ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ HOÀI ĐỨC NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH TỰ NHIÊN VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ LÃNG CÔNG H
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HOÀI ĐỨC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH TỰ NHIÊN
VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ LÃNG CÔNG
HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HOÀI ĐỨC
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÁI SINH TỰ NHIÊN
VÀ ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA MỘT SỐ QUẦN XÃ THỰC VẬT SAU NƯƠNG RẪY TẠI XÃ LÃNG CÔNG
HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Ma Thị Ngọc Mai
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho bất kỳ một học vị nào
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hoài Đức
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học, tại khoa Sinh học Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy (cô), các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Ma Thị Ngọc Mai - người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy (cô) khoa Sinh học, phòng Đào tạo - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND xã Lãng Công, Chi cục Kiểm lâm huyện Sông Lô, Công ty Lâm nghiệp Lập Thạch đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè đã luôn cổ vũ, động viên tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Hoài Đức
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
4 Cấu trúc của luận văn 2
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật 3
1.1.2 Thảm thực vật thứ sinh 3
1.1.3 Khái niệm về rừng 3
1.1.4 Tái sinh rừng 4
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới 4
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng 4
1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh phục hồi rừng 8
1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc và phân loại rừng 11
1.3.2 Nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng 13
1.3.3 Nghiên cứu về phân chia tầng trong rừng mưa nhiệt đới 14
Trang 61.3.4 Nghiên cứu về tái sinh rừng 15
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 20
2.4.2 Phân tích và xử lý số liệu 21
2.4.3 Phương pháp điều tra trong nhân dân 24
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1 Điều kiện tự nhiên 25
3.1.1 Vị trí địa lý 25
3.1.2 Địa hình 26
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 26
3.1.4 Khí hậu, thủy văn 27
3.1.5 Tài nguyên rừng 28
3.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội 29
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Hiện trạng các trạng thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 34
4.1.1 Hệ thực vật 34
4.1.2 Các trạng thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 35
4.2 Thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống 39
4.3 Quy luật phân bố cây tái sinh 40
4.3.1 Phân bố cây gỗ theo cấp chiều cao 40
Trang 74.3.2 Phân bố cây gỗ theo cấp đường kính 43
4.3.3 Phân bố cây gỗ theo mặt phẳng ngang 46
4.4 Nguồn gốc, chất lượng cây tái sinh 48
4.5 Đa dạng về thành phần dạng sống 50
4.6 Cấu trúc phân tầng theo chiều thẳng đứng của các quần xã thực vật tái sinh 53
4.6.1 Giai đoạn I 54
4.6.2 Giai đoạn II 54
4.6.3 Giai đoạn III 55
4.6.4 Giai đoạn IV 55
4.7 Đề xuất biện pháp bảo vệ và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần thực vật trong các điểm nghiên cứu 34
Bảng 4.2 Sự thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống 39
Bảng 4.3 Mật độ cây gỗ theo cấp chiều cao 41
Bảng 4.4 Phân bố số cây gỗ theo cấp đường kính (D1.3m) 44
Bảng 4.5 Phân bố cây gỗ theo mặt phẳng nằm ngang 47
Bảng 4.6 Nguồn gốc và chất lượng cây tái sinh 48
Bảng 4.7 Thành phần dạng sống trong các giai đoạn nghiên cứu 51
Bảng 4.8 Cấu trúc phân tầng của các quần xã thực vật ở KVNC 53
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính huyện Sông Lô 33
Hình 4.1 Tỷ lệ các taxon trong các ngành của hệ thực vật ở KVNC 35
Hình 4.2 Thay đổi số lượng loài theo nhóm dạng sống 39
Hình 4.3: Mật độ cây gỗ theo cấp chiều cao 41
Hình 4.4 Đồ thị phân bố cây gỗ theo cấp đường kính D1.3m 45
Hình 4.5 Nguồn gốc cây tái sinh 49
Hình 4.6 Chất lượng cây tái sinh 49
Hình 4.7 Sự phân bố dạng sống thực vật tại các trạng thái TTV 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Rừng là một bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển, là lá phổi xanh của nhân loại Ngoài ý nghĩa về tài nguyên sinh vật rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu được trong tự nhiên Nó có vai trò quan trọng tạo nên cảnh quan và có tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai Chính
vì vậy, Rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế - xã hội mà nó còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường sinh thái
Rừng cung cấp nơi cư trú, lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Tuy nhiên với sự gia tăng dân
số, tiến bộ của khoa học kỹ thuật và nhu cầu sử dụng tài nguyên ngày càng cao
để phục vụ cho cuộc sống Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm diện tích rừng, giảm tính đa dạng sinh học của tài nguyên rừng [10]
Có rất nhiều đánh giá khác nhau về sự suy giảm độ che phủ rừng ở Việt Nam trong nửa thế kỷ gần đây Diện tích rừng ở Việt Nam ước tính khoảng 181.500 km2 (chiếm 55% tổng diện tích đất đai 330.000 km2) vào cuối năm
1960 và 56.680 km2 (17% tổng diện tích đất đai) vào cuối những năm 1980; theo DeKoninck Việt Nam trở thành nước có nạn phá rừng nhanh nhất trong số các nước Đông Nam Á với khoảng 2/3 độ che phủ rừng bị mất đi trong giai đoạn này Ước tính trong giai đoạn từ năm 1976 - 1990, mỗi năm diện tích rừng phủ tự nhiên của Việt Nam giảm trung bình 185.000 ha Đến năm 2010, tổng diện tích rừng của Việt Nam khoảng 13.797.000 ha chiếm 44% tổng diện tích đất cả nước (FAO 2010), Việt Nam là một trong số ít quốc gia Châu Á có mức tịnh tiến diện tích rừng đang tăng [46]
Bắt đầu từ năm 1992, chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực làm ổn định
và phục hồi độ che phủ rừng Năm 1998, chương trình tái trồng 5 triệu ha rừng được triển khai với mục đích tăng độ che phủ rừng từ sấp xỉ 9 triệu ha (28% độ che phủ rừng) lên 14,3 triệu ha (44% độ che phủ rừng) vào năm 2010 Hiện nay, biện pháp khoanh nuôi phục hồi rừng đã được quan tâm với phương thức là sử
Trang 12dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên cứu rất quan trọng làm
cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng [46]
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên và đặc điểm cấu trúc của một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại xã Lãng Công huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được khả năng tái sinh tự nhiên và cấu trúc của quần xã thực vật tái sinh tự nhiên sau nương rẫy trong các giai đoạn phát triển tại xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy nhanh quá trình tái sinh phục hồi rừng tại địa phương
3 Ý nghĩa của đề tài
4 Cấu trúc của luận văn
Mở đầu
Chương 1 Tổng quan tài liệu
Chương 2 Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương 3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và kiến nghị
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về thảm thực vật
Thảm thực vật (vegetation) là một khái niệm được nhiều nhà khoa học
trong nước và nước ngoài đề cập đến Theo J Schmithusen (1959) 51, thì thảm thực vật là lớp thực bì của Trái đất và các bộ phận cấu thành khác nhau của nó Theo Thái Văn Trừng (1978) 42, thảm thực vật là các quần hệ thực vật phủ trên mặt đất như một tấm thảm xanh Trần Đình Lý (1998) 25, thảm thực vật là toàn bộ lớp phủ thực vật ở một vùng cụ thể hay toàn bộ lớp phủ thực vật trên toàn bộ bề mặt trái đất
Theo khái niệm nào đi nữa thì thảm thực vật còn là một khái niệm chung chưa chỉ rõ đối tượng cụ thể; nó chỉ có ý nghĩa và giá trị cụ thể khi có định ngữ kèm theo như: thảm thực vật cây bụi, thảm thực vật thứ sinh, thảm thực vật nguyên sinh…
1.1.3 Khái niệm về rừng
Theo VN Sukhatrep (1964), “Rừng là một quần lạc sinh địa Quần lạc sinh địa là tổ hợp các yếu tố tự nhiên đồng nhất trên vùng đất xác định (khí hậu,
Trang 14đá mẹ, đất, các điều kiện thuỷ văn, thực vật, động vật, vi sinh vật) Các yếu tố
tự nhiên có vai trò thiết lập ra các mối quan hệ , cùng với các nhóm sinh vật chúng hình thành nên kiểu trao đổi chất và năng lượng đặc trưng giữa chúng với nhau và với các yếu tố tự nhiên, nó là một thể thống nhất đang biến động và phát triển” (Dẫn theo Hoàng Chung, 2005) 5
Theo Trần Đình Lý (1995) 39, sự có mặt của các loài cây gỗ có chiều cao từ 3m trở lên và độ tàn che (k) của chúng là thông số cho thấy trạng thái của rừng gỗ Nếu k < 0,3 là đất chưa có rừng Nếu k = 0,3 - 0,6 là rừng thưa Nếu k > 0,6 là rừng kín Hiện nay, có một số nhà khoa học lâm nghiệp có đề xuất độ tàn che của cây gỗ là (k=0,1) đã đã đánh giá là rừng; trong đề tài chúng tôi theo quan điểm của Trần Đình Lý
1.1.4 Tái sinh rừng
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ được nhiều nhà khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dưới tán rừng Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia 3 mức độ tái sinh: Tái sinh nhân tạo, nguồn giống do con người tạo ra bằng cách gieo giống trực tiếp Tái sinh bán nhân tạo, nguồn giống được con người tạo ra bằng cách trồng bổ sung các cây giống, sau đó chính cây giống sẽ là tạo ra nguồn hạt cho quá trình tái sinh Tái sinh tự nhiên: nguồn hạt (nguồn giống) hoàn toàn tự nhiên
Theo Phùng Ngọc Lan (1986)[21], tái sinh được coi là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy, tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Trong luận văn, tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi các thành phần của hệ sinh thái rừng
1.2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ các thành phần sinh vật trong
hệ sinh thái rừng, các thành phần vô sinh, hữu sinh trong hệ sinh thái rừng có
Trang 15mối quan hệ qua lại với nhau thông qua các mối quan hệ sinh thái tạo cho rừng
có cấu trúc ổn định trong một thời gian nhất định
1.2.1.1 Cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Quy luật về cấu trúc rừng là cơ sở quan trọng để nghiên cứu hệ sinh thái học rừng và đặc biệt là để xây dựng những mô hình lâm sinh cho hiệu quả sản xuất cao Trong nghiên cứu cấu trúc rừng có thể chia thành ba dạng cấu trúc: Cấu trúc sinh thái, cấu trúc không gian và cấu trúc thời gian Cấu trúc sinh thái của lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, là sản phẩm của quá trình đấu tranh sinh tồn giữa thực vật với thực vật và giữa thực vật với môi trường sống Thực tế cấu trúc rừng có tính trật tự và theo quy luật cấu trúc của quần xã
Richards P.W (1933- 1934), Baur G N (1962), Ođum E P (1971)…, tiến hành nghiên cứu về cấu trúc rừng mưa nhiệt đới, các nghiên cứu này nêu lên quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành loài, phổ dạng sống và cấu trúc tầng phiến của rừng
Theo Baur G N (1962) 1, nghiên cứu các vấn đề cơ sở sinh thái rừng nói chung và cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó ông đi sâu nghiên cứu các nhân tố về cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Từ đó, ông đã đưa ra những tổng kết về các nguyên lý, các giai đoạn tác động xử lý lâm sinh nhằm mục đích đem lại hiệu quả cao trong trồng rừng và tái sinh tự nhiên của rừng
Catinot R (1965) 3, vẽ các phẫu đồ ngang và đứng với các nhân tố sinh thái để mô tả các khái niệm về dạng sống, tầng phiến để diễn tả cấu trúc sinh thái rừng Nổi bật nhất có nghiên cứu của Odum E P (1971) [49] nghiên cứu
về sinh thái rừng mưa nhiệt đới, ông chỉ ra mối quan hệ giữa các thành phần cấu trúc rừng với các yếu tố hoàn cảnh của rừng Theo ông, hệ sinh thái rừng mưa rất phức tạp, ngoài việc tuân theo quy luật vận động chung nhất, bản thân từng nhân tố lại vận động theo quy luật riêng Như vậy, muốn hệ sinh thái rừng
Trang 16ổn định nhất thiết phải nắm vững các quy luật vận động của các nhân tố đó trong những hoàn cảnh cụ thể để biết cách điều tiết hài hoà các mối quan hệ trong sự phức tạp đó
1.2.1.2 Hình thái cấu trúc rừng
Là hiện tượng cấu trúc theo tầng, sự sắp xếp không gian phân bố của các thành phần sinh vật rừng theo chiều ngang và chiều thẳng đứng Trên cơ sở cấu trúc theo tầng sẽ vẽ được biểu đồ trắc diện của rừng Năm 1934, Davit và Richards P.W, đề xuất vẽ biểu đồ trắc diện của rừng trong khi phân loại và mô
tả rừng mưa nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu trúc thảm thực vật theo chiều ngang và chiều thẳng đứng Đến nay, phương pháp này rất có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng Tuy nhiên phương pháp này chỉ minh họa được cách sắp xếp theo chiều thẳng đứng của các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Đến năm 1951, Cusen đã khắc phục bằng cách vẽ một số dải kề nhau và đưa lại một hình tượng về không gian ba chiều của rừng
