã phối hợp nghiên cứu điều tra phát hiện loài Biến hóa núi cao phân bố ở Khu BTTN Ngọc Linh (Andrew W Tordoff et al., 2000) Bảo tồn nguyên vị tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đối với Biến hóa núi cao bằng phương pháp khoanh nuôi tự nhiên và trồng mới dưới tán rừng tự nhiên cho kết quả cây sinh trưởng
và phát triển khá tốt Bảo tồn chuyển vị đối với Biến hóa núi cao bằng cách trồng dưới tán rừng trong khu vực vườn rừng của một số hộ dân, cây có đủ độ che sáng và độ ẩm, được chăm sóc tốt nên sinh trưởng và phát triển cũng khá,
tỷ lệ cây sống khá cao đạt 50,41% (Nguyễn Anh Tuấn, 2015)
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn (2015) cho thấy khi bảo tồn
nguyên vị tại khu vực phân bố tự nhiên của Thổ tế tân Asarum caudigerum
Hance ở tỉnh Tuyên Quang, cây sinh trưởng và phát triển tốt, tỷ lệ sống đạt
80%
Hoa tiên Asarum glabrum Merr đã được thử nghiệm nhân giống sinh
dưỡng bằng cách giâm hom tại vùng phân bố tự nhiên của loài ở Tuyên Quang
có và không có xử lý chất kích thích sinh trưởng (Nguyễn Anh Tuấn, 2015) Khi không xử lý chất kích thích sinh trưởng (công thức đối chứng) cho tỷ lệ ra
rễ chỉ đạt 40%; tỷ lệ ra rễ của các hom có xử lý chất kích thích đạt từ 77,1% đến 91,4% Thời vụ nhân giống vào mùa xuân và mùa thu là phù hợp cho việc nhân giống Tỷ lệ ra rễ khá cao cho thấy khả năng nhân giống bằng hom thân loài Hoa tiên này là rất khả thi và có thể thực hiện thành công được Khoanh nuôi tự nhiên Hoa tiên tại Vĩnh Phúc ở độ cao trên 1.000 m và tại Hà Giang ở
độ cao trên 1.100 m so với mực nước biển cũng cho kết quả cây sinh trưởng tốt Bảo tồn chuyển vị Hoa tiên tại Vườn quốc gia Tam Đảo ở điểm có độ cao
200 m so với mực nước biển, cây có tỷ lệ sống đạt 60% nhưng sinh trưởng rất chậm (Nguyễn Anh Tuấn, 2015)
Bên cạnh các rủi ro như thiên tai, cháy rừng thì việc khai thác quá mức tài nguyên thực vật đã gây suy giảm tính đa dạng sinh học của Việt Nam, nhiều loài thực vật bị đe dọa và trở nên hiếm Các nghiên cứu hiện nay cho thấy nhiều
Trang 7loài thực vật quý của Việt Nam có giá trị cao trong lĩnh vực kinh tế, y học đang
ở mức độ đe dọa tuyệt chủng, được liệt kê trong nghị định số 32/2006/NĐ-CP năm 2006 của Chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế khai thác (37 loài) và nghiêm cấm khai thác (15 loài) (Chính phủ Việt Nam, 2006) Hơn nữa, có tới
464 loài thực vật đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 để bảo tồn và phục hồi (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
Hà Giang là tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của tổ quốc, phía bắc giáp với tỉnh Vân Nam và Quảng Tây - Trung Quốc; với đường biên giới dài 274
km Phía nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái và Lào Cai Hà Giang có diện tích rừng lớn với 345.860 ha rừng tự nhiên, nhiều khu rừng nguyên sinh với nhiều loại cây gỗ, cây dược liệu quý
Nghiên cứu thống kê cho thấy có 156 loài thực vật tại Hà Giang bị đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007), thuộc 66 họ thực vật bậc cao có mạch, chiếm 36,6% tổng số loài nguy cấp của cả nước gồm 1 loài tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (chưa rõ ràng), 13 loài rất nguy cấp, 61 loài nguy cấp và 81 loài và 01 thứ
sẽ nguy cấp (Vũ Anh Tài, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2014)
Tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, tỉnh Hà Giang đã ghi nhận thành phần thực vật thuộc họ Ngọc Lan (Từ Bảo Ngân và cộng sự, 2014) Trước đó, theo kết quả nghiên cứu của Farjon và cộng sự (2002), loài Bách vàng việt
(Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep) đã được phát hiện mới Đây là
là nguồn gen quý, là loài đặc hữu của Việt Nam, có ý nghĩa khoa học và có giá trị kinh tế cao về công dụng cho gỗ Bên cạnh đó có 31 hợp chất được phát hiện trong thành phần tinh dầu từ lá Bách vàng việt (Trần Huy Thái và cộng sự, 2007) Tuy nhiên số lượng của loài này không nhiều, phân bố rải rác, tái sinh rất hạn chế Bách vàng việt là một trong 10 loài thuộc lớp Thông Pinopsida của Việt Nam cần ưu tiên bảo tồn, và được đánh giá hiện trạng bảo tồn ở bậc đang
bị tuyệt chủng trầm trọng không chỉ ở mức quốc gia mà còn ở mức quốc tế (IUCN, 2014; IUCN, 2017)
Loài bảy lá một hoa (Paris polyphylla Smith) cũng được phát hiện năm
2005 tại tại tỉnh Hà Giang Đây là một loài có giá trị sử dụng chữa bệnh rất tốt (Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2006) và cũng được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam
Trang 8(Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
Từ xưa cây thuốc đã giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và chữa bệnh cho con người Đồng bào các dân tộc ở tỉnh Hà Giang có nhiều bài thuốc
từ cây cỏ có giá trị chữa bệnh rất hiệu quả Các nghiên cứu, đề xuất sử dụng hợp lý bền vững và bảo tồn các loài cây có giá trị làm thuốc là thực sự cần thiết
để duy trì phát triển nguồn tài nguyên quý giá này
Năm 2007, Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự đã đưa Thìa là hóa gỗ việt
(Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov) vào Danh lục một số loài thực
vật có giá trị bảo tồn cao ở Khu BTTN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (Nguyễn Tiến Hiệp và cs., 2007) Năm 2011-2012, đề tài nghiên cứu cấp
