Không thể phủ nhận những lợi ích mà Internet đã đem lại, tuy nhiên việc sử dụng Internet cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực, việc lạm dụng quá mức Internet gây khiến người sử dụng phải đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3và nghiên cứu tại trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội
Để thực hiện luận văn tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Thành Nam là người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Nhờ sự động viên, khích lệ, sự định hướng, chỉ dẫn sát sao, tỉ mỉ của Thầy mà tôi đã có thể hoàn thành được luận văn này Qua quá trình làm việc cùng Thầy, tôi cũng đã thu được nhiều bài học kinh nghiệm về cách làm và nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh trường THCS Hùng Vương, THCS Chu Văn An, trường THPT Nguyễn Trãi và THPT Trần Cao Vân của tỉnh Khánh Hòa; trường THCS Nguyễn Trãi, THCS Huỳnh Thúc Kháng, THPT Cẩm Lê, THPT Phan Châu Trinh của thành phố Đà Nẵng đã hợp tác, hỗ trợ, tạo điều kiện giúp tôi thu thập số liệu cho luận văn này
Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn bên cạnh, ủng hộ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Khánh Hòa, ngày 15 tháng 6 năm 2020
Tác giả
Vũ Ngọc Duy
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Những công trình nghiên cứu tại Việt Nam 11
1.2 Nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet với trầm cảm, lo âu, stress 14
1.3 Một số vấn đề lý luận về Internet 20
1.3.1 Khái niệm Internet 20
1.3.2 Khái niệm mức độ sử dụng Internet 21
1.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ sử dụng Internet 25
1.3.4 Trầm cảm 32
1.3.4 Lo âu 35
1.3.5 Stress 37
1.3.6 Học sinh trung học 38
CHƯƠNG 2 46
2.1 Đặc điểm của khách thể và địa bàn nghiên cứu 46
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 46
2.1.2 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 47
2.2 Quy trình nghiên cứu 48
2.3 Công cụ nghiên cứu 49
2.4 Chiến lược nhập liệu và xử lý số liệu 52
CHƯƠNG 3 54
Trang 63.1 Thực trạng sử dụng internet ở học sinh trung học 54
3.2 Thực trạng nghiện Internet của học sinh trung học 62
3.3 Mức độ nghiện Internet theo các yếu tố nhân khẩu học 65
3.4 Thực trạng lo âu, trầm cảm và stress ở học sinh trường trung học 69
3.5 Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress theo các yếu tố nhân khẩu học 73
3.6 Mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet với các biến số 84
3.7 Các yếu tố dự báo nghiện Internet 85
3.8 Các yếu tổ dự báo vấn đề trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh 86
3.9 Bàn luận về kết quả nghiên cứu 86
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1: Tỷ lệ học sinh sử dụng Internet theo các cấp độ 54
Bảng 3 2: Một số đặc điểm sử dụng Internet của khách thể 54
Bảng 3 3: Phương tiện sử dụng để truy cập Internet 57
Bảng 3 4: Mục đích sử dụng Internet 57
Bảng 3 5: Mức độ sử dụng Internet với đặc điểm nhân khẩu học 58
Bảng 3 6: Thời lượng sử dụng Internet theo các biến nhân khẩu học 60
Bảng 3 7: Mức độ lệ thuộc Internet của học sinh qua thang s-IAT 62
Bảng 3 8: Tỷ lệ nghiện Internet qua thang s- IAT 64
Bảng 3 9: Tỷ lệ nghiện Internet theo các biến nhân khẩu học 65
Bảng 3 10: Thực trạng lo âu, trầm cảm và stress ở học sinh 69
Bảng 3 11: Tỷ lệ stress ở học sinh 71
Bảng 3 12: Tỷ lệ trầm cảm ở học sinh 72
Bảng 3 13: Tỷ lệ lo âu ở học sinh 72
Bảng 3 14: Thực trạng trầm cảm theo các biến nhân khẩu học 73
Bảng 3 15: Thực trạng lo âu theo các biến nhân khẩu học 77
Bảng 3 16: Thực trạng stress theo các biến nhân khẩu học 80
Bảng 3 17: Mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet với trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh 84
Bảng 3 18: Các yếu tố dự đoán cho nghiện Internet 85
Bảng 3 19: Các yếu tố dự báo cho vấn đề trầm cảm, lo âu, stress 86
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, Internet đã và đang đồng hành cùng với con người trong tất
cả các hoạt động hàng ngày từ học tập, làm việc đến thư giãn, giải trí Không thể phủ nhận những lợi ích mà Internet đã đem lại, tuy nhiên việc sử dụng Internet cũng gây ra nhiều hậu quả tiêu cực, việc lạm dụng quá mức Internet gây khiến người sử dụng phải đối mặt với nhiều nguy cơ liên quan đến bị bắt nạt trực tuyến [10], dễ bị lôi kéo vào các trang web, phim ảnh không lành mạnh [9], bỏ bê, sao nhãng học hành mà quan trong hơn là sự thay đổi nhân cách theo chiều hướng xấu [1], liên quan đến các vấn đề về sức khỏe như: trầm cảm, tăng động giảm chú ý, rối loạn giấc ngủ…[3]
Việc sử dụng Internet đã tăng lên theo cấp số nhân với gần 4 tỷ người
sử dụng, trong đó khu vực Châu Á có số lượng người sử dụng nhiều nhất với gần 2 tỷ người [59], trong số đó là thanh thiếu niên [29] Cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của việc truy cập và sử dụng internet, tỷ lệ người nghiện Internet cũng ngày càng tăng cao, đặc biệt là thanh thiếu niên [40]
Mak & cộng sự (2014) đã tiến hành một nghiên cứu trên 5266 thanh thiếu niên từ 12 đến 18 tuổi tại 6 nước Châu Á (Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines) cho thấy khoảng từ 6% đến 21% trong số đó được đánh giá là nghiện Internet [84] Tỷ lệ này cao hơn so với nhóm tương tự ở các nước châu Âu với tỷ lệ từ 1% đến 4% [116][31][104][61][63]
Theo We Are Social Media – Global digital report, 2018 [44] với dân
số khoảng 96 triệu người có đến 64 triệu người Việt Nam có thể tiếp cận Internet (tăng 28% so với năm 2017), 55 triệu người thường xuyên sử dụng mạng xã hội (tăng 20% so với năm 2017), 50 triệu người dùng Internet truy cập các nội dung truyền thông xã hội qua điện thoại (tăng 22% so với năm 2017) Việt Nam đứng thứ 22 toàn cầu về số lượng người dân có thể tiếp cận
Trang 9Internet, là một trong 20 nước trên thế giới có lượng người truy cập mạng xã hội nhiều nhất Các nghiên cứu cho thấy, có 162 triệu di động đang được sử dụng tại Việt Nam, nghĩa là trung bình mỗi người dân sở hữu tới 2 chiếc điện thoại, trong đó có 49 triệu điện thoại thông minh dùng để kết nối internet và mạng xã hội Dự tính tới năm 2020, 90% dân số Việt Nam sẽ sử dụng điện thoại thông minh We Are Social cũng công bố số liệu cho thấy Việt nam là một trong các nước có tốc độ tăng trưởng người dùng internet và mạng xã hội nhanh nhất trong khu vực châu Á với số thành viên tăng tới 25% kể từ tháng 1/2017 đến nay
Tại Việt Nam, căn cứ theo kết quả điều tra quốc gia trên nhóm thanh thiếu niên cho thấy việc sử dụng Internet diễn ra phổ biến ở cả thanh thiếu niên sống ở thành thị và thanh thiếu niên ở nông thôn với tỷ lệ lần lượt là 50%
và 13% Phần lớn cho biết họ sử dụng Internet để trò chuyện chiếm 69% và
62% chơi trò chơi trực tuyến [13] Nghiên cứu tại Đồng Nai năm 2011 của
tác giả Lê Minh Công cho thấy có tỷ lệ khoảng 12,3% học sinh THCS
nghiện Internet ở các cấp độ [4] Đề tài “Tương quan giữa mức độ sử dụng
Internet và các vấn đề về sức khỏe tâm thần ở học sinh Trung học cơ sở” năm
2013 của Nguyễn Thị Phương cho thấy có khoảng 10% học sinh THCS sử dụng Internet thường xuyên [13] Nghiên cứu của Trần Xuân Bách và cộng sự (2017) trên 566 người từ 15 đến 25 tuổi cho thấy có 21,2% được chẩn đoán là nghiện Internet [111] Như vậy có thể thấy rằng việc sử dụng Internet quá mức tại Việt Nam có xu hướng ngày càng tăng
Đã có nhiều nghiên cứu thế giới chỉ ra rằng việc lạm dụng Internet là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, mối quan hệ, các rối loạn sức khỏe tâm thần [51][33][38][107][73][80] Tuy vậy, các nghiên cứu chỉ tập trung vào mức độ lạm dụng Internet và đưa ra các ảnh hưởng của nó đến vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung, chưa đi sâu vào các
Trang 10thường là những đối tượng riêng lẻ như: học sinh THCS, sinh viên ở các trường đại học - cao đẳng, người trưởng thành…chưa có đánh giá và so sánh thực tế giữa các nhóm đối tượng cụ thể với nhau như: học sinh THCS với THPT hay giữa các khu vực, vùng miền
Với những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài “Mối liên quan giữa mức độ sử dụng internet với trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh trung học” Nghiên cứu nhằm góp phần tìm hiểu việc sử dụng Internet của học sinh
và mối liên hệ của việc sử dụng này với các vấn đề về trầm cảm, lo âu, stress
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng Internet theo các mức độ của học sinh; Đánh giá về các mối quan hệ tiềm ẩn giữa việc sử dụng Internet với các vấn đề về trầm cảm, lo âu và stress ở học sinh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Nhiệm cụ nghiên cứu lý luận
- Đọc và tìm hiểu cơ sở lý luận về nghiện Internet; tổng quan nghiên cứu về Internet với các vấn đề về trầm cảm, lo âu và stress ở các nhóm đối tượng
- Xây dựng các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài: sử dụng Internet là gì? Biểu hiện các vấn đề trầm cảm, lo âu, stress là gì?