Richards P.W (1952), [50] phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa nhiệt đới thành hai loại: Rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài cây Theo ông, rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng cây gỗ, 1 tầng cây bụi và 1 tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và tầng cây cỏ còn có nhiều loài dây leo đủ hình dáng và nhiều kích thước, cùng nhiều loài sống bám trên thân hoặc cành cây
Trong nghiên cứu về hình thái cấu trúc rừng có nhiều hệ thống phân loại thảm thực vật rừng, trong đó phương pháp phân loại rừng dựa theo cấu trúc và dạng sống của thảm thực vật, phương pháp dựa vào hình thái ngoại mạo của thảm thực vật được sử dụng nhiều nhất
Kraft (1884), lần đầu tiên đưa ra hệ thống phân cấp cây rừng Dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng, tác giả đã chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp Hệ thống phân cấp cây rừng này của
Trang 17ông đã phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi Đối với rừng nhiệt đới tự nhiên, việc phân cấp cây rừng là một vấn đề hết sức khó khăn, cho đến nay chưa có tác giả nào đưa ra được phương án phân cấp cây rừng tối ưu được chấp nhận rộng rãi Sapion Gripfit (1984), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp còng dựa trên kích thước và chất lượng cây rừng
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu hình thái cấu trúc rừng, nhất
là rừng nhiệt đới thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ học nên chưa phản ánh được đầy đủ thực trạng sự phân tầng phức tạp của rừng nhiệt đới tự nhiên
1.2.1.3 Định lượng về cấu trúc rừng
Để kết quả nghiên cứu cấu trúc rừng mang tính chính xác, thực tế, nhiều nhà nghiên cứu đã chuyển dần từ mô tả định tính sang nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của thuật toán - tin học Trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng (cấu trúc không gian và thời gian), xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất
Rollet B (1971) [53], đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất Nhiều tác giả còn sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính loài cây theo mô hình của Schumarcher và Coil (Belly, 1973) Ngoài ra các hàm Meyer, Hyperbol, hàm mũ…cũng được nhiều tác giả sử dụng để mô hình hoá cấu trúc rừng
Trong nghiên cứu về cấu trúc rừng và phân loại rừng, thì cấu trúc ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái cũng được nhiều nhà khoa học đề cập tới Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là dựa vào đặc điểm phân bố, dạng sống chiếm ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có
Trang 18Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973)… Trong hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏi hoàn cảnh của rừng, do vậy hình thành một hướng phân loại cấu trúc rừng theo ngoại mạo sinh thái
Hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động, Melkhov đã nhấn mạnh sự biến đổi các thành phần của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng
Như vậy, các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung
và rừng nhiệt đới nói riêng trên thế giới rất phong phú và đa dạng Có nhiều công trình nghiên cứu công phu đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc thảm thực vật tự nhiên phục hồi sau nương rẫy ở từng vùng sinh thái chưa nhiều
1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh phục hồi rừng
Tái sinh tự nhiên của rừng là một quá trình rất phức tạp Tuy vậy, vấn đề này còng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà lâm học Khi nghiên cứu tái sinh rừng, người ta thường tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế
Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây Nghiên cứu về tái sinh rừng là những nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn, người ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định (dẫn theo Trần Quốc Hưng) [26]
Trang 19Van Steenis (1956), đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng [52]
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh Nội dung chi tiết các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được Baur (1976) [1], tổng kết trong tác phẩm: Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
P W Richards (1952) [50], Bernard Rollet (1974) nghiên cứu về phân
bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đã tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân
bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: cây tái sinh có dạng phân bố cụm, một
số ít có phân bố Poison
G.N Baur (1976) [1], cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nẩy mầm và phát triển của cây mầm ảnh hưởng này không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh Ở những quần tụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới,
tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn
Theo Ghent.A.W (1996) [48], tầng cây bụi thảm tươi có ảnh hưởng lớn đến quá trình tái sinh của loài cây gỗ và thảm mục, chế độ thủy nhiệt tầng đất mặt đều có quan hệ với tái sinh ở mức độ khác nhau
Bernard Rollet (1974), tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 m x 1 m; 1 m x 1,5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson Ở châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Taylor (1954), Barnard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt
Trang 20đới châu Á như Bava (1954), Budowski (1956), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng, (Dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên 1995) [7]
Xannikov (1967) và Vipper (1973) trong nghiên cứu tái sinh rừng nhận thấy, tầng cây cỏ và cây bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần tụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng
do đó thảm cỏ và thảm cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Dẫn theo Trần Xuân Thiệp 1996) [35]
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng sau nương rẫy được một số tác giả nghiên cứu Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại 24 điểm thuộc vùng rừng nhiệt đới ở Colombia và Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu đến rừng thành thục Thành phần các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ lệ các loài cây nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ giai đoạn đầu của quá trình tái sinh, thời gian phục hồi phụ thuộc vào mức độ, tần
