1. Trang chủ
  2. » Tất cả

1. Du thao De an tang cuong nang luc_gui lay y kien bo,nganh,dia phuong

58 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 904,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

ĐỀ ÁN TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; viễn thám Đây là những lĩnh vực có tính chất phức tạp, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhân dân, doanh nghiệp, tổ chức, có tác động lớn đến bảo đảm an ninh quốc phòng, sự phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước Cùng với sự phát triển của đất nước, ngành tài nguyên và môi trường cũng ngày càng lớn cả về quy mô

tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và nguồn nhân lực, công tác quản lý nhà nước

về tài nguyên và môi trường đã có những chuyển biến tích cực, bước đầu đáp ứng những nhiệm vụ được giao Tuy nhiên, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cơ bản, hiện nay, công tác quản lý tài nguyên và môi trường vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, tồn tại, hạn chế như sau:

1.1 Về chức năng, nhiệm vụ:

Hầu hết các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ đều được phân cấp cho chính quyền địa phương các cấp Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện và tổng kết cho thấy việc tổ chức thực thi pháp luật về tài nguyên và môi trường còn nhiều tồn tại hạn chế; việc phân cấp mạnh về nhiệm vụ nhưng nguồn lực để thực hiện, nhất là nguồn nhân lực chưa bảo đảm; công tác thanh tra, kiểm tra đã được đẩy mạnh ở các cấp nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý

1.2 Về tổ chức bộ máy:

Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý của ngành được tổ chức ở cả 04 cấp từ Trung ương đến cơ sở Kể từ khi được thành lập, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành đã từng bước được kiện toàn, hoàn thiện nhưng thực tiễn vận hành vẫn cho thấy còn nhiều bất cập, vướng mắc, nhất là ở địa phương

Triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ

Dự thảo

Trang 2

2

máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, hiện nay các địa phương đang tiến hành kiện toàn tổ chức bộ máy của ngành tài nguyên và môi trường ở địa phương trong điều kiện chưa có hướng dẫn cụ thể của Trung ương, do vậy, tổ chức bộ máy của ngành được kiện toàn theo các mô hình khác nhau, dẫn tới khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ

1.3 Về đội ngũ công chức, viên chức:

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành từ Trung ương đến cơ sở hiện nay rất lớn - có khoảng trên 65.000 người; chưa kể đến lực lượng lao động ngoài ngành có liên quan đang làm việc trong các khu vực của nền kinh tế quốc dân Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Bộ, của Ngành đã được bổ sung, tăng cường đáng kể so với thời kỳ đầu mới thành lập; đáp ứng yêu cầu trước mắt về số lượng, nâng cao về chất lượng; từng bước được chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa

Song thực tiễn cho thấy, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường vẫn còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng về chất lượng,

cơ cấu đội ngũ cán bộ chưa phù hợp (số cán bộ, công chức được đào tạo về kỹ thuật nhiều hơn số cán bộ công chức được đào tạo về nghiệp vụ quản lý, kinh tế;

số cán bộ, công chức có chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí công tác không nhiều) Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức không đồng đều, nhất là ở địa phương; một số lĩnh vực có sự hụt hẫng về đội ngũ công chức, viên chức có trình độ cao, chuyên môn sâu; ở địa phương, đội ngũ công chức, viên chức về tài nguyên và môi trường, đặc biệt các lĩnh vực địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ cấu đội ngũ chưa hợp lý; hiện nay đang tập trung nhiều ở lĩnh vực quản lý đất đai, trong khi đó cán bộ về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển, hải đảo, biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn còn rất thiếu Khối lượng nhiệm vụ hiện nay tại địa phương chủ yếu vẫn giải quyết các vấn đề về quản lý đất đai; các vấn đề khác, nhất là về quản lý môi trường, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, biển, hải đảo ngày càng trở nên cấp thiết Ngoài ra, phần lớn số công chức, viên chức được đào tạo về các chuyên ngành

kỹ thuật, thiếu kỹ năng quản lý Số công chức, viên chức, chuyên gia được đào tạo trình độ cao ở các nước tiên tiến trên thế giới trước đây đã nghỉ hưu hoặc chuẩn bị nghỉ hưu nhưng chưa có đủ đội ngũ chuẩn bị thay thế Đa số các địa phương đang đứng trước tình trạng khan hiếm nhân lực có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ Trong bối cảnh khối lượng công việc của Bộ, ngành ngày càng lớn, tăng nhiều nhiệm vụ so với trước đây; lại phải thực hiện chủ trương tinh giản biên chế đã tạo áp lực và là thách thức lớn cho toàn Ngành Thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban

Trang 3

3

Chấp hành Trung ương về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19 tháng 5 năm 2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược,

đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; để có đẩy đủ cơ sở đề xuất thực hiện đồng bộ việc phân công, phân cấp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường đi đôi với kiện toàn hệ thống tổ chức và sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ công chức của Ngành, đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như mục tiêu, yêu cầu của các nghị quyết nêu trên; Bộ Tài nguyên và Môi

trường đề xuất Thủ tướng Chính phủ xây dựng Đề án tăng cường năng lực hệ thống tổ chức và đội ngũ công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường đến năm 2030 Đề án mang ý nghĩa, vai trò quan trọng trong sự phát

triển của ngành tài nguyên và môi trường

II Cơ sở pháp lý

1 Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

2 Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả;

3 Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập;

4 Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo;

5 Luật cán bộ, công chức năm 2008 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010);

6 Luật viên chức năm 2010 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012);

7 Luật tổ chức chính phủ năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016);

8 Nghị định số 125/2011/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ quy định về trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân;

9 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ

về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;

Trang 4

13 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức;

14 Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

15 Thông tư số 03/2019/TT-BNV ngày 14 tháng 5 năm 2019 của Bộ Nội

vụ về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch ngạch công chức, thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

16 Quyết định số 2476/QĐ-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn 2012-2020;

17 Quyết định số 2979/QĐ-BTNMT ngày 23 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

PHẦN 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG TỔ CHỨC, ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG

I Thực trạng hệ thống tổ chức

1.1 Ở Trung ương

Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 05/8/2002 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ nhất, trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thủy văn và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước, địa chất, khoáng sản, môi trường thuộc các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công nghiệp; Khoa học, Công nghệ và Môi trường

Trong nhiệm kỳ Chính phủ khóa XI, theo quy định tại Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,

Trang 5

5

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên

và Môi trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước 06 lĩnh vực, gồm có: đất đai; tài nguyên nước; địa chất, khoáng sản; môi trường; khí tượng thuỷ văn; đo đạc và bản đồ; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Đến nhiệm kỳ Chính phủ khóa XII, theo quy định tại Nghị định số 25/2008/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường (thay thế Nghị định số 91/2002/NĐ-CP), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ về định giá đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, quản lý lưu vực sông, biến đổi khí hậu, quản lý tổng hợp

và thống nhất về biển và hải đảo

Ngày 04/3/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng, nhiệm

vụ quản lý nhà nước trên 08 lĩnh vực, bao gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu;

đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo Cơ cấu tổ chức của Bộ bao gồm 18 tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước: 7 vụ, 4 tổng cục, 5 cục, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ; 12 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ: 3 trung tâm, 4 viện, 3 trường (trong đó có 02 trường đại học, 01 trường cao đẳng), Báo Tài nguyên và Môi trường, Tạp chí Tài nguyên

và Môi trường Ngoài các đơn vị nêu trên, Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý hoạt động của 03 văn phòng các ban chỉ đạo liên ngành do Thủ tướng Chính phủ thành lập; 03 doanh nghiệp TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước và Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Để tiếp tục khắc phục những tồn tại và đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Ngày 04/4/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 36/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường Theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện chức năng, nhiệm

vụ quản lý nhà nước trên 09 lĩnh vực, bao gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu;

đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo; viễn thám Cơ cấu tổ chức của Bộ đã được kiện toàn, tổ chức lại1

Theo đó,

1 Sáp nhập Vụ Kế hoạch và Vụ Tài chính thành Vụ Kế hoạch - Tài chính; Thành lập Tổng cục Khí tượng Thủy văn trên cơ sở tổ chức lại, chuyển đổi mô hình hoạt động của Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia và tiếp nhận bộ phận quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn tại Cục Khí tượng thủy văn và Biến đổi khí hậu; Thành lập Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tài nguyên và môi trường trực thuộc Bộ trên cơ sở sáp nhập và tổ chức lại bộ phận thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Tổng cục Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu; Thành lập Trung tâm truyền thông tài nguyên và môi trường trực thuộc Bộ trên cơ sở sáp nhập và tổ chức lại bộ phận thực hiện công tác truyền thông tại các Tổng cục Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; Sáp nhập Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung vào Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội và trở thành Phân hiệu Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội; Thành lập Viện Khoa học tài nguyên nước trực thuộc Bộ

Trang 6

6

hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường có 30 tổ chức, gồm: 6 vụ, 5 tổng cục, 5 cục, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ; 12 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ: 3 trung tâm, 5 viện, 2 trường đại học, Báo Tài nguyên và Môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường Bên cạnh đó, Bộ quản lý 03 doanh nghiệp và Quỹ Bảo

vệ môi trường Việt Nam; 03 Văn phòng (Văn phòng Hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản quốc gia, Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, Văn phòng Đảng - Đoàn thể)