2.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Tìm hiểu thực trạng, mức độ sử dụng internet hiện nay của học sinh trường trung học và ảnh hưởng của việc sử dụng internet đến các vấn đề trầm cảm, lo âu và stress của học sinh
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mối liên quan giữa mức độ sử dụng internet với vấn đề trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh trường trung học
Trang 113.2 Khách thể nghiên cứu
Học sinh THCS và THPT trên địa bàn 2 tỉnh Khánh Hòa và thành phố
Đà Nẵng
4 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng sử dụng internet ở học sinh trung học trên địa bàn 2 tỉnh Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng là như thế nào?
Mức độ sử dụng internet và điểm số lo âu, trầm cảm, stress có mối liên
hệ với nhau như thế nào?
5 Giả thuyết nghiên cứu
Học sinh THCS và THPT trên địa bàn 2 tỉnh Khánh Hòa và thành phố
Đà Nẵng thường xuyên sử dụng internet Có một tỉ lệ không nhỏ đáp ứng dấu hiệu nghiện internet
Mức độ sử dụng internet và điểm số lo âu, trầm cảm, stress có tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp này được sử dụng để khai thác và tìm kiếm các nguồn tài liệu, bao gồm sách báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam nhằm thu thập các thông tin về vấn đề sử dụng internet, nghiện internet và mối liên hệ giữa việc sử dụng internet với các vấn đề về trầm cảm,
lo âu, stress để làm nền tảng lý luận cho đề tài
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng để thu thập và đánh giá thực trạng việc sử dụng internet cũng như bảng hỏi về các vấn đề trầm cảm, lo âu, stress ở học sinh, cụ thể:
+ Sử dụng bằng trắc nghiệm mức độ sử dụng Internet s-IAT (phiên bản rút gọn) do Trần Xuân Bách và cộng sự (2017) thích nghi tại Việt Nam với 12
Trang 12+ Thang đo về trầm cảm, lo âu, stress: Dass – 21 (Depression Anxiety and Stress Scales) [83]
6.3 Phương pháp xử lý số liệu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phần mềm thống kê SPSS để
sử lý kết quả nghiên cứu, nhằm xác định độ tin cậy, độ mạnh của mối liên hệ giữa mức độ sử dụng Internet với các vấn đề về trầm cảm, lo âu, stress
7.2 Mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu là 562 học sinh được chọn ngẫu nhiên từ 4 trường THCS và 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục khác, nội dung chính của luận văn sẽ được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
1.1.1.1 Thực trạng chung về sử dụng Internet, nghiện Internet
Các nghiên cứu trên thế giới đã được tiến hành tìm kiếm, thống kê số lượng, tỷ lệ sử dụng Internet, nghiện Internet
Nghiên cứu đầu tiên có quy mô là nghiên cứu của David Greenfield (Trung tâm nghiện Internet và công nghệ Hoa Kỳ) vào năm 1999 với một bảng khảo sát chạy trên ABCNews.Com với 17.251 người tham gia trả lời câu hỏi, và trong đó có khoảng 6% người đủ tiêu chuẩn nghiện Internet [54]
Tại Hoa Kỳ, Moreno và cộng sự (2011) đã sử dụng các ứng dụng tìm kiếm như: PubMed, PsycINFO và Web of Knowledge từ khi thành lập đến tháng 7 năm 2010 Kết quả tìm kiếm mang lại 658 bài viết, trong đó có 18 nghiên cứu, 8 báo cáo ước tính tỷ lệ nghiện Internet ở thanh thiếu niên và sinh viên dao động từ 0% đến 26,3% [89]
Kaess và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu tỷ lệ nghiện Internet tại 11 quốc gia khu vự châu Âu với tuổi trung bình là 14.9, kết quả cho thấy khoảng 4.4% được đánh giá là nghiện Internet [62] Một nghiên cứu khác được tiến hành trên 31 quốc gia thuộc 7 khu vực trên thế giới cho thấy ước tính tỷ lệ nghiện Internet là 6.0%, cao nhất là ở Trung Đông với 10,9% và thấp nhất là ở Bắc và Tây Âu với 2,6% [36]
Gần đây nhất, Laconi và cộng sự (2018), đã tiến hành nghiên cứu việc
sử dụng Internet tại 9 quốc gia châu Âu gồm Ý, Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hungary, Hy Lạp và Anh, với độ tuổi từ 18 đến 87, kết quả cho thấy tỷ lệ nghiện dao động trong khoảng 14,3% đến 54,9% [74]
Trang 14Spada và cộng sự (2014) đã mô tả mức độ phổ biến của việc sử dụng Internet có vấn đề, nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt theo từng khu vực,
tỷ lệ sử dụng Internet có vấn đề là 1,0 đến 9,0% ở thanh thiếu niên châu Âu, 1,0 đến 12,0% ở thanh thiếu niên Trung Đông và 2,0 đến 18,0% ở thanh thiếu niên châu Á [103]
Tại khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu của Yatan Pal Singh Balhara và cộng sự (2018), dựa trên các cơ sở dữ liệu điện tử của PubMed và Google Scholar được công bố có liên quan đến việc sử dụng Internet Kết quả cho thấy tỷ lệ lạm dụng Internet/ nghiện Internet có thể dao động từ 7,4% đến 46,4% [25]
Martin Mihajlov & Lucija Vejmelka (2017) trong báo cáo tóm tắt các nghiên cứu về nghiện Internet trong vòng 20 năm bắt đầu từ 1996 cho thấy, tỷ
lệ người nghiện Internet trên toàn thế giới khoảng 6% [85]
1.1.1.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng Internet ở thanh thiếu niên
Tại Mỹ, Liu và cộng sự (2011) nghiên cứu trên 3.560 học sinh châu Á
và gốc Tây Ba Nha tại các trường trung học ở Connecticut Kết quả cho thấy: 4% học sinh thuộc nhóm sử dụng internet có vấn đề [82]
Nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ năm (2013) về sử dụng Internet với 4311 thanh thiếu niên độ tuổi từ 15 đến 19, kết quả cho thấy 5% thanh thiếu niên được chẩn đoán là sử dụng Internet quá mức [21]
Aysegul Yolga Tahiroglu, M.D và cộng sự nghiên cứu trên 3975 thanh thiếu niên Thổ Nhĩ Kỳ đã phát hiện có 7,6% sử dụng internet trên 12 tiếng mỗi tuần [23]
Ở Ý, nghiều nghiên cứu về sử dụng Internet đã được thực hiện Milani
và cộng sự (2009) tìm thấy 36,7% thanh thiếu niên tuổi từ 14–19 có dấu hiệu
sử dụng Internet có vấn đề [88] Nghiên cứu của Poli, R., & Agrimi, E (2012) nghiên cứu trên 2533 học sinh cho thấy 5,01 % nghiện ở mức vừa phải, 0,79
% nghiện ở mức nghiêm trọng [99] Gần đây, Bruno và cộng sự (2014) tiến
Trang 15hành nghiên cứu 1035 học sinh trung học Kết quả cho thấy 3,9% được chẩn đoán là nghiện Internet [30]
Siomos và cộng sự (2012) tiến hành một nghiên cứu cắt ngang của toàn
bộ 2017 học sinh từ 12-19 tuổi và 1214 cha mẹ ở đảo Kos, Hy Lạp Kết quả 15,2% được chẩn đoán nghiện Internet ở mức độ nặng, 26,9% nghiện ở mức vừa phải [102]
Fisoun và cộng sự (2012) tiến hành một cuộc khảo sát cắt ngang đánh giá toàn bộ số học sinh vị thành niên (N = 1270, 14–18 tuổi) của đảo Kos ở
Hy Lạp Kết quả cho thấy: 5,3% nghiện Internet ở mức vừa phải và 14,7% nghiện Internet ở mức nặng [47] Cũng trên nhóm đó, nghiên cứu khác chỉ ra rằng 7.2% nam và 5.1% nữ nghiện Internet [48]
Tại Hy Lạp, các nhà khoa học báo cáo có khoảng 8,2% thanh thiếu niên ở đô thị được đánh giá là nghiện Internet, trong đó chủ yếu là các em trai [71]
Johansson và cộng sự (2004) nghiên cứu trên mẫu đại diện là 3237 thanh thiếu niên, độ tuổi từ 12 đến 18 tuổi tại Na Uy Kết quả cho thấy tỷ lệ trung bình được chẩn đoán nghiện Internet là 1,98%; 8,68% có nguy cơ cao nghiện Internet [61]
Kaltiala-Heino và cộng sự (2004) nghiên cứu trực tuyến trên 7292 thanh thiếu niên tại Phần Lan, độ tuổi từ 12 đến 18 cho thấy 1,7% nam và 1,4% nữ được đánh giá nghiện Internet, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người nghiện Internet đã dành nhiều thời gian trực tuyến nhiều hơn người không nghiện (2,7 với 1,3) [63] Một nghiên cứu khác, cho thấy có khoảng 4,7% nữ và 4,6% nam trên cộng đồng thanh thiếu niên từ 12 - 18 tuổi đủ tiêu chuẩn của nghiện Internet (Cooper, 2002)