số canh tác của khu vực đó (dẫn theo Nguyễn Vạn Thường, 1991) [40]
Khi nghiên cứu khả năng tái sinh của thảm thực vật sau nương rẫy từ 1-
20 năm ở vùng Tây Bắc Ấn Độ, Ramakrishnan (1981 - 1992) đã cho thấy chỉ
số đa dạng loài tái sinh thấp Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần ở những pha sau theo thời gian bỏ hoá Long Chun và cộng sự (1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuangbanna tỉnh Vân Nam - Trung Quốc nhận xét, nương rẫy bỏ hoá
3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 176 loài (dẫn theo Nguyễn Vạn Thường, 1991) [40]
Tóm lại, tái sinh rừng nhiệt đới là vấn đề phức tạp do tính đa dạng sinh
Trang 21những hiểu biết về phương pháp nghiên cứu, quy luật tái sinh rừng tự nhiên ở một số nơi trên thế giới để vận dụng xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý tài nguyên rừng một cách có hiệu quả
1.3 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1 Nghiên cứu về cấu trúc và phân loại rừng
Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về cấu trúc và tái sinh rừng trồng, rừng tự nhiên, rừng sau nương rẫy nhằm đưa ra cơ sở khoa học cho việc kinh doanh rừng một cách hiệu quả ở từng vùng sinh thái
Năm 1918, nhà bác học Pháp, là người đầu tiên lập một bảng phân loại thảm thực vật rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới châu Á đầu tiên trên thế giới) Theo bảng phân loại này, rừng ở miền Bắc Việt Nam chia thành 10 kiểu
Năm 1960, Cục điều tra và quy hoạch rừng thuộc tổng cục lâm nghiệp Việt Nam lập bảng phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt nam về thảm thực vật rừng ở Việt nam Theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt nam được chia làm 4 loại hình lớn: Loại I, đất đai hoang trọc, những trảng
cỏ và cây bụi, trên loại này cần phải trồng rừng Loại II, gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc tỉa thưa Loại III, gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh trở thành nghèo kiệt nhưng vẫn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, đối với loại rừng này cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo hoàn cảnh rừng Loại IV, gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa bị phá hoại, cần khai thác hợp lý [55] Tuy nhiên bảng phân loại này không phân biệt được kiểu rừng nguyên sinh với các kiểu phụ thứ sinh
và rừng trong các giai đoạn diễn thế
Trần Ngũ Phương (1970), [27] đưa ra bảng phân loại rừng ở miền bắc Việt nam được chia thành 3 đai theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa, đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1975) 41, trên quan điểm sinh thái học ông đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật rừng Việt nam, theo ông, thảm thực vật rừng Việt
Trang 22Nam chia thành 14 kiểu: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim,
ẩm á nhiệt đới núi thấp Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới ẩm núi vừa Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô á nhiệt đới núi thấp Kiểu quần hệ khô lạnh vùng núi cao Kiểu quần hệ lạnh vùng cao
Đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng phù hợp nhất trên quan điểm sinh thái ở Việt nam cho đến nay; bảng phân loại này được nhiều tác giả áp dụng khi thực hiện các nghiên cứu của mình
Phan Kế Lộc (1985) [23], dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973), xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau
Vũ Đình Phương (1985- 1988), [28][29][30][31] đã đưa ra phương pháp phân chia rừng phục vụ cho công tác điều chế dựa vào 5 nhân tố đó là (nhóm nhân tố sinh thái tự nhiên, các giai đoạn phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng tái sinh tự nhiên, đặc điểm về địa hình, đặc điểm về thổ nhưỡng) với một bảng mã hiệu dùng để tra cứu trong quá trình phân chia Phương pháp phân chia này đã được áp dụng trong khi xây dựng đề án điều chế cho một số lâm trường ở Tây Nguyên và Quảng Ninh
Đặng Kim Vui (2002) 46, nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây (cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ), đồng thời đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi)
Trang 23Lê Ngọc Công (2004) [9], dựa trên bảng phân loại của UNESCO (1973),
đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ là: Rừng rậm, rừng thưa, trảng cây bụi và trảng cỏ
Việc phân chia loại hình rừng tự nhiên ở Việt Nam là rất cần thiết đối với công tác nghiên cứu bảo tồn và ứng dụng trong quy hoạch phát triển vốn rừng lâm nghiệp Tuỳ vào mục tiêu quy hoạch mà cần xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau, nhưng việc phân chia đều nhằm mục đích là làm rõ hơn các đối tượng cần quan tâm Công trình nghiên cứu của giáo sư Thái Văn Trừng (1975, 1978) đã đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên ở nước
ta một cách tổng quát Nhờ đó người quản lí hoạch định và phác hoạ được các biện pháp xử lí lâm sinh tác động vào từng giai đoạn phát triển rừng
1.3.2 Nghiên cứu định lượng về cấu trúc rừng
Có nhiều nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng như công trình nghiên cứu
mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 và biểu diễn chúng theo các dạng hàm phân bố xác xuất khác nhau Năm 1974, Đồng Sỹ Hiền [14], trong công trình nghiên cứu của mình ông dùng hàm Meyer và hệ đường cong Poisson để nắn phân bố thực nghiệm số cây theo cỡ đường kính cho rừng tự nhiên làm cơ sở cho việc lập biểu đồ thân cây đứng cho rừng Việt Nam
Nguyễn Hải Tuất (1981- 1986), 45,đã sử dụng hàm phân bố giảm, phân
bố khoảng cách để biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh, đồng thời còng áp dụng đường cong Poisson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể rừng
Trần Văn Con (1992) [8], đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở ĐăkLắk
Nguyễn Duy Chuyên (1995) [7], cho rằng tái sinh tự nhiên của nhiều loài cây dưới tán rừng có thể biểu diễn bằng các hàm toán học
Như vậy, các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng đã giúp cho việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở mức độ mô tả rừng
mà đã từng bước đi sâu vào phân tích quy luật kết cấu của rừng chính xác hơn phù hợp với xu hướng nghiên cứu chung của thế giới
Trang 241.3.3 Nghiên cứu về phân chia tầng trong rừng mưa nhiệt đới