cơ sở của các cán bộ phòng Tài nguyên thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra và đề xuất giải pháp bảo tồn đối với hai loài trong
chi Thìa là hóa gỗ (Xyloselinum) tại Hà Giang (Trần Huy Thái, 2012b)
Một số nghiên cứu về nhân giống, bảo tồn thực vật đã được tiến hành tại Khu BTTN Bát Đại Sơn như đối với loài Thông đỏ bắc (Nguyễn Sinh Khang
và cộng sự, 2011) Bách vàng việt là một trong năm loài thông đã được các cán
bộ thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật tiến hành nghiên cứu bảo tồn tại Khu BTTN Bát Đại Sơn trong những năm trước đây (Kiểm lâm vùng 1, 2015) Kết quả nghiên cứu nhân giống loài Bách vàng việt cho kết quả tốt ở những hom giâm thu ở những đối tượng cây còn trẻ, hom có lá non hoặc các hom giâm mọc trực tiếp từ thân chính, với tỉ lệ ra rễ có thể đạt 95,29% khi sử dụng chất kích thích ra rễ (Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2007a) Năm 2006-2008,
đề tài cấp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam của TS Nguyễn Tiến Hiệp
đã tiến hành trồng và chăm sóc 300 cây Bách vàng việt trong mô hình bảo tồn chuyển chỗ loài Bách vàng việt có sự tham gia của cộng đồng Các kết quả theo dõi sinh trưởng cho thấy, tỉ lệ sống của cây trồng chuyển chỗ tại Khu BTTN Bát Đại Sơn đạt từ 85% tới 97,01%, trong đó nguồn cây giống được thu ở các vùng lân cận có điều kiện địa lý và khí hậu không quá khác xa so với Khu BTTN Bát Đại Sơn (Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2007a)
Cho đến nay, chưa ghi nhận nghiên cứu bảo tồn các loài Biến hóa núi cao và Thìa là hóa gỗ việt tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận, huyện Quản
Bạ, tỉnh Hà Giang
Trang 9Trong tháng 7 năm 2015, tỉnh Hà Giang đã có nghị quyết thông qua quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (UBND tỉnh Hà Giang, 2015) Tuy nhiên, các nghiên cứu về nhân giống, bảo tồn các loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị đe dọa tại tỉnh Hà Giang nói chung và tại Khu BTTN Bát Đại Sơn nói riêng còn rất ít, cần được quan tâm hơn để duy trì sự phát triển đa dạng sinh học thực vật, nhất là các loài có giá trị kinh tế và giá trị khoa học
Nghiên cứu bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm bị đe dọa dự kiến loài Thìa là hóa gỗ việt tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận, huyện quản Bạ, tỉnh
Hà Giang sẽ góp phần gìn giữ phát triển nguồn tài nguyên thực vật cho Việt Nam nói chung và cho tỉnh Hà Giang nói riêng
- Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Trên thế giới, theo đánh giá của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) có hơn 8.000 loài thực vật được đánh giá là bị đe dọa tuyệt chủng (Caley, 2014) Nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật quý, hiếm nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức, cá nhân Đã có nhiều chương trình, dự án triển khai hoạt động bảo tồn, quản lý thực vật ở nhiều nước trên thế giới, ví dụ như ở Mỹ, Canada, Việt Nam (Farnsworth, 2014; CNPS, 2015; Luu Ngoc Trinh et al., 2006)
Cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về loài Thìa là hóa gỗ
việt (Xyloselinum vietnamense) – loài được phát hiện năm 2006 tại tỉnh Hà Giang
(Pimenov M G., Kljuykov E V., 2006; Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2007b) Các nghiên cứu ở nước ngoài về bảo tồn loài này chưa có, còn nghiên cứu ở Việt Nam chỉ dừng lại ở mức sơ bộ nhân giống sinh dưỡng với tỷ lệ ra rễ rất thấp và
đề xuất giải pháp bảo tồn
- Đánh giá thuận lợi, khó khăn:
Thuận lợi:
Về mặt nhân lực, các cán bộ nghiên cứu phía Việt Nam có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực tài nguyên thực vật, nhân giống gây trồng và bảo tồn đa dạng sinh học Cơ sở vật chất của phía Việt Nam đáp ứng được yêu cầu sử dụng của các thành viên tham gia cho các nội dung nghiên cứu đặt ra
Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã
Trang 10có kết quả nghiên cứu bước đầu về phân bố của một số loài thực vật quan tâm tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và khu vực phụ cận, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Trong khuôn khổ nhiệm vụ hợp tác, các nghiên cứu tiếp theo về điều tra thống kê toàn diện hơn về sự phân bố của các loài thực vật có giá trị bảo tồn và
bị đe dọa, phân tích và dự đoán môi trường sống thích hợp của các loài thực vật quan tâm sẽ được kế thừa các kết quả nghiên cứu trước là cơ hội thuận lợi để đạt được các kết quả mới như mong đợi và mục tiêu, kế hoạch đã đặt ra
Khó khăn:
Các loài thực vật quý hiếm, bị đe dọa thường có số lượng cá thể không nhiều, yêu cầu điều kiện môi trường sống khá chặt chẽ, vì vậy công tác bảo tồn
sẽ gặp nhiều khó khăn để đạt được chất lượng và hiệu quả cao
Nghiên cứu nhân giống hữu tính loài Thìa là hóa gỗ việt rất khó khăn do rất khó thu được hạt cây Hơn nữa, hiện nay phía Trung Quốc cho người thu mua nhiều nên người dân địa phương đã tận thu loài cây này để bán
Mặt khác, công tác bảo tồn sẽ gặp rất nhiều trở ngại nếu không có sự phối hợp chặt chẽ của cán bộ kiểm lâm tại khu vực nghiên cứu nhằm bảo vệ sự tồn tại và phát triển các loài thực vật có giá trị bảo tồn bị đe dọa, tránh bị khai thác bừa bãi