1.2 Ở địa phương

1.2.1 Sở Tài nguyên và Môi trường

Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV, cơ cấu tổ chức của các Sở Tài nguyên và Môi trường được quy định cụ thể, thống nhất như sau:

- Các tổ chức tham mưu tổng hợp và chuyên môn, nghiệp vụ: Văn phòng, Thanh tra, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Đo đạc, Bản đồ và Viễn thám, Phòng Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Phòng Khoáng sản, Phòng Tài nguyên nước, Chi cục Bảo vệ môi trường, Chi cục Quản lý đất đai, Chi cục Biển

và Hải đảo (được thành lập đối với các tỉnh, thành phố có biển)

- Các đơn vị sự nghiệp công lập: Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất, Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai, Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường

Đến nay, có 62/632

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã kiện toàn tổ chức bộ máy của Sở Tài nguyên và Môi trường theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014, cụ thể như sau:

- Các tổ chức hành chính:

+ Văn phòng Sở và Thanh tra Sở: được tổ chức tại 63/63 Sở Tài nguyên và

Môi trường;

+ Phòng Kế hoạch - Tài chính: được tổ chức tại 42/63 Sở Tài nguyên và

Môi trường Đối với các tỉnh còn lại, chức năng, nhiệm vụ về kế hoạch - tài chính được giao cho Văn phòng Sở;

+ Phòng Đo đạc, bản đồ và viễn thám (hoặc Phòng Đo đạc và bản đồ):

được tổ chức tại 37/63 Sở Tài nguyên và Môi trường Đối với các tỉnh còn lại,

được ghép vào các phòng khác (Ph òng Đo đạc - Quy hoạch; Phòng Thống kê đất đai, Đo đạc, bản đồ và Viễn thám; Phòng Đo đạc, Bản đồ - Khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu; ) hoặc được ghép vào Chi cục Quản lý đất đai, Phòng Quản lý đất đai

+ Phòng Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu: được tổ chức tại 17/63

Sở Tài nguyên và Môi trường Đối với các tỉnh còn lại, được ghép với các phòng

2 Sở TN&MT Thanh Hóa chưa thực hiện kiện toàn;

Trang 7

7

khác (Phòng Tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu) hoặc được ghép với Chi cục Bảo vệ môi trường

+ Phòng Khoáng sản (Phòng Tài nguyên khoáng sản): được tổ chức tại

30/63 Sở Tài nguyên và Môi trường Đối với các tỉnh còn lại, được ghép với các

phòng khác (Phòng Tài nguyên nước - Khoáng sản)

+ Phòng Tài nguyên nước: được tổ chức tại 16/63 Sở Tài nguyên và Môi

trường Đối với các tỉnh còn lại, được ghép với các phòng khác (Phòng Tài nguyên nước - Khoáng sản; Phòng Tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu)

+ Chi cục Bảo vệ môi trường: được tổ chức tại 58/63 Sở Tài nguyên và

Môi trường Các tỉnh còn lại chỉ thành lập Phòng Quản lý môi trường

+ Chi cục Quản lý đất đai: được tổ chức tại 37/63 Sở Tài nguyên và Môi

trường Các tỉnh còn lại, được tổ chức thành 01 phòng (Phòng Quản lý đất đai) hoặc từ 2 - 3 phòng (Phòng Quy hoạch, kế hoạch đất đai; Phòng Quy hoạch - Kế hoạch; Phòng Đo đạc và Đăng ký đất đai; Phòng Giá đất - Bồi thường, tái định cư; Phòng Giá đất; )

+ Chi cục Biển và Hải đảo (hoặc tên gọi khác): được tổ chức tại 22/28 Sở

Tài nguyên và Môi trường các tỉnh có biển Các tỉnh còn lại, được tổ chức theo

mô hình phòng

- Các đơn vị sự nghiệp:

+ Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và môi trường: được tổ chức

tại 47/63 Sở Tài nguyên và Môi trường Các tỉnh còn lại, được ghép vào Trung

tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường, ghép vào Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc đã giải thể

+ Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường (hoặc tên gọi khác): được

tổ chức tại 38/63 Sở Tài nguyên và Môi trường Các tỉnh còn lại, không thành

lập hoặc được ghép vào các đơn vị khác (Trung tâm Công nghệ thông tin tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Quản trắc tài nguyên và môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai)

+ Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường: được tổ chức tại 51/63

Sở Tài nguyên và Môi trường Các tỉnh còn lại, không thành lập hoặc được ghép vào các đơn vị khác (Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và môi trường)

+ Văn phòng Đăng ký đất đai: Đến nay, đã có 57/63 tỉnh, thành phố đã thành lập Văn phòng đăng ký đất đai theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC và đi vào hoạt động, các tỉnh đã xây dựng

Đề án và đang trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt

+ Trung tâm Phát triển quỹ đất:

Có 13 địa phương Trung tâm Phát triển quỹ đất đã được quyết định và hoạt động với mô hình một cấp theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 43/2014/NĐ-

CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; Có 17 địa phương có Trung tâm

Trang 8

8

Phát triển quỹ đất đang hoạt động theo mô hình hai cấp; Có 06 địa phương chỉ

có một Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường

03 địa phương thực hiện mô hình kết hợp: Trung tâm Phát triển quỹ Nhà và Đất tỉnh Bạc Liêu; Ban Bồi thường Giải phóng mặt bằng và Phát triển quỹ đất tỉnh Vĩnh Phúc, Văn phòng Đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất tỉnh Yên Bái Thành phố Hồ Chí Minh thành lập Trung tâm Phát triển quỹ đất trực thuộc

sở Tài nguyên và Môi trường và 24 Ban bồi thường giải phóng mặt bằng trực thuộc Ủy ban nhân dân các quận, huyện

Tỉnh Cao Bằng không có Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp tỉnh mà có 03 Trung tâm Phát triển quỹ đất cấp huyện

Riêng tỉnh Hà Giang không thành lập Trung tâm Phát triển quỹ đất

1.2.2 Phòng Tài nguyên và Môi trường

Đã có 710/713 (trừ các huyện đảo: Bạch Long Vĩ, Hoàng Sa, Trường Sa) đơn vị hành chính cấp huyện thành lập Phòng Tài nguyên và Môi trường

1.2.3 Công chức tài nguyên và môi trường cấp xã

Cả nước hiện có 11.112 đơn vị hành chính cấp xã Theo báo cáo đến nay 100% số xã có cán bộ chuyên trách quản lý tài nguyên và môi trường Thông thường mỗi xã có 01 cán bộ chuyên trách, tuy nhiên ở một số xã khu vực đô thị hóa và cấp phường, thị trấn có từ 02 đến 03 cán bộ Đặc biệt ở một số xã, phường, thị thấn đã thành lập Ban Địa chính - Xây dựng

Theo Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV, Sở Tài nguyên và Môi trường có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên và môi trường đối với công chức chuyên môn giúp

Ủy ban nhân dân cấp

II Thực trạng việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường ở Trung ương và địa phương

2.1 Ở Trung ương

Theo quy định tại Nghị định số 36/2017/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng, quản lý nhà nước trên 9 lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thuỷ văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; viễn thám

Việc Chính phủ bổ sung thêm chức năng quản lý nhà nước về viễn thám đã bao quát hết các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thể hiện rõ vị trí, chức năng của một Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ được quy định tại Nghị định số 36/2017/NĐ-CP

đã được rà soát, sửa đổi, bãi bỏ các nhiệm vụ, quyền hạn không còn phù hợp;

bổ sung các nhiệm vụ mới được phân công, còn thiếu hoặc chưa được quy định

Trang 9

vệ và phát triển rừng… còn có các nội dung quy định giao thoa về trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ, ngành liên quan và các địa phương còn chưa đi vào thực chất, hiệu quả; việc thiếu cơ chế điều tiết liên vùng dẫn đến sự chồng chéo trong quy hoạch, không khai thác được các tiềm năng thế mạnh của mỗi địa phương cho sự phát triển chung của vùng; công tác thanh tra, kiểm tra

về tài nguyên và môi trường của các cơ quan Trung ương còn có sự chồng chéo, chưa bám sát địa bàn

2.2 Ở địa phương

Trên cơ sở báo cáo của các địa phương, cho thấy các cơ quan chuyên môn

về tài nguyên và môi trường các cấp đã thực hiện tốt chức năng tham mưu, giúp

Ủy ban nhân dân các cấp quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới đồng bộ, phù hợp bảo đảm thực thi có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của ngành tài nguyên và môi trường tại địa phương; chức năng, nhiệm

vụ của các cơ quan chuyên môn về tài nguyên và môi trường cơ bản được phân định rõ với các ngành khác tại địa phương; công tác kiểm tra, thanh tra được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm trong quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn những tồn tại và hạn chế, kết quả cụ thể như sau:

2.2.1 Về lĩnh vực đất đai:

Các hoạt động đã được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, công khai, minh bạch, rõ ràng về cơ chế đấu giá quyền sử dụng đất, về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, về đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác đấu giá quyền sử dụng đất trong những năm qua được tổ chức rất tốt, đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương; công tác kiểm tra, thanh tra được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm, kịp thời phát hiện và xử lý những sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai Nhiều địa phương đã thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai, từng bước giải quyết dứt điểm tranh chấp, kiện tụng kéo dài về đất đai

Tuy nhiên, tính pháp lý về đất đai rất phức tạp, có trường hợp phải tổ chức xác định thực tế qua nhiều gian đoạn quản lý, sử dụng mới có cơ sở xem xét bồi

