1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam

85 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 681,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (11)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (12)
      • 1.2.1. Mục tiêu tổng quát (12)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (12)
    • 1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (12)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (12)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (12)
    • 1.4. Câu hỏi nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu (12)
      • 1.4.1. Câu hỏi nghiên cứu (12)
      • 1.4.2. Mô hình nghiên cứu (13)
      • 1.4.3. Giả thuyết nghiên cứu (13)
    • 1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu (13)
    • 1.6. Nội dung kết cấu của đề tài nghiên cứu (14)
  • CHƯƠNG II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG IFRS ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN (15)
    • 2.1. Cơ sở lý luận về chất lượng thông tin kế toán (15)
    • 2.2. Khái quát về IFRS (20)
    • 2.3. Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của IFRS đến chất lượng thông tin kế toán (23)
      • 2.3.1. Các nghiên cứu về tác động của việc tự nguyện và bắt buộc áp dụng IFRS13 2.3.2. Các nghiên cứu so sánh giữa tự nguyện và bắt buộc áp dụng IFRS 15 (24)
  • CHƯƠNG III: GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 3.1. Giả thuyết nghiên cứu (27)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 3.2.3. Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT kế toán khi áp dụng IFRS (31)
  • CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG (35)
    • 4.1. Kết quả thống kê mô tả (0)
      • 4.1.1. Số năm kinh nghiệm khảo sát (36)
      • 4.1.2. Các đơn vị khảo sát (36)
      • 4.1.3. Các thuộc tính của chất lượng thông tin kế toán (37)
      • 4.1.5. Các nhân tố làm giảm ảnh hưởng tích cực khi áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại Việt Nam (40)
    • 4.2. Phân tích dữ liệu nghiên cứu (43)
      • 4.2.1. Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo nghiên cứu (43)
      • 4.2.2. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA (0)
      • 4.2.3. Kết quả kiểm định sự tương quan (57)
      • 4.2.4 Phân tích hồi quy (58)
  • CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (64)
    • 5.1. Kết luận từ kết quả phân tích dữ liệu (0)
    • 5.2. Một số khuyến nghị (65)
      • 5.2.1. Khuyến nghị với Bộ Tài chính (65)
      • 5.2.2. Khuyến nghị với các hội nghề nghiệp (66)
      • 5.2.3. Khuyến nghị với các cơ sở đào tạo (66)
      • 5.2.4. Khuyến nghị với nhà quản lý doanh nghiệp (67)
      • 5.2.5. Khuyến nghị với các đơn vị cung cấp dịch vụ Kế toán - Kiểm toán (0)
      • 5.2.6. Khuyến nghị với người sử dụng thông tin (68)
    • 5.3. Hạn chế của đề tài (68)

Nội dung

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, kế toán không còn là vấn đề riêng biệt của từng quốc gia Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được ban hành từ 2001-2005 nhưng chưa được cập nhật, dẫn đến nhiều hạn chế, đặc biệt trong thị trường vốn phát triển mạnh với nhiều công cụ tài chính phức tạp Hiện tại, chỉ có 26 VAS được ban hành, trong khi nhiều chuẩn mực quốc tế như công cụ tài chính phái sinh, nông nghiệp, và giá trị hợp lý vẫn chưa có Điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hạch toán các giao dịch kinh tế liên quan.

Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện tại chưa được thừa nhận rộng rãi do còn nhiều hạn chế và khác biệt so với chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là chưa đáp ứng yêu cầu của các định chế quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều quốc gia đang chuyển sang áp dụng Chuẩn mực quốc tế (IFRS) nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch trong báo cáo tài chính Việt Nam cũng đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đổi mới các chuẩn mực kế toán để phù hợp với thông lệ quốc tế Bộ Tài chính đã ban hành lộ trình chuyển đổi từ hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) sang IFRS, và để đảm bảo quá trình này thành công, cần nghiên cứu các tác động và phân tích rủi ro liên quan đến chất lượng thông tin kế toán.

Việc áp dụng IFRS có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng thông tin kế toán tại Việt Nam, vì vậy nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết Thực tiễn cho thấy rằng việc cải thiện chất lượng thông tin kế toán thông qua các chuẩn mực quốc tế sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính Do đó, tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại Việt Nam”.

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát Đánh giá những ảnh hưởng từ việc áp dụng IFRS đến việc góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả của các thông tin tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp, bảo vệ môi trường kinh doanh, nhà đầu tư, thu hút nguồn vốn FDI, nhằm thúc đẩy hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới Đồng thời đánh giá các hạn chế tại Việt Nam khi áp dụng IFRS và đưa ra các khuyến nghị.

Xác định các thuộc tính ảnh hưởng đến chất lượng thông tin tài chính kế toán là rất quan trọng Đánh giá việc áp dụng IFRS trong bối cảnh kinh tế Việt Nam sẽ giúp hiểu rõ hơn về tác động của nó đến chất lượng thông tin tài chính kế toán Việc này không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn cải thiện khả năng ra quyết định của các nhà đầu tư và các bên liên quan.

Phân tích sự khác biệt giữa việc áp dụng IFRS và chất lượng thông tin kế toán (CLTT) cho thấy rằng việc tuân thủ các chuẩn mực quốc tế này có thể nâng cao độ tin cậy và tính minh bạch của báo cáo tài chính Để cải thiện CLTT kế toán khi áp dụng IFRS, cần triển khai các sáng kiến như đào tạo nhân sự chuyên sâu về IFRS, cập nhật hệ thống công nghệ thông tin và xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ chặt chẽ Những giải pháp này sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình báo cáo tài chính, từ đó nâng cao giá trị thông tin cho các bên liên quan.

Bộ Tài chính, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức đào tạo và các đối tượng có liên quan.

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến CLTT kế toán tại Việt Nam

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các bài viết và nghiên cứu trước đây liên quan đến tác động của việc áp dụng IFRS đối với chất lượng thông tin tài chính kế toán Đồng thời, chúng tôi cũng thực hiện khảo sát ý kiến từ các kế toán viên, kiểm toán viên và các nhà nghiên cứu giảng dạy trong lĩnh vực kế toán - kiểm toán tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

CLTT kế toán được biểu hiện thông qua các thuộc tính gì? Áp dụng IFRS có ảnh hưởng như thế nào đến CLTT kế toán?

Sự thiếu hoàn thiện và sự thiếu nhất quán trong các chính sách áp dụng IFRS có thể làm giảm những ảnh hưởng tích cực của việc áp dụng IFRS đối với chất lượng thông tin tài chính kế toán.

Các giải pháp nhằm nâng cao CLTT kế toán là gì?