Kuss và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 3105 thanh thiếu niên với độ tuổi trung bình là 14.2 ở Hà Lan cho thấy 3,7% được phân loại là nghiện
Trang 16chơi trực tuyến (các trang web mạng xã hội trực tuyến và Twitter) là yếu tố làm tăng nguy cơ nghiện Internet [72]
Carbonell X và cộng sự (2012) nghiên cứu trên 1879 thanh thiếu niên ở Tây Ban Nha Kết quả cho thấy 6.1% có vấn đề với việc sử dụng Internet, không có khác biệt về giới tính với vấn đề sử dụng Internet [34]
Gomez và cộng sự (2017) tiến hành nghiên cứu trên 40955 học sinh trong độ tuổi từ 12 đến 17 ở Tây Ba Nha Kết quả cho thấy cho thấy khoảng 16,3% được chẩn đoán là nghiện Internet [52]
Nghiên cứu tại Đức năm 2010, cho thấy: 1,5 % - 3,5% thanh thiếu niên
có dấu hiệu nghiện internet hoặc sử dụng quá mức [98]
Nghiên cứu tại Croatia (2017) trên 352 thanh thiếu niên tại 9 trường trung học Kết quả cho thấy 3,4% được chẩn đoán là nghiện Internet [115]
Nghiện Internet cũng đang được báo cáo như là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại các quốc gia châu Á Ở Trung Quốc, có khoảng 2,4% đến 6,0% thanh thiếu niên có dấu hiệu nghiện Internet [32] Những nghiên cứu gần đây về nghiện Internet (Cui, Zhao, Wu & Xu, 2006, ) cho thấy có khoảng từ 9,72% đến 11,06% thanh thiếu niên Trung Quốc có biểu hiện nghiện Internet [41]
Cao và cộng sự (2011) thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên 17599 thanh thiếu niên tại 8 thành phố ở Trung Quốc với độ tuổi trung bình 16,1 Kết quả cho thấy 8,1% được đánh giá là sử dụng Internet có vấn đề [33]
Wang và cộng sự (2011) tiến hành nghiên cứu trên 14296 học sinh tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Kết quả cho thấy 12,2% học sinh được chẩn đoán là sử dụng Internet có vấn đề [117] Một nghiên cứu khác được tiến hành năm 2013 trên 10.988 thanh thiếu niên đến từ 9 thành phố khác nhau ở Trung Quốc, với độ tuổi từ 13 đến 23 Kết quả cho thấy: 7,5% được đánh giá
là nghiện Internet [118]
Trang 17Lam và cộng sự (2009) nghiên cứu trên 1618 học sinh từ 13 đến 18 tuổi tại thành phố Quảng Châu, Trung Quốc Kết quả cho thấy, 10,2% học sinh sử dụng Internet ở mức độ vừa phải, 0,6% là nghiện Internet [76]
Guo và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang với 3254 trẻ
từ 8-17 tuổi tại Trung Quốc Kết quả cho thấy: 3,7% trẻ em ở nông thôn, 6,4% trẻ em di cư, 3,2% trẻ em bị bỏ rơi được chẩn đoán nghiện Internet [56]
Gong và cộng sự (2009) tiến hành nghiên cứu trên 3018 học sinh (47% nam, 53% nữ), từ 15 trường trung học và một trường đại học với độ tuổi từ 11- 23 ở Vũ Hán, Trung Quốc Kết quả cho thấy: tỷ lệ nghiện Internet được chẩn đoán là 5% [53]
Nghiên cứu của Xu J và cộng sự (2012) trên 5.122 thanh thiếu niên được chọn ngẫu nhiên từ 16 trường trung học thuộc các loại trường học khác nhau ở Thượng Hải Kết quả cho thấy: 8,8% được xác định là người nghiện internet [121]
Kim và cộng sự (2006) nghiên cứu trên 1573 học sinh ở Hàn Quốc, tuổi
từ 15 đến 16 Kết quả cho thấy, 1,6% được chẩn đoán là người nghiện Internet, trong khi 38,0% có thể được phân loại là người nghiện Internet [65]
Choi và cộng sự (2009) nghiên cứu trên 2336 học sinh trung học ở Hàn Quốc (nam, 57,5%; nữ, 42,5%) Kết quả cho thấy tỷ lệ nghiện Internet và nghiện Internet có thể xảy ra: 2,5% và 53,7% với nam; 1,9% và 38,9% với nữ [38]
Sung và cộng sự (2013), đã tiến hành khảo sát trực tuyến về dựa trên hành vi rủi ro của thanh thiếu niên Hàn Quốc với 73.238 thanh thiếu niên tham gia Kết quả cho thấy: 11.9% được đánh giá có nguy cơ nghiện Internet, 3.0% được đánh giá nghiện internet [106]
Tại Nhật Bản, nghiên cứu trên 853 học sinh từ 12 đến 15 tuổi cho thấy khoảng 2% được chẩn đoán là nghiện Internet [64] Gần đây, một cuộc khảo
Trang 18sát dịch tễ học lớn của Morioka và cộng sự (2016) đã báo cáo rằng tỷ lệ sử dụng Internet có vấn đề ở học sinh là 8,1% [90]
Shek và cộng sự (2012) tiến hành khảo sát theo chiều dọc tại 28 trường trung học ở Hồng Kông, được đánh giá 2 lần/năm, mẫu lần 1 là: 3328 học sinh, lần 2: 3580 học sinh Kết quả cho thấy lần 1 có: 26,4% được chẩn đoán nghiện Internet, lần 2: 26,7% được chẩn đoán là nghiện Internet Nghiên cứu cũng cho thấy những học sinh được chẩn đoán nghiện Internet ở lần 1 có khả năng nghiện Internet cao hơn 7,55 lần so với học sinh được chẩn đoán nghiện Internet ở lần 2 [101]
Tại Đài Loan, nhiều tác giả nghiên cứu cho thấy có khoảng từ 10,8% đến 23,4% học sinh được chẩn đoán là nghiện Internet [68][69] [70] [123] [124] [79] [125] [81]
Nghiên cứu tại Qatar (2013) trên 1624 học sinh từ 12-18 tuổi Kết quả cho thấy: Tỷ lệ nghiện Internet là 19,8% [27]
Tại Ấn Độ, Goel D và cộng sự (2013) nghiên cứu trên 987 thanh thiếu niên ở Ấn Độ với độ tuổi trung bình 16,82 Kết quả cho thấy 0,7% được chẩn đoán nghiện internet [50]
Một nghiên cứu tại Singapore trên 2735 thanh thiếu niên, độ tuổi trung bình là 13,9 Kết quả cho thấy: 17,1% thanh thiếu niên báo cáo sử dụng nó trong hơn 5 giờ mỗi ngày và được đánh giá là sử dụng Internet quá mức [92]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia với với khoảng xấp xỉ 93.6 triệu dân [120], đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á và thứ 14 thế giới Tỷ lệ người dùng Internet đã tăng lên đáng kể, chẳng hạn như đến tháng 1 năm 2017, Việt Nam có 50.05 triệu người dùng Internet chiếm 53% dân số, và tỷ lệ tăng là 6% so với năm
2016 Tỷ lệ người sử dụng Internet ở Việt Nam được xem là ở mức cao trên thế giới với 46 triệu người dùng mạng xã hội, chiếm 48% dân số [44]
Trang 19Khoảng 83% sinh viên chơi trò chơi trực tuyến khi truy cập Internet theo báo cáo của nhóm tác giả tại Trung tâm nghiên cứu Phụ Nữ (ĐH Quốc Gia Hà Nội) Nghiên cứu cho thấy người dùng phải đối mặt với các vấn đề về nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi khi chơi trò chơi trực tuyến Tuy vậy, đa phần phụ huynh không quan tâm đến những ảnh hưởng tiêu cực mà trò chơi trực tuyến mang đến cho trẻ [8]
Báo cáo của Hồ Thị Luyến, Viện Nghiên cứu phát triển Tp.HCM (2007) cho thấy nghiện game online đang trở thành hiện tượng cần phải được cảnh báo đến xã hội, khi các em chơi game online không chỉ đơn thuần giải trí mà dần cho thấy sự lệ thuộc vào trò chơi dẫn đến không tự điều chỉnh được thói quen chơi trò chơi trực tuyến của mình Hậu quả là kết quả học tập bị ảnh hưởng cùng với các vấn đề tâm lý xã hội khác [11]
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2008) cho rằng nguyên nhân nghiện game thường là do thiếu quan tâm của gia đình, lôi kéo của bạn bè cùng với sự hấp dẫn của các loại hình Game online Những tác động đã được tác giả liệt kê như vấn đề hành vi học tập, sức khỏe, giờ giấc sinh hoạt, đạo
đức của học sinh trong và sau khi chơi game [16]
Lê Minh Công (2009, 2010) gợi ý rằng, Internet đã thực sự trở thành yếu tố gây nghiện như là cá c l o ại hình nghiện truyền thống khác và xảy
ra ở nhiều lứa tuổi khác nhau Bên cạnh đó còn có xuất hiện đồng bệnh với nhiều rối loạn sức khỏe tâm thần khác, đặc biệt là trầm cảm và rối loạn lo âu đối với người lạm dụng internet nên việc điều trị cho nhóm này là một vấn đề khó khăn và cần phải sử dụng đa trị liệu Điều này không chỉ được phát hiện ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới [3][4][5]
Lê Minh Công (2011) đã tiến hành nghiên cứu về thực trạng nghiện Internet ở các em học sinh thuộc khối THCS tại Đồng Nai Kết quả cho thấy: có khoảng 12,3% được đánh giá là nghiện Internet theo các cấp độ
