Việc tiếp tục thực hiện các nghiên cứu để ổn định được giống; hoàn thiện quy trình thu nhận tinh, tạo phôi in vitro và lưu giữ nguồn tinh, phôi heo rừng có nguồn gốc Tây Nguyên;
Trang 1KHCN-TN/16-20
“Khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên
trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế”
(Chương trình Tây Nguyên 2016-2020)
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA
“NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH TUYỂN CHỌN, NHÂN NUÔI; XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÓA SẢN PHẨM TRONG CHĂN NUÔI HEO RỪNG,
BÒ SỮA, BÒ THỊT TẠI KHU VỰC TÂY NGUYÊN”
(MÃ SỐ ĐỀ TÀI/DỰ ÁN: TN16/C01)
Cơ quan chủ trì đề tài/dự án: Viện Sinh học nhiệt đới
Chủ nhiệm đề tài/dự án: PGS TS Hoàng Nghĩa Sơn
Hà Nội – 2020
Trang 2TRiNH KHCN CAP QUOC GIA GIAI DOAN 2016-2020
KIICN-TN/I6-20
"Khoa hoc vi c6ng nghQ phgc vg ph6t tri6n kinh t5 - xA hQi Tiy Nguy6n
trong li6n lr6t virng vn hQi nh{p qu5c ti6"
BAO CAO TONG HOP
rnr euA on TAr KHoA Hec CONG NGHE cAp euoc GrA
rtN ot rAr: "NGHTEN ctA Ho)N rHrEN eay rRiNH ruyilN cHeN,
BO StTA, BO THIT T4I KHU W C TAV IICUVEI,I"
(MA so Dt TAvDTIAN: TN16/co1)
Chri nhiQm ai; tei/drp 6n:
ill
PCS TS Hu g Nghia Son
F{,
>l
'1 I
\\,
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU: 2
CÁC NỘI DUNG THỰC HIỆN: 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 G IỚI THIỆU VỀ HEO RỪNG 4
1.1.1 Đặc điểm chung của heo rừng trên thế giới 4
1.1.2 Đặc điểm của heo rừng Việt Nam 5
1.1.3 Đặc điểm sinh sản heo rừng 7
1.2 N GHIÊN CỨU BẢO TỒN NGUỒN GEN HEO RỪNG 8
1.2.1 Thu nhận và đánh giá tinh heo 8
1.2.2 Đông lạnh tinh heo 8
1.2.3 Đông lạnh tế bào bảo tồn nguồn gen 9
1.3 C Ơ SỞ KHOA HỌC ỨNG DỤNG CÁC CHỈ THỊ PHÂN TỬ TRONG CHỌN GIỐNG HEO 10 1.3.1 Chỉ thị gen GHRH liên quan đến khả năng sinh trưởng ở heo 11
1.3.2 Gen chỉ thị C8B liên quan đến khả năng miễn dịch ở heo 12
1.3.3 Gen chỉ thị MC4R liên quan đến chất lượng thịt ở heo 13
1.4 K HÁI QUÁT VỀ CÁC GIỐNG BÒ THỊT LIÊN QUAN KHU VỰC T ÂY N GUYÊN 15
1.4.1 Khái quát về bò vàng địa phương 15
1.4.2 Khái quát về giống bò Zebu (Red Sindhi, Brahman) 16
1.4.3 Khái quát về giống Droughtmaster 17
1.4.4 Một số nghiên cứu cải thiện năng suất đàn bò ở Việt Nam 18
1.5 N GHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỊT BÒ 19
1.6 N GHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÁC CHỈ THỊ PHÂN TỬ TRONG CHỌN GIỐNG BÒ 20
1.6.1 Nghiên cứu gen DGAT1 liên quan chất lượng thịt bò 20
1.6.2 Nghiên cứu gen Leptin liên quan chất lượng thịt bò 21
1.6.3 Nghiên cứu gen SCD1 liên quan chất lượng thịt bò 22
1.7 N GHIÊN CỨU VỀ TINH GIỚI TÍNH 23
1.7.1 Kỹ thuật lựa chọn giới tinh tinh bằng máy lọc dòng chảy 23