• Giả thuyết H1: Áp dụng IFRS có ảnh hưởng tích cực đến CLTT kế toán Việt Nam

Giả thuyết H2 cho rằng nguồn nhân lực và sự thiếu sót trong các chính sách nhất quán về cơ chế áp dụng IFRS đã làm giảm các ảnh hưởng tích cực của việc áp dụng IFRS đối với chất lượng thông tin tài chính kế toán.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này xác định các thuộc tính ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán và chỉ ra những tác động tích cực của việc áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) đối với chất lượng thông tin kế toán Tuy nhiên, nghiên cứu cũng nêu rõ một số hạn chế tại Việt Nam có thể làm giảm hiệu quả của IFRS Để khắc phục những khó khăn này, bài viết đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thông tin tài chính, từ đó thu hút vốn đầu tư trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới.

Nội dung kết cấu của đề tài nghiên cứu

Ngoài lời cam đoan, lời cảm ơn, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm có 5 chương:

Chương I: Giới thiệu nghiên cứu

Chương II: Tổng quan nghiên cứu về chất lượng thông tin kế toán và ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán

Chương III: Giả thiết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương IV: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại Việt Nam.

Chương V: Kết luận và khuyến nghị

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG IFRS ĐẾN CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN

Cơ sở lý luận về chất lượng thông tin kế toán

Thông tin là dữ liệu đã được xử lý và sắp xếp để tạo ra nội dung có ý nghĩa cho người sử dụng, nhưng có thể bị sai lệch do tác động của con người hoặc sinh vật khác Đơn giản, thông tin là dữ liệu đã qua xử lý và đối chiếu, mang lại giá trị cho người dùng Thông tin kế toán (TTKT) là thông tin do hệ thống kế toán cung cấp, có tính hiện thực, độ tin cậy cao và giá trị pháp lý, theo quan điểm của Gelinas và Dull.

Thông tin kế toán, theo định nghĩa năm 2010, là những sự kiện và con số được trình bày một cách hữu ích nhằm hỗ trợ người sử dụng trong quá trình ra quyết định.

Hiện nay, có nhiều quan điểm về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán tài chính trên thế giới.

Theo Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB), chất lượng thông tin kế toán cần tạo ra sự khác biệt, giúp người sử dụng hiểu và đưa ra quyết định dựa trên dự báo về các sự kiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai FASB xác định hai nhóm đặc điểm về chất lượng thông tin kế toán: Nhóm đặc điểm cơ bản gồm tính thích hợp và tính đáng tin cậy Thông tin được coi là thích hợp khi liên quan đến mục đích của người sử dụng, cung cấp dự đoán và phản hồi kịp thời Tính đáng tin cậy yêu cầu thông tin phải trình bày trung thực, trung lập và có bằng chứng kiểm tra xác thực Nhóm đặc điểm thứ yếu bao gồm tính nhất quán và khả năng so sánh, trong đó tính thích đáng và tính đáng tin cậy liên quan đến sự nhất quán trong đo lường, trình bày và so sánh kết quả của doanh nghiệp qua thời gian và giữa các doanh nghiệp.

Mô hình của FASB được trình bày ở sơ đồ 1.

Phản hồi Kịp thời Đáng tin cậy

Nhất quán Có thể so sánh

Sơ đồ 1: Mô hình chất lượng thông tin của FASB (1980, 1993)

Vào tháng 4 năm 2001, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã phát triển một khuôn khổ khái niệm nhằm hướng dẫn việc lập và trình bày báo cáo tài chính Khuôn mẫu này nhấn mạnh rằng chất lượng thông tin kế toán được định nghĩa qua các thuộc tính giúp thông tin trở nên hữu ích cho người sử dụng IASB xác định bốn đặc tính chính của chất lượng thông tin kế toán: tính thích hợp, tính đáng tin cậy, khả năng hiểu được và tính có thể so sánh Ngoài ra, IASB còn đề xuất các đặc tính bổ sung nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán, bao gồm tính trọng yếu, trình bày trung thực, bản chất hơn hình thức, tính trung lập, tính thận trọng, sự đầy đủ và tính kịp thời.

Sơ đồ 2: Mô hình chất lượng thông tin của IASB (2001)

Thỏa thuận Norwalk, ký ngày 18 tháng 11 năm 2002 giữa FASB và IASB, đã đánh dấu bước khởi đầu cho dự án hội tụ giữa hai cơ quan thiết lập chuẩn mực kế toán hàng đầu thế giới Vào tháng 10 năm 2004, FASB và IASB đã khởi xướng một đề án nhằm cải thiện tính hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính (BCTC) và phát triển khuôn khổ khái niệm chung Đến cuối tháng 10 năm 2010, Ủy ban đã hoàn tất giai đoạn A của dự án, thống nhất các tiêu chuẩn đo lường chất lượng thông tin kế toán Các thuộc tính chất lượng của thông tin hữu ích theo IASB và FASB được nêu rõ trong chương 3 của Báo cáo các khái niệm kế toán tài chính số 8, khẳng định rằng tính thích hợp và trình bày trung thực là những đặc tính chất lượng cốt lõi của thông tin kế toán.

Tính thích hợp của thông tin tài chính ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng, với hai giá trị chính: giá trị dự đoán và giá trị xác nhận Thông tin có giá trị dự đoán khi nó hỗ trợ người dùng trong việc dự đoán kết quả tương lai, không nhất thiết phải là một dự đoán cụ thể Ngược lại, thông tin có giá trị xác nhận cung cấp phản hồi về các đánh giá trước đó, giúp người dùng xác nhận hoặc điều chỉnh nhận định của mình.

Thông tin có vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định dựa trên thông tin tài chính của một đơn vị báo cáo Tính trọng yếu được xác định dựa trên bản chất và mức độ của thông tin trong ngữ cảnh báo cáo tài chính Do đó, Hội đồng quản trị không thể áp dụng một ngưỡng định lượng thống nhất cho tính trọng yếu hay xác định trước thông tin nào là trọng yếu trong từng tình huống cụ thể.

Trình bày trung thực trong báo cáo tài chính (BCTC) là yếu tố quan trọng để thông tin tài chính trở nên hữu ích Thông tin này không chỉ cần đại diện cho các hiện tượng kinh tế liên quan mà còn phải phản ánh chính xác những gì nó định đại diện Để đạt được sự trung thực này, thông tin cần phải đầy đủ, trung lập và không có sai sót.

Key attributes that enhance the quality of accounting information include comparability, verifiability, timeliness, and understandability These quality characteristics significantly increase the usefulness of financial information for decision-making.

Các đặc điểm CLTT kế toántheo quan điểm dự án hội tụ giữa IASB và FASB theo

Sơ đồ 3: Mô hình CLTT kế toán của IASB và FASB 2010

Theo COBIT (2019), trong môi trường công nghệ thông tin, chất lượng thông tin kế toán không chỉ đảm bảo tính chính xác và đầy đủ mà còn cần chú trọng đến các liên kết cạnh và độ tin cậy của thông tin Điều này bao gồm việc bảo mật, an toàn thông tin và sự sẵn sàng của dữ liệu cho người sử dụng Chất lượng thông tin kế toán được đánh giá qua những tiêu chí này.