Trang 20Đồng thời, những học sinh bị nghiện internet ở mức độ vừa và nhẹ có đáp ứng đáng kể sau khi được trị liệu nhận thức hành vi (CBT) [5]
Do đặc thù, Internet trở thành nguồn cung cấp thông tin tình dục, giới tính, là nơi thanh thiếu niên có thể hẹn hò, nảy sinh cảm xúc và tình yêu và là yếu tố tác động đến nhân dạng và hành vi tình dục ở thanh thiếu niên Việt Nam [93]
Đề tài “Khảo sát xã hội về dịch vụ trò chơi trực tuyến ở Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế ” (2010) của Viện xã hội học do TS Trịnh
Hòa Bình làm chủ nhiệm được thực hiện trên phạm vi 6 tỉnh, thành Hà
Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai và Hải Dương với 1.320 người tham gia Theo kết quả khảo sát, mức độ chơi game online phụ thuộc vào nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi Cụ thể, lứa tuổi 16-20%, nhóm tuổi đã
có khả năng nhận thức đầy đủ về các hành vi của mình, có số lượng tham gia nhiều nhất với 42 Tiếp đến là nhóm tuổi 10-15 chiếm 26,3%; trong khi nhóm tuổi từ 26-30 chỉ chiếm 9,5% số người được hỏi Báo cáo này cũng cho biết, 34% người chơi game online với tần suất hàng ngày; 25% số người chơi với tần suất 3-4 lần/tuần; tỷ lệ người trả lời chơi ở mức độ một vài lần trong tháng chiếm tỷ lệ không đáng kể Nhóm nghiên cứu cho rằng nếu căn
cứ theo tiêu chí của WHO thì tỷ lệ người có dấu hiệu “nghiện” game online chỉ 5,2%; trong khi 69,3% không có các biểu hiện nào của tiêu chuẩn nghiện [2]
Đề tài “Tương quan giữa mức độ sử dụng Internet và các vấn đề về
sức khỏe tâm thần ở học sinh Trung học cơ sở” năm 2013 của Nguyễn Thị
Phương cho thấy có khoảng 10% học sinh THCS sử dụng Internet thường xuyên Nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ sử dụng Intrernet có tương quan với các vấn đề về sức khỏe tâm thần như: trầm cảm, lo âu, hành vi hung tính….[13]
Trang 21Đề tài “Nghiện Internet và chất lượng giấc ngủ của thanh thiếu niên
Việt Nam” năm 2017 do Trần Xuân Bách và cộng sự cho thấy có khoảng
21,2% người tham gia được chẩn đoán là nghiện Internet [111]
1.2 Nghiên cứu về mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet với trầm cảm,
Choi K và cộng sự (2009) nghiên cứu trên 2336 học sinh trung học ở Hàn Quốc cho thấy những người nghiện Internet gặp các vấn đề liên quan đến giấc ngủ (37,7%) [38] Theo thống kế, ở Hàn Quốc năm 2007 đã có 10 trường hợp đột tử do gián đoạn tuần hoàn máu vì ngồi chơi game quá lâu [20]
Cao H và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang để ước tính tỷ lệ sử dụng Internet có vấn đề và mối liên hệ của nó với các triệu chứng tâm lý và sự hài lòng cuộc sống giữa các thanh thiếu niên ở Trung Quốc đại lục Kết quả cho thấy: so với người dùng internet bình thường, thanh thiếu niên sử dụng internet có nhiều khả năng bị các triệu chứng tâm thần (p
<0,001), bao gồm thiếu năng lượng, rối loạn sinh lý, suy giảm miễn dịch, triệu chứng cảm xúc, triệu chứng hành vi và các vấn đề thích ứng xã hội Nghiên cứu kết luận rằng có mối liên hệ đáng kể giữa việc sử dụng internet có vấn đề
và các triệu chứng tâm thần [33]
Koyuncu và cộng sự (2014) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang về đánh giá nghiện internet và sự cô đơn giữa học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông ở Anatolia, Thổ Nhĩ Kỳ tuổi từ 11 đến 19 Kết quả cho thấy:
Trang 22nhẫn; lần đầu tiên sử dụng internet trước 12 tuổi; sử dụng internet mỗi ngày
và sử dụng internet hơn 2 giờ mỗi ngày là các yếu tố nguy cơ gây nghiện internet (p <0,05) Một mối tương quan tích cực đã được tìm thấy giữa nghiện internet và sự cô đơn (rs = 0.121; p <0,001) [73]
Lin I.H và cộng sự, (2014) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang về mối tương quan giữa ý tưởng tự tử và tự sát với nghiện internet ở nhóm từ 12-
18 tuổi ở Đài Loan Nghiên cứu cho thấy nghiện internet có liên quan đáng kể với ý tưởng tự sát và tự sát, thanh thiếu niên nghiện internet có nguy cơ cao
về ý tưởng tự sát hơn những người không có nghiện internet [80]
Ozturk C và cộng sự (2015) đã tiến hành một nghiên cứu mô tả cắt ngang để phân tích các đặc điểm tính cách và nghiện internet của 328 thanh thiếu niên theo học hai trường trung học ở vùng Aegean của Thổ Nhĩ Kỳ Nghiên cứu xác định rằng những học sinh có tính cách cởi mở, có trải nghiệm
có nguy cơ nghiện Internet gấp 1,79 lần với nhóm khác [95]
Ngoài ra, việc sử dụng Internet quá mức của thanh thiếu niên đã được tìm thấy làm trầm trọng thêm các hành vi chống đối xã hội (di Gennaro & Dutton, 2007) [43]
Zhang và cộng sự (2017), nghiên cứu trên 566 học sinh, độ tuổi từ 15 đến 25 cho thấy những người được chẩn đoán là nghiện Internet có khoảng 26,7% gặp khó khăn liên quan đến giấc ngủ, 77,2% đã phải tìm kiếm các dịch
đề và trầm cảm, 57% sử dụng Internet có vấn đề và rối loạn lo âu, 100% sử
Trang 23dụng Internet có vấn đề và vấn đề tăng động giảm tập trung và 60% sử dụng Internet có vấn đề với các triệu chứng ám ảnh cưỡng chế, ám ảnh xã hội và 66% sử dụng Internet có vấn đề với thái độ thù địch/ hành vi xâm kích [35]
Kim and cộng sự (2006), nghiên cứu về mối quan hệ nghiện Internet với trầm cảm và ý tưởng tự sát trên 1573 thanh thiếu niên Hàn Quốc Kết quả cho thấy, 1,6% được chẩn đoán là nghiện Internet, 38% được phân loại là có thể nghiện Internet Tỷ lệ nghiện Internet không thay đổi theo giới tính Mức
độ trầm cảm và ý tưởng tự tử là cao nhất trong nhóm nghiện Internet Nghiên cứu lưu ý rằng nghiện Internet có liên quan đến trầm cảm và hành vi tự sát [65]
Yen CF và cộng sự (2007) đã tiến hành một nghiên cứu mô tả về mức
độ nghiêm trọng của các triệu chứng nghiện internet với các triệu chứng lo âu, trầm cảm và lòng tự trọng trong thanh thiếu niên với rối loạn chú ý/ tăng động (ADHD) ở thanh thiếu niên ở Đài Loan Nghiên cứu cho thấy: các vấn đề lo
âu, trầm cảm và lòng tự trọng có liên quan đáng kể với các triệu chứng nghiện internet [123]
Lam L.T và cộng sự (2009) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang dựa trên mẫu dân số là các học sinh trung học từ 13 – 18 tuổi tại Quảng Châu về các yếu tố liên quan đến nghiện internet Kết quả nghiên cứu cho thấy các vấn
đề liên quan đến stress có liên quan đến việc nghiện internet [76]
Bakken và cộng sự (2009), nghiên cứu về mức độ sử dụng Internet trên
3399 người tại Na Uy trên nhóm tuổi từ 17 đến 74 Nghiên cứu chỉ ra rằng: nghiện Internet có liên quan đến thời gian trực tuyến, các rối lọan về giấc ngủ, trầm cảm và các vấn đề tâm lý khác [24]
Weinstein và cộng sự (2010) đã tiến hành cuộc điều tra ở Mỹ và Châu
Âu, kết quả cho thấy tỷ lệ từ 1,5 % đến 8,2% được chẩn đoán là nghiện Internet Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nghiện Internet có quan hệ với các rối
Trang 24loạn tâm thần, bao gồm: rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn tăng động giảm chú ý [109]
Ha JH và cộng sự (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa trầm cảm và nghiện Internet trong thanh thiếu niên tại Hàn Quốc Nghiên cứu này cho thấy một mối liên hệ đáng kể giữa nghiện Internet và các triệu chứng trầm cảm ở thanh thiếu niên [57]
Một nghiên cứu được thực hiện bởi Sara Thomée Mats Eklöf và cộng
sự (2007) đã đánh giá liệu số lượng thông tin và công nghệ truyền thông (ICT) cao có phải là yếu tố nguy cơ phát triển các triệu chứng tâm lý trong giới trẻ hay không Kết quả cho thấy rằng gửi thư điện tử và trò chuyện trực tuyến có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm [110]