Thái Văn Trừng (1978) [42], đã mô hình cấu trúc tầng của rừng mưa nhiệt đới gồm 5 tầng, trong đó cây gỗ có 3 tầng ( tầng vượt tán A1, tầng ưu thế sinh thái A2, tầng dưới tán A3); tầng cây bụi B và tầng cỏ quyết C Ông đã vận dụng, cải tiến và bổ xung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit- Richards để nghiên cứu cấu trúc của rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được vẽ phóng đại với tỉ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những đặc trưng sinh thái, cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý và địa hình
Nguyễn Văn Trương (1983) 43, khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài
đã nghiên cứu sự phân tầng của rừng theo hướng định lượng Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tầng theo chiều cao một cách cơ học, điều này khó có thể rõ kiểu phân tầng ở rừng nhiệt đới Việt Nam
Vũ Đình Phương, Đào Công Khanh (1988) [19], xuất phát từ kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đã nhận định: việc xác định tầng thứ sinh thái của rừng lá rộng thường xanh là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, do đó bằng phương pháp định lượng để xác định giới hạn của các tầng thứ là có thể làm được Nhưng chỉ có thể phân tầng “rõ rệt” khi rừng ở một giai đoạn phát triển nào đó của quá trình sinh trưởng và phát triển Theo tác giả, sự phân tầng rõ rệt ở giai đoạn rừng thành thục, khi đó sự sinh trưởng và phát triển của rừng diễn ra chậm chạp Còn trong giai đoạn sau thành thục rừng có sự thay đổi mạnh với một số lượng cây lớn, già cỗi bị đào thải, rừng bắt đầu một giai đoạn mới thì ranh giới các tầng khó phát hiện được Theo các tác giả, cần phân biệt rõ tầng tán với các lớp chiều cao cây rừng, theo đó thì tầng tán là một khoảng không gian chứa một số cây nhất định, tán cây trọn vẹn từ đỉnh đến đáy tán Xuất phát từ quan điểm này và dựa vào số liệu quan sát hơn 10 phẫu diện đồ theo mặt cắt thẳng đứng, ông sử dụng phương pháp toán học để phân tầng sinh thái của rừng miền Bắc Việt Nam Đây là một hướng nghiên cứu mới, nhưng bước đầu giúp các nhà nghiên cứu có một định hướng quan trọng là: Sự phân tầng tán trong rừng mưa nhiệt đới là một hiện thực
Trang 25và bằng toán học có thể định lượng được sự phân tầng này Theo Vũ Đình Phương rừng lá rộng thường xanh ở miền Bắc Việt Nam vào giai đoạn ổn định thường có cấu trúc 3 tầng theo chiều thẳng đứng
Như vậy, các tác giả trên đã đề cập và phân chia tầng thứ trong rừng mưa nhiệt đới ở nước ta bằng các cách khác nhau, nhưng đều có chung một quan điểm là có sự phân tầng trong rừng mưa nhiệt đới và sự phân tầng này cần phải định lượng thông qua các trắc đồ và công cụ toán học
1.3.4 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã đươc quan tâm nghiên cứu từ những thập
kỷ 60 của thế kỷ trước Một số kết quả nghiên cứu về tái sinh thường được đề cập trong các công trình nghiên cứu về thảm thực vật, trong các báo cáo khoa học và một phần công bố trên các tạp chí Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch rừng [55] đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn (1969) Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu (1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình Từ kết quả điều tra tái sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh,
Nguyễn Vạn Thường (1991) [40], đã tổng kết và bước đầu đưa ra kết luận
về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ có h
20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp có kích thước khác nhau Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng phát triển mạnh
và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên Bất kỳ ở đâu có hiện tượng tái sinh tự nhiên thì ở đó có sự chung sống của các cá thể khác loài, khác chi, thậm chí cả khác họ
Vũ Tiến Hinh (1991) [15], nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng tự nhiên ở lâm trường Hữu Lòng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng
Trang 26Ninh) đã nhận xét: Hệ số tổ thành tính theo (%) số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành tầng cây tái sinh còng vậy Qua tính toán 20 phương trình tương quan giữa 2 hệ số tổ thành cho thấy chúng có quan hệ theo dạng đường thẳng: n%= a + bN% (Trong đó n% và N% lần lượt là hệ số tổ thành tính theo (%) số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao)
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [54] cho rằng nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hướng sự can thiệp của con người đi đúng hướng Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức độ tác động của con người mà ta thường gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên với mức độ cao nhất là tái sinh nhân tạo Theo các tác giả, quá trình tái sinh tự nhiên phụ thuộc vào 3 yếu tố chính sau đây:
- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích
- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tươi…)
- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trưởng: Đất, nước, ánh sáng
Ba điều kiện đó chính là các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên nói chung và tái sinh sau nương rẫy nói riêng
Vũ Đình Huề (1969) [17], đã phân chia khả năng phát triển của cây tái sinh khả năng tái sinh thành 5 cấp (rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu)
Vũ Đình Huề (1975) [18] đã tổng kết: tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng Với những kết quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng rừng lá rộng miền Bắc nước ta
Thái Văn Trừng (1978) [42], trong “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã
nhấn mạnh một nhân tố sinh thái trong nhóm nhân tố khí hậu đã khống chế và
Trang 27điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên của các xã hợp trong thảm thực vật rừng,
đó là ánh sáng
Vũ Tiến Hinh (1991), khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của rừng
tự nhiên ở Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận xét
hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan chặt chẽ Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy [15]
Nguyễn Vạn Thường (1991) [40], đã tổng kết và đưa ra kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên ở một số khu rừng miền Bắc Việt Nam như sau: Hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên tục, không mang tính chất chu kỳ Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều, số cây mạ
có chiều cao nhỏ hơn 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích thước khác nhau Những loài cây gỗ cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên
Năm 1993, Đinh Quang Diệp nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng khộp vùng Easup, DaKLac đã kết luận: độ tàn che, độ dày rậm của thảm tươi, thảm mục, lửa rừng và điều kiện lập địa là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng cây tái sinh dưới rán rừng, lửa rừng là nguyên nhân gây nên hiện tượng chây chồi Quy luật phân bố cây trên mặt đất theo tác giả là khi tăng diện tích thì lớp cây tái sinh có phân bố cụm [12]
Lê Mộng Chân (1994) [4], khi điều tra tổ thành loài cây ở vùng núi cao vườn quốc gia Ba Vì, ông cho rằng tình hình tái sinh tốt là 4100- 7440 cây/ha Cây có triển vọng chiếm trên 60%, thành phần cây tái sinh phần lớn là những cây chịu bóng
Năm 1994, Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự khi nghiên cứu về khoanh nuôi và phục hồi rừng đã cho rằng, nghiên cứu quá trình tái sinh phải nắm chắc các yếu tố môi trường và các quy luật tự nhiên tác động lên thảm thực vật Qua
đó xác định các điều kiện cần và đủ để tác động của con người đi đúng hướng Quá trình đó được gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên [24]
Trang 28Lê Ngọc Công (2004) [9], khi nghiên cứu quá trình phục hồi bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng giai đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1- 6 năm) mật độ cây tăng lên sau đó giảm Quá trình này bị chi phối bởi quy luật tái sinh tự nhiên, quá trình nhập cư và quá trình đào thải của các loài cây
Trên thực tế, tái sinh tự nhiên phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện lập địa, nguồn gieo giống và thời tác động của con người vào giai đoạn phát triển của rừng cho từng đối tượng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác và hiệu quả
Trang 29Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được khả năng tái sinh tự nhiên và cấu trúc của quần xã thực vật tái sinh theo các giai đoạn phát triển của rừng tại xã Lãng Công, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy nhanh quá trình diễn thế phục hồi rừng ở địa phương
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trạng thái thảm thực vật phục hồi sau nương rẫy ở xã Lãng Công Huyện Sông Lô Tỉnh Vĩnh Phúc ở 4 giai đoạn (4 độ tuổi)
- Giai đoạn 1 -thảm cỏ xen cây bụi sau nương rẫy từ 1 - 4 năm
- Giai đoạn 2 - thảm cây bụi xen cây gỗ tái sinh sau nương rẫy từ 5 - 8 năm
- Giai đoạn 3 - rừng non sau nương rẫy từ 9 - 12 năm
- Giai đoạn 4 - rừng thứ sinh sau nương rẫy từ 13 - 16 năm
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Các trạng thái thảm thực vật tái sinh sau nương rẫy được nghiên cứu thuộc xã Lãng Công - Huyện Sông Lô - Tỉnh Vĩnh Phúc
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Sự thay đổi số lượng loài cây theo nhóm dạng sống
- Phân bố các cây tái sinh theo cấp chiều cao
- Phân bố các cây tái sinh theo cấp đường kính
- Phân bố cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang
- Xác định nguồn gốc và đánh giá chất lượng cây tái sinh
- Đa dạng về thành phần dạng sống
Trang 30- Đề xuất một số biện pháp khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh tự nhiên phục hồi rừng sau nương rẫy tại khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
- Điều tra theo tuyến:
Điều tra theo tuyến nhằm xác định phân bố của các đối tượng nghiên cứu, dự kiến địa điểm bố trí OTC
Tuyến điều tra được xác định theo 2 hướng là song song và vuông góc với đường đồng mức; khoảng cách giữa 2 tuyến là 50 - 100 m, bề rộng tuyến là 2m để điều tra thành phần loài, kiểu dạng sống
- Điều tra trong ô tiêu chuẩn:
Dọc theo tuyến điều tra bố trí 4-6 OTC, diện tích của mỗi OTC thay đổi tùy thuộc vào thảm thực vật phục hồi Với thảm thực vật phục hồi 1-4 năm sử dụng OTC có diện tích 100m2 (10 x 10 m), thảm thực vật phục hồi từ 5-8 năm,
từ 9-12 năm và từ 13-16 năm mỗi OTC có diện tích 400m2 (20 x 20 m)
Cách bố trí ô tiêu chuẩn trong các dạng thảm thực vật
Trong mỗi OTC, chúng tôi mô tả vị trí địa lý, hướng phơi, độ dốc, độ cao tương đối, lịch sử hình thành, thời gian phục hồi, đặc trưng thổ nhưỡng; điều tra về thành phần loài, kiểu dạng sống (dựa trên sự phân chia nhóm dạng sống của Raunkiaer (1934), số lượng cây, chiều cao, độ che phủ, sự phân tầng
- Thu thập các số liệu về cây gỗ:
Trang 31+ Đo chiều cao cây: chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước đo chiều cao Blumeleiss, đo theo nguyên tắc lượng giác (trị số trung bình của 3 lần đo) Những cây có chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) từ 4 m trở xuống được đo bằng sào có chia vạch đến 0,1 m
+ Đo đường kính cây (tại điểm cách mặt đất 1,30 m - D1,3) những cây có đường kính từ 20 cm trở xuống được đo trực tiếp bằng thước kẹp với độ chính xác 0,1 cm Cây lớn hơn 20 cm được đo chu vi bằng thước dây, tra bảng tương quan đường kính - chu vi, tính được đường kính tương ứng
+ Đo đường kính tán cây gỗ (Dt): đo bằng thước dây và sào trên hình chiếu thẳng đứng của tán lá, sau đó tính trị số trung bình
+ Độ che phủ: được xác định bằng quan trắc và ước tính tỷ lệ phần trăm
diện tích đất bị thảm thực vật che phủ Độ che phủ được tính theo tỷ lệ phần trăm
+ Điều tra về thành phần và mật độ cây tái sinh tự nhiên trong 1 ô Xác định nguồn gốc cây tái sinh (cây chồi, cây hạt)
+ Đánh giá chất lượng cây tái sinh theo 3 mức: tốt, trung bình, kém
Cây tốt: là những cây có tán lá phát triển đều đặn, tròn, xanh biếc, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh
Cây trung bình: là những cây có tán lá bình thường, ít khuyết tật
Cây kém: là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều và bị sâu bệnh
+ Đo chiều cao cây tái sinh tự nhiên: Để đánh giá cây tái sinh theo cấp chiều cao chúng tôi phân chia cây tái sinh theo 7 cấp chiều cao: Cấp I (<50cm); Cấp II (51-100cm); Cấp II (101-150cm); Cấp IV (151-200cm); Cấp V (201-250cm); Cấp VI (251-300cm); Cấp VII (>301cm)
2.4.2 Phân tích và xử lý số liệu
- Xác định tên khoa học của các loài cây theo một số tài liệu như Cẩm
nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliphyta,
Trang 32Angiospermae) ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997) [2]; Cây cỏ Việt Nam
của Phạm Hoàng Hộ [16], Cẩm nang tra cứu đa dạng sinh vật của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [37]… Sau đó sử dụng phương pháp chuyên gia kiểm tra
lại trước khi thành danh lục chính thức
- Mật độ cây: tính theo cây/ha