7 tiêu chuẩn bao gồm: Hữu hiệu, hiệu quả, bảo mật, toàn vẹn, sẵn sàng, tuân thủ và đáng tin cậy.

Tại Việt Nam, khái niệm "đặc điểm chất lượng" của thông tin kế toán chưa được xác định rõ ràng Tuy nhiên, việc đo lường chất lượng thông tin kế toán được thể hiện qua "các yêu cầu cơ bản đối với kế toán" trong chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01), bao gồm 6 yêu cầu: trình bày trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu và có thể so sánh Trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, trọng yếu được xem là một nguyên tắc quan trọng, với yêu cầu về tính thích hợp và độ tin cậy của thông tin.

9 tin cậy không được đưa ra mà thay vào đó là các thuộc tính trung thực, khách quan, đầy đủ.

Chất lượng thông tin kế toán là yếu tố quyết định giúp người dùng hiểu và đưa ra quyết định chính xác Nó được thể hiện qua các thuộc tính như tính trọng yếu, khả năng dự đoán, tính chứng thực, tính đầy đủ, tính trung lập và không có lỗi Đặc biệt, thông tin kế toán càng trở nên minh bạch và hữu ích hơn khi có thêm bốn thuộc tính: khả năng so sánh, khả năng kiểm chứng, dễ hiểu và kịp thời.

Khái quát về IFRS

IFRS, or International Financial Reporting Standards, refers to a set of accounting standards established by the International Accounting Standards Board (IASB), a body under the IFRS Foundation Its goal is to create a common global "language" for accounting, ensuring that financial statements are presented consistently, transparently, reliably, and are easily comparable across different sectors, countries, and regions.

Sau Thế chiến thứ II, kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, cùng với sự gia tăng của các Tập đoàn đa quốc gia, đã tạo ra nhu cầu cần có một ngôn ngữ kế toán chung Để đáp ứng nhu cầu này, Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) được thành lập, ban đầu bao gồm 9 quốc gia thành viên: Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mexico, Hà Lan, Vương quốc Anh/Bắc Ireland và Hoa Kỳ.

Vào năm 2000, Tổ chức Ủy ban Chứng khoán Quốc tế (IOSCO) đã công nhận và khuyến nghị các thị trường chứng khoán thành viên yêu cầu các công ty niêm yết tuân thủ 10 Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS) cơ bản Đây là một bước tiến quan trọng, giúp IAS trở thành yêu cầu bắt buộc cho việc niêm yết trên các thị trường chứng khoán lớn toàn cầu.

Các doanh nghiệp niêm yết Các doanh nghiệp không niêm yết

Không cho phép sủ dụng IFRS 23 Không cho phép SU dụng IFRS 30

Cho phép SU dụng IFRS 25 Cho phép SU dụng IFRS 47

Yêu cáu sủ dụng IFRS nhúng không toàn bộ 10 Yêu cáu SU dụng IFRS nhúng không toàn bộ 37

Yêu cáu sủ dụng IFRS toàn bộ 96 Yêu cáu SU dụng IFRS toán bộ 28

IASC, ban đầu chỉ là một liên minh, nhận thấy sự cần thiết phải hợp nhất các chuẩn mực và thông lệ kế toán quốc gia với chuẩn mực toàn cầu sau gần 25 năm hoạt động Để thực hiện điều này, IASC đã thay đổi tổ chức hoạt động của mình và thành lập Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) vào ngày 01/04/2001 Trong cuộc họp đầu tiên, IASB đã thông qua các Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) cũ và các Hướng dẫn từ Ủy ban diễn giải Chuẩn mực kế toán (SIC), từ đó tiếp tục phát triển các Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).

Sau khi IOSCO công nhận vào năm 2000, IFRS đã có bước tiến quan trọng khi trở thành bắt buộc tại Châu Âu theo Chỉ thị EC 1606 được phê chuẩn vào tháng 7 năm 2002 Theo chỉ thị này, tất cả các thành viên của Liên minh Châu Âu và Khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA) phải áp dụng IFRS cho báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết, bắt đầu từ kỳ kế toán kết thúc vào ngày 31/12/2005.

Hệ thống chuẩn mực kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) bao gồm ba thành phần chính, được xây dựng và ban hành nhằm tạo ra một khung pháp lý thống nhất cho việc lập báo cáo tài chính.

Khung khái niệm (hay còn gọi là khuôn khổ lý thuyết- The Conceptual Framework), được ban hành từ năm 1989, bản sửa đổi và cập nhật gần nhất là năm

Năm 2010, các nguyên tắc cơ bản nhất cho báo cáo tài chính đã được xác định, tạo thành khung khái niệm không phải là một chuẩn mực độc lập nhưng là nền tảng cho việc phát triển các chuẩn mực kế toán và báo cáo tài chính quốc tế.

The International Financial Reporting Standards (IFRS) and International Accounting Standards (IAS) form the foundation of international financial reporting standards Established in 1971 by the International Accounting Standards Committee (IASC), the IAS are still in effect today, while the International Accounting Standards Board (IASB) has issued 16 IFRS Currently, there are 29 IAS that remain applicable, ensuring a cohesive framework for global accounting practices.

The IFRIC/SIC guidelines serve as detailed and official interpretations of the standards developed and issued by the International Financial Reporting Interpretation Committee (IFRIC).

Hệ thống chuẩn mực IFRS đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của kế toán quốc tế từ khi ra đời Các nhà làm chính sách, cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức nghề nghiệp ở nhiều quốc gia đã khuyến khích hoặc yêu cầu áp dụng IFRS cho các doanh nghiệp niêm yết và không niêm yết Hiện tại, IFRS đã được áp dụng tại 174 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.

Bảng Sô'quốc gia/vùng lãnh thổ áp dụng IFRS

Không có thị trưởng chứng khoán 20 Không có thông tin 32

Trong số 131 quốc gia và vùng lãnh thổ, có 87 nơi yêu cầu doanh nghiệp niêm yết tuân thủ IFRS trong báo cáo kiểm toán, trong khi 31 quốc gia khác, bao gồm các nước thuộc Liên minh châu Âu, cũng áp dụng tiêu chuẩn này Hiện tại, có 5 quốc gia đang xem xét việc áp dụng IFRS.

Mỹ, Nhật Bản, Ản Độ, Nga, Malaysia và Colombia.