Năm 2010, Morrison C.M Gore đã khám phá khái niệm nghiện Internet và kiểm tra mối quan hệ giữa các triệu chứng gây nghiện và trầm cảm Một bảng câu hỏi trực tuyến được sử dụng để đo lường việc sử dụng Internet của người tham gia, các chức năng mà họ sử dụng Internet và các khuynh hướng trầm cảm của họ Kết quả cho thấy nghiện Internet có liên quan đến trầm cảm [91]
TtuncaAy và cộng sự (2010) đã nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ nghiện internet lên trầm cảm, cô đơn và lòng tự trọng của học sinh trung học Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực, trung bình và có ý nghĩa với nghiện internet đã xuất hiện khi các biến trầm cảm, cô đơn và kém tự tin được xem xét cùng nhau [114]
Mashhor N.Al-hantoushi, Saad H Al-abdullateef (2013) tiến hành nghiên cứu trên 716 học sinh trung học, từ 15 đến 18 tuổi tìm hiểu về mối liên
hệ giữa nghiện Internet với trầm cảm Kết quả cho thấy nghiện Internet có liên quan đến việc giảm hoạt động ở trường, kết quả học tập giảm sút, sử dụng internet nhiều hơn, mức độ kiểm soát của cha mẹ thấp hơn và mức độ trầm cảm cao hơn [86]
Trang 25Subramanyam A và cộng sự (2013) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang về tỷ lệ nghiện internet và các vấn đề về tâm lý trên 681 học sinh nữ,
306 học sinh nam, độ tuổi trung bình 16,82 Kết quả cho thấy, những học sinh
sử dụng internet quá mức gặp các vấn đề liên quan đến rối loạn lo âu và trầm cảm [105]
Yadav P và cộng sự (2013) đã tiến hành một nghiên cứu sơ bộ trên internet nghiện và tương quan của nó với các đặc điểm giáo dục - xã hội, kiểu
sử dụng internet và các biến tâm lý cụ thể là trầm cảm, lo âu và căng thẳng trong số 552 học sinh khối 11 và 12 của sáu trường trung học ở Ahmedabad,
Ấn Độ tham gia vào nghiên cứu Kết quả cho thấy có mối tương quan thuận mạnh mẽ giữa nghiện internet và trầm cảm, lo âu, căng thẳng [122]
Tang J và cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu ngẫu nhiên với 755 học sinh là người dùng Internet ở Vũ Hán, Trung Quốc để đánh giá tỷ lệ nghiện internet và sự liên kết của nó với các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống và triệu chứng tâm lý Phân tích hồi quy cho thấy vấn đề liên quan đến
cá nhân, vấn đề liên quan đến trường học và các triệu chứng lo âu là liên quan đáng kể với nghiện internet [107]
Lai và cộng sự (2015) tiến hành khảo sát về hành vi rủi ro trên 5366 thanh thiếu niên ở độ tuổi từ 12 đến 18 tại 6 quốc gia Châu Á (Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines) đã tìm thấy mối liên
hệ đáng kể giữa nghiện Internet với lo âu xã hội và trầm cảm [75]
Park S và cộng sự (2013) đã tiến hành một nghiên cứu mô tả trên 795 học sinh ở Hàn Quốc về mối liên hệ giữa việc sử dụng internet có vấn đề với trầm cảm, ý tưởng tự tử và các triệu chứng rối loạn lưỡng cực Nghiên cứu kết luận rằng: việc sử dụng internet có vấn đề có liên quan đáng kể đến ý tưởng
tự tử, trầm cảm và rối loạn lưỡng cực Phân tích hồi quy cho thấy: sử dụng internet có vấn đề cũng dự đoán đáng kể các triệu chứng trầm cảm; dự đoán ý
Trang 26tưởng tự tử Ngược lại, các triệu chứng trầm cảm và ý tưởng tự tử cũng dự đoán việc sử dụng internet có vấn đề [96]
Jang K.S và cộng sự (2008) đã tiến hành một nghiên cứu về các yếu tố liên quan với nghiện internet và xem xét các triệu chứng tâm thần ở thanh thiếu niên ở Seoul, Hàn Quốc với 912 học sinh tham gia Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy rằng việc dành thời gian sử dụng Internet quá lâu có liên quan đáng kể với nghiện Internet Nghiên cứu kết luận rằng có một mối liên hệ đáng kể giữa nghiện internet và các triệu chứng tâm thần là triệu chứng ám ảnh cưỡng bức và trầm cảm [60]
Fu K.W và cộng sự (2010) đã tiến hành một nghiên cứu trong vòng 1 năm được chia làm 2 lần với mục đích kiểm tra thực trạng nghiện internet, đánh giá sự tương quan của nó với các triệu chứng của nghiện internet, ý tưởng tự tử, triệu chứng tâm thần trên 208 thanh thiếu niên, tuổi từ 15-19, ở Hồng Kông, Trung Quốc Nghiên cứu kết luận rằng nghiện internet và các triệu chứng liên quan đến ý tưởng tự sát và trầm cảm của cá nhân [49]
Cheung L.M và cộng sự (2011) đã tiến hành một nghiên cứu trên 719 thanh thiếu niên với độ tuổi trung bình 14,7 về ảnh hưởng của chứng mất ngủ, nghiện internet và trầm cảm ở trẻ vị thành niên ở Hồng Kông Kết quả cho thấy có 51,7% thanh thiếu niên có vấn đề về mất ngủ Bên cạnh đó nghiên cứu cho thấy nghiện internet và chứng mất ngủ nổi lên như các yếu tố giải thích đáng kể, gây ảnh hưởng lên vấn đề trầm cảm [37]
Ostovar và cộng sự (2016) tiến hành nghiên cứu trên 1052 thanh thiếu niên tại Iran về mối quan hệ giữa Nghiện Internet với stress, trầm cảm, lo âu Kết quả cho thấy Nghiện Internet là một yếu tố dự báo về stress, trầm cảm, lo
âu và cô đơn, có sự khác biệt về mức độ trầm cảm, lo âu, stress giữa nam và
nữ [94]
Li JB và cộng sự (2017) nghiên cứu trên 1015 học sinh trung học ở Trung Quốc cho thấy có 23,5% học sinh được chẩn đoán gặp vấn đề về trầm
Trang 27cảm ở mức độ vừa, 13,4% có vấn đề trầm cảm ở mức nghiêm trọng Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mất ngủ là yếu tố trung gian làm tăng nguy cơ trầm cảm
ở người nghiện Internet [78]
Nghiên cứu của Trần Xuân Bách và cộng sự (2017) trên 566 học sinh
độ tuổi từ 15 đến 25 cho thấy: Những người được đánh giá là nghiện Internet
có nhiều khả năng gặp vấn đề với việc tự chăm sóc bản thân, khó thực hiện thói quen hàng ngày, bị đau và khó chịu, lo âu và trầm cảm [111]
1.3 Một số vấn đề lý luận về Internet
1.3.1 Khái niệm Internet
Internet được thành lập vào đầu những năm 1960 và sau đó trở thành phương tiện truyền thông chính thống (Moschovitis, Polle, Schuyler, & Senft, 1999; Schneider và cộng sự, 2006) Kể từ thời điểm đó, đã có sự tăng trưởng đáng kể trong chức năng, khả năng, khả năng truy cập và thuận tiện của Internet Những cải tiến này đã khuyến khích nhiều người sử dụng nó thường xuyên hơn và nó đã trở nên mạnh mẽ ứng dụng trong xã hội hiện đại Người
ta tin rằng các tính năng đặc biệt của Internet, chẳng hạn như tốc độ, khả năng tiếp cận, cường độ và kích thích nội dung của nó, góp phần vào nghiện Internet (Greenfield, 1999) [54] Ngoài ra, Chou (2001) chỉ ra rằng các tính năng Internet được đánh giá cao nhất bao gồm tương tác, đơn giản, sẵn có, và thông tin phong phú và cập nhật Trên thực tế, sự hấp dẫn của Internet đã tăng lên nhờ vào tính khả dụng, khả năng tiếp cận và khả năng chi trả của Internet Việc phát triển các giao diện thân thiện cung cấp cho người dùng quyền truy cập dễ dàng hơn và thoải mái hơn [39] Tính đến năm 2017, 48% dân số thế giới đã sử dụng dịch vụ Internet (Liên minh viễn thông thế giới (ITU) 2017a)
Internet là một hệ thống mạng được liên kết với máy tính lớn được sử dụng trên toàn cầu truy cập và truyền đạt thông tin, bởi người dùng máy tính
Trang 28giải trí, giáo dục và giao dịch kinh doanh (Kraut, et al., 1998; Schneider, et al., 2006) Ngày nay, Internet có thể liên kết tất cả các máy tính trực tuyến để mọi người có thể sử dụng nó để giao tiếp trên khắp thế giới (Schneider và cộng sự, 2006)
Những tác dụng của việc sử dụng Internet:
- Truy cập một “thư viện” khổng lồ của thông tin từ hàng triệu trang web trên toàn thế giới tạo nên World Wide Web;
- Trao đổi tin nhắn email
- Chia sẻ hình ảnh và video clip với bạn bè và gia đình của bạn
- Mua hàng hóa và dịch vụ (và thường tiết kiệm tiền !)