- Biện giải cần thiết tiến hành Nhiệm vụ:
Việt Nam có hệ thực vật phong phú trong đó có nhiều loài có giá trị cao trong lĩnh vực kinh tế, y học Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay cho thấy nhiều loài thực vật quý đang ở mức độ đe dọa tuyệt chủng, được liệt kê trong nghị định số 32/2006/NĐ-CP năm 2006 của Chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế khai thác (37 loài) và nghiêm cấm khai thác (15 loài) (Chính phủ Việt Nam, 2006)
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tuyệt chủng và khan hiếm các loài thực vật quý hiếm là do tình trạng khai thác quá mức và công tác quản lý thực vật còn yếu kém Tình trạng phá rừng, cháy rừng vẫn diễn ra, dẫn đến giảm diện tích rừng và độ che phủ (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009)
Trang 11Hiện nay, diện tích rừng được che phủ đã tăng lên (năm 2010: 39,5% diện tích rừng) nhưng chủ yếu là rừng trồng, rừng tái sinh, rừng sản xuất,
đa số là rừng nghèo nên độ đa dạng phong phú của rừng thấp, chất lượng rừng giảm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2011) Vì vậy mà gây suy giảm tính đa dạng sinh học của Việt Nam, nhiều loài thực vật bị đe dọa và trở nên hiếm Có tới 464 loài thực vật đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 2007 để bảo tồn và phục hồi (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
Khu BTTN Bát Đại Sơn nằm trên địa bàn 4 xã: Bát Đại Sơn, Thanh Vân, một phần xã Cán Tỷ, một phần xã Nghĩa Thuận, thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang Được thành lập năm 2000, khu Bảo tồn này có diện tích 10.684
ha, trong đó 6.298 ha là khu vực bảo vệ nghiêm ngặt và 4.071 ha là khu vực phục hồi sinh thái Thành phần thực vật nơi đây khá phong phú, có tới 361 loài thuộc 103 họ và 249 chi (Kiểm lâm vùng 1, 2015) Trong đó chi Thìa là hóa gỗ
(Xyloselinum Pimenov & Kljuykov) thuộc họ Hoa tán (Apiaceae) là một chi mới, gồm 2 loài phân bố tại Việt Nam là các loài mới cho khoa học (Xyloselinum
vietnamense Pimenov & Kljuykov và Xyloselinum leonidii Pimenov & Kljuykov)
được các nhà thực vật Nga và Việt Nam phát hiện năm 2006 trong hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ở các huyện Quản Bạ, Yên Minh và Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang (Pimenov M G., Kljuykov E V., 2006; Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự, 2007b)
Có thể nói, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu sâu nào
về 2 loài trong chi Thìa là hóa gỗ ở trên thế giới và Việt Nam Kết quả nghiên cứu ban đầu của nhóm tác giả Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cho thấy hai loài Thìa là hóa gỗ có thành phần tinh dầu khá phong phú (Trần Huy Thái
và cộng sự, 2012a) Bên cạnh giá trị sử dụng, thì hai loài này rất có ý nghĩa khoa học vì chúng chỉ có ở Việt Nam
Kết quả điều tra khảo sát của các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cho thấy tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang cũng có phân bố các
loài trong chi Tế tân (Asarum L.) hay chi Hoa tiên, thuộc họ Mộc hương
(Aristolochiaceae) Đây là một chi nhỏ nhưng có các loài quý hiếm và hầu như tất
cả các loài đều được coi là cây thuốc Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các loài trong chi Tế tân có thành phần tinh dầu khá phong phú (Trần Huy Thái và cộng
sự, 2013) Ở Việt Nam, chi này có 9 loài (Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự, 2012a; Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự, 2012b) trong đó có 3 loài được đưa vào Sách Đỏ
Trang 12Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) là Biến hóa núi cao, Thổ tế tân và Hoa tiên Biến hóa núi cao
(Asarum balansae Franch.) là loài được liệt kê trong phân hạng nguy cấp (EN)
có nguy cơ bị tuyệt chủng, trong khi hai loài còn lại thuộc phân hạng sẽ nguy cấp (VU)
Các nghiên cứu về bảo tồn các loài thực vật nguy cấp được thực hiện khá tập trung ở một số vườn quốc gia (VQG) như Cúc Phương, Hoàng Liên, Ba Vì, nơi có hệ thực vật phong phú và đa dạng, bao gồm hàng chục hàng trăm loài cây quý hiếm Tuy nhiên, tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, việc bảo tồn các loài thực vật quý hiếm còn chưa được phát triển Cho đến nay, chỉ có một số nghiên cứu bảo tồn đối với một số loài thực vật được thực hiện tại đây
Bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng các loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị đe dọa ở các Khu BTTN là một yêu cầu cấp bách nhằm phục vụ đắc lực cho Chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội, góp phần làm nền tảng cho Chương trình hiện đại hóa Nông nghiệp nông thôn vùng rừng núi Đồng thời góp phần thực hiện kế hoạch Hành động Quốc gia về Bảo tồn đa dạng sinh vật
mà Chính phủ đã ký năm 1995
Các nhà khoa học tại Viện Hệ thống học, tiến hóa và đa dạng sinh học của Pháp đã phát triển một số chủ đề nghiên cứu trong khoa học thực vật, như phân tích và dự đoán môi trường sống thích hợp, đặc biệt là các kỹ thuật mã vạch DNA và các nghiên cứu hệ thống học phân tử Vì vậy, việc hợp tác với bên Pháp để tiến hành nhiệm vụ này sẽ là cơ hội thuận lợi để phía Việt Nam có được kết quả tốt về các nội dung, mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra
Đa số các cán bộ nghiên cứu phía Việt Nam tham gia vào dự án đều là các nhà khoa học có năng lực cao về lĩnh vực liên quan đến dự án, gồm các chuyên gia về thực vật học, tài nguyên thực vật học Nhóm tác giả trên đã có nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên thực vật, đa dạng sinh học thực vật
và bảo tồn nên sẽ đáp ứng tốt yêu cầu chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ này Hiện tại chúng tôi chủ yếu phân loại thực vật bằng phương pháp hình thái so sánh, bảo tồn nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng từ củ, giâm hom bằng cành và phương pháp nhân giống hữu tính
Trang 13Phối hợp nghiên cứu với các cán bộ nghiên cứu ở Viện Hệ thống học, tiến hóa và đa dạng sinh học của Pháp trong việc bảo tồn các loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị đe dọa ở Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận sẽ rất hữu ích cho dự án Kết quả mong đợi là đem lại thành tựu khoa học góp phần làm giàu hóa về số lượng cá thể các loài thực vật có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, giữ gìn và phát triển đa dạng sinh học thực vật
- Cách tiếp cận:
Tiếp cận hệ thống: Tài nguyên thực vật nói riêng và tài nguyên thiên
nhiên nói chung là một hệ thống nhiều phân hệ có thứ bậc khác nhau, có giá trị
sử dụng khác nhau, chúng tạo nên các tiềm năng cho phát triển kinh tế - xã hội
và tiềm năng bảo tồn tự nhiên Bảo tồn là công cụ hỗ trợ phát triển, đảm bảo nguồn dự trữ đáp ứng nhu cầu sử dụng hiện tại và tương lai Tài nguyên thực vật là một thể thống nhất, và có tính biến động mạnh có liên quan mật thiết tới các dạng tài nguyên khác Tiếp cận hệ thống là cách nhìn nhận thế giới qua cấu trúc hệ thống, thứ bậc và động lực của chúng; đó là một tiếp cận toàn diện và động Tiếp cận này là cách xử lý biện chứng nhất đối với các vấn đề môi trường và phát triển Nguồn tài nguyên thực vật của Việt Nam vô cùng phong phú và đa dạng Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, cường độ và tần suất khai thác các cây có giá trị kinh tế, y dược, công nghiệp ngày càng gia tăng vượt ngoài kiểm soát của các cơ quan chức năng Việc khai thác quá mức tài nguyên thực vật dẫn đến nhiều loài cây quý trở nên hiếm và có nguy cơ bị đe dọa về sự tồn tại và phát triển
Tiếp cận đa ngành: Công tác bảo tồn đa dạng thực vật nói riêng và bảo
tồn đa dạng sinh học nói chung liên quan đến nhiều ngành kinh tế và nhiều khía cạnh của đời sống xã hội của cộng đồng Vì vậy, tiếp cận đa ngành cũng phải đặt ra trong nghiên cứu bảo tồn đa dạng thực vật Tiếp cận đa ngành và liên ngành là hướng nghiên cứu đã và đang được hình thành và khẳng định trong nghiên cứu khoa học ở các nước trên thế giới Hướng nghiên cứu này đã mang lại những giá trị to lớn trên nhiều phương diện, đánh dấu bước phát triển mới của khoa học nói riêng và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển
xã hội
Tiếp cận hệ sinh thái: Hệ sinh thái được hiểu như là một phức hệ, trong
đó tồn tại sự tác động qua lại giữa quần xã sinh vật và môi trường tự nhiên khu
Trang 14vực tạo nên một thể thống nhất về chức năng Tiếp cận hệ sinh thái là một cách tiếp cận mới được UNESCO đề xuất trong quản lý các khu bảo tồn Việc áp dụng cách tiếp cận này sẽ cân bằng được mục tiêu bảo tồn: bảo tồn, sử dụng bền vững và công bằng trong chia sẻ lợi ích nguồn lợi đem lại
Tiếp cận cộng đồng: Cộng đồng là một hợp phần của hệ sinh thái, nhưng
mặt khác cộng đồng lại là tất cả những người có quyền lợi hợp pháp do liên quan đến sự duy trì cuộc sống gắn liền với khu bảo tồn, tiếp cận cộng đồng cho phép khai thác tri thức bản địa của cộng đồng tại khu vực bảo tồn
Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm và cơ sở dữ liệu đã có một cách chọn lọc: Căn cứ trên các nghiên cứu trước đây về thực vật tại Khu BTTN Bát
Đại Sơn và phụ cận đã phát hiện ra các loài thực vật mới và đặc hữu của Việt
Nam như hai loài thuộc chi Thìa là hóa gỗ (Xyloselinum) thuộc họ Hoa tán
(Apiaceae), có giá trị trong ngành công nghiệp mỹ phẩm vì cho tinh dầu Các loài cây có công dụng làm thuốc cũng được nghiên cứu tại khu vực này như các loài
trong chi Tế tân (Asarum) thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae), trong đó có loài Biến hóa núi cao (Asarum balansae Franch.) là loài được liệt kê trong phân
hạng nguy cấp (EN) có nguy cơ bị tuyệt chủng
Việc nghiên cứu bảo tồn nguyên vị các loài thực vật quý, hiếm, có giá trị bảo tồn và bị đe dọa tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận (tỉnh Hà Giang) là thực sự cần thiết nhằm góp phần duy trì phát triển đa dạng sinh học thực vật, giữ gìn nguồn tài nguyên thực vật quý
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng phía Việt Nam:
Khảo sát phân bố của một số loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị đe dọa
ở Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận bằng phương pháp theo tuyến Sử dụng máy định vị toàn cầu (GPS) Garmin Hc Vistra đo tọa độ địa lý, độ cao so với mặt nước biển (a.s.l.), để ghi nhận các điểm phân bố, tuyến điều tra Điều tra số lượng cá thể Thìa là hóa gỗ việt theo ô tiêu chuẩn dọc theo 3 tuyến thuộc 3 núi của xã Cán Tỷ, mỗi ô tiêu chuẩn có kích thước 2000 m2
(chiều rộng 20 m x chiều dài 100 m.)
Điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài thực vật quan tâm bằng phương pháp điều tra thực địa và phỏng vấn nhanh
Xác định tên khoa học của các loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị đe dọa bằng phương pháp hình thái so sánh, các tài liệu chính được dùng trong
Trang 15quá trình xác định tên khoa học gồm: Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1999
- 2000); Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001 - 2005)
Thí nghiệm thăm dò khả năng nảy mầm của hạt Thìa là hóa gỗ việt và của hạt Thổ tế tân trên đĩa petri được thực hiện sau 2 ngày thu hạt kết thúc chuyến công tác thực địa ở Hà Giang vào tháng 12 năm 2016, sử dụng giấy lọc giữ ẩm và lấy ngẫu nhiên 50 hạt của mỗi loài thực vật nghiên cứu xếp lên giấy lọc, thường xuyên bổ sung nước duy trì độ ẩm, và theo dõi hạt trong 60 ngày
Hạt Thìa là hóa gỗ việt và hạt Thổ tế tân cũng được gieo trên đất phù sa
ẩm trong chậu tại phòng thí nghiệm ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
nhằm thăm dò khả năng nhân giống để bảo tồn chuyển vị Ex situ Đối với mỗi
loài lấy ngẫu nhiên 30 hạt gieo lặp lại trong 2 chậu đất, thực hiện 2 đợt tháng
12 năm 2016 và tháng 3 năm 2017, tưới nước và theo dõi trong 60 ngày sau khi gieo hạt mỗi đợt
Thử nghiệm nhân giống vô tính Thổ tế tân bằng giâm hom trên đất phù
sa ẩm vào tháng 3 năm 2017 ở quy mô phòng thí nghiệm, : Lựa chọn những cây khỏe mạnh, tỉa lá và cắt hom với kích thước dài từ 15-20 cm Lựa chọn 2 loại hom: 50 hom thân rễ - là phần gốc của cây; 50 hom ngọn - phần ngọn, giữ lại lá non Cắt hom xong, để vào chậu nước đủ ngập 3-5 cm phần gốc; đem giâm hom vào chậu/túi nilon đã được làm đất, chiều sâu từ 4-7 cm, theo dõi sinh trưởng, đánh giá khả năng ra chồi, ra rễ của hom trong 8 tuần
Bảo tồn nguyên vị In situ 1 loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị đe dọa
do bị người dân địa phương khai thác nhiều (Thìa là hóa gỗ việt) tại Khu BTTN Bát Đại Sơn bằng 2 phương pháp: (i) khoanh nuôi 2000 m2 tại chỗ, theo dõi từ tháng 12/2016 đến tháng 5/2017, và (ii) gây trồng thêm bằng nhân giống hữu tính tại Trung tâm vườn ươm thuộc Khu BTTN Bát Đại Sơn, sau đó trồng trở lại vào khu vực phân bố tự nhiên của loài Thu hạt của Thìa là hóa gỗ việt (khoảng 1.000 hạt) vào tháng 12 năm 2016 và tiến hành gieo 300 hạt (100 hạt x
3 lô) trên đất cát ẩm ngay sau khi hạt được thu, chăm sóc tưới nước và theo dõi hạt nảy mầm, sinh trưởng trong 140 ngày, trồng cây ra bầu và chăm sóc tưới nước trong 50 ngày, trồng cây ra đất rừng và theo dõi sinh trưởng sau 60 ngày
Phương pháp nghiên cứu nhân giống hữu tính và vô tính theo các tài liệu:
Kỹ thuật trồng, chế biến và sử dụng cây thuốc nam (Bảo Thắng, 2003); Chọn giống cây trồng (Vũ Ðình Hoà và cộng sự, 2005); Chọn tạo và sản xuất giống
Trang 16cây trồng (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2006); Kỹ thuật trồng cây thuốc (Viện Dược liệu 1976); Trồng hái và dùng cây thuốc (Lê Trần Đức, 1983)
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng phía Pháp:
Nghiên cứu phân bố của các loài thực vật sử dụng dữ liệu đã biết (từ tài liệu, các bộ sưu tập mẫu cây của các đơn vị phân loại cho khu vực, v.v…) cũng như các dữ liệu mới thu được từ thực địa (các tọa độ của từng mẫu sẽ được ghi lại bằng cách sử dụng thiết bị GPS và mẫu vật sẽ được đưa vào cơ sở dữ liệu Paris Sonnerat Database)
Nghiên cứu các môi trường sống thích hợp được sử dụng để suy ra sự phân bố có thể có của các loài thực vật quý hiếm, để cố gắng xác định các khu vực tiềm năng khác phù hợp cho chúng phát triển Dự đoán tương lai về sự phân bố cũng sẽ được thực hiện để phát hiện các khả năng mất môi trường sống của các loài thực vật quan tâm do tác động của biến đổi khí hậu
Để mô hình hóa môi trường sống thực tế thích hợp, các khu vực phân bố
sẽ được tính toán bằng cách sử dụng các mô hình phân bố loài dựa trên các biến khí hậu thực tế (có sẵn cho Việt Nam như các bộ dữ liệu khí hậu sinh học Bioclim) Các thành viên tham gia nhiệm vụ phía Pháp đề xuất sử dụng MaxEnt (Philips et al., 2006) là một mô hình dựa trên Maximum Entropy (Elith
et al 2006)
Sử dụng cùng một phương pháp, dự đoán môi trường sống thích hợp trong tương lai sẽ được tính toán bằng cách sử dụng các kịch bản khí hậu khác nhau có sẵn như dự đoán của các biến khí hậu sinh học Bioclim
12 Nội dung nghiên cứu:
- Tiến hành khảo sát thực trạng phân bố, điều tra đánh giá tình trạng bảo tồn của một số loài thực vật có giá trị bảo tồn và bị đe dọa ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn và phụ cận, thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
- Thử nghiệm nhân giống các loài thực vật quan tâm
- Bảo tồn nguyên vị 1 loài thực vật quan tâm là Thìa là hóa gỗ việt tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn
- Xây dựng và đề xuất hướng bảo tồn đối với một số loài thực vật có giá trị và tiềm năng
Trang 17III KẾT QUẢ
13 Các kết quả thu được: (Mô tả cụ thể các kết quả thu được Đánh giá giá trị khoa
học, phân tích những điểm mới của các kết quả)