Tổng quan nghiên cứu về ảnh hưởng của IFRS đến chất lượng thông tin kế toán

Nghiên cứu của Bova và Pereira (2012) chỉ ra rằng việc áp dụng IFRS tạo ra hai quan điểm trái ngược Một mặt, IFRS được cho là mang lại tiêu chuẩn báo cáo tốt hơn và sự thống nhất trong áp dụng giúp cải thiện tính so sánh của thông tin Do đó, việc áp dụng IFRS có thể nâng cao chất lượng môi trường thông tin kế toán và giảm thiểu chi phí vốn.

Quan điểm thứ hai cho rằng chất lượng công bố bị ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị và kinh tế, vì vậy việc áp dụng các chuẩn mực kế toán chất lượng cao hơn không đảm bảo báo cáo sẽ có chất lượng tốt hơn Trên toàn cầu, việc áp dụng IFRS thường diễn ra qua hai giai đoạn chính: giai đoạn tự nguyện và giai đoạn bắt buộc.

2.3.1 Các nghiên cứu về tác động của việc tự nguyện và bắt buộc áp dụng IFRS

Tại châu Âu, đã có nhiều doanh nghiệp tự nguyện áp dụng IAS/IFRS từ những năm

1990 Trong giai đoạn này, có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng IAS/IFRS được thực hiện.

Nghiên cứu của Barth và cộng sự (2008) là một trong những nghiên cứu chuyên sâu về tác động của việc áp dụng IFRS tự nguyện Nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy để kiểm định xem việc áp dụng IAS/IFRS tự nguyện có làm tăng chất lượng kế toán và giảm chi phí sử dụng vốn hay không Họ đã so sánh giữa nhóm doanh nghiệp áp dụng IAS/IFRS và nhóm chưa áp dụng trong cùng một giai đoạn, cũng như so sánh chất lượng kế toán của các doanh nghiệp áp dụng IAS/IFRS trước và sau khi thực hiện việc áp dụng tự nguyện.

Trong giai đoạn 1990-2003, tổng số quan sát đạt 1.885, được thu thập từ 319 doanh nghiệp, chủ yếu đến từ ba quốc gia: Thụy Sỹ với 79 doanh nghiệp áp dụng IAS và 594 quan sát, Trung Quốc với 90 doanh nghiệp áp dụng IAS và 430 quan sát, cùng với Đức có 57 doanh nghiệp áp dụng IAS và 329 quan sát.

Nghiên cứu này cho thấy rằng một nửa số liệu được thu thập từ các doanh nghiệp sản xuất Kết quả chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm doanh nghiệp áp dụng IAS/IFRS và nhóm không áp dụng trong giai đoạn trước khi thực hiện IAS/IFRS tự nguyện Tuy nhiên, chất lượng kế toán của các công ty áp dụng IAS/IFRS đã cải thiện rõ rệt so với giai đoạn trước đó khi họ áp dụng GAAP, cũng như so với nhóm chỉ sử dụng GAAP quốc gia trong giai đoạn áp dụng tự nguyện.

Ke thừa kết quả nghiên cứu của Barth và cộng sự (2008), Christensen và cộng sự

Năm 2015, nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của việc áp dụng IFRS tự nguyện và bắt buộc đối với chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp Điểm khác biệt so với nghiên cứu của Barth và cộng sự (2008) là nghiên cứu này chỉ tập trung vào Đức nhằm đảm bảo tính đồng nhất Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính qua các nguồn như Thomson One Banker, Datastream, WorldScope và Thomson Ownership trong giai đoạn 1998-2005, thời kỳ áp dụng IFRS tự nguyện tại Đức.

Nghiên cứu này phân tích 177 doanh nghiệp không áp dụng IFRS cho đến năm 2005 và 133 doanh nghiệp tự nguyện áp dụng trước thời điểm đó Kết quả cho thấy việc tự nguyện áp dụng IFRS giúp giảm quản trị lợi nhuận, tăng cường ghi nhận lỗ đúng kỳ và nâng cao giá trị thông tin Ngược lại, những doanh nghiệp trì hoãn áp dụng IFRS cho đến khi bị bắt buộc vào năm 2005 không thấy cải thiện đáng kể về chất lượng thông tin Tác giả kết luận rằng việc áp dụng IFRS bắt buộc sẽ không nâng cao chất lượng kế toán nếu doanh nghiệp thiếu động lực minh bạch thông tin.

Nghiên cứu của Horton và Serafeim (2010) về giá trị thích hợp của thông tin tại Vương quốc Anh khi áp dụng IFRS từ năm 2005 chỉ ra rằng, giá trị thích hợp bao gồm các thông tin liên quan đến thanh toán trên cơ sở cổ phiếu (IFRS 2), lợi thế thương mại (IAS 38), thuế hoãn lại (IAS 12), công cụ tài chính (IAS 39) và lợi ích của nhân viên (IAS 19) Nghiên cứu dựa trên mẫu 297 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán London tính đến ngày 31/12/2006, cho thấy rằng các chuẩn mực về thanh toán trên cơ sở cổ phiếu và lợi thế thương mại đã mang lại giá trị phù hợp cho thị trường, từ đó nâng cao chất lượng thông tin kế toán.

Bartov và cộng sự (2005) đã tiến hành so sánh giá trị thích hợp của thông tin, được coi là tiêu chuẩn đánh giá chất lượng lợi nhuận, khi lập báo cáo theo chuẩn mực kế toán Đức, chuẩn mực kế toán Mỹ và IAS/IFRS Nghiên cứu này xem xét số lượng doanh nghiệp tại Đức trong bối cảnh các tiêu chuẩn kế toán khác nhau.

14 nghiên cứu thử thuộc giai đoạn 1991-2000 là 441 doanh nghiệp, với 2.138 quan sát, sau đó, trong nghiên cứu chính thức từ 1998-2000, tác giả sử dụng 917 quan sát của

Nghiên cứu được thực hiện trên 416 doanh nghiệp, giới hạn thời gian từ 1998-2000 nhằm phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán Đức vào năm 1997, khi doanh nghiệp buộc phải lập báo cáo tài chính (BCTC) theo IAS/IFRS hoặc US GAAP bên cạnh chuẩn mực nội địa Kết quả cho thấy, BCTC lập theo IAS/IFRS hay US GAAP có giá trị thích hợp cao hơn so với chuẩn mực của Đức.

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng IFRS, cả tự nguyện lẫn bắt buộc, đã được thực hiện tại các doanh nghiệp, với dữ liệu thứ cấp phản ánh sự thay đổi chất lượng thông tin trước và sau khi áp dụng Mặc dù có ý kiến trái chiều về kết quả nghiên cứu, nhưng không thể phủ nhận những tác động tích cực của IFRS trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán.