- Sử dụng các dịch vụ trực tuyến (ngân hàng)
- Sử dụng ứng dụng để gọi điện miễn phí cho người dùng máy tính khác (ví dụ : Skype)
- Chơi trò chơi với những người khác trực tuyến
- Bắt kịp các chương trình truyền hình và radio mà bạn đã bỏ lỡ - hoặc xem lại
- Học một cái gì đó mới với một khóa học trực tuyến [129]
1.3.2 Khái niệm mức độ sử dụng Internet
Tại Mỹ, một nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này là Tiến sĩ Kimberley Young, người lần đầu tiên xuất bản một nghiên cứu điển hình về một phụ nữ 43 tuổi nghiện email (Young 1996) Tiếp theo là nghiên cứu nghiện Internet đầu tiên (Young 1998b) thu thập khoảng 600 trường hợp những người gặp vấn đề trong cuộc sống hàng ngày của họ vì họ không thể kiểm soát Internet sử dụng Nghiên cứu nghiện Internet ở châu Âu được khởi xướng bởi Griffiths's về nghiện ngập công nghệ (Griffiths 1995)
Ngay sau khi công bố khái niệm về “Nghiện” đã bắt đầu một cuộc tranh luận cả trong lĩnh vực lâm sàng và học thuật Nhiều ý kiến tranh uận cho rằng chỉ có những chất được đưa từ bên ngoài vào cơ thể mới có thể
Trang 29được gọi là “nghiện” Nhiều ý kiến cho rằng thuật ngữ nghiện (addiction) chỉ nên được đưa vào những trường hợp liên quan đến dùng ma túy, thuốc phiện (Rachlin, 1990; Walker,1989), đánh bài quá mức (Griffiths, 1990), chơi trò chơi quá mức (Keeprs, 1990), ăn quá nhiều (Leisuire & Bloome, 1993), thể dục (Morgan, 1997), quan hệ tình dục (Peele & Brody, 1975) và xem ti vi (Winn, 1983)
Hiện tại, không có sự đồng thuận cho một danh pháp nhất quán với một số thuật ngữ được đề xuất khác nhau là: Internet phụ thuộc (teWildt 2011), sử dụng Internet bệnh lý (Morahan 2000), sử dụng Internet có vấn đề (Davis và cộng sự, 2002), sử dụng máy tính cưỡng bức (Black et al 1999)….Mặt khác, tham chiếu đến Internet như một phương tiện gây nghiện không phù hợp khi xem xét rằng nhiều người dùng Internet quá mức không phải là những người nghiện Internet, nhưng sử dụng Internet như một phương tiện để gây nghiện (Griffiths 1999) Do đó, đã có một số đề xuất khác nhau về phân loại Nghiện Internet
Griffiths (1996) đề xuất cụm từ phụ thuộc hành vi Internet (Internet behavior dependence) để nói về tình trạng nghiện Internet với 6 tiêu chuẩn
để đánh giá như một tình trạng nghiện thông thường bao gồm sự nổi bật,
thay đổi cảm xúc, sức chịu đựng, triệu chứng rút lui, xung đột và sự tái phát
[55]
Thuật ngữ sử dụng Internet bệnh lý (Pathological Internet Use) được đưa ra bởi Young (1999) dựa trên khái niệm rối loạn kiểm soát xung động (Impulse control disorder) để giải thích về nghiện Internet Young cũng đưa
ra 9 triệu chứng của một người mắc chứng sử dụng Internet bệnh lý và phân chia nghiện Internet thành 5 dạng khác nhau gồm: (1) Nghiện tình dục trực tuyến; (2) Nghiện quan hệ trực tuyến; (3) Sự cưỡng bách Net; (4) Quá tải thông tin và (5) Nghiện máy tính [126]
Trang 30Thuật ngữ rối loạn nghiện Internet (Internet addiction disorder) lần đầu được phát biểu bởi Goldberg (1996) vốn phát triển từ khái niệm rối loạn
sử dụng chất (Substance use disorder) để giải thích cho vấn đề nghiện Internet Dai dẳng thèm muốn; sức chịu đựng; triệu chứng cai và các hậu quả tiêu cực là các tiêu chuẩn chẩn đoán được Goldberg sử dụng [51]
Shapira và cộng sự (2003) thì đề xuất thuật ngữ có vấn đề về sử dụng Internet (Problematic Internet Use) vốn dựa trên khái niệm chuẩn đoán là rối loạn kiểm soát xung động (Impulse Control Disorder) để giải thích cho vấn đề nghiện Internet Các tiêu chuẩn chẩn đoán gồm: sự bận tâm với Internet dai dẳng; những dấu hiệu khó khăn có ý nghĩa về mặt lâm sàng hay sự sa sút chức năng [100]
Ko và cộng sự (2005) đưa ra thuật ngữ nghiện Internet (Internet addiction) từ khái niệm chuẩn đoán là nghiện hành vi (behavioral addiction)
và rối loạn kiểm soát xung lực (Impulse control disorder) để giải thích về nghiện Internet Nghiện Internet được đặc trưng bởi 9 triệu chứng [66]
Ngoài ra, Davis (2001) đề xuất một mô hình nhận thức và hành vi lý thuyết về sử dụng Internet bệnh lý (PIU) Mô hình phân biệt giữa nghiện ngập với Internet so với nghiện ngập trên Internet thông qua hai loại sau: [42]
- Sử dụng Internet bệnh lý tổng quát (GPIU) - một sự lạm dụng quá mức chung vào Internet nó có thể bao gồm thời gian lãnh phí trực tuyến mà không có bất kỳ mục tiêu cụ thể nào;
- Sử dụng Internet bệnh lý cụ thể (SPIU) - Sử dụng Internet bệnh lý
cụ thể bao gồm những người phụ thuộc vào chức năng cụ thể của Internet, bao gồm lạm dụng (lạm dụng) tài liệu/ dịch vụ tình dục trực tuyến, dịch vụ đấu giá trực tuyến, chứng khoán trực tuyến, giao dịch và cờ bạc trực tuyến
Trang 31Với sự phân loại về sử dụng Internet bệnh lý này có thể được coi là nghiện Internet, trong khi sử dụng Internet bệnh lý cụ thể có thể được coi là nghiện ngập trên Internet (Griffiths & Pontes 2014)
Xét ở khía cạnh nào đó, việc sử dụng Internet mang lại nhiều lợi ích khác nhau cho các khía cạnh khác nhau của cuộc sống hàng ngày; nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp và tăng năng suất, nó được sử dụng cho một phổ mục đích giáo dục và nó cho phép giao tiếp dễ dàng hơn Nghiên cứu cho thấy rằng hoạt động giáo dục là bài tập ở nhà, tìm kiếm thông tin hữu ích hoặc tìm kiếm thông tin y tế không liên quan đến nghiện Internet [45] [115] Ngoài ra, Tsitsika & Janikian (2014) kết luận rằng thanh thiếu niên sử dụng internet cho mục đích giáo dục và nghiên cứu ít có khả năng nghiện Internet [113]
Tổng quan các nghiên cứu về sử dụng Internet cho thấy các nghiên cứu
về sử dụng Internet, nghiện Internet (Beard & Wolf, 2001; Goldberg, 1995; Neumann, 1998; Soule & Kleen, 2003; Stanton, 2002; Young, 1998a) đã xác định các triệu chứng sau đây có thể được tổ chức thành ba nhóm: tác động về hành vi, thể chất và tinh thần và xã hội liên quan đến triệu chứng nghiện Internet [77]
Hành vi
Độ dung nạp: Nhu cầu tăng về thời gian trực tuyến
Số lượt truy cập và thời gian truy cập dài hơn
Dành rất nhiều thời gian cho các hoạt động liên quan đến Internet
Nói không đúng về thời gian sử dụng Internet
Luôn phải bận tâm về việc sử dụng Internet
Sử dụng Internet để thoát khỏi các vấn đề khác
Duy trì việc sử dụng Internet bất chấp sự ảnh
Trang 32hưởng về vấn đề vật chất, xã hội, nghề nghiệp hoặc tâm lý có thể gây ảnh hưởng do sử dụng Internet
Thể chất và tinh thần
Hội chứng thoái lui: Trong trạng thái lo âu, suy nghĩ ám ảnh về việc sử dụng Internet và những giấc mơ về Internet
Có mong muốn kiểm soát hoặc cắt giảm việc sử dụng Internet
Có các vấn đề về: huyết áp, căng thẳng tim mạch, khó khăn về ghi nhớ, thiếu tập trung, nhức đầu, đau dạ dày và cơ bắp, thị lực yếu đi
Giảm hoạt động, hờ hững với mọi thứ, mất ngủ, hoảng loạn, cáu kỉnh và tức giận
Ngày làm việc dài hơn và ít thời gian giải trí
1.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ sử dụng Internet
1.3.3.1 Tiêu chuẩn của Sue Fisher (1994)