Trang 10

10

thường, hỗ trợ, dẫn đến việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ thường chậm tiến độ Công tác quản lý đất đai, quản lý quy hoạch, xây dựng trước đây có một số nơi còn rất nhiều hạn chế, bất cập, tình trạng sử dụng đất sai mục đích diễn ra ở nhiều nơi; xây dựng không phép; lấn, chiếm đất đai xảy ra phổ biến Chi phí hỗ trợ để di dời các trường hợp này thường thấp Do đó, gây khó khăn cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thiệt hại cho ngân sách Nhà nước

Việc định giá đất cụ thể để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có nơi chưa phản ánh đúng thực tế thị trường, do người dân chuyển nhượng quyền sử dụng đất thường không kê khai đúng giá trị thực chuyển nhượng nhằm giảm thực hiện nghĩa vụ tài chính phải nộp Do đó, việc giá đất cụ thể căn cứ hồ sơ pháp lý chuyển nhượng của người dân, nên một số dự án thấp so với thị trường, nhiều khó khăn cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, vì người bị thu hồi đất luôn luôn muốn được bồi thường giá cao, dẫn đến khiếu kiện, làm chậm tiến độ cho công tác giải phóng mặt bằng Các văn bản hướng dẫn chưa ban hành biểu mẫu chung, nên quá trình thực hiện tại các địa phương còn lúng túng, thiếu tính đồng bộ làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư

Một số dự án triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư kéo dài gây khó khăn trong việc ổn định đời sống, việc làm của người dân trong khu vực thực hiện dự án Trong khi đó, chính sách pháp luật của Nhà nước thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung, sau có lợi hơn trước, dẫn đến thắc mắc, so sánh giữa các đối tượng bị thu hồi đất trong cùng một dự án, đây là nguyên nhân dẫn đến khiếu kiện, tố cáo gay gắt của người bị thu hồi đất; một số dự án, chủ đầu tư không đảm bảo kinh phí để thực hiện nên dẫn tới kéo dài Đối với ngành nghề tư vấn bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa có quy định, do đó, rất khó khăn trong việc kiểm tra điều kiện hoạt động của các đơn vị Công tác cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai còn gặp nhiều khó khăn do các quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất trước đây ở cấp huyện không có sơ đồ, vị trí, số thửa…; một số hồ sơ địa chính gốc bị thất lạc ảnh hưởng đến thời gian giải quyết thủ tục

hành chính

2.2.2 Về tài nguyên nước:

Các văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên nước đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý trong công tác quản lý tài nguyên nước tại địa phương ngày càng có hiệu quả; công tác phổ biến, hướng dẫn các cơ quan quản

lý nhà nước ở địa phương và các tổ chức, cá nhân trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước từng bước được tăng cường; một số địa phương đã xây dựng quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước để triển khai thực hiện trên địa bàn; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật

và sử dụng tài nguyên nước, xử lý kịp thời tình những vi phạm pháp luật về tài nguyên nước

2.2.3 Về địa chất và khoáng sản:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới bảo đảm đồng bộ, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã

Trang 11

11

hội chủ nghĩa đã giúp công tác quản lý nhà nước về khoáng sản ở địa phương cũng như Trung ương đạt hiệu quả cao, thúc đẩy ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản phát triển gắn liền với việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, đảm bảo sự bền vững môi trường sinh thái; công tác thanh tra, kiểm tra được tiến hành thường xuyên, kịp thời chấn chỉnh các hoạt động khoáng sản không phù hợp với quy định của pháp luật

Tuy nhiên, nguồn ngân sách của địa phương còn hạn hẹp nên chưa thực hiện các dự án, quy hoạch liên quan đến lĩnh vực tài nguyên nước, khoáng sản Văn bản hướng dẫn của Trung ương ban hành chậm hoặc chưa được bàn hành, nên chưa có cơ sở để thực hiện những nhiệm vụ nêu trên Thực tế tại một số tỉnh nhiệm vụ lập quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản do ngành công thương và ngành xây dựng thực hiện; việc xây dựng giá tính thuế tài nguyên khoáng sản tại câp tỉnh do Sở Tài chính chủ trì tham mưu thực hiện

2.2.4 Về môi trường:

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng hoàn thiện, quy định cụ thể, chi tiết đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa bàn, khu vực; các địa phương đã chủ động phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai các biện pháp xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiêm môi trường nghiêm trọng, đẩy nhanh công tác xử lý triệt để, khắc phục ô nhiễm và giảm thiểu suy thoái môi trường đối với các tổ chức thuộc khu vực công ích và triển khai thực hiện dự án bảo vệ môi trường làng nghề và Chương trình điều tra đánh giá mức

độ ô nhiễm xuyên biên giới đối với các hệ thống sông Hồng, sông Mê Công

2.2.5 Về khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu:

Đã có sự tích cực phối hợp, tham gia với cơ quan khí tượng thủy văn của trung ương đóng tại địa phương xây dựng phương án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai tại địa phương; triển khai các nhiệm vụ về biến đổi khí hậu theo chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu; hướng dẫn cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện cơ chế phát triển sạch (CDM); tuyên truyền về động đất, sóng thần

Tuy nhiên, hiện nay mạng lưới các trạm quan trắc khí tượng tại tỉnh còn thiếu hoặc đã xuống cấp gây khó khăn cho công tác dự báo Bên cạnh đó, các hiện tượng lốc xoáy, dông, sét thường xuất hiện trong phạm vi hẹp và xảy ra rất nhanh gây thiệt hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân, nhưng các loại hình thiên tai này lại khó dự báo trước nên công tác phòng, chống còn bị động, hiệu quả thấp; tình hình sạt lở diễn biến ngày càng phức tạp

Tổ chức bộ máy đa phần là kiêm nhiệm, nguồn lực làm công tác này còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản dẫn đến công tác tham mưu hỗ trợ chỉ đạo điều hành đôi lúc chưa đạt hiệu quả cao Trang thiết bị phục vụ công tac phòng chống thiên tai chủ yếu là thiết bị văn phòng, chưa được trang bị đồng bộ thiết bị chuyên dụng, hiện đại để theo dõi, tiếp nhận, phân tích, tổng hợp, truyền tin phục vụ tham mưu chỉ đạo, điều hành

2.2.6 Về đo đạc và bản đồ:

Trang 12

Tuy nhiên, hiện nay do biên chế ít nên chủ yếu mới tập trung thực hiện được công tác đo đạc, đăng ký thống kê; nội dung về viễn thám gần như chưa tổ

chức triển khai được (do thiếu nhân lực, điều kiện cơ sở vật chất, tài chính)

Chức năng quản lý hoạt động đo đạc bản đồ chủ yếu mới được thực hiện trong phạm vi về đo đạc trong lĩnh vực đất đai, đối với các lĩnh vực khác thì chức năng quản lý còn bị trùng lặp giữa các ngành, chưa có quy định cụ thể do đó việc theo dõi các hoạt động đo đạc và xuất bản bản đồ còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế Do kinh phí đầu tư cho công tác đo đạc và bản đồ của địa phương còn hạn chế nên việc xây dựng, cập nhật, khai thác hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật

đo đạc và bản đồ còn hạn chế Nhu cầu sử dụng dữ liệu viễn thám của địa phương không nhiều nên việc theo dõi, quản lý hoạt động này chưa được quan tâm, hoạt động chưa hiệu quả

2.2.7 Quản lý tổng hợp thống nhất về biển và hải đảo:

Mặc dù nhiệm vụ quản lý tổng hợp thống nhất về biển và hải đảo, công tác

quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực biển, hải đảo đã bắt đầu được triển khai nhanh chóng trên phạm vi 28 tỉnh ven biển; công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về lĩnh vực biển, đảo đã được thực hiện nhằm xử lý những sai phạm trong quản lý và sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển; công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về biển và hải đảo tại các tỉnh ven biển đã được đẩy mạnh

Nhiệm vụ quản lý tổng hợp thống nhất các vấn đề về biển và hải đảo là nhiệm vụ mới, phạm vi rộng liên quan nhiều sở, ngành, đơn vị, các huyện ven biển Tuy nhiên, cơ chế, chính sách, công cụ quản lý lĩnh vực này còn rất hạn chế, các văn bản pháp lý còn nhiều điểm chung chung, chưa cụ thể, nên rất khó khăn cho công tác quản lý tổng hợp thống nhất biển và hải đảo tại địa phương Nhận thức về biển, đảo ở các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư còn nhiều hạn chế Công tác tuyên truyền về biển đảo còn mang tính đơn lẻ, tính đồng bộ và thống nhất chưa cao

Cơ chế quản lý tài nguyên, đặc biệt tài nguyên biển và hải đảo còn theo cơ chế ngành, còn nhiều lĩnh vực chưa tập trung được về đầu mối; các khái niệm, công cụ quản lý tổng hợp còn thiếu, chính vì thế trong công tác quản lý theo phương thức tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đã qua gặp nhiều khó khăn Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan trong trao đổi thông tin, dữ liệu về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài chính công phục vụ quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo còn hạn hẹp, chưa được bố trí đầy đủ và hợp lý

Quản lý tổng hợp về biển và hải đảo rộng, liên quan đến nhiều sở, ngành, mang tính kỹ thuật sâu, đặc biệt trong công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi

Trang 13

13

trường biển và hải đảo, để làm cơ sở tham mưu hoạch định các cơ chế chính sách, công cụ quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển Trong khi đó đội ngũ công chức ít được bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn sâu, dẫn đến rất khó khăn trong công tác tham mưu thực hiện nhiệm vụ

2.3 Kết quả thực hiện phân cấp trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường giữa Trung ương và địa phương

Tiếp tục đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhiều nội dung phân cấp trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường đã được thể chế hóa vào các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành và các Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ; Nghị định quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Nghị định quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Theo đó, việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương đối với các lĩnh vực thuộc ngành tài nguyên và môi trường như sau:

2.3.1 Lĩnh vực đất đai:

Việc phân cấp quản lý nhà nước về đất đai hiện nay đảm bảo được sự quản

lý thống nhất của Chính phủ; phát huy được tính chủ động, trách nhiệm, tinh thần sáng tạo của chính quyền địa phương; đã gắn cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm và chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp với điều kiện thực tiễn của địa phương; đã phân định rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, ngành và chính quyền các cấp; bảo đảm cho công tác quản lý đất đai được chủ động, công khai, minh bạch và dân chủ hơn

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu để cơ quan có thẩm quyền quy định phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh toàn bộ thẩm quyền về: xây dựng một số chính sách, ban hành các quyết định hành chính về tổ chức thực thi chính sách pháp luật đất đai tại địa phương, thanh tra, kiểm tra đã được phân cấp, phân quyền cho địa phương như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của địa phương; giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; cấp giấy chứng nhận; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương; quyết định thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật đất đai Qua đó, các địa phương đã chủ động hơn trong trong vấn đề quản lý, sử dụng đất đai, quản lý tốt công tác quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụng đất hằng năm; chủ động thu hút, kêu gọi đầu tư Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý nhà nước về đất đai vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế như sau:

Việc ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật đất đai theo phân công trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường của các địa phương còn chưa kịp thời, phần lớn ban hành chậm nhiều tháng so với thời điểm Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực (ngày 01 tháng 7 năm

Trang 14

14

2014); còn nhiều nội dung đến thời điểm kiểm tra vẫn chưa được quy định (tỉnh

ít nhất có 4 nội dung, tỉnh nhiều nhất có 13 nội dung chưa quy định); có nhiều nội dung quy định chưa cụ thể theo yêu cầu hoặc quy định chưa phù hợp thực tế hoặc chưa đúng với pháp luật đất đai hiện hành và còn tình trạng ban hành nhiều nội dung, văn bản quy định vượt, không đúng thẩm quyền (không được Luật, các Nghị định và Thông tư phân cấp)

Việc phân cấp chưa thực sự phù hợp với tình hình quản lý ở một số địa phương, đặc biệt là chưa tương xứng với năng lực của chính quyền cấp dưới dẫn đến việc thực thi pháp luật ở địa phương chưa tốt, có nhiều quyết định về đất đai không phù hợp pháp luật cả ở cấp tỉnh và cấp huyện Đặc biệt, việc phân cấp hoàn toàn cho chính quyền địa phương thực hiện các thẩm quyền về thu hồi đất, giao đất, cho thuê, định giá đất trong khi chế tài xử lý theo quy định của pháp luật chưa nghiêm, chưa có tính răn đe, một số nơi năng lực, trình độ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu cũng đã dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật; thực hiện thu hồi, giao, cho thuê đất tràn lan, gây lãng phí; có trường hợp chưa kiểm soát chặt chẽ khi giao đất, cho thuê đất tại các khu vực nhạy cảm về an ninh, quốc phòng Việc phân cấp không đồng bộ trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai sẽ gây phức tạp và khó khăn trong tổ chức thực hiện Ví dụ: Luật đất đai quy định cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất; tuy nhiên, việc quyết định giá đất cụ thể để bồi thường, để tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất lại quy định do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định Do đó, sẽ rất khó khăn để quyết định giá đất cùng thời điểm thu hồi, giao đất, cho thuê đất

Trách nhiệm tham mưu trong việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước chưa thống nhất, đồng bộ đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý

Ví dụ: Đối với công tác xác định giá đất, cơ quan tài chính tham mưu trong việc xác định giá đất đối với trường hợp đất gắn với tài sản của Nhà nước; cơ quan tài nguyên và môi trường tham mưu xác định giá đất cho các trường hợp còn lại Như vậy, đối với nội dung quản lý việc xác định giá đất cụ thể có 02 cơ quan tham mưu khác nhau

Việc phân cấp chưa đi đôi với việc nâng cao chất lượng quy hoạch và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của Trung ương và trách nhiệm báo cáo, tự giải trình của các địa phương

2.3.2 Lĩnh vực tài nguyên nước:

Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương trong lĩnh vực tài nguyên nước được quy định rõ ràng, phù hợp với quan điểm, chủ trương chung của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, được quy định cụ thể tại Luật tài nguyên nước, các văn bản dưới Luật Việc phân cấp được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28 tháng 8 năm 2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,

Trang 15

15

Phòng tài nguyên và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Ở cấp tỉnh, chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường; cấp huyện có Phòng Tài nguyên và Môi trường

Trong từng công tác từ khai thác, sử dụng, quy hoạch, điều tra, bảo vệ nguồn nước và hạn chế tác hại của nước gây ra đã được phân định cụ thể trong Luật tài nguyên nước, các Nghị định của Chính phủ và các Thông tư thuộc thẩm quyền và lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Hiện nay, Ủy ban nhân dân các cấp và Sở Tài nguyên và Môi trường đã được phân cấp thực hiện các nhiệm vụ: phê duyệt, điều chỉnh, thông báo việc truy thu, hoàn trả tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước đối với trường hợp khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc thẩm quyền cấp phép;ban hành giá tính thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên trên địa bàn theo khung giá do Bộ Tài chính ban hành; ban hành giá để làm cơ sở tính tiền khai thác tài nguyên nước đối với trường hợp chưa có giá tính thuế tài nguyên nước và kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về tính, thu, nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trong phạm vi địa phương; Tổ chức lập và phê duyệt, công bố Danh mục và Bản đồ phân vùng hạn chế khai thác nướcdưới đất và lập phương

án thực hiện; bố trí kinh phí thực hiện; Xây dựng, lắp đặt thiết bị thu, nhận, lưu trữ dữ liệu cơ sở trên địa bàn;chỉ đạo việc quản lý, vận hành, bảo trì và đảm bảo các điều kiện cần thiết để bảo đảm hoạt động của các thiết bị thu nhận, lưu trữ

dữ liệu thuộc phạm vi quản lý;kiểm tra, thanh tra việc thực hiện; Phê duyệt khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải của các sông, hồ là nguồn nước nội tỉnh;

tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất, điều tra, đánh giá tài nguyên nước dưới đất theo chuyên đề đối với các nguồn nước nội tỉnh, nguồn nước liên tỉnh trên địa bàn; Xác định, phê duyệt và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt của công trình khai thác nước trên địa bàn;chỉ đạo, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động trong vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt trên địa bàn; Tổ chức điều tra, đánh giá, lấy ý kiến và phê duyệt dòng chảy tối thiểu trên các sông, suối nội tỉnh và các sông, suối theo quy định

Về cơ bản, các quy định phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương trong lĩnh vực tài nguyên nước đã được các địa phương thực hiện tương đối thống nhất và có hiệu quả, nâng cao tính chủ động cho chính quyền địa phương trong quản lý, sử dụng các nguồn lực ở địa phương, góp phần thực hiện công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước

2.3.3 Lĩnh vực địa chất và khoáng sản:

Sau khi Luật Khoáng sản năm 2010 được ban hành và có hiệu lực, các văn bản quy định chi tiết dưới Luật cũng đã được ban hành nhằm chi tiết hóa và hướng dẫn các quy định của Luật nói chung và các quy định phân cấp nói riêng, qua đó cơ bản đã thực hiện tốt việc phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương

và địa phương

Trang 16

16

Hiện nay, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đang được phân cấp thực hiện các nhiệm vụ: cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định

và công bố; Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản; quyết định khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép; phê duyệt trữ lượng khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép; khoanh định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản, khu vực tạm thời cấm hoạt động khoáng sản sau khi có ý kiến của Bộ Tài nguyên và Môi trường và bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan; Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản để thi hành pháp luật về khoáng sản tại địa phương; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong việc bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; tổ chức bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; huy động và chỉ đạo phối hợp các lực lượng trên địa bàn để giải tỏa, ngăn chặn hoạt động khoáng sản trái phép tại địa phương Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về khoáng sản tại địa phương; chỉ đạo Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện các biện pháp bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; huy động và chỉ đạo phối hợp các lực lượng trên địa bàn để giải tỏa, ngăn chặn hoạt động khoáng sản trái phép Việc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc lập quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản thuộc thẩm quyền nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn, đặc biệt là nhu cầu cấp thiết trong việc xây dựng đường giao thông, đê kè, cầu cống là những công trình yêu cầu về tiến độ thực hiện để phục

vụ mục đích an sinh xã hội

Công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp chính quyền địa phương Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính về nguồn kinh phí, định mức chi… nên các địa phương không có cơ sở lập dự toán chi ngân sách hàng năm, khó khăn cho việc bảo đảm kinh phí thực hiện công tác này