1.7.2 Thụ tinh nhân tạo bằng tinh đã xác định giới tính 24
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 26
2.1 T UYỂN CHỌN , ỔN ĐỊNH GIỐNG HEO RỪNG THUẦN 26
2.1.1 Đối tượng và địa điểm thu thập heo rừng Tây Nguyên 26
2.1.2 Phương pháp đánh giá heo rừng Tây Nguyên thuần để thuần hóa 26
2.1.3 Chọn heo rừng Tây Nguyên thuần làm giống 26
2.1.4 Hệ thống chuồng trại thuần dưỡng 27
2.1.5 Chăm sóc thuần dưỡng 27
2.1.6 Thu thập số liệu 27
2.2 C HĂN NUÔI HEO RỪNG LAI THƯƠNG PHẨM 27
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2.2 Phương thức chăn nuôi 28
2.2.3 Đánh giá tốc độ sinh trưởng của heo rừng lai F1 qua các giai đoạn 28
2.2.4 Đánh giá khả năng cho thịt 28
2.2.5 Xử lý số liệu 29
2.3 Đ ÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỊT HEO LAI F1 CỦA 3 MÔ HÌNH LAI 29
Trang 42.3.1 Thu nhận mẫu 29
2.3.2 Đánh giá hàm lượng Sắt, Lipid, Protein 29
2.3.3 Xác định pH 29
2.3.4 Đánh giá mất nước bảo quản 30
2.3.5 Đánh giá mất nước chế biến 30
2.3.6 Xử lý số liệu 30
2.4 T HU NHẬN , LƯU GIỮ NGUỒN TINH HEO RỪNG 30
2.4.1 Khai tác tinh tươi từ nhảy giá 30
2.4.2 Khai thác và đông lạnh tinh trùng heo rừng Tây Nguyên thu nhận từ mào tinh 31
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.5 T ẠO PHÔI HEO RỪNG INVITRO , LƯU GIỮ PHÔI 32
2.5.1 Vật liệu 32
2.5.2 Các phương pháp 32
2.6 N GHIÊN CỨU NUÔI CẤY TẾ BÀO S OMA , BẢO VỆ NGUỒN GEN CẤP ĐỘ TẾ BÀO 34 2.6.1 Nuôi cấy mẫu da tai 34
2.6.2 Nuôi cấy tế bào hạt 34
2.7 Đ ÁNH GIÁ ĐA HÌNH GENE GHRH, M C 4R, C8 CỦA HEO RỪNG THUẦN VÀ HEO RỪNG LAI 36
2.7.1 Mẫu vật nghiên cứu 36
2.7.2 Phương pháp tách chiết ADN từ mẫu mô tai 36
2.7.3 Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) 36
2.7.4 Phương pháp đọc trình tự kiểm tra đoạn gen phân lập được 37
2.7.5 Phương pháp xác định đa hình gen 37
2.7.6 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.8 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI HEO RỪNG THUẦN , NUÔI HEO RỪNG LAI THƯƠNG PHẨM KIÊM HỆ THỐNG NHÀ HÀNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI Đ ẮK L ẮK 38
2.9 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO TỒN HEO RỪNG T ÂY NGUYÊN TRONG TỰ NHIÊN 38
2.10 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU THỊT HEO RỪNG T ÂY N GUYÊN 38
2.11 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI BÒ SỮA NÔNG HỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ HÓC MÔN ĐỂ CẢI THIỆN NĂNG SUẤT SINH SẢN TẠI Đ ỨC T RỌNG , L ÂM H À , TỈNH L ÂM Đ ỒNG 39
2.11.1 Phương pháp đánh giá tình trạng sinh sản của đàn bò 39
2.11.2 Khám cơ quan sinh dục ngoài và trong 39
2.11.3 Các phương pháp sử dụng hóc môn sinh sản cho bò sữa 39