Để xác định được mật độ chúng tôi sử dụng công thức sau:
N/ha = n
S x 10.000 Trong đó:
n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong OTC
Nếu ni ≥ 5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành
Nếu ni ≤ 5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành
Trong đó:
Ki: Hệ số tổ thành loài thứ i
ni: Số lượng cá thể loài i
m: Tổng số loài điều tra
- Phân bố cây theo cấp đường kính (n/D13) và theo cấp chiều cao (n/Hvn)
Sử dụng công thức của Hopman để chia cự li cấp chiều cao và cấp
Trang 33- Phân bố cây theo mặt phẳng nằm ngang:
Để nghiên cứu cây tái sinh trên bề mặt đất rừng có thể sử dụng phương pháp đo khoảng cách từ một điểm ngẫu nhiên đến 6 cây tái sinh gần nhất Khi
đó phân bố Poisson được sử dụng tiêu chuẩn U của Clark và Evan để đánh giá, khi lượng mẫu đủ lớn (n=36) qua đó dự đoán được giai đoạn phát triển của quần xã thực vật trong vùng:
U tính theo công thức:
0,26136
Trong đó: xlà giá trị trung bình khoảng cách gần nhất của n lần quan sát
là mật độ cây tính trên một đơn vị diện tích tương ứng
n là số lần quan sát
Nếu U ≥ 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố đều
Nếu U ≤ - 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố cụm
Nếu - 1,96 < U< 1,96 thì tổng thể cây tái sinh có phân bố ngẫu nhiên
- Đánh giá nguồn gốc cây tái sinh, chất lượng tái sinh theo cấp chất lượng được tiến hành trên cơ sở thống kê số lượng cây tái sinh theo từng cấp chất lượng
và nguồn gốc cây tái sinh rồi tính (%) trong tổng số theo công thức sau:
• Xác định mật độ cây tái sinh: Việc xác định mật độ cây tái sinh là thống kê toàn bộ số cây tái sinh trên một đơn vị diện tích (thường là ha), được
Trang 34tính bằng công thức:
N/ha = n
S x 10.000 Trong đó:
S là diện tích ô dạng bản điều tra tái sinh (m2)
n là số lượng cây tái sinh điều tra
2.4.3 Phương pháp điều tra trong nhân dân
Trong quá trình đi thực địa kết hợp trực tiếp phỏng vấn người dân địa
phương hoặc các cơ quan chuyên môn ( Hạt kiểm lâm, UBND xã…) để nắm
được thêm các thông tin về điều kiện tự nhiên, xã hội ở khu vực nghiên cứu, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật đến hệ thực vật rừng
Trang 35Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Sông Lô là huyện mới được tách từ huyện Lập Thạch theo nghị định số 09/NĐ-CP ngày 23/12/2008 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Lập Thạch thành 2 huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô Theo đó, huyện Sông Lô có diện tích là 150,32 km2, vị trí địa lý phía Đông giáp huyện Lập Thạch, phía Tây giáp huyện Phù Ninh và thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Lập Thạch và thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang
Về tổ chức hành chính: Huyện có 17 đơn vị hành chính bao gồm 16 xã
và 1 thị trấn, huyện lỵ đặt tại thị trấn Tam Sơn và Nhạo Sơn các thị trấn, xã gồm: Bạch Lưu, Cao Phong, Đôn Nhân, Đồng Quế, Đồng Thịnh, Đức Bác, Hải Lựu, Lãng Công, Nhạo Sơn, Nhân Đạo, Như Thuỵ, Phương Khoan, Quang Yên, Tân Lập, Tứ Yên, Yên Thạch và thị trấn Tam Sơn
Huyện Sông Lô là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành phố Vĩnh Yên khoảng 25 km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 80km và cách sân bay quốc tế nội bài khoảng 55km vì vậy trong tương lai huyện có nhiều cơ hội và khả năng thực hiện giao thương kinh tế với các khu vực lân cận, đặc biệt với thành phố Vĩnh Yên và với thủ đô Hà Nội
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 150,31 km2; 93.984 nhân khẩu, mật
độ dân số 625 (người/km2)gồm các dân tộc anh em: Kinh, Dao, Cao lan, Sán dìu, Tày, Nùng, Hoa cùng sinh sống Tình hình an ninh chính trị của huyện ổn định, các dân tộc trong huyện đan xen chung sống, hòa đồng cùng làm ăn, cùng phát triển
Xã Lãng Công là xã miền núi của huyện Sông Lô có diện tích tự nhiên là
Trang 362030,52ha (Trong đó: Đất nông nghiệp 302,09ha chiếm 14,88%, đất rừng 1.264,43ha chiếm 62,27%; đất phi nông nghiệp là 377,86ha chiếm 22,85%)
3.1.2 Địa hình
Địa hình của huyện thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, đồi núi khá phức tạp, đó là những núi cấu tạo bằng đá cứng phong hóa chậm như quarzit, amphibolite, gơnai 2 mica và granite kết hợp với hình bằng đứt gãy nên núi có hình bằng thấp xuống Phần lớn địa hình cao 11-30m, xen kẽ 1 số đồi cao 200-300m Địa hình bị chia cắt bởi dòng sông Lô qua hầu hết các xã của huyện với chiều dài 28 km Địa hình của huyện có nhiều đồi như bát úp, kích thước không lớn, có dạng vòm đường nét mềm mại
Nói chung huyện Sông Lô nằm trong vùng núi và vùng trung du của tỉnh Vĩnh Phúc tạo nên hai nhóm cảnh quan Nhóm đồng bằng sông Lô thuận lợi cho phát triển kinh tế và nhóm cảnh quan đồi núi thấp mang đặc điểm chung của vùng trung du miền núi phía Bắc, dân cư sống phân tán hơn, tốc độ đô thị hoá chậm hơn nhóm đồng bằng
- Đất phù sa không được bồi có màu nâu nhạt, trung tính, ít chua, glây trung bình hoặc glây mạnh, địa hình thấp, thành phần cơ giới nặng, độ PH từ 6,6 - 7,5
Trang 37- Đất dốc tụ ven đồi không bạc màu được hình thành ở ven đồi núi thấp, tạo nên những cánh đồng nhỏ, hẹp dạng bậc thang
- Đất phù sa xen giữa vùng đồi núi, dọc theo ven suối tạo thành những cánh đồng dài, nhỏ hẹp, độ PH cao, thành phần cơ giới nhẹ, khả năng giữ nước tốt, thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ
(2) Đất đồi núi
- Đất Feralitic biến đổi do trồng lúa nước không bạc màu
- Đất Feralitic màu nâu vàng phát triển trên nền phù sa cổ
- Đất Feralitic màu vàng hoặc đỏ phát triển trên phiến thạch sét Đây là loại đất phù hợp với trồng rừng cho năng suất cao, ở những vùng đất dốc dưới
200 thích hợp cho phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp
- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển đá Macma chua có đặc điểm đất chua, tầng đất mặt mỏng, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp
- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển đá sa thạch Quaczit cuội kết, dăm kết
- Đất Feralitic trên núi
Đánh giá chung về mặt thổ nhưỡng:
- Nhóm đất Địa Thành với nhiều loại đất và trên nhiều địa hình khác nhau, xen kẽ giữa vùng đồi núi thấp và những cánh đồng nhỏ hẹp rất hợp với việc phát triển rừng để bảo vệ môi trường sinh thái và trồng các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả có giá trị kinh tế như: mía nguyên liệu Đây sẽ là thế mạnh của huyện khi phát triển các cây công nghiệp