Khu BTTN Bát Đại Sơn nằm trên địa bàn 4 xã: Bát Đại Sơn, Thanh Vân, một phần xã Cán Tỷ, một phần xã Nghĩa Thuận, thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang (Hình 1) Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được ghi nhận có phân
bố của khá nhiều các loài thực vật quý hiếm, có đến 33 loài trên tổng số 156 loài bị đe dọa tại tỉnh Hà Giang (Vũ Anh Tài, Nguyễn Nghĩa Thìn, 2014) Các thành viên tham gia thực hiện nhiệm vụ đã tiến hành 3 đợt đi công tác thực địa tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và hai xã phụ cận: Tùng Vài, Cao Mã Pờ, trong đó
2 đợt năm 2016 và 1 đợt năm 2017 Kiểu rừng ở khu vực nghiên cứu chủ yếu là rừng cây lá rộng thường xanh hỗn giao cây lá kim, trên núi đá vôi xen núi đất,
độ cao lên đến 1.000 m - 1.200 m so với mực nước biển Các loài thực vật được lựa chọn nghiên cứu điều tra phân bố gồm 5 loài: 01 loài đặc hữu của Việt Nam
(Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov), 02 loài có nguy cơ bị đe dọa (Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance, Hoa tiên Asarum
glabrum Merr.) theo Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007), và 02 loài đặc hữu của Hà Giang
(Bách vàng việt Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep; Aspidistra
neglecta Aver., Tillich & K.S Nguyen)
Hình 1 Bản đồ huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Trang 18Trong các chuyên khảo sát thực địa tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, các thành viên tham gia thực hiện nhiệm vụ không phát hiện phân bố của Biến hóa núi cao Đây là loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học
và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam,2007) với cấp đánh giá
bị đe dọa (EN) và thuộc Danh lục thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quí hiếm (nhóm 2A) trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP để hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Các điểm phân bố không nhiều và cách xa nhau,
dễ gặp rủi ro vì cây chủ yếu mọc ven rừng, cạnh lối đi Một số công bố cho thấy Biến hóa núi cao phân bố tại Hà Nội (Ba Vì), quần thể mọc chủ yếu ở độ cao từ 400-500 m, gần khu vực Đền Trung, tuy nhiên, cây thường mọc rải rác
số lượng cá thể không nhiều, và tại Tuyên Quang (Bản Bung, Na Hang), các điểm bắt gặp ở độ cao từ 200 đến 600 m, mật độ phân bố cao hơn, nhưng không đồng đều trong khu vực (Nguyễn Anh Tuấn, 2015)
13.1 Thực trạng phân bố và tình trạng bảo tồn của một số loài thực vật quý hiếm tại Khu BTTN Bát Đại Sơn và phụ cận
13.1.1 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov
Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense Pimenov & Kljuykov thuộc chi Thìa là hóa gỗ Xyloselinum Pimenov & Kljuykov, họ Hoa tán Apiaceae
Lindl., Bộ hoa tán Apiales Nakai Hiện nay chi Thìa là hóa gỗ gồm 3 loài, trong
đó 2 loài phân bố đặc hữu tại Việt Nam là: Thìa là hóa gỗ việt X vietnamense Pimenov & Kljuykov và Thìa là hóa gỗ leonid X leonidii Pimenov & Kljuykov, 1 loài phân bố đặc hữu tại Lào là X laoticum Pimenov & Aver., sp
Nov (Pimenov et al., 2016)
Địa điểm thu mẫu: Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, trên 3 núi
thuộc xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, các tọa độ địa lý của 3 điểm gồm: 23°05′27.3′′N, 105°01′02.9′′E, ở độ cao 1120 m so với mực nước biển, 23°05′45.1′′N, 105°01′02.7′′E, ở độ cao 1050 m với mực nước biển và 23°06′20.5′′N, 105°01′04.5′′E, ở độ cao 1100 m với mực nước biển
Hình thái: Cây bụi cao 1- 2 m, cành màu xanh đậm, khía dọc, có lóng
ngắn Lá nhẵn ôm thân hình tam giác, có lớp màng mỏng, cuống dài 4,5-7 cm, không có rãnh ở hướng trục Phiến lá dài 10-13 cm, rộng 6-10 cm, hình tam giác rộng, kép lông chim 2-3 lần, cuống bẹ dài 2-3 cm, thùy lá phía đỉnh hình
Trang 19thoi, dài 4-4,5 cm, rộng 2,5-3 cm, gốc hình nêm, phân thùy nhỏ, thường xẻ răng cưa nhỏ ở mép với gân nổi rõ ở mặt dưới (Hình 2)
Cụm hoa ở chót cành, hình cầu, đường kính 7-9 cm, trên lóng thon dài, tách xa nhau khi tạo quả, hoa tán nhỏ có đường kính 2-2,5 cm, trên cuống nhỏ không bằng nhau, dài 4-8 mm, có cạnh, được bao phủ bởi gai ngắn với 3-5 lá bắc nhỏ hình dải tới mác ngược hoặc chia thùy, đài có răng cưa nhỏ, hình tam giác, tràng không rõ, vòi nhụy mảnh, dài 1 mm, cong gập góc
Quả nhẵn, hình elip, dài 7-7,5 mm, rộng 4,5-5 mm, có gờ dọc, trên đế hình nón cụt, nội nhũ gần như phẳng theo mặt gờ
Sinh học và sinh thái: Loài Thìa là hóa gỗ việt thường mọc rải rác hay
thành đám nhỏ ở trên núi đá vôi, trong rừng kín lá rộng thường xanh hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim, nơi có ít ánh sáng, hay ở chân các tảng đá lộ đầu trên đường đỉnh hay gần đường đỉnh núi đá vôi ở độ cao khoảng 1000 m-1500
m so với mặt nước biển Cây ra hoa tháng 5, quả tháng 9-10 Tái sinh rải rác dưới tán rừng trong các kẽ đá có đất, sinh trưởng chậm, sống lâu năm, thân, lá,
rễ có chứa tinh dầu Thìa là hóa gỗ việt tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được phát hiện mọc rải rác rưới tán rừng kín thường xanh, hỗn giao cây lá rộng và lá kim, các loài Thông thường mọc cùng là Bách vàng việt
(Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep), Bách xanh núi đá (Calocedrus
rupestris Aver., T.H.Nguyen & P.K.Loc), Kim giao núi đá (Podocarpus fleuryi
Hickel), Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga sinensis D Don), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis (Pilg.) Rehder), Lan hài xanh (Paphiopedilum malipoense Chen & Tsi.), Hài hoa nhỏ (P micranthum T.Tang), …
Phân bố: Hà Giang (Quản Bạ: Bát Đại Sơn, Cán Tỷ; Yên Minh: Lao Và
Chải), Sơn La (Yên Châu: Mường Lum) (Pimenov M G., Kljuykov E V., 2006; Trần Huy Thái, 2012b; Magill et al., 2016a; Magill et al., 2016b; Magill
et al., 2016c)
Giá trị sử dụng: Thìa là hóa gỗ việt X vietnamense có hoạt tính chống
ôxy hóa, trong đó tinh dầu từ thân có hoạt tính mạnh hơn tinh dầu từ lá Hoạt tính chống oxy hóa từ dịch chiết còn lại sau khi tách tinh dầu mạnh gấp 5-7 lần
so với tinh dầu (Trần Huy Thái, 2012b) Qua điều tra người dân địa phương và khảo sát tại thị trường ngoài chợ tại khu vực nghiên cứu chúng tôi thấy hiện tại Thìa là hóa gỗ việt được người dân săn lùng khai thác để bán sang Trung Quốc
Trang 20với giá 50.000đ/kg cây tươi Người dân H’Mông tại địa phương thường ngâm
rễ cây Thìa là hóa gỗ việt với rượu để uống nhằm kích thích tiêu hóa và bồi dưỡng cơ thể
Hình 2 Thìa là hóa gỗ việt Xyloselinum vietnamense tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, tỉnh
Hà Giang (Ảnh Trần Huy Thái, Phan Kế Lộc, Nguyễn Sinh Khang)
Trang 21Tình trạng bảo tồn: Thìa là hóa gỗ việt thuộc chi Thìa là hóa gỗ
Xyloselinum Pimenov & Kljuykov là chi mới của Việt Nam gồm 2 loài
(Pimenov et al., 2006), năm 2016 một loài mới phân bố tại Lào của chi này đã được công bố (Pimenov et al., 2016) Hiện nay Thìa là hóa gỗ việt đang bị người dân địa phương khai thác mạnh để bán sang Trung Quốc làm thuốc Tính đến nay chưa có hoạt động bảo tồn nào đối với loài này từ các cơ quan ban ngành địa phương Nhiệm vụ “Bảo tồn các loài thực vật quý hiếm ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn và phụ cận thuộc tỉnh Hà Giang, Việt Nam” đã tiến hành thử nghiệm nhân giống sinh dưỡng và hữu tính loài này và tiến hành trồng cây con ra đất rừng trong năm 2017, chi tiết được trình bày ở phần 13.2 và 13.3
13.1.2 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance
Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance còn có tên gọi Tế tân hoa có đuôi,
Biến hóa, Quản chỉ (H’Mông) thuộc chi Tế tân Asarum L., họ Mộc hương nam Aristolochiaceae Juss., bộ Hồ tiêu Piperales Dumort Các tên đồng nghĩa gồm:
Asarum caudigerum var cardiophyllum (Franch.) C.Y.Chen & C.S.Yang; Asarum caudigerum var leptophyllum (Hayata) S.S.Ying;
Asarum caudigerum var triangulare (Hayata) S.S.Ying
Địa điểm thu mẫu: Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, thôn Đầu
Cầu 1, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, tọa độ địa lý 23°05′33.6′′N, 105°00′56.5′′E,
ở đỉnh núi đá vôi, nơi có độ cao 1000-1150 m so với mực nước biển
Hình thái: Cây thảo, sống nhiều năm, cao 15-30 cm Thân rễ tròn, có đốt
ngắn 1-1,5 cm, phân nhánh, mang nhiều rễ con Cây đẻ nhánh khỏe và nhiều nên thường phát triển thành từng khóm Lá gồm 2-6 cái, mọc thành cặp, cuống dài 18-30 cm; phiến lá dày, hình tim, 13-24 × 11-18 cm; ở mặt dưới có nhiều lông trắng, tập trung nhiều ở gân lá; mặt trên có lông trắng thưa, chủ yếu ở gân; gân đáy 5; mép lá nguyên Hoa đơn độc, mọc ở kẽ lá hoặc ở ngọn; cuống hoa dài 1-5 cm, có lông trắng Lá vảy 3 Đài rời; mặt ngoài lá đài đỏ nhạt rồi xanh ở phía trên, mặt trong màu đỏ, cỡ 2,5 × 1,2 cm; ở chóp lá đài đột ngột thót lại thành đuôi nhọn, dài 1,5-3,3 cm Cánh hoa 3, dạng hình kim, dài 0,3 cm, màu tím nhạt Nhị 12; chỉ nhị dài bằng bao phấn, màu đỏ tím; trung đới hình lưỡi, vượt bao phấn Nhụy 6, vòi nhụy hợp lại thành cột, đỉnh vòi nhụy nguyên, cao
Trang 22bằng bao phấn Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, màu tím, có lông trắng dày; bầu dưới, 6 ô Hạt nhỏ, 60-90 hạt, màu nâu đen, nhẵn (Hình 3, 4)
Sinh học và sinh thái: Thổ tế tân (A caudigerum) bắt đầu ra hoa từ
tháng 11-12; hoa nở vào đầu tháng 1 năm sau; quả chín và phát tán hạt vào tháng 3-4 Cây tái sinh bằng chồi và hạt Phân bố ở kiểu rừng nhiệt đới thường xanh mưa ẩm trên núi thấp, độ cao từ 754 m đến 1.200 m so với mặt nước biển, tập trung tại các thung dọc theo đường mòn ở sườn núi, mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đất giàu mùn; độ ẩm, độ xốp và ánh sáng cao; thoáng khí; độ che phủ
ít Thổ tế tân tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn được phát hiện ở phía trên đỉnh núi đá vôi trong rừng cây lá rộng thường xanh hỗn giao với cây lá
kim Các loài cùng mọc gồm có: Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) de Laub), Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga sinensis D Don), Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris Aver., T.H.Nguyen & P.K.Loc),
Phân bố: Hà Giang (Phó Bảng, Quản Bạ), Tuyên Quang (Na Hang), Lào
Cai (Sa Pa, Bát Xát), Lạng Sơn, Vĩnh Phúc Còn có ở Trung Quốc (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