2.3.2 Các nghiên cứu so sánh giữa tự nguyện và bắt buộc áp dụng IFRS

Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2010) đã chỉ ra sự khác biệt trong chất lượng kế toán của các doanh nghiệp châu Âu trước và sau khi áp dụng bắt buộc IFRS Cụ thể, chất lượng kế toán trong giai đoạn áp dụng bắt buộc từ năm 2005 đến 2007 được đánh giá cao hơn so với giai đoạn trước đó từ năm 2000 đến 2004.

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định lượng, sử dụng dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính của 21.707 doanh nghiệp niêm yết tại 15 quốc gia châu Âu trong giai đoạn 2000-2007 Các quốc gia bao gồm Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ai Len, Italia, Luxemburg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vương quốc Anh Đặc biệt, nghiên cứu không xem xét các tổ chức tài chính do những yêu cầu công bố thông tin khác biệt Kết quả cho thấy, việc áp dụng IFRS từ năm 2005 đã làm giảm hiện tượng quản trị lợi nhuận, đồng thời nâng cao chất lượng thông tin kế toán.

Nghiên cứu của Barth và cộng sự (2012) đánh giá khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp áp dụng IFRS tại 27 quốc gia, chủ yếu là Vương quốc Anh, Australia, Pháp và Đức, so với các doanh nghiệp ở Mỹ Nghiên cứu này đã chọn ra 3.400 doanh nghiệp, với tổng số quan sát lên đến 17.714 trong giai đoạn từ 1995 đến 2006, bao gồm 8.214 quan sát sau khi IFRS được áp dụng bắt buộc.

Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng IFRS bắt buộc đã dẫn đến sự gia tăng giá trị thích hợp cho lợi nhuận và vốn chủ sở hữu Hệ thống kế toán và giá trị thích hợp tại các quốc gia áp dụng IFRS bắt buộc có tính so sánh tốt hơn so với các doanh nghiệp Mỹ chỉ sử dụng US GAAP.

GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu của Barth và cộng sự (2008) chỉ ra rằng việc áp dụng IAS/IFRS tự nguyện không chỉ nâng cao chất lượng kế toán mà còn giảm chi phí sử dụng vốn Tiếp nối nghiên cứu này, Christensen và cộng sự (2015) đã xác nhận ba giả thuyết liên quan, cho thấy rằng việc áp dụng IFRS tự nguyện giúp giảm quản trị lợi nhuận, tăng cường ghi nhận lỗ đúng kỳ và nâng cao giá trị thích hợp của thông tin, phù hợp với kết luận của Barth và cộng sự.

Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2010) chỉ ra rằng chất lượng kế toán trong giai đoạn áp dụng IFRS bắt buộc (2005-2007) cao hơn so với giai đoạn trước đó (2000-2004), nhờ vào việc giảm quản trị lợi nhuận Irina-Doina Pă§can (2015) nhấn mạnh rằng chất lượng kế toán bị ảnh hưởng bởi các chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật, chính trị và các ưu đãi trong báo cáo tài chính Kết quả nghiên cứu về tác động của IFRS đối với chất lượng kế toán cần được xem xét trong bối cảnh các yếu tố quốc gia và doanh nghiệp cụ thể.

Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng các mô hình lý thuyết và hệ thống hóa chúng, từ đó tự xây dựng các mô hình nghiên cứu và giả thuyết cụ thể cho đề tài của mình Họ cũng đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến đề tài nghiên cứu này.

Mỗi đề tài nghiên cứu đều có đối tượng và phạm vi khác nhau, với các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán khi áp dụng IFRS Sự khác biệt này tồn tại giữa các quốc gia, nền kinh tế và thời điểm khác nhau, cho thấy rằng đối tượng nghiên cứu không cố định và có thể thay đổi theo thời gian.

Việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán thường gây tranh cãi, vì mỗi nghiên cứu có thể đưa ra những kết quả khác nhau về cùng một yếu tố Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng IFRS có thể giảm quản trị lợi nhuận, từ đó nâng cao chất lượng thông tin kế toán, cải thiện hệ thống kế toán và tăng tính so sánh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khía cạnh ảnh hưởng của IFRS đến chất lượng thông tin kế toán chưa được khám phá đầy đủ.

Nghiên cứu về ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại Việt Nam đã phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những nhân tố mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập hoặc chưa được phân tích một cách sâu sắc.

• Áp dụng IFRS có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng thông tin kế toán Việt Nam

Nguồn nhân lực và sự thiếu hoàn thiện trong các chính sách áp dụng IFRS đang làm giảm những lợi ích tích cực đối với chất lượng thông tin kế toán Việc thiếu các chính sách nhất quán về cơ chế thực hiện IFRS ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình áp dụng chuẩn mực này.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp định lượng, trong đó dữ liệu được thu thập thông qua việc xem xét các nghiên cứu trước đó và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi Bảng câu hỏi được thiết kế trực tuyến trên Google Biểu mẫu và gửi đến từng đối tượng phỏng vấn để họ trả lời trực tuyến Thông tin phản hồi sẽ được ghi lại và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu.

Các câu hỏi được xây dựng dựa trên thang đo Likert với 5 điểm và mức độ đồng ý phát biểu tăng dần từ 1 đến 5, tương ứng:

Bảng hỏi sẽ được gửi đến các đối tượng khảo sát thông qua hình thức trực tuyến. Thời gian khảo sát: từ tháng 4/2021 - tháng 5/2021.

Xử lý dữ liệu: Dữ liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS Các bước xử lý dữ liệu bao gồm:

Bước 1: Lập bảng tần số thống kê để mô tả mẫu

Bước 2: Đánh giá độ tin cậy thang đo

Để đánh giá độ tin cậy của thang đo, theo Nguyễn Đình Thọ (2012), chúng ta cần xem xét tính nhất quán nội tại, phản ánh mối quan hệ giữa các biến quan sát Hệ số α của Cronbach’s alpha là chỉ số phổ biến nhất để đo lường độ tin cậy, với giá trị từ 0,8 trở lên được coi là tốt, từ 0,7 đến 0,8 là chấp nhận được Một số nghiên cứu cho rằng nếu Cronbach’s alpha đạt từ 0,6 trở lên, thang đo vẫn có thể sử dụng, đặc biệt khi khái niệm đo lường còn mới hoặc chưa quen thuộc với người tham gia nghiên cứu (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slatcr, 1995 trích bởi Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

Các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng dưới 0.3 sẽ bị loại (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slatcr, 1995 trích bởi Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008).

Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố là một tập hợp các phương pháp nhằm thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu hiệu quả Trong lĩnh vực nghiên cứu, việc áp dụng phân tích nhân tố giúp chúng ta tổng hợp thông tin và rút ra những yếu tố chính từ một lượng dữ liệu lớn.