2.12 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI BÒ LAI HƯỚNG THỊT CỦA CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG THUỘC B Ộ CHỈ HUY B Ộ ĐỘI BIÊN TỈNH Đ ẮK N ÔNG 40 2.13 X ÂY DỰNG MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI BÒ LAI HƯỚNG THỊT QUY MÔ NÔNG HỘ TẠI CÁC HUYỆN BIÊN GIỚI TỈNH Đ ẮK N ÔNG 41
2.14 K HẢO SÁT CHỈ THỊ ADN CỦA CÁC GIỐNG BÒ LAI CÓ TƯƠNG QUAN CHẤT LƯỢNG THỊT 42
2.14.1 Các phương pháp tách ADN 42
2.14.2 Phương pháp nghiên cứu đánh giá chất lượng thịt 43
2.15 T Ổ CHỨC ĐÀO TẠO KỸ THUẬT VIÊN VÀ HỘI THẢO 45
2.15.1 Lớp đào tạo kỹ thuật viên 45
Trang 52.15.2 Hội thảo khoa học về kết quả nổi bật trong nghiên cứu heo rừng và
mô hình bò 45
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 N GHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH TUYỂN CHỌN , ỔN ĐỊNH GIỐNG HEO RỪNG THUẦN 46
3.1.1 Tuyển chọn heo rừng Tây Nguyên dựa vào đặc điểm về hình thái, sinh trưởng, phát triển 46
3.1.2 Tuyển chọn heo rừng Tây Nguyên 48
3.1.3 Chăm sóc nuôi dưỡng 50
3.2 N GHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH CHĂN NUÔI HEO RỪNG LAI THƯƠNG PHẨM 52
3.2.1 Một số khái niệm, đặc tính cơ bản của heo rừng lai 52
3.2.2 Chăm sóc, nuôi dưỡng heo rừng lai 53
3.2.3 Phòng và trị bệnh cho heo rừng lai 57
3.3 Đ ÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THỊT HEO LAI F1 CỦA 3 MÔ HÌNH LAI 59
3.3.1 Đánh giá chỉ tiêu năng suất thịt 59
3.3.2 Các chỉ tiêu về chiều dài thân thịt, độ dày mỡ lưng và da lưng 61
3.3.3 Đánh giá một số chỉ tiêu dinh dưỡng ở các nhóm heo 63
3.3.4 Đánh giá pH của thịt 64
3.3.5 Đánh giá mất nước bảo quản 65
3.3.6 Đánh giá mất nước chế biến 65
3.3.7 Kết quả đánh giá cảm quan chất lượng thịt heo 66
3.4 T HU NHẬN , LƯU GIỮ NGUỒN TINH HEO RỪNG 67
3.4.1 Thu nhận và bảo quản tinh heo rừng nhảy giá 67
3.5 X ÂY DỰNG QUY TRÌNH TẠO PHÔI HEO RỪNG INVITRO , LƯU GIỮ PHÔI 75
3.5.1 Ảnh hưởng của mật độ tinh trùng lên sự phát triển của phôi heo 75
3.5.2 Ảnh hưởng của thời gian thụ tinh lên sự phát triển của phôi heo 75
3.5.3 Đánh giá chất lượng trứng và phôi 76
3.6 N GHIÊN CỨU NUÔI CẤY TẾ BÀO S OMA , BẢO VỆ NGUỒN GEN CẤP ĐỘ TẾ BÀO 79 3.6.1 Kết quả nuôi cấy tế bào da tai (mẫu mô tươi) 79
3.6.2 Kết quả nuôi cấy tế bào hạt 80
3.7 Đ ÁNH GIÁ ĐA HÌNH GENE GHRH, M C 4R, C8 CỦA HEO RỪNG THUẦN VÀ HEO RỪNG LAI 84
3.7.1 Kết quả tách chiết AND từ mẫu da tai 84
3.7.2 Đánh giá đa hình gen GRHM 87
3.7.3 Đánh giá đa hình gen MC4R 91
3.7.4 Đánh giá đa hình gen C8 94
3.8 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI HEO RỪNG THUẦN , NUÔI HEO RỪNG LAI THƯƠNG PHẨM KIÊM HỆ THỐNG NHÀ HÀNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI Đ ẮK L ẮK 95
3.8.1 Mô hình và quy mô nuôi heo rừng 95
3.9 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BẢO TỒN HEO RỪNG T ÂY NGUYÊN TRONG TỰ NHIÊN 98