Hình 3 Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance (hình vẽ theo Thực vật chí Trung Quốc
(Shumei H et al., 2003))
a Cây mang hoa; b Lá vảy; c Lông; d Lát cắt dọc bầu; e Núm nhụy; f Nhị
Trang 23Hình 4 Thổ tế tân Asarum caudigerum Hance tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, Hà Giang
(Ảnh Nguyễn Sinh Khang, Chu Thị Thu Hà)
Giá trị sử dụng: Đây là loài tương đối hiếm ở Việt Nam, rễ và thân rễ
làm thuốc ho, chữa viêm họng, cảm sốt, cảm lạnh (Viện Dược liệu, 2006; Sách
đỏ Việt Nam, 2007)
Trang 24Tình trạng bảo tồn: Thổ tế tân được phân hạng sẽ nguy cấp (VU) theo
Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) và theo Nghị định 32 của chính phủ (2006), loài này trong danh mục Nhóm II: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Nhiệm vụ “Bảo tồn các loài thực vật quý hiếm ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn và phụ cận thuộc tỉnh Hà Giang, Việt Nam” đã tiến hành thử nghiệm nhân giống sinh dưỡng loài này trong năm 2017, chi tiết được trình bày ở phần 13.2
13.1.3 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Hoa tiên Asarum
glabrum Merr
Hoa tiên Asarum glabrum Merr còn có tên gọi là Tế tân nhẵn, Dầu tiên,
Đại hoa tế tân, Trầu tiên thuộc chi Tế tân Asarum L., họ Mộc hương nam Aristolochiaceae Juss., bộ Hồ tiêu Piperales Dumort
Địa điểm thu mẫu: Tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, thôn Đầu
Cầu 1, xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ, tọa độ địa lý 23°05′33.6′′N, 105°00′56.5′′E,
ở đỉnh núi đá vôi, nơi có độ cao 1000-1150 m so với mực nước biển
Hình 5. Hoa tiên Asarum glabrum Merr
(Hình vẽ theo Sách Đỏ Việt Nam (2007)
Hình thái: Cây thảo sống nhiều năm, cao 20-30 cm Thân rễ ngắn, tròn,
có đốt; mang nhiều rễ phụ dài; có thể phân nhánh Lá mọc so le, gồm 2-3 cái; cuống dài 10-17 cm, nhẵn, khi non màu tía, sau chuyển thành màu lục nhạt Phiến lá mỏng, hình tim nhọn đầu, cỡ 13-18 × 8-12 cm; gốc lá tạo thành 2 thùy,
Trang 25gần nhọn, cách xa nhau; mặt trên lá nhẵn, mặt dưới có lông thưa ở gân; mép nguyên Hoa thường chỉ có 1 cái, mọc ở kẽ lá; cuống hoa dài 3 cm, màu tím nâu, thường mọc rủ xuống, nhưng hoa lại hướng cong lên Lá đài hợp thành ống ở thành bầu, màu nâu xám hình phễu hơi cong; đầu chia thành 3 thùy tam giác hay hình mác, mặt ngoài có 7 đường vân chạy dọc; họng màu tím nâu có vân trắng Nhị 12, chỉ nhị ngắn, màu đỏ tím; trung đới tròn đầu, vượt trên bao phấn Nhụy 6, vòi nhụy rời; đỉnh vòi nhụy chẻ làm 2, hình chữ V Quả phát triển trong bao hoa tồn tại, màu nâu xám nhạt Hạt nhỏ, màu đen (Hình 5, 6)
Hình 6. Hoa tiên Asarum glabrum Merr tại Khu BTTN Bát Đại Sơn, Hà Giang
(Ảnh Nguyễn Anh Tuấn)
Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 5-6, quả tháng 7-9 Hạt phát tán
gần, nên thấy cây con xung quanh gốc cây mẹ Thân rễ đôi khi cũng đẻ nhánh con, có thể lấy để trồng Cây đặc biệt ưa ẩm, ưa bóng; thường mọc trên đất
Trang 26nhiều mùn dọc theo hành lang khe suối, sườn núi, dưới tán rừng kín thường xanh ẩm, ở độ cao 900 m đến 1.100 m
Phân bố: Hà Giang (Quản Bạ), Lào Cai (Sa Pa), Vĩnh Phúc (Tam Đảo)
và Hà Nội (Ba Vì) (Nguyễn Anh Tuấn, 2015), Lai Châu (Phong Thổ: Bình Lư), Lào Cai (Bát Xát: Dền Sáng, Ý Tý), Tuyên Quang (Sơn Dương: Kháng Nhật),
Thái Nguyên (Đại Từ: Quân Chu), Quảng Ninh, Thế giới: Trung Quốc (Quảng
Đông, Giang Tây, Hồ Nam, Hồ Bắc) (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
Giá trị sử dụng: Rễ và thân rễ của loài Hoa tiên (Asarum glabrum) được
dùng làm thuốc ho, chữa viêm họng, hoa ngâm rượu làm thuốc bổ Nguồn gen tương đối hiếm ở Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007)
Tình trạng bảo tồn: Hoa tiên được phân hạng sẽ nguy cấp (VU) theo
Sách đỏ Việt Nam (2007) và theo Nghị định 32 của chính phủ (2006), loài này trong danh mục Nhóm II: Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại Mặc dù có ở vài điểm phân bố, nhưng ở mỗi điểm có số cá thể không nhiều Đã từng bị khai thác sử dụng tại địa phương hoặc bán qua biên giới (Ba Vì-Hà Nội, Bát Xát-Lào Cai) Bị tàn phá do phá rừng làm mất nơi sống (Ý Tý-Bát Xát-Lào Cai) Biện pháp bảo vệ theo Sách đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) có bảo vệ tại 2 điểm thuộc Vườn quốc gia Ba Vì và Tam Đảo Khoanh bảo vệ thêm một điểm có cây mọc tập trung ở núi Là Thẩn, xã Dền
Sáng, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Thu thập trồng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) tại
vườn Trại thuốc Tam Đảo (Viện Dược liệu)
13.1.4 Đặc điểm phân bố và tình trạng bảo tồn của Bách vàng việt
Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep
Bách vàng việt Xanthocyparis vietnamensis Farjon and Hiep còn có tên
là Bách vàng, Hoàng đàn vàng việt, Trắc bách quản bạ, Thông đá hoặc cây Ché (tên gọi địa phương của người dân H’Mông) thuộc chi Bách vàng
Xanthocyparis Farjon & Hiep, họ Hoàng đàn Cupressaceae L, bộ Thông
Pinales Dumort Các tên đồng nghĩa gồm: Callitropsis vietnamensis (Farjon & Hiep) D.P.Little, Cupressus vietnamensis (Farjon & T.H.Nguyên) Rushforth;
Cupressus vietnamensis (Farjon) Silba