Trong nghiên cứu, số lượng biến lớn (18 biến) cần được giảm bớt để dễ dàng phân tích, vì hầu hết chúng có mối liên hệ với nhau Liên hệ giữa các nhóm biến sẽ được trình bày dưới dạng một số ít nhân tố cơ bản (Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Theo Gerbing và Anderson (1998), được trích dẫn bởi Nguyễn Đình Trọng & Nguyễn Thị Mai Trang (2007), các biến quan sát có trọng số nhỏ hơn 0.3 trong phân tích nhân tố khám phá (EFA) sẽ bị loại bỏ, và tổng phương sai trích cần phải kiểm tra (>P%) Các biến quan sát còn lại sẽ được sử dụng trong phân tích hồi quy Các tham số thống kê trong phân tích nhân tố cũng sẽ được áp dụng.

- Corredation matrix: cho biết hệ số tương quan giữa tất cả các cặp biến trong phân tích.

- Eigenvalue: Là đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố.

- Factor loading (hệ số tài nhân tố): là những hệ số tương quan đơn giữa các biến và các nhân tố.

- Factor matrix (ma trận nhân tố): chứa các hệ số tài nhân tố của tất cả các biến đối với các nhân tố được rút ra.

- Factor Seores: là các điểm số nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng biến quan sát trên các nhân tố dược rút ra.

Chỉ số Kaiser - Meyer - Olkin (KMO) được sử dụng để đánh giá tính thích hợp của phân tích nhân tố Nếu trị số KMO nằm trong khoảng từ 0.5 đến 1, điều này cho thấy phân tích nhân tố là phù hợp Ngược lại, nếu trị số KMO nhỏ hơn 0.5, khả năng phân tích nhân tố không phù hợp với dữ liệu là cao.

Bước 4: Phân tích hồi quy bội:

Mô hình hồi quy bội là phương pháp thống kê dùng để phân tích mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều biến độc lập định lượng và một biến phụ thuộc định lượng, giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các yếu tố độc lập lên biến phụ thuộc (Nguyễn Đình Thọ, 2012).

Theo Nguyễn Đình Thọ (2012), để ước lượng các trọng số hồi quy βk (k= 1 5) trong mô hình hồi quy bội ta dùng phương pháp bình phương bé nhất (Ordirary Least

Nội dung thang đo Tham khảo

Hệ số xác định R² là một thước đo quan trọng để đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính, với giá trị gần 1 cho thấy mô hình càng thích hợp và gần 0 cho thấy mô hình kém phù hợp Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), R² có xu hướng tăng khi thêm biến độc lập vào mô hình, nhưng điều này không đồng nghĩa với việc mô hình sẽ tốt hơn Để có đánh giá chính xác hơn về mức độ phù hợp, R² hiệu chỉnh (Adjusted R²) được sử dụng, vì nó không nhất thiết phải tăng lên khi thêm biến vào phương trình, giúp tránh việc thổi phồng mức độ phù hợp của mô hình.

Cuộc khảo sát sẽ thu thập ý kiến từ các chuyên gia có kiến thức về Kế toán - Kiểm toán, nhưng do hạn chế về thời gian, nhân lực và khả năng tiếp cận, chỉ thực hiện với một số chuyên gia trong lĩnh vực này và các nhà nghiên cứu giảng dạy Do đó, đối tượng khảo sát được chia thành 3 nhóm.

• Nhóm 2 - Kiểm toán viên Nhóm 3 - Nhà nghiên cứu/giảng dạy về kế toán - kiểm toán

Số lượng mẫu khảo sát là 150, trong đó:

Nhóm 1 - Kế toán viên, 60 phiếu (40%)

Nhóm 2 - Kiểm toán viên, 60 phiếu (40%)

Nhóm 3 - Nhà nghiên cứu/giảng dạy về kế toán - kiểm toán, 30 phiếu (20%)

Mỗi nhóm khảo sát sẽ thu thập ý kiến từ các đối tượng, bao gồm cả những người mới có kinh nghiệm thực tiễn và những người đã tích lũy nhiều kinh nghiệm.

20 tương ứng với số năm kinh nghiệp ở 3 mức độ đó là: Dưới 2 năm kinh nghiệm; từ 2 -

5 năm kinh nghiệm; và trên 5 năm kinh nghiệm.

Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, với kích thước mẫu càng lớn càng tốt (Nguyễn Đình Thọ, 2012) Theo Hair và cộng sự (2016), để thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), kích thước mẫu tối thiểu cần là 100 và tỷ lệ quan sát/biến đo lường phải đạt 5:1 Bên cạnh đó, Tabachnick và Fidell (1991) cũng chỉ ra rằng để phân tích hồi quy đạt hiệu quả tốt nhất, kích thước mẫu cần thỏa mãn công thức n >= 50 + 8p, trong đó n là kích thước mẫu tối thiểu và p là số lượng biến độc lập trong mô hình.

Theo công thức n >= 50 + 8p, với p = 2, ta tính được n >= 66 Do EFA yêu cầu kích thước mẫu lớn hơn so với hồi quy, nên kích thước mẫu tối thiểu được chọn là n = 100.

3.2.3 Thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT kế toán khi áp dụng IFRS

Thang đo các yếu tố ảnh hưởng khi áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán bao gồm 18 biến quan sát, được xây dựng dựa trên lý thuyết và các thang đo đã được công nhận trên toàn cầu Những thang đo này đã trải qua kiểm định từ nhiều nghiên cứu trước đó, cho thấy ảnh hưởng tích cực của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin tài chính kế toán.

AHTC1 Các thông tin trên báo cáo tài chính có chất lượng cao hơn, minh bạch và kịp thời hơn

AHTC2 Nâng cao tính có thể so sánh được của thông tin

AHTC3 Tăng hàm lượng thông tin của số liệu kế toán thu nhập, nợ phải trả, doanh thu và vốn chủ sở hữu

AHTC4 giúp đánh giá, mua bán và hợp nhất các công ty Trần Thị Hải Vân tại các quốc gia, nhờ vào thông tin có tính so sánh cao hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các giao dịch này (2017).

AHTC5 áp dụng phương pháp đánh giá dựa trên giá trị hợp lý, điều này không chỉ nâng cao tính minh bạch thông qua việc tăng cường thuyết minh và công bố thông tin, mà còn giúp giảm thiểu rủi ro bất cân xứng thông tin Kết quả là, các nhà đầu tư sẽ cảm thấy yên tâm hơn và sẵn sàng đầu tư hơn.

AHTC6 Áp dụng IFRS có thể giúp các công ty ghi nhận lỗ kịp thời hơn

AHTC7 Việc áp dụng IFRS giúp các nhà đầu tư tiết kiệm chi phí phân tích và sai số dự báo thấp hơn

Việc lập báo cáo theo IFRS giúp tăng tính minh bạch và rõ ràng cho các dòng tiền, nhờ vào việc xem xét giá trị thời gian của tiền.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG

Phân tích dữ liệu nghiên cứu

4.2.1 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo nghiên cứu

Sau khi hoàn tất mô tả mẫu nghiên cứu, bước tiếp theo là thực hiện đánh giá sơ bộ thang đo bằng cách sử dụng hệ số Cronbach’ Alpha và hệ số tương quan biến-tổng.

Đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s Alpha là cần thiết trong nghiên cứu định lượng, bởi vì việc đo lường các nhân tố thường rất phức tạp Các biến quan sát trong nghiên cứu không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác khái niệm và tính chất của thang đo Hệ số Cronbach’s Alpha giúp kiểm tra tính phù hợp của các biến quan sát để xác định xem chúng có thể được đưa vào thang đo hay không.

Hệ số Cronbach’s Alpha giúp xác định mức độ tương quan giữa các biến quan sát trong một nhân tố, đồng thời chỉ ra những biến nào có ảnh hưởng tích cực và những biến nào không đóng góp vào việc đo lường các nhân tố.

Hệ số Cronbach’s Alpha dao động trong khoảng [0,1], với giá trị cao cho thấy thang đo có độ tin cậy tốt Tuy nhiên, nếu hệ số này vượt quá 0,95, điều đó có thể chỉ ra rằng các biến quan sát trong thang đo gần như không có sự khác biệt.

Hệ số Cronbach's Alpha là một chỉ số quan trọng trong việc đánh giá độ tin cậy của thang đo Để đạt yêu cầu, biến đo lường cần có hệ số tương quan biến tổng ≥ 0.3, và hệ số Cronbach’s Alpha tổng phải lớn hơn 0.6 Nếu hệ số tương quan biến tổng dưới 0.3, cần xem xét loại bỏ biến quan sát đó để cải thiện độ tin cậy của thang đo.

Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha cho thấy các thang đo đều đạt được sự tin cậy.

❖Thang đo “Các thuộc tính của CLTTkế toán”

Bảng 4.7 Kết quả thống kê độ tin cậy của thang đo các thuộc tính của CLTT kế toán

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Cronbach's Alpha if Item Deleted

Có thể dự đoán được 36.39 15.978 ~

Bảng 4.8 Kết quả thống kê độ tin cậy từng thuộc tính của thang đo các thuộc tính của CLTT kế toán

Scale Variance if Item Deleted

Cronbach's Alpha if Item Deleted

Các thông tin trên BCTC có chất lượng cao hơn, minh bạch và kịp thời hơn

Nâng cao tính có thể so sánh được của thông tin 35.22 13.769 591 796

Tăng hàm lượng thông tin của số liệu kế toán thu nhập, nợ phải trả, doanh thu và vốn chủ sở hữu 35.51 15.020 436 812

Việc đánh giá mua bán và hợp nhất các công ty ở các quốc gia trở nên dễ dàng hơn nhờ vào thông tin có tính so sánh cao.

(Nguồn: Kết quả tổng hợp phân tích từ IBM SPSS Statistics 23)

Thang đo "Các thuộc tính của chất lượng thông tin kế toán" có hệ số Cronbach’s Alpha là 0,830, vượt qua ngưỡng 0,6, cho thấy độ tin cậy cao Hệ số tương quan biến tổng của các biến đo lường trong yếu tố này dao động từ 0,381 đến 0,608, đều đạt tiêu chuẩn lớn hơn 0,3.

❖ Thang đo “Những AHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán ”

Thực hiện kiểm định thang đo của những AHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán cho kết quả trong bảng 4.9.

Bảng 4.9 Ket quả thống kê độ tin cậy của thang đo những AHTC khi áp dụng

IFRS đến CLTT kế toán

Kết quả thống kê độ tin cậy của các yếu tố trong thang đo AHTC khi áp dụng IFRS cho thấy rằng việc áp dụng đánh giá dựa trên giá trị hợp lý và tăng cường thuyết minh/công bố đã nâng cao tính minh bạch, giảm thiểu rủi ro bất cân xứng thông tin, từ đó khuyến khích các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư hơn.

35.30 14.576 585 799 Áp dụng IFRS có thể giúp các công ty ghi nhận lỗ kịp thời hơn 35.63 14.498 468 809

Việc áp dụng IFRS giúp các nhà đầu tư tiết kiệm chi phí phân tích và sai số dự báo thấp hơn

Lập báo cáo theo IFRS giúp tăng cường tính minh bạch và rõ ràng của các dòng tiền, nhờ vào việc xem xét giá trị thời gian của tiền.

Giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và người sử dụng báo cáo tài chính giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay Điều này không chỉ nâng cao tính minh bạch mà còn tạo niềm tin cho các nhà đầu tư và tổ chức tài chính, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Giúp doanh nghiệp đánh giá tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo, cung cấp thông tin hữu ích cho Ban giám đốc trong việc dự báo kết quả hoạt động và dòng tiền hiệu quả hơn.

Cronbach's Alpha if Item Deleted

Nguồn nhân lực còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, chưa được đào tạo các kiến thức về IFRS

Quy định hiện hành về đối tượng hành nghề kế toán và kiểm toán chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn để thực hiện kế toán theo IFRS, điều này có thể dẫn đến những sai sót trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính.

Hệ thống văn bản pháp quy về kế toán chủ yếu mang tính chất quy định, khác với các nguyên tắc và tính xét đoán theo IFRS.

(Nguồn: Kết quả tổng hợp phân tích từ IBM SPSS Statistics 23)

Hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo "Những ảnh hưởng tích cực" là 0,822, vượt quá ngưỡng 0,6, chứng tỏ độ tin cậy cao Các hệ số tương quan giữa các biến đo lường trong yếu tố này dao động từ 0,373 đến 0,591, cho thấy tất cả đều đạt yêu cầu.

❖Thang đo “Những yếu tố làm GAHTC khi áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán ”

Bảng 4.11 Kết quả thống kê độ tin cậy của thang đo những yếu tố làm GAHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán

Bảng 4.12 Kết quả thống kê độ tin cậy từng yếu tố của thang đo những yếu tố làm GAHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán

Thị trường hiện tại thiếu tính chuyên nghiệp trong việc cung cấp các thông số tài chính đáng tin cậy, điều này ảnh hưởng đến kỹ thuật xác định giá trị hợp lý, lãi suất hiệu lực và tổn thất tài sản.