3.9.1 Địa điểm triển khai mô hình 98
Một số hình ảnh thả heo rừng vào tự nhiên 100
Vận chuyển heo 100
Thả heo vào rừng 100
Trang 63.9.2 Kết quả theo dõi heo qua chip định vị 101
3.10 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU THỊT HEO RỪNG T ÂY N GUYÊN 102
3.10.1 Đánh giá chất lượng thịt heo lai F1 102
3.10.2 Tiêu thụ sản phẩm 102
3.10.3 Đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, con giống 102
3.11 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI BÒ SỮA NÔNG HỘ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ HÓC MÔN ĐỂ CẢI THIỆN NĂNG SUẤT SINH SẢN TẠI Đ ỨC T RỌNG , L ÂM H À , TỈNH L ÂM Đ ỒNG 103
3.11.1 Địa điểm triển khai mô hình 103
3.11.2 Quy mô của các hộ chăn nuôi bò sữa 104
3.11.3 Kết quả gieo tinh giới tính 104
3.11.4 Khối lượng bê ở các giai đoạn phát triển 105
Một số hình ảnh chăn nuôi bò sữa sử dụng tinh giới tính 106
3.11.5 Tính sơ bộ hiệu quả kinh tế sử dụng tinh giới tính cho bò sữa 106
3.12 N GHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRANG TRẠI NUÔI BÒ LAI HƯỚNG THỊT CỦA CÁC ĐỒN BIÊN PHÒNG THUỘC B Ộ CHỈ HUY B Ộ ĐỘI BIÊN TỈNH Đ ẮK N ÔNG 107 3.11.1 Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Đăk Nông 107
3.11.2 Các hộ dân huyện Tuy Đức và Đắk Mil được chọn làm mô hình 108
3.11.3 Kết quả nhảy trực tiếp 109
3.11.4 Kết quả chung: Nhảy trực tiếp và gieo tinh nhân tạo 109
Đặc điểm ngoại hình con lai lúc sơ sinh đến 6 tháng tuổi 113
3.12.2 Khám buồng trứng và thể vàng 113
3.12.3 S Ử DỤNG HÓC MÔN SINH SẢN GÂY ĐỘNG DỤC CHO BÒ CÁI 115
Tỷ lệ bò động dục, đậu thai 115
3.13 K HẢO SÁT CHỈ THỊ ADN CỦA CÁC GIỐNG BÒ LAI CÓ TƯƠNG QUAN CHẤT LƯỢNG THỊT 118
3.13.1 Thu nhận và tách chiết mẫu AND bò 118
3.13.2 Đánh giá đa hình gen Leptin, DGAT1, SCD1 120
3.13.4 Kết quả thu thập và đánh giá chất lượng thịt 125
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đánh giá chất lượng thịt bò thông qua một số giá trị liên quan trực tiếp đến bảo quản và chế biến thịt bò, tức là pH và mất nước của thịt từ bò vàng Việt Nam và bò lai Brahman 126
Đánh giá màu sắc thịt và mỡ bò 126
Giá trị pH 126
Mất nước bảo quản 128
Mất nước chế biến 129
3.14 Đ ÀO TẠO VÀ HỘI THẢO 131
3.14.1 Đào tạo kỹ thuật viên gieo tinh bò 131
3.14.2 Hội thảo 135
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 136
4.1 K ẾT LUẬN 136
4.2 Đ Ề NGHỊ 137
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
5.1 T ÀI LIỆU TIẾNG V IỆT 138
5.2 T ÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 139
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Heo rừng mẹ và heo rừng con 10 ngày sau sinh 6
Hình 2 Bò giống Red Sindhi và Brahman 17
Hình 3 Bò Droughtmaster thuần 17