Fisher (1994) đã đưa ra khái niệm nghiện trò chơi điện tử (Video game Addiction) có nhiều điểm tương đồng với nghiện Internet dựa trên tiêu chuẩn của đánh bạc bệnh lý có trong DSM- IV Ông đề nghị và đưa ra ký hiệu mới dựa trên DSM - IV là DSM-IV-JV (trong đó: J là Juvenile - thanh thiếu niên;
V là arcade video game - trò chơi máy tính) Theo Fisher, để đánh giá nghiện
ở một người cần dựa trên ít nhất 4/ 9 tiêu chuẩn liên quan đến: (1) Trở nên quá bận tâm với việ sử dụng máy tính; (2) Chi phí bỏ ra để đạt được sự thoả
Trang 33mãn khi chơi trò chơi nhiều hơn; (3) Có sự thay đổi về cảm xúc, tâm trạng khi bị cắt hay dừng tham gia các trò chơi; (4) Tìm cách thoát ra khỏi những vấn đề hay những trạng thái cảm xúc không thể chịu đựng bằng việc sử dụng máy tính; (5) Đem lại được những thành tích về điểm số hay đạt được phần thưởng sau khi tiêu tốn tiền vào trò chơi máy tính; (6) Có các hành vi để bảo
vệ, che đậy hành vi chơi trò chơi máy tính; (7) Gặp các vấn đề liên quan đến pháp luật hoặc khó thích nghi với xã hội; (8) Gặp các vấn đề liên quan đến mối quan hệ gia đình, bạn bè, kết quả học tập suy giảm; (9) Tìm kiếm sự trợ giúp liên quan đến việc hỗ trợ chi phí để tiếp tục chơi máy tính [46]
1.3.3.2 Tiêu chuẩn của Ivan Goldberg (1996)
Ivan Goldberg (1996) cho rằng để đánh giá Nghiện Internet (Internet Addiction Disorder) cần đáp ứng ít nhất ba (hay nhiều hơn) các triệu chứng
và các triệu chứng phải xuất hiện liên tục trong khoảng thời gian 12 tháng trước, cụ thể: (1) Các tiêu chuẩn về khả năng chịu đựng; (2) Các tiêu chuẩn liên quan đến hội chứng cai ; (3) Thất bại trong việc cắt hay kiểm soát việc sử dụng Internet; (4) Quá bận tâm và dành nhiều thời gian trải nghiệm các hành
vi liên quan đến sử dụng Internet; (5) Suy giảm các hành vi xã hội quan trọng, nghề nghiệp, giải trí bởi sử dụng Internet; (6) Tiếp tục duy trì việc sử dụng Internet mặc dù bản thân gặp các vấn đề liên quan đến sức khoẻ, công việc, các vấn đề tâm lý [51]
1.3.3.3 Tiêu chuẩn của Dr Kimberly S Young (1996)
Young (1996) đã đư ra một bảng nhằm đánh giá về nghiện Internet với
8 câu hỏi được thay đổi dựa trên tiêu chuẩn đánh bạc bệnh lý có trong
DSM-IV Theo Young, khi người trả lời “có” ít nhất 5 hoặc hơn trong 8 câu thì có thể coi là một trường hợp nghiện Internet, cụ thể: [127]
1 Cảm thấy quá bận tâm về Internet ( hay nghĩ về thời gian sử dụng online trước đây hay nghĩ về hoạt động online kế tiếp)?
Trang 342 Cảm thấy cần thiết phải tăng việc sử dụng Internet bao gồm tăng cả về thời gian và mức độ thỏa mãn?
3 Hay gặp thất bại trong quá trình kiểm soát hay cắt giảm hoặc bất ngờ phải dừng sử dụng Internet?
4 Có các vấn đề liên quan đến cảm xúc, tâm trạng bồn chồn, chán nản, dễ mệt mỏi, hay nổi cáu khi phải cắt hoặc phải dừng sử dụng Internet?
5 Khó khăn trong việc cắt giảm thời gian sử dụng Internet so với thời gian
dự định?
6 Ảnh hưởng đến mối quan hệ xã hội, chất lượng công việc, vấn đề về học tập do sử dụng Internet ?
7 Có sự né tránh, giấu diếm về hành vi vi phạm do việc sử dụng Internet?
8 Luôn tìm đến Internet và coi việc sử dụng Internet như là cách giải toả, thoát khỏi những vấn đề của cuộc sống hay làm giảm nhẹ những cảm xúc tiêu cực ?
1.3.3.4 Tiêu chuẩn của Beard, K., & Wolf, E (2001)
Trên cơ sở đánh giá tiêu chuẩn của Young, hai tác giả cho rằng tiêu chuẩn cho việc nhận diện nghiện Internet phải hội tụ đủ 5 tiêu chuẩn, cụ thể: [26]
1 Cảm thấy quá bận tâm về Internet (suy nghĩ về hoạt động trực tuyến trước hay đề cập trước hoạt động kế tiếp)?
2 Cảm thấy cần thiết phải tăng việc sử dụng Internet bao gồm tăng cả về thời gian và mức độ thỏa mãn?
3 Có sự cố gắng nhưng gặp thất bại trong việc cố gắng kiểm soát, cắt giảm hoặc đột ngột dừng sử dụng Internet?
4 Gặp các vấn đề về cảm xúc, cảm thấy bồn chồn, buồn chán, mệt mỏi, dễ nổi cáu khi cố gắng cắt hoặc dừng sử dụng Internet?
5 Khó khăn trong việc cắt giảm thời gian sử dụng Internet so với thời gian
dự định?
Trang 35Trong đó có ít nhất một trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
- Gây hủy hoại hay chịu rủi ro mất các quan hệ có ý nghĩa, công việc, giáo dục hay cơ hội nghề nghiệp bởi vì sử dụng Internet
- Có sự né tránh, giấu diếm về hành vi vi phạm với các thành viên trong gia đình, nhà trị liệu hay người khác để che dấu phạm vi sử dụng Internet của mình
- Tìm cách sử dụng Internet, coi đó là cách để thoát khỏi những vấn đề hay giảm đi những khó khăn cảm xúc (ví dụ như cảm giác của tình trạng không thể tự lo liệu, tội lỗi, lo âu, trầm cảm)
1.3.3.5 Tiêu chuẩn của Shapira, N., Lessig, M., Goldsmith, T., Szabo, S., Lazoritz, M., Gold, M., & Stein, D (2003)
Theo các tác giả, tiêu chuẩn đánh giá và chẩn đoán việc sử dụng Internet được xác định bởi các tiêu chuẩn sau: [100]
A Mối lo âu thích nghi không tốt cùng với sử dụng Internet, nhận diện bởi ít nhất một trong các tiêu chuẩn sau:
1 Luôn bận tâm và không thể cưỡng lại việc sử dụng Internet
2 Dành quá nhiều thời gian sử dụng Internet so với dự định ban đầu
B Gặp các khó khăn hoặc làm suy giảm các mối quan hệ xã hội, nghề nghiệp hay vi phạm các quy định…do việc sử dụng Internet
C Sử dụng Internet quá mức không thấy xuất hiện đồng thời trong thời gian
có sự xuất hiện của cơn hưng cảm nhẹ hay một tình trạng nghiện gập và không xuất hiện nhiều hơn bởi một rối loạn khác trục I
1.3.3.6 Tiêu chuẩn của Jerald J Block
Block (2008) nhấn mạnh rằng các triệu chứng của nghiện Internet thể hiện thực sự ở: (1) Sử dụng Internet một cách quá mức (thường liên quan đến không xác định được thời gian); (2) Gặp các triệu chứng của hội chứng cai khi không thể truy cập Internet; (3) Sức chịu đựng sử dụng Internet ngày
Trang 36càng tăng với cảm xúc ham muốn ngày càng phát triển; (4) Phủ nhận hậu quả xảy ra [28]
1.3.3.7 Tiêu chuẩn của Chih-Hung Ko, Ju-Yu Yen, Sue-Huei Chen, Jen Yang, Huang-Chi Lin, Cheng-Fang Yen (2009)
Ming-Tại Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu thì cho rằng những đặc trưng phân biệt của nghiện Internet bao gồm: [67]
Khuôn mẫu kém thích nghi của sử dụng Internet, dẫn tới những suy nghĩ tiêu cực có ý nghĩa về mặt lâm sàng hay những khó khăn xuất hiện liên tục trong suốt 3 tháng trước đó
A Ít nhất là 6 (hoặc nhiều hơn) các triệu chứng xuất hiện trong cùng thời điểm
1 Việc bận tâm quá mức với các hoạt động Internet
2 Gặp thất bại trong việc cố gắng giảm việc sử dụng Internet
3 Luôn bị thôi thúc phải tăng thời gian sử dụng Internet như một nhu cầu để đạt được sự thoải mái
4 Có hội chứng cai, đặc trưng bởi các vấn đề sau:
- Xuất hiện các triệu chứng khó chịu, lo âu, dễ bị kích thích và tâm trạng trở nên dễ buồn chán sau một thời gian ngắn không sử dụng Internet
- Sử dụng Internet để tự làm dịu hoặc ngăn chặn sự xuất hiện các triệu chứng thoát lui
5 Kéo dài việc sử dụng Internet hơn so với thời gian dự định