Công tác giám sát thi công đề án thăm dò khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa được quan tâm thực hiện, chất lượng các báo cáo kết quả thăm dò chưa cao Việc đôn đốc các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ nộp báo cáo thăm dò địa chất (sau khi được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt) vào lưu trữ địa chất của Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Luật khoáng sản chưa được quan tâm đúng mức, chưa thường xuyên gây khó khăn cho công tác thống kê, kiểm kê trữ lượng

2.3.4 Lĩnh vực môi trường:

Luật Bảo vệ môi trường hiện hành đã quy định khá cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về môi trường Thời gian qua, một số văn bản quy phạm pháp luật quy định nội

Trang 17

17

dung phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương đã được ban hành bổ sung như: Nghị định số 59/2017/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ về quản lý tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ việc sử dụng nguồn gen đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nguồn gen ngoài tự nhiên hoặc nơi đăng ký trụ sở của Bên cung cấp có trách nhiệm xác nhận Hợp đồng do tổ chức, cá nhân đề nghị; Thông tư số 03/2018/TT-BTNMT ngày 14 tháng 8 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, điều chỉnh các thủ tục hành chính trong công tác tiếp nhận, xử lý hồ sơ cấp Giấy phép đủ điều kiện về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trên cơ sở thực hiện thông qua Cơ chế một cửa quốc gia, tạo điều kiện tinh giản thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ của các doanh nghiệp; Các Thông tư số 08/2018/TT-BTNMT và Thông tư số 09/2018/TT-BTNMT ngày 14 tháng 9 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rà soát, bổ sung và phân cấp tới Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương đối với các thủ tục tiếp nhận, kiểm tra và xử lý hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước đối với phế liệu nhập khẩu Tuy nhiên, việc phân cấp giữa trung ương và địa phương chưa thực sự rõ ràng, chưa thể hiện được vai trò, trách nhiệm của các địa phương đối với các vấn đề môi trường trên địa bàn

Nghị quyết số 09/NQ-CP của Chính phủ về phiên họp thường kỳ tháng 01 năm 2019 đã thống nhất giao Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối, thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn Do vậy, thời gian tới cần sớm rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan, đảm bảo xác định rõ hơn việc phân công, phân nhiệm chức năng quản lý nhà nước trình cấp có thẩm quyền ban hành để thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn

Để tiếp tục tăng cường phân cấp cho địa phương, thực hiện chương trình công tác của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và đã trình Chính phủ để xem xét, ban hành Đồng thời, Bộ đã trình Chính phủ đề xuất dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, theo đó đã xác định một trong các quan điểm xây dựng Luật là nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng thời có sự phân công, phân cấp rõ ràng trong quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường; tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân đối với công tác bảo vệ môi trường

2.3.5 Lĩnh vực khí tượng thủy văn:

Kể từ thời điểm Luật khí tượng thủy văn có hiệu lực (ngày 01 tháng 7 năm 2016) đến nay, nhiều quy định trong Luật đã được các Bộ, ngành, địa phương triển khai đạt kết quả, đáng chú ý là công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ nhằm thi hành các nội dung cụ thể của Luật đạt kết quả cả về số lượng và chất lượng của văn bản Công tác quản lý nhà nước hoạt động khí tượng thủy văn ở

Trang 18

18

Trung ương và địa phương từng bước đi vào nền nếp, có đủ cơ sở pháp lý để triển khai trên thực tế Các vấn đề chuyên môn, nghiệp vụ của khí tượng thủy văn từng bước được cụ thể hóa, quy định minh bạch, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tiếp cận, thực thi trên thực tế của các tổ chức, cá nhân Hoạt động khí tượng thủy văn đã từng bước đi vào cuộc sống, được chính quyền địa phương các cấp, cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xã hội, cộng đồng ghi nhận

về vai trò và hiệu quả của lĩnh vực thông qua hệ thống pháp luật

Theo Luật Khí tượng Thủy văn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: Xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khí tượng thủy văn, giám sát biến đổi khí hậu; Trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phương án phân bổ dự toán, quản lý, sử dụng ngân sách theo quy định của pháp luật để bảo đảm thực hiện các hoạt động khí tượng thủy văn phục

vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống thiên tai của địa phương; Cấp, gia hạn, đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn đối với tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; Quản lý các hoạt động quan trắc, dự báo, cảnh báo, thông tin, dữ liệu, cung cấp dịch vụ khí tượng thủy văn tại địa phương; Theo dõi, đánh giá việc khai thác, sử dụng tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống thiên tai trên địa bàn; Tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động thẩm định, thẩm tra, đánh giá việc khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội; việc lồng ghép kết quả giám sát biến đổi khí hậu trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trên địa bàn thuộc phạm vi quản lý; Tổ chức đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, xây dựng các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, khu vực thuộc phạm vi quản lý; Tổ chức truyền, phát tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thuộc phạm vi quản lý; Quản lý, lưu trữ thông tin, dữ liệu; xây dựng cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn thuộc phạm vi quản lý; Phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu; thực hiện các biện pháp phát triển hoạt động phục vụ, dịch vụ khí tượng thủy văn trên địa bàn; Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về hoạt động khí tượng thủy văn theo thẩm quyền; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về khí tượng thủy văn theo thẩm quyền; Xử lý theo thẩm quyền hành vi vi phạm hành lang kỹ thuật công trình khí tượng thủy văn và các hành vi vi phạm pháp luật khác về khí tượng thủy văn trên địa bàn; Báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường công tác quản lý nhà nước về hoạt động khí tượng thủy văn trên địa bàn

Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm: Theo dõi việc chấp hành pháp luật về khí tượng thủy văn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn; Theo dõi, đánh giá, khai thác, sử dụng tin dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống thiên tai trên địa bàn; Phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền về khí tượng thủy văn; tham gia giải quyết,

xử lý vi phạm về khí tượng thủy văn theo thẩm quyền; Tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình hoạt động khí tượng thủy văn, thiệt hại

do thiên tai khí tượng thủy văn gây ra trên địa bàn; Tham gia giải quyết khiếu

Trang 19

19

nại, tố cáo về khai thác, bảo vệ công trình khí tượng thủy văn trên địa bàn; Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động khí tượng thủy văn theo phân cấp hoặc ủy quyền của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: Tham gia bảo vệ công trình khí tượng thủy văn trên địa bàn; Phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền về khí tượng thủy văn; tham gia giải quyết, xử lý vi phạm về khí tượng thủy văn theo thẩm quyền; Tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp tình hình hoạt động khí tượng thủy văn, thiệt hại do thiên tai khí tượng thủy văn gây ra trên địa bàn; Tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo về khai thác, bảo vệ công trình khí tượng thủy văn trên địa bàn; Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước

về hoạt động khí tượng thủy văn theo phân cấp hoặc ủy quyền của cơ quan quản

lý nhà nước cấp trên

Tuy nhiên, công tác đôn đốc, kiểm tra, theo dõi thi hành pháp luật khí tượng thủy văn còn hạn chế ở cả cấp Trung ương và địa phương Kinh phí hàng năm dành cho hoạt động triển khai thi hành pháp Luật Khí tượng thủy văn còn hạn chế; hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật chủ yếu mang tính đơn lẻ thông qua một số hội nghị phổ biến, tập huấn của địa phương Một số nội dung

cụ thể của Luật Khí tượng thủy văn và các văn bản quy định chi tiết Luật chưa được triển khai đầy đủ, chưa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động khí tượng thủy văn Công tác quản lý nhà nước lĩnh vực khí tượng thủy văn tại địa phương còn chưa được chú trọng đúng mức Hành lang pháp lý cho chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn của chính quyền địa phương các cấp chưa bám sát, cụ thể hóa theo quy định của Luật Khí tượng thủy văn và văn bản quy phạm pháp luật liên quan

2.3.6 Lĩnh vực biến đổi khí hậu:

Do biến đổi khí hậu là lĩnh vực mới nên việc phân cấp cho địa phương chưa có văn bản cụ thể Tuy nhiên, tại một số văn bản quy phạm pháp luật đã có

đề cập đến việc phân cấp cho các địa phương lĩnh vực biến đổi khí hậu như: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Luật Khí tượng thủy văn số 90/2015/QH13; Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05 tháng 12 năm

2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia biến đổi khí hậu Theo đó, các nội dung phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương gồm: Xây dựng, cập nhật kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của địa phương; Hướng dẫn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi của Sở Tài nguyên và Môi trường trong các chiến lược, chương trình, kế hoạch quốc gia về biến đổi khí hậu, các đề án, dự án, chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu;

Tổ chức kiểm tra thực hiện các mục tiêu trong các chương trình, kế hoạch, đề

án, dự án biến đổi khí hậu trên địa bàn quản lý; Theo dõi, đánh giá tác động của

Trang 20

20

biến đổi khí hậu đối với điều kiện tự nhiên, con người và phát triển kinh tế - xã hội để đề xuất các giải pháp ứng phó; Hướng dẫn thực hiện các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định về kiểm kê và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

Thời gian qua, công tác quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu ở địa phương

đã từng bước được hình hành và triển khai thực hiện có hiệu quả Công tác phối hợp giữa Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh ngày càng được tăng cường Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biến đổi khí hậu chưa được hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Công tác quản lý nhà nước vẫn còn hạn chế, nhất là ở địa phương do không đủ nhân lực Các Sở Tài nguyên và Môi trường đã có bộ phận quản lý nhà nước về biến đổi khí hậu nhưng phần lớn đều từ các lĩnh vực khác chuyển qua, số lượng cán bộ ít, kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực

2.3.7 Lĩnh vực đo đạc và bản đồ:

Luật Đo đạc và bản đồ được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2018 Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 Luật Đo đạc và bản đồ đã được xây dựng với nhiều điểm mới, mang tính đột phá về thể chế chính sách trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ qua đó đảm bảo thống nhất về đo đạc và bản đồ trong phạm vi cả nước, tránh chồng chéo trong công tác quản lý và triển khai thực hiện các nhiệm vụ về đo đạc và bản đồ

từ Trung ương đến địa phương và giữa các bộ, ngành; tăng cường phân cấp trách nhiệm quản lý và tổ chức triển khai hoạt động đo đạc và bản đồ cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tạo chủ động cho các địa phương thực hiện các nhiệm vụ

đo đạc và bản đồ nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phát huy được các nguồn lực của xã hội trong hoạt động đo đạc và bản đồ; góp phần củng cố, nâng cao năng lực của địa phương trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý; ban hành văn bản theo thẩm quyền; chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ về đo đạc và bản đồ theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi tình hình thi hành pháp luật về đo đạc và bản đồ trên địa bàn; Quản lý công trình hạ tầng đo đạc theo phân cấp; Tổ chức triển khai xây dựng và quản lý hạ tầng dữ liệu không gian địa lý quốc gia và cơ sở dữ liệu đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý; Quản lý chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý; Quản lý lưu trữ, cung cấp, sử dụng thông tin, dữ liệu, sản phẩm đo đạc và bản đồ thuộc phạm vi quản lý; Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ; quản lý việc cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ; quản lý tổ chức, cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đo đạc và bản

đồ theo thẩm quyền

Trang 21

21

Tuy nhiên, một số địa phương chưa thực sự chủ động triển khai thực hiện các hoạt động đo đạc và bản đồ theo phân cấp; chưa ban hành kịp thời hoặc ban hành chưa đầy đủ quy định về quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ theo pháp luật; còn hạn chế về kinh phí, nhân lực và điều kiện kỹ thuật Một số quy định của pháp luật mới được ban hành, chưa có đủ thời gian thực hiện

2.3.8 Lĩnh vực viễn thám:

Ngày 04/01/2019 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2019/NĐ-CP về hoạt động viễn thám; tiến tới xây dựng Luật Viễn thám Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 01 tháng 02 năm 2019 phê duyệt Chiến lược phát triển viễn thám quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040 trong đó xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp và trách nhiệm của Bộ TN&MT, cũng như các bộ ngành và địa phương trong việc phát triển lĩnh vực viễn thám trong các giai đoạn nói trên Mặc dù vậy, hiện nay hành lang pháp lý phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về viễn thám hiện vẫn còn thiếu (chưa có Luật, còn thiếu nhiều văn bản quy phạm trong quản lý, kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn) Một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao đã

đề cập đến ứng dụng viễn thám nhưng vẫn còn ít và chưa được chuyển thành các nhiệm vụ cụ thể Các văn bản quản lý nhà nước, định mức và tiêu chuẩn kỹ thuật lĩnh vực viễn thám vẫn đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện

Hiện nay, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đang được giao thực hiện các nhiệm vụ: tổ chức triển khai thực hiện các đề án, dự án về ứng dụng viễn thám trong phạm vi quản lý; Bảo đảm hành lang an toàn kỹ thuật và bảo vệ các công trình

hạ tầng thu nhận dữ liệu ảnh viễn thám thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Nghị định này và các quy định pháp luật khác có liên quan; Xây dựng nhu cầu

sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám thuộc phạm vi quản lý của địa phương định kỳ hàng năm, 05 năm và theo nhiệm vụ đột xuất Nhà nước giao, gửi Bộ Tài nguyên

và Môi trường để tổng hợp và thống nhất việc thu nhận; Triển khai thực hiện việc thu nhận, lưu trữ, xử lý dữ liệu ảnh viễn thám thuộc phạm vi quản lý; Xây dựng, cập nhật, công bố siêu dữ liệu viễn thám để đáp ứng yêu cầu khai thác và

sử dụng thuộc phạm vi quản lý của địa phương; cung cấp bản sao dữ liệu và siêu

dữ liệu ảnh viễn thám mua từ nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước cho

Bộ Tài nguyên và Môi trường để tích hợp vào cơ sở dữ liệu ảnh viễn thám quốc gia trong thời hạn chậm nhất là 03 tháng, kể từ ngày nhận được dữ liệu từ nhà cung cấp…

Công tác quản lý nhà nước và đẩy mạnh ứng dụng viễn thám ở hầu hết các địa phương còn hạn chế, chỉ một số ít Sở Tài nguyên và Môi trường của các tỉnh, thành phố lớn (như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, thành phố

Đà Nẵng, Khánh Hòa) có ứng dụng viễn thám và có cán bộ kỹ thuật, chuyên môn am hiểu về viễn thám Các tỉnh, thành phố khác hiện chưa bố trí kinh phí hoặc chưa có cơ chế thúc đẩy việc khai thác và sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh viễn thám trong triển khai các nhiệm vụ chuyên môn được giao

2.3.9 Lĩnh vực quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo:

Trang 22

22

Việc phân cấp quản lý nhà nước giữa Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đã được quy định cụ thể tại Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật quy hoạch, Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Nghị định số 41/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết việc cấp phép cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam và Nghị định số 51/2014/NĐ-CP ngày 21/5/2014 của Chính phủ quy định giao khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thức, sử dụng tài nguyên biển; theo đó,

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao thực hiện các nhiệm vụ: giao, gia hạn, sửa đổi, bổ sung quyết định giao khu vực biển, trả lại khu vực biển trong phạm vi vùng biển 03 hải lý; cấp, cấp lại, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cho phép trả lại, thu hồi giấy phép nhận chìm ở biển trong vùng biển ven bờ thuộc phạm vi quản lý của địa phương; thiết lập và quản lý hành lang bảo vệ bờ biển; lập hồ sơ tài nguyên hải đảo trong phạm vi quản lý của địa phương…

Về cơ bản các nội dung phân cấp trong lĩnh vực quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trưởng biển và hải đảo hiện nay đều hợp lý, phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, các nội dung phân cấp được quy định là phù hợp với thực tiễn quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo hiện nay

III Thực trạng đội ngũ công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường

3.1 Đội ngũ tại các bộ, ngành

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành tài nguyên và môi trường, đội ngũ công chức, viên chức trong ngành thời gian quan đã phát triển nhanh về số lượng, trưởng thành một bước về chất lượng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển của ngành tài nguyên và môi trường nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung Một số lượng đáng kể chuyên gia, cán bộ có trình độ chuyên môn, công nghệ và ngoại ngữ tốt đã được thu hút về công tác tại Bộ Tài nguyên và Môi trường Lực lượng này đã tham gia tích cực, hiệu quả vào việc nghiên cứu và giải quyết một số vấn

đề lớn, quan trọng và phát triển các lĩnh vực của ngành tài nguyên và môi trường Đây là nguồn nhân lực rất quan trọng đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường

Đội ngũ công chức, viên chức và người lao động của ngành tài nguyên và môi trường ở cấp Trung ương4

: có khoảng 1.200 công chức đang công tác tại

4 Theo trình độ đào tạo, khối quản lý nhà nước có: 9% tiến sĩ, 35% thạc sĩ, 43% đại học; khối sự nghiệp có: 3% tiến sĩ; 15% thạc sĩ; 43% đại học Về độ tuổi, khối quản lý nhà nước có: 8,87% công chức từ 30 tuổi trở xuống, 44,2% từ 31 đến 40 tuổi, 23,36% từ 41 đến 50 tuổi và 12,86% trên 50 tuổi; khối sự nghiệp: 18,1% từ 30 tuổi trở xuống, 34,62% từ 31 đến 40 tuổi, từ 41 đến 50 tuổi chiếm 23,11%, từ 51 đến 60 tuổi 14,16%, trên 60 tuổi là 0,11% Đa số viên chức công tác tại các đơn vị sự nghiệp hoạt động mang tính đặc thù về điều tra cơ bản,

dự báo trên khắp các vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo

Về cơ cấu công chức: tại các đơn vị trực thuộc Bộ hiện có 61 chuyên viên cao cấp và tương đương (chiếm 5,6%); hơn 400 chuyên viên chính và tương đương (chiếm 37%); hơn 600 chuyên viên và tương đương (chiếm

Trang 23

Ở cấp Trung ương, một số lĩnh vực có sự hụt hẫng về đội ngũ công chức, viên chức có trình độ cao, chuyên môn sâu Phần lớn số công chức, viên chức được đào tạo về các chuyên ngành kỹ thuật, thiếu kỹ năng quản lý Trong khi

đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường còn bất cập, chính sách thu hút học sinh, sinh viên học tập một số chuyên ngành về tài nguyên và môi trường chưa được quan tâm xây dựng dẫn đến tình trạng một

số ngành, chuyên ngành được đào tạo tràn lan trong khi một số ngành ít có sinh viên, học sinh (như ngành khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, quản lý biển và hải đảo ) Số công chức, viên chức, chuyên gia được đào tạo trình độ cao ở các nước tiên tiến trên thế giới trước đây đã nghỉ hưu hoặc chuẩn bị nghỉ hưu hiện nay chưa có đội ngũ chuẩn bị thay thế Thực trạng nêu trên đòi hỏi phải có chiến lược, kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực, được đào tạo bài bản, chuyên sâu, có nhiệt huyết, trí tuệ, đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt cũng như lâu dài của ngành tài nguyên và môi trường và theo nhu cầu xã hội