- Nhóm đất Thủy thành phân bố tương đối tập trung rất thuận lợi cho xây dựng các công trình hạ tầng dân dụng, các khu công nghiệp và trồng cây lương thực, cây rau quả có giá trị kinh tế cao
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
3.1.4.1 Đặc điểm khí hậu
Vĩnh Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa
Trang 38nhiều, lượng mưa trung bình từ 1.500mm đến 1.800mm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6, tháng 7 và tháng 8 nên thường gây ra hiện tượng úng lụt ở các vùng tròng vào mùa mưa và gây ra hạn hán tại nhiều vùng đồi núi vào mùa khô Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,5oC-250C và có sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa mùa hạ và mùa đông, độ ẩm trung bình 84%, số giờ nắng trung bình trong năm là 1.400 giờ đến 1.700 giờ/năm
Tóm lại, Huyện Sông Lô có khí hậu đặc trưng là nóng, ẩm mưa nhiều vào mùa hè, khô hanh lạnh về mùa đông, thích hợp với nhiều loại cây trồng tạo điều kiện phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng Song cần có biện pháp phòng chống úng lụt, khô hạn kịp thời và xác định cơ cấu cây trồng hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và mức sống của nhân dân
3.1.4.2 Thủy văn và nguồn nước
- Chế độ thủy văn:
Huyện Sông Lô chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy văn sông Lô chiếm tới 80% - 90% tổng lượng nước của huyện tập trung chủ yếu vào mùa mưa Mực nước vào mùa khô bình quân trên 1.300cm, cao nhất là 2.132 cm Ngoài ra lòng Sông Lô rộng nên thuận tiện cho việc phát triển giao thông đường thuỷ của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và huyện Sông Lô nói riêng
- Nguồn nước:
Nguồn nước để phục vụ sinh hoạt của nhân dân trong vùng chủ yếu là nguồn nước mặt (hệ thống sông Lô, ao, hồ) chứa lượng nước khá lớn nhưng về mùa khô tình trạng thiếu nước xảy ra khá phổ biến trên toàn địa bàn do lượng nước phân bố không đều trong năm Do vậy xảy ra tình trạng hệ thống “tưới” của huyện về cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất nhưng hệ thống “tiêu” nước đặc biệt trong mùa mưa lò thì huyện có tới 1.300 chỗ tròng chưa có hệ thống tiêu
3.1.5 Tài nguyên rừng
Huyện Sông Lô là huyện chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và đồng bằng
Trang 39nên diện tích lâm nghiệp không lớn Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên
địa bàn huyện Sông Lô là 3.937,756 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 1.446,98 ha, diện tích rừng sản xuất là 2.490,776 ha Trong đó tổng diện tích
đất Lâm nghiệp tại KVNC xã Lãng Công chiếm 1265,3ha với diện tích đất rừng phòng hộ là 732.28ha, diện tích đất rừng sản xuất là 533.02ha
Từ năm 2005 - 2010 trồng rừng tập trung đạt 1.409,75 ha, bình quân mỗi năm trồng mới 281,95 ha rừng Trồng cây phân tán đạt 168,9 nghìn cây, bình quân mỗi năm trồng được 33,78 nghìn cây, hoàn thành phủ xanh đất trống, đồi núi trọc và thực hiện tốt việc giao rừng đến từng hộ gia đình Đến tháng 9 năm
2015, toàn huyện đã trồng mới được 112,5 ha rừng tập trung, trong đó: 100 ha rừng sản xuất và 12,5 ha rừng phòng hộ Đồng thời, nghiệm thu, khai thác cây phân tán với khối lượng 11,5 m3; khai thác rừng trồng sản xuất với diện tích 2,9 ha, khối lượng 100 m3; khai thác cây phù trợ trong rừng phòng hộ với diện tích 1 ha, khối lượng 37,8 m3
Thảm thực vật tự nhiên gồm các loại cây thân gỗ, tầng dưới là các loại cây dây leo và các loại cây cỏ dại Rừng trồng chủ yếu là rừng bạch đàn, keo lá chàm trồng theo dự án Hệ động thực vật rừng còn nghèo nàn, hiện chỉ còn bò sát, lưỡng cư và lớp chim là phong phú nhất
3.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
Hiện nay huyện Sông Lô có 93.984 nhân khẩu, mật độ dân số 625
(người/km2)gồm các dân tộc anh em: Kinh, Dao, Cao lan, Sán dìu, Tày, Nùng, Hoa cùng sinh sống Tình hình an ninh chính trị của huyện ổn định, các dân tộc trong huyện đan xen chung sống, hòa đồng cùng làm ăn, cùng phát triển
Địa điểm nghiên cứu thuộc xã Lãng Công - huyện Sông Lô theo thống
kê tính đến tháng 9/2015 xã có 6.878 nhân khẩu, 1.678 hộ, lao động trong độ tuổi có 4.657 người, trong đó: Lao động nông, lâm, thuỷ sản, là 2.767 người, lao động trong công nghiệp là 676 người, lao động trong Thương mại là 213 người, lao động Dịch vụ là 435 người Dân cư được phân bố ở 10 thôn và có
Trang 405/10 thôn được công nhận và giữ vững danh hiệu “thôn văn hóa” liên tục từ 5 năm trở lên Hệ thống cơ sở vật chất, hạ tầng tương đối hoàn chỉnh như hệ thống giao thông cơ bản đã cứng hoá và đảm bảo đi lại thông suốt Hệ thống điện đã được cải tạo nâng cấp đáp ứng được nhu cầu sử dụng điện của nhân dân Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện, hạ tầng kỹ thuật đang trên đà phát triển, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,2% ( tháng 11 năm 2014), thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 24,48 triệu/người/năm Đội ngũ cán bộ, công chức là
22 cán bộ định biên, được đào tạo và đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ công tác
Về thủy lợi: xã có tổng số 34,4 km kênh mương các loại (theo đề án tỉnh) trong đó: Kênh loại III là 7,68 km, đã cứng hóa 5,58km đạt 72,66%; Các công trình hồ đập phục vụ sản xuất trên toàn xã có tổng số: 7 công trình; trong đó:
Hồ chứa nước có 05 hồ gồm: hồ Suối sải, hồ Minh Tân, hồ Thống Nhất, hồ Phú Cường, hồ Yên Sơn ; 02 đập dâng nước: đập đồng Mặn, đập đồng Gia Hệ thống thủy lợi đã đáp ứng được nhu cầu sản xuất sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, gia cầm và hoạt động sản xuất phi nông nghiệp của nhân dân
Trường học: Toàn xã có 3 trường: Mầm non, Tiểu học, THCS, cả 3 nhà trường đều đạt chuẩn quốc gia mức độ I đạt 100%, cơ sở vật chất nhà trường đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới
Nước sạch: Nhân dân trong xã Lãng Công sử dụng nước hợp vệ sinh chủ yếu là sử dụng nguồn nước trực tiếp bằng giếng đào, giếng khoan và có 01 bể lọc nước phục vụ 2 thôn dân cư trên địa bàn xã là Thành Công và Tam Đa Nước được cung cấp từ giếng khoan, giếng đào ở những nơi không có các công trình gây nhiễm bẩn nguồn nước có tang, thành cao tối thiểu 0,6m, sân lát gạch,
đổ bê tông có chiều rộng tối thiểu 1,5m và có hệ thống tiêu thoát nước tốt; không có các công trình gây ô nhiễm nguồn nước, có chất lượng bảo đảm
Về văn hóa: Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao quần chúng được
đa dạng hóa và đẩy mạnh Cơ sở vật chất văn hóa được chú trọng xây dựng và