Ngày đăng: 07/04/2022, 12:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Quốc Thuần (2015), “Bàn về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán”, Science & Technology Development, Vol 18, No Q1 - 2015, trang 68 - 71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kếtoán
Tác giả: Phạm Quốc Thuần
Năm: 2015
2. Mai Thị Hoàng Minh, Lê Việt (2020), “Tác động của việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế đến hiệu quả kinh tế của các nước”, tạp chí tài chính, kỳ 2 tháng 8, trang 64-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của việc áp dụng Chuẩn mực Báocáo tài chính quốc tế đến hiệu quả kinh tế của các nước”, "tạp chí tài chính
Tác giả: Mai Thị Hoàng Minh, Lê Việt
Năm: 2020
5. Bộ tài chính (2020), Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt đề án áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam, ban hành ngày 16 tháng 3 năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 345/QĐ-BTC phê duyệt đề án áp dụng chuẩnmực báo cáo tài chính tại Việt Nam
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2020
6. Bàn về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán (2015), truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018, từ < https://tailieu.vn/doc/ban-ve-tieu-chuan-danh-gia-chat-luong-thong-tin-ke-toan-2035114.html?cv=1&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán
Tác giả: Bàn về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán
Năm: 2015
7. Nguyễn Long (2019), Lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Việt Nam, truy cập lần cuối ngày 13 tháng 9 năm 2019, từ https://ifrsinvietnam.com/news/lo-<trinh-ap-dung-chuan-muc-ke-toan-quoc-te-tai-viet-nam/?cv=1 &gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lộ trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Long
Năm: 2019
9. Barth, M.E., Landsman, W.R., Lang, M., & Williams, C. (2012), Are IFRS- based and US GAAP-based accounting amounts comparable? Journal of Accounting and Economics, 54, 68-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Are IFRS-based and US GAAP-based accounting amounts comparable? Journal ofAccounting and Economics
Tác giả: Barth, M.E., Landsman, W.R., Lang, M., & Williams, C
Năm: 2012
10. Aburous, D. (2018), IFRS and institutional work in the accounting domain, Critical Perspectives on Accounting. 62(C), 1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: IFRS and institutional work in the accounting domain,Critical Perspectives on Accounting
Tác giả: Aburous, D
Năm: 2018
11. Barth, ME, Landsman, WR , & Lang, MH (2008), Chuẩn mực kế toán quốc tế và chất lượng kế toán, Tạp chí Nghiên cứu Kế toán , 46 (2), 467 - 498 . doi: 10.1111 / j.1475-679X.2008.00287.x [Crossref] , [Web of Science ®] , [Google Scholar] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Kế toán , 46
Tác giả: Barth, ME, Landsman, WR , & Lang, MH
Năm: 2008
3. Bộ Tài chính (2020), Đề án áp dụng Chuẩn mực báo cáo tài chính tại Việt Nam Khác
8. Tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình nghiên cứu cải tiến sư phạm action research (Burns, 2010) - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Hình 1 Mô hình nghiên cứu cải tiến sư phạm action research (Burns, 2010) (Trang 5)
Sơ đồ 1: Mô hình chất lượng thông tin của FASB (1980,1993) - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Sơ đồ 1 Mô hình chất lượng thông tin của FASB (1980,1993) (Trang 16)
Sơ đồ 2: Mô hình chất lượng thông tin của IASB (2001) - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Sơ đồ 2 Mô hình chất lượng thông tin của IASB (2001) (Trang 17)
Sơ đồ 3: Mô hình CLTTkế toán của IASB và FASB 2010 - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Sơ đồ 3 Mô hình CLTTkế toán của IASB và FASB 2010 (Trang 19)
Bảng. Sô'quốc gia/vùng lãnh thổ áp dụng IFRS - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
ng. Sô'quốc gia/vùng lãnh thổ áp dụng IFRS (Trang 21)
Hình 16 chi ra tần suất và khoảng thời gian xuất hiện dòng chảy nhỏ nhất trong khoảng thời  gian trước  khi  xâv đập và sau khi xây đập - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Hình 16 chi ra tần suất và khoảng thời gian xuất hiện dòng chảy nhỏ nhất trong khoảng thời gian trước khi xâv đập và sau khi xây đập (Trang 21)
AHTC10 Giúp DN đánh giá được tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo, giúp Ban giám đốc có được những thông tin phục vụ tốt hơn cho việc dự báo kết quả hoạt động và dòng tiền. - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
10 Giúp DN đánh giá được tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo, giúp Ban giám đốc có được những thông tin phục vụ tốt hơn cho việc dự báo kết quả hoạt động và dòng tiền (Trang 33)
Bảng 4.1. Kết quảphiếu khảo sát - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Bảng 4.1. Kết quảphiếu khảo sát (Trang 35)
Từ bảng kết quả trên cho thấy tổng số phiếu ban đầu phát ra là 150 phiếu cho cả 3 nhóm là Kế toán viên 60 phiếu (40%), Kiểm toán viên 55 phiếu (36.67%) và Nhà nghiên cứu/giảng dạy về kế toán - kiểm toán là 35 phiếu (23.33%) - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
b ảng kết quả trên cho thấy tổng số phiếu ban đầu phát ra là 150 phiếu cho cả 3 nhóm là Kế toán viên 60 phiếu (40%), Kiểm toán viên 55 phiếu (36.67%) và Nhà nghiên cứu/giảng dạy về kế toán - kiểm toán là 35 phiếu (23.33%) (Trang 36)
Bảng 4.5. Kết quả phân tích mô tả các AHTC khi áp dụng IFRS đến CLTTkế toán - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Bảng 4.5. Kết quả phân tích mô tả các AHTC khi áp dụng IFRS đến CLTTkế toán (Trang 38)
Giúp DN đánh giá được tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo, giúp Ban giám  đốc  có   được  những thông  tin phục vụ tốt hon cho việc dự báo kết - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
i úp DN đánh giá được tình hình tài chính tại thời điểm báo cáo, giúp Ban giám đốc có được những thông tin phục vụ tốt hon cho việc dự báo kết (Trang 39)
Bảng 4.6. Kết quả phân tích mô tả các nhân tố làm GAHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Bảng 4.6. Kết quả phân tích mô tả các nhân tố làm GAHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán (Trang 40)
Bảng 4.7. Kết quả thống kê độ tin cậy của thang đo các thuộc tínhcủa CLTTkế toán - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Bảng 4.7. Kết quả thống kê độ tin cậy của thang đo các thuộc tínhcủa CLTTkế toán (Trang 43)
Bảng 4.8. Kết quả thống kê độ tin cậy từng thuộc tínhcủa thang đo các thuộc tính của CLTT kế toán - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Bảng 4.8. Kết quả thống kê độ tin cậy từng thuộc tínhcủa thang đo các thuộc tính của CLTT kế toán (Trang 44)
Bảng 4.9. Ket quả thống kê độ tin cậy của thang đo những AHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán - 034 ảnh hưởng của việc áp dụng IFRS đến chất lượng thông tin kế toán tại việt nam
Bảng 4.9. Ket quả thống kê độ tin cậy của thang đo những AHTC khi áp dụng IFRS đến CLTT kế toán (Trang 45)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w