3.2 Thực trạng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường ở địa phương

Tại địa phương5, đội ngũ công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường có khoảng 37.170 người, gồm 26.060 công chức và 11.110 viên chức Theo thống kê, số biên chế công chức trung bình của các Sở Tài nguyên và Môi trường hiện nay là 67 biên chế Nhìn chung, số lượng công chức của các Sở Tài nguyên và Môi trường là tương đối hạn chế so với yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức6

Đối với Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, trung bình được giao

7 - 8 biên chế (cá biệt có Phòng Tài nguyên và Môi trường chỉ được giao 4 - 5 biên chế)

57%) Cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức: tính đến năm 2017, các chức danh viên chức hạng I tại các đơn

vị thuộc Bộ khoảng 09 người; hạng II khoảng 810 người; hạng III khoảng 4742; hạng IV khoảng 1856 người; còn lại 1435 công nhân

5

Theo trình độ đào tạo, khối quản lý nhà nước có: 0,11% tiến sĩ, 6,12% thạc sĩ, 58,1% đại học, 7,3% cao đẳng và 28,37% trung cấp và sơ cấp; khối sự nghiệp có: 0,003% tiến sĩ; 16,9% thạc sĩ; 72,11% đại học; 10,98% dưới đại học Về độ tuổi, có 29,34% từ 30 tuổi trở xuống, 44,22% từ 31 đến 40 tuổi, 17,43% từ 41 đến 50 tuổi, 8,96% từ 51 đến 60 tuổi, 0,034% trên 60 tuổi

6 Lớn nhất là Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh có 309 biên chế, ít nhất là các Sở Tài nguyên và Môi trường: Kon Tum, Lai Châu có 40 biên chế, An Giang có 41 biên chế; 31/63 tỉnh có ít hơn 60 biên chế; 24/63 tỉnh có ít hơn 55 biên chế; 13/63 tỉnh có ít hơn 50 biên chế

Trang 24

Cơ cấu nhân lực giữa các ngành chuyên môn đang có sự mất cân đối, đặc biệt các lĩnh vực địa chất khoáng sản, bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng,

cơ cấu đội ngũ chưa hợp lý, trong đó bao gồm cả lực lượng làm công tác thanh tra, giám sát tài nguyên và môi trường; phần lớn lực lượng tài nguyên và môi trường đang tập trung ở lĩnh vực quản lý đất đai; trong khi đó, các công tác về bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, khoáng sản đang đặt ra nhiều thách thức đối với địa phương nên cần phải tăng cường và bố trí cơ cấu nhân lực phù hợp

Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức địa phương không đồng đều, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã còn yếu chuyên môn, tập trung nhiều ở lĩnh vực quản lý đất đai, trong khi đó cán bộ về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển, hải đảo, biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn còn rất thiếu Khối lượng nhiệm vụ hiện nay tại địa phương chủ yếu vẫn tập trung giải quyết các vấn đề về quản lý đất đai; tuy nhiên, các vấn đề khác, nhất là về quản

lý môi trường, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, biển, hải đảo (đối với các địa phương có biển) ngày càng trở nên cấp thiết Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng còn thiếu và yếu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ địa chính xã; việc tiếp cận và cập nhật các quy định của người bị thu hồi đất còn chậm và không đồng đều, vì vậy việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn gặp nhiều khó khăn

Thực tế hiện nay, các địa phương đang đứng trước tình trạng khan hiếm nhân lực có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ Việc tuyển dụng người có năng lực chuyên môn, được đào tạo chính quy ở các chuyên ngành về tài nguyên

và môi trường rất khó khăn, kể cả ở các đơn vị cấp sở Do khối lượng công việc được giao lớn, số lượng cán bộ công chức hiện có chưa đáp ứng hết nhiệm vụ nhà nước giao nên nhiều Sở đã trưng tập các cán bộ viên chức của các đơn vị sự nghiệp làm việc tại Sở thực hiện nhiệm vụ chuyên môn

3.3 Thực trạng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường theo từng lĩnh vực

3.3.1 Lĩnh vực đất đai

a) Cấp trung ương

Tổng cục Quản lý đất đai7 hiện có tổng số công chức, viên chức và lao động hợp đồng có thời hạn từ 1 năm trở lên đang làm việc tại Tổng cục là 669

7 Theo trình độ đào tạo (trên 70% được đào tạo tại Trường Đại học Nông nghiệp, nay viện Nông nghiệp): Tiến sỹ: 17 người; Thạc sỹ: 210 người; Đại học: 424 người và cao đẳng, trung cấp: 15 là Học người

Trang 25

25

người, trong đó: 158 công chức, 15 hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP; 198 viên chức và 298 lao động hợp đồng Chuyên ngành đào tạo chiếm gần 50% là địa chính và quản lý đất đai, số còn lại là các ngành nghề khác (kinh tế, tài chính, kế toán, môi trường, trắc địa bản đồ, khoa học trái đất, trắc địa tin học, luật, tin học, công nghệ thông tin, lưu trữ,… )

b) Cấp địa phương

Lực lượng công chức, viên chức và người lao động của toàn lĩnh vực đã lên đến trên 3 vạn người có mặt ở cả 4 cấp quản lý nhà nước, trong đó có hơn 1 vạn cán bộ địa chính xã… góp phần đảm bảo phát triển sản xuất bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, hình thành một lực lượng hùng hậu nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý và sử dụng đất đai trong thời kỳ mới

Tuy nhiên, do mô hình tổ chức hiện nay thì ở Trung ương chỉ quản lý về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý về nguồn nhân lực, tuyển dụng, điều động, luôn chuyển, quy hoạch, bổ nhiệm thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân các cấp do

đó việc đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho ngành có phần hạn chế, mới chỉ ở mức tổ chức các khoá tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác quản lý đất đai về giá đất, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, chính sách pháp luật đất đai…

c) Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực

Trong những năm qua, việc sử dụng và bố trí nguồn nhân lực luôn được Tổng cục quan tâm Trên cơ sở nguồn nhân lực hiện có, chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc, Tổng cục đã phân công, bố trí cán bộ phù hợp với năng lực, chức danh nghề nghiệp và chuyên ngành đào tạo, tạo điều kiện để từng cán

bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trình độ chuyên môn của cán bộ từng bước được nâng cao, cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ chuyên môn, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Đa số cán bộ là lực lượng trẻ, năng động, nhiệt tình, có khả năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm

Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ trẻ của Ngành được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, năng động nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế, số có độ tuổi dưới 30 có tỷ lệ khá cao; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu có trình độ cao (tiến sĩ, tiến sĩ khoa học), các chuyên gia đầu ngành còn thấp; một số cán bộ có bề dày kinh nghiệm nghiên cứu đã nghỉ hưu theo chế độ, nguy cơ thiếu hụt cán bộ chuyên môn có trình độ và kinh nghiệm chuyên sâu Trình độ ngoại ngữ của một số cán

bộ chủ chốt, cán bộ nguồn hiện nay đang là thách thức lớn đối với việc hội nhập quốc tế, khả năng cập nhật thông tin chuyên ngành và nắm bắt thông tin kinh tế,

xã hội phục vụ cho nhu cầu quản lý

Nhiệm vụ trong lĩnh vực đất đai của ngành hiện nay là rất lớn như công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thống kê, kiểm kê đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều tra đánh giá đất đai, thanh kiểm tra nhưng biên chế công chức được giao hiện nay còn thiếu dẫn đến việc thực thi nhiệm

vụ còn gặp khó khăn, như: chưa tổ chức thực hiện công tác điều tra đánh giá tài

Trang 26

b) Cấp địa phương

Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở địa phương có khoảng 13.600 người, trong đó: Cấp tỉnh có 1.126 người, trong đó có 135 người có trình độ sau đại học, chiếm khoảng 12%; đại học có 620 người, chiếm khoảng 55%; cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có 372 người, chiếm 33% Cấp huyện có 1.316 người, trong đó 79 người có trình độ thạc sỹ, chiếm 6%; đại học có 526 người, chiếm 40%; cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có 710 người, chiếm 54% Cấp xã có 11.148 người, trong đó có: 111 người có trình độ thạc sĩ, chiếm 1%; đại học có 1.783 người, chiếm 16%, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp có 9.253 người, chiếm 83%

c) Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực

Những năm qua công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nguồn nhân lực làm công tác quản lý nhà nước về môi trường đã được quan tâm và chú trọng Tỷ lệ cán

bộ, công chức, viên chức và nguồn nhân lực trong lĩnh vực môi trường được cử

đi đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ ngày càng tăng và chất lượng ngày càng được nâng lên Nguồn lực đầu tư và kinh phí đào tạo tuy còn ít và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của ngành nhưng phần nào đã hỗ trợ tốt và đầu tư có hiệu quả nâng cao rõ rệt năng lực, trình độ, nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức công tác trong ngành môi trường

Cán bộ làm trong công tác bảo vệ môi trường hiện nay còn thiếu ở các cấp

do còn phải kiêm nhiệm và thực hiện nhiệm vụ khác như công tác xây dựng nông thôn mới, nông nghiệp, xây dựng (ở cấp xã)…Các khóa đào tạo được tổ chức còn