Hình 4 Cơ chế phân loại giới tính tinh bằng kỹ thuật dòng chảy (Hopper và cs., 2015) 24
Hình 5 Buồng trứng heo sau khi thu nhận 32
Hình 6 Buồng trứng và nang trứng heo bản địa Tây Nguyên 35
Hình 7 Thang chia độ màu sắc thịt bò Hàng trên mô tả số thứ tự tiêu chuẩn màu sắc thịt bò Hàng dưới mô tả các cấp độ chất lượng thịt 44
Hình 8 Thang chia độ màu sắc mỡ bò Màu sắc mỡ được chia theo các cấp độ từ 1-7 44
Hình 9 Ngoại hình heo rừng Tây Nguyên cái và đực trưởng thành 46
Hình 10 Quá trình thay đổi màu sắc bộ lông của heo rừng Tây Nguyên 48
Hình 11 Phổi heo rừng bị nhiễm giun phổi nặng (Hoàng Nghĩa Sơn, 2014) 58
Hình 12 Ngoại hình một số heo rừng đực chọn huấn luyện lấy tinh tại ITB 68
Hình 13 Thu và pha loãng và phân liều đông lạnh tinh thu từ mào tinh 71
Hình 14 Các dạng kết dính của tinh trùng thu từ mào tinh 74
Hình 15 Kỳ hình tinh trùng heo rừng Tây Nguyên 74
Hình 16 Phân loại phức hợp trứng-cumulus 77
Hình 17 Trứng heo thành thục sau nuôi cấy 77
Hình 18 Các giai đoạn phát triển của phôi heo 78
Hình 19 Tế bào heo rừng Tây Nguyên nuôi cấy chuyền trong phòng TN 79
Hình 20 Hình thái nhân tế bào hạt buồng trứng heo trong quá trình nuôi 81
Hình 21 Sự thay đổi hình thái tế bào chất tế bào hạt buồng trứng heo 82
Hình 22 Sự biểu hiện beta galactosidase ở tế bào hạt buồng trứng heo qua các lần cấy chuyền 83
Hình 23 So sánh định tính ADN trên gel agarose 85
Hình 24 Kết quả điện di ADN tổng số Heo Rừng Lai 85
Hình 25 Kết quả nhân đoạn gen GRHM trên heo rừng (leader 1kb, thermo) 88
Hình 26 Kết quả đọc trình tự đoạn gen GRHM 88
Hình 27 So sánh đoạn gen GRHM với trình tự gen từ ngân hàng gen 88
Hình 28 Kết quả điện di sản phẩm PCR của đoạn gen mã hóa Mc4R 91
Hình 29 Kết quả đa hình gen Mc4R 92
Hình 30 Kết quả đa hình gen Mc4R 92
Hình 31 Kết quả so sánh trình tự gen C8B phân lập được với trình tự trên ngân hàng gen 94
Hình 32 Tốc độ phát triển của heo ở các công thức lai 97
Hình 33 Sự tăng trọng của các loại heo 98
Hình 34 Một số hình ảnh thả heo vào rừng 100
Hình 35 Theo dõi heo sau khi thả qua chip định vị 101
Trang 8Hình 36 Mở cửa hàng tiêu thụ thịt heo tại thành phố Hồ Chí Minh 102
Hình 38 Nhãn hiệu hàng hóa 102
Hình 38 Kết quả tăng trọng của bê GTT: nhóm thí nghiệm gieo tinh thương GTGT: nhóm thí nghiệm gieo tinh giới tính 105
Hình 39 Mô hình chăn nuôi bò sữa sử dụng tinh giới tính 106
Hình 40 Tốc độ tăng trưởng của bê từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi 110
Hình 41 Một số hình ảnh bàn giao bò lai Brahman và bê con của đề tài 113
Hình 42 Ảnh điện di kiểm tra DNA tổng số trên gel agarose 1% 119
Hình 43 Định lượng AND tổng số bằng máy nanodrop 119
Hình 44 Ảnh điện di sản phẩm PCR trên gel agarose 1% với cặp mồi: LEPe3_F và