6 Luôn có mong muốn sử dụng Internet hay có những cố gắng nhưng thất bại để loại bỏ hay giảm sử dụng Internet
7 Tập trung hoặc dành quá nhiều thời gian trên Internet
8 Trải qua sự cố gắng quá mức như một hành động cần thiết để dành được việc truy cập Internet
9 Vẫn duy trì và tiếp tục sử dụng Internet một cách mạnh mẽ dù biết rằng sẽ gặp những vấn đề liên quan đến cơ thể và khó khăn tâm lý
Trang 37B Xuất hiện việc suy giảm các chức năng: một (hay nhiều hơn) những triệu chứng hiện thời
1 Gặp thất bại trong việc thực hiện các nhiệm vụ liên quan trong công việc, nhà trường hay ở nhà do việc tái diễn việc sử dụng Internet
2 Suy giả việc tham gia vào các hoạt động xã hội hay giải trí quan trọng
3 Có các vi phạm liên quan đến pháp luật bởi hành vi sử dung Internet
C Hành vi nghiện Internet được so sánh với rối loạn loạn thần kinh chức năng, rối loạn phân ly tuýt 1, hay rối loạn khác được phân loại trong rối loạn kiểm soát xung lực và hay rối loạn hanh vi ứng xử trong DSM-IV-TR
1.3.3.8 Tiêu chuẩn chẩn đoán của Tao và cộng sự 2010
Các tác giả trên cho rằng, tiêu chí chẩn đoán nghiện internet được đề xuất bao gồm: [108]
A) Tiêu chí triệu chứng: Tất cả những điều sau đây phải có mặt:
- Lo ngại với internet (suy nghĩ về hoạt động trực tuyến trước đó hoặc
dự đoán phiên trực tuyến tiếp theo)
- Thể hiện bởi một tâm trạng khó chịu, lo lắng, khó chịu và chán nản sau vài ngày mà không có hoạt động internet
Ít nhất một (hoặc nhiều hơn) những điều sau đây:
- Gia tăng sử dụng internet cần thiết để đạt được sự hài lòng
- Mong muốn liên tục và / hoặc cố gắng không thành công để kiểm soát, cắt giảm hoặc ngừng sử dụng internet
- Tiếp tục sử dụng internet quá mức mặc dù biết có vấn đề về thể chất hoặc tâm lý liên tục hoặc tái diễn có thể đã gây ra hoặc trầm trọng hơn do sử dụng Internet
- Mất quyền lợi, sở thích trước đó, giải trí dưới dạng kết quả trực tiếp
và ngoại trừ sử dụng Internet
- Sử dụng internet để trốn thoát hoặc giảm bớt một tâm trạng khó khăn
Trang 38B) Tiêu chí suy giảm đáng kể về mặt lâm sàng
Suy giảm chức năng (giảm khả năng xã hội, học tập, khả năng làm việc), bao gồm mất cơ hội quan hệ, công việc, giáo dục hoặc nghề nghiệp đáng kể
C) Tiêu chí khóa học
Thời gian nghiện internet phải kéo dài quá 3 tháng, với ít nhất 6 giờ sử dụng Internet (không kinh doanh / không học thuật) mỗi ngày
1.3.3.9 Tiêu chuẩn chẩn đoán theo DSM-5
Trong DSM-5, xuất bản năm 2013 của Hội Tâm thần Mỹ, trong mục
“Các bệnh nghiên cứu thêm” có đưa ra „Rối loạn chơi game internet” (Internet Gaming Disorder) với tiêu chuẩn chẩn đoán được đề xuất như sau: [22]
(1) Bận tâm với chơi game internet (Những suy nghĩ của cá nhân về hoạt động game lần trước hoặc tham gia game lần sau; chơi game internet trở nên hoạt động ưu thế trong cuộc sống hàng ngày)
(2) Những triệu chứng thu rút (giống hội chứng cai) khi không được chơi game internet (Những triệu chứng này được mô tả điển hình như dễ kích thích, lo âu, hoặc buồn rầu, nhưng không có dấu hiệu thực thể của hội chứng cai thuốc)
(3) Sự dung nạp – nhu cầu chơi tăng lên về số lượng thời gian tham gia game internet
(4) Những cố gắng để kiểm soát chơi game internet không thành công (5) Mất quan tâm hứng thú trong những sở thích và trò vui chơi trước đây do game internet, và chỉ còn hứng thú với game internet
(6) Tiếp tục sử dụng một cách thái quá game internet mặc dù biết về những vấn đề tâm lý xã hội
(7) Lừa dối những thành viên gia đình, những nhà trị liệu hoặc những người khác về số lượng chơi game internet
Trang 39(8) Sử dụng game internet để trốn tránh hoặc làm giảm cảm xúc âm tính (thí dụ, cảm thấy không nơi nương tựa, tội lỗi, lo âu)
(9) Hủy hoại hoặc làm mất mối quan hệ, việc làm quan trọng hoặc học tập hoặc cơ hội sự nghiệp vì chơi game internet
Đối chiếu với những tiêu chuẩn nghiện internet của Young, có thể thấy DSM-5 của Hội Tâm thần Mỹ đã sử dụng tiêu chuẩn của Young cho chẩn đoán rối loạn chơi game internet trong phân loại bệnh tâm thần
Theo các nghiên cứu ở trên cho thấy, để có thể xác định một công cụ tiêu chuẩn để đánh giá nghiện Internet hiện thời là việc khó khăn, chưa có sự đồng nhất Tuy nhiên, xét trên bình diện khoa học, nhiều nhà nghiên cứu ở khắp nơi trên thế giới đã coi việc sử dụng Internet có vấn đề là một tình trạng nghiện Theo như đề tài chúng tôi đã trình bày, hiện có hai cách tiếp cận xây dựng tiêu chuẩn nghiện Internet (1) tiếp cận vấn đề rối loạn nghiện chất; (2) tiếp cận vấn đề rối loạn kiểm soát xung lực Dựa trên các nghiên cứu và phân loại của một số tác giả, chúng tôi đồng thuận cho rằng nghiện Internet là một rối loạn kiểm soát xung lực và bản tiêu chuẩn do Young (1996) đã đề xuất là phù hợp Về đánh giá mức độ nghiện Internet, chúng tôi cũng cho rằng, nghiện Internet có hai mức độ theo bản đánh giá rút gọn s- IAT, bao gồm mức độ nghiện, không nghiện Đây là căn cứ chúng tôi sử dụng để phân loại các mức độ sử dụng Internet của đối tượng nghiên cứu trong đề tài là học sinh trung học
1.3.4 Trầm cảm
1.3.4.1 Khái niệm
Theo tổ chức Y tế thế giới WHO “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống
và kém tập trung” Ngoài ra, trầm cảm thường xuất hiện với các triệu chứng
Trang 40xuyên và dẫn tới mất khả năng duy trì các thói quen sinh hoạt và làm việc hàng ngày [119]
1.3.4.2 Phân loại, tiêu chí chẩn đoán trầm cảm
Theo bảng phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10, trầm cảm được chẩn đoán bởi:
Các triệu chứng chính liên quan đến giảm khí sắc; giảm sự quan tâm, hứng thú trong mọi hoạt động; mất hoặc giảm năng lượng, cảm thấy dễ mệt mỏi dù chỉ thực hiện một hoạt động hay cố gắng nhỏ
Các triệu chứng phổ biến khác kèm theo như: Khó khăn về việc duy trì tập trung và chú ý; Giảm sút tính tự trọng và lòng tự tin; Luôn bị ám ảnh bởi các ý tưởng bị tội và không xứng đáng; Mất niềm tin; Có các hành vi hay ý tưởng gây tổn hại cơ thể; Rối loạn giấc ngủ; Ăn ít ngon miệng
Các triệu chứng sinh học của trầm cảm như: sút cân (5% trong lượng
cơ thể trong 4 tuần), giảm dục năng, ít ngủ, thức dậy sớm, sững sờ…
Dựa vào các triệu chứng trên, có thể phân chia trầm cảm thành 3 mức độ:
Mức độ nhẹ: Đây là giai đoạn đầu, xuất hiện tối thiểu 2 tuần và chưa có nhiều trở ngại trong sinh hoạt gia đình, công việc hằng ngày và hoạt động xã hội
Mức độ trung bình: Các triệu chứng đặc trưng chủ yếu đặc trưng cho giai đoạn trầm cảm nhẹ, xuất hiện tối thiểu khoảng 2 tuần và có nhiều khó khăn trong hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình
Mức độ nặng: Các triệu chứng cơ thể hầu như có mặt thường xuyên; xuất hiện và kéo dài ít nhất là 2 tuần; ít có khả năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp và công việc gia đình
Chẩn đoán trầm cảm theo DSM5, trầm cảm được đăch trưng bởi: [22] Trầm cảm thường khởi phát lặng lẽ, mơ hồ, phần lớn các triệu chứng biểu hiện khác nhau tùy theo từng người, từng giới tính, độ tuổi, không ai