ít, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập rất lớn của cán bộ, công chức viên chức Còn nhiều lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành, nhiều kỹ năng rất cần được tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho cán bộ nhưng do không có kinh phí nên không thể

Trang 27

27

hiện đang làm việc; trong đó có 01 PGS, 28 tiến sỹ (1,5%), 235 thạc sỹ (12,1%),

870 trình độ đại học (44,9%), 52 trình độ cao đẳng (2,6%), 750 trình độ dưới cao đẳng (38,7%) Tuổi đời bình quân của cán bộ có trình độ tiến sĩ là 53,08 tuổi; thạc sĩ là 44,52 tuổi; đại học là 42,43 tuổi

- Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản: hiện nay, Viện có 205 cán bộ, viên chức và người lao động trên tổng số 239 người làm việc được Bộ giao Theo trình độ đào tạo: Viện có 17 người trình độ tiến sĩ (01 PGS); thạc sĩ là

81 người và 93 người trình độ đại học; còn lại là lực lượng hỗ trợ phục vụ có trình độ cao đẳng trở xuống

b) Cấp địa phương

Tổng số nhân lực trong lĩnh vực địa chất khoáng sản tại các địa phương là 4.686 người, trong đó: Tiến sĩ 183 người; Thạc sĩ 386 người; Đại học 2.598 người; Cao đẳng 300 người; Trung cấp và Sơ cấp là 1.275 người

c) Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực lĩnh vực địa chất và khoáng sản khá dồi dào Với trình độ đào tạo, năng lực chuyên môn hiện có, đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản đã cơ bản bố trí, sắp xếp và sử dụng hợp lý theo đúng vị trí việc làm, yêu cầu công việc nhằm phát huy tối đa năng lực chuyên môn, quản lý bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ đạt hiệu quả, chất lượng cao Mặc dù vậy qua những theo dõi, thực trạng của nguồn nhân lực vẫn còn một số tồn tại như về kỹ năng chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp và khả năng thích nghi với môi trường nghề nghiệp

Do đặc thù của ngành, phần lớn các cán bộ công nhân viên của ngành địa chất và khoáng sản trưởng thành từ những công việc thực tế, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp trong ngành được rèn luyện và tích lũy từ công tác thực hiện những dự án điều tra cơ bản mang tính hệ thống của nhà nước như lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản các tỉ lệ, đánh giá những khoáng sản khoáng sản trọng điểm (than Quảng Ninh, Đồng Sin Quyền, Apatit Lài Cai v.v) Cùng với sự giúp đỡ của chuyên gia các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là các chuyên gia Liên Xô, qua lịch sử phát triển lâu dài, ngành địa chất và khoáng sản Việt Nam đã có được một lực lượng cán bộ có kỹ năng chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao; luôn tôn trọng nghề nghiệp và thích nghi tốt với môi trường công tác ngay cả khi công tác ở những vùng gian khổ và nguy hiểm nhất Mặc

dù vậy trong những năm gần đây, lực lượng nòng cốt này đang hao hụt dần do vấn đề về tuổi công tác Một lực lượng lớn các kỹ sư, cử nhân trẻ những người

sẽ thay thế trong tương lai còn thiếu kỹ năng chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp và thiếu cơ hội để hoàn thiện và nâng cao hai kỹ năng này Ngoài ra, thái

độ nghề nghiệp của lực lượng này cũng chưa tốt, tỉ lệ các kỹ sư trẻ mới ra trường tham gia công tác địa chất ở các vùng khó khăn thôi việc sau 1 hoặc 2 mùa thực địa còn lớn và phổ biến

Ở các địa phương, đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về địa chất, khoáng sản đều có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên; đa

Trang 28

28

số là thanh tra viên hoặc được giao nhiệm vụ thực hiện thanh tra chuyên ngành Tuy nhiên theo đánh giá chung trong quá trình thanh tra, kiểm tra đều nhận thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ có trình độ, chuyên môn và thực tiễn công việc chưa đáp ứng được yêu cầu

3.3.4 Lĩnh vực tài nguyên nước

a) Cấp Trung ương

- Hiện tại, Cục Quản lý tài nguyên nước có 48 công chức đang công tác tại các đơn vị thuộc khối hành chính, quản lý nhà nước trực thuộc Cục 100% công chức đều có trình độ đào tạo từ đại học trở lên, trong đó có 02 Tiến sỹ, 37 Thạc

sỹ, còn lại là cử nhân, kỹ sư

- Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia có 760 người, trong đó có 195 nữ (25,66%), trình độ đào tạo: Tiến sỹ 10 người (1,32%), Thạc

sỹ 122 người (15,05%), Đại học 356 người (46,84%), Cao đẳng 14 người (1.84%), Trung cấp và công nhân các loại 258 người (33,95%)

- Viện Khoa học tài nguyên nước có 42 người, trong đó: 07 Tiến sỹ (17%),

16 Thạc sỹ (38%), 19 Đại học (45%)

- Văn phòng Thường trực ủy ban sông Mê Công Việt Nam có 17 công chức, trong đó, có 03 Tiến sỹ (18%), 08 Thạc sỹ (47%) và 06 Đại học (35%) Ngoài ra, còn có 01 hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP và 11 hợp đồng lao động tại đơn vị sự nghiệp

c) Đánh giá khả năng đáp ứng nguồn nhân lực

Cán bộ làm việc trong lĩnh vực tài nguyên nước cơ bản được đào tạo đúng chuyên ngành, đáp ứng được các công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao trong lĩnh vực tài nguyên nước như: sử dụng mô hình toán, phân tích không gian, phân tích đánh giá nguồn nước và khả năng khai thác nguồn nước, đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng nước, quản lý tổng hợp tài nguyên nước, các máy phân tích chất lượng nước… , bảo đảm đáp ứng theo yêu cầu công việc và vị trí việc làm Tuy nhiên, phần lớn số công chức, viên chức được đào tạo về các chuyên ngành kỹ thuật, thiếu kỹ năng quản lý

Theo kết quả điều tra thì số lượng công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước ở địa phương mặc dù đã có những thay đổi tích cực nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc Lượng công việc thường quá tải đối với cán bộ thực hiện công tác này do khối lượng công việc lớn nhưng

số lượng người làm việc ít mà thường được ghép với việc thực hiện cả quản lý trong các lĩnh vực khác như: khí tượng thủy văn, khoáng sản

Trang 29

- Các đơn vị trong Bộ Tài nguyên và Môi trường gần 4.000 người

Số lượng cán bộ chuyên môn về đo đạc và bản đồ thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường chia theo chức năng hoạt động như sau:

Tại các tổng cục, cục trực thuộc Bộ: có 810 người (tiến sĩ 10 người, chiếm 1,2 %; thạc sĩ 150 người, chiếm 18,5%; đại học 650 người, chiếm 80,2%; trình

độ khác 100 người, chiếm 12,3%)

Tại các viện, trường trực thuộc Bộ: có 332 người (tiến sĩ 22 người, chiếm 6,6%; thạc sĩ 110 người, chiếm 33,1%; đại học 200 người, chiếm 60,2%; trình

độ khác 100 người, chiếm 30,1%)

Tại các doanh nghiệp: có 2222 người (tiến sĩ 02 người, chiếm 0,1%; thạc sĩ

120 người, chiếm 5,4%; đại học 1200 người, chiếm 54%; trình độ khác 800 người, chiếm 36%)

- Số liệu nhân lực tại Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam: Tổng số: 431 người (gồm 39 công chức, 180 viên chức và lao động hợp đồng) Trong đó, cán bộ có trình độ tiến sĩ: chiếm 1,4%; thạc sĩ: 20,4%; đại học: 58,93%; số tuyển mới từ 2012 -2015: 6 người; số cán bộ thôi việc, nghỉ hưu: 8 người Tuyển dụng viên chức 2016: 24 người

b) Cấp địa phương

Ở địa phương cơ cấu tổ chức của bộ phận quản lý đo đạc và bản đồ trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường không có sự thay đổi qua các thời kỳ Hiện nay, số lượng công chức, viên chức thuộc lĩnh vực này tại địa phương khoảng 1.500 người Nhìn chung công tác quản lý nhà nước về đo đạc và bản đồ ở địa phương đã có những bước phát triển mạnh đặc biệt trong những năm gần đây Tuy nhiên, theo kết quả điều tra thì số lượng công chức thực hiện công tác quản

lý nhà nước về đo đạc và bản đồ ở địa phương mặc dù đã có những thay đổi tích cực nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc

c) Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực

Phần lớn cán bộ đã đáp ứng được yêu cầu công việc theo nhiệm vụ được giao ở mức độ hoàn thành và hoàn thành tốt; trong đó có khoảng 50% ở mức độ hoàn thành, 20% hoàn thành tốt và có khoảng 30% số cán bộ còn yếu về chuyên môn do không đúng chuyên ngành hoặc năng lực cá nhân còn hạn chế Đo đạc

và Bản đồ là lĩnh vực kỹ thuật nên các cán bộ kỹ thuật phần lớn đều được đào tạo các chuyên ngành về đo đạc và bản đồ, địa lý, địa chính

Hiện nay, chỉ có khoảng 40% số cán bộ đo đạc và bản đồ có đào tạo cơ bản tại các trường có bề dày đào tạo; bản thân cá nhân có kiến thức, có nhiệt tình,

Ngày đăng: 07/04/2022, 14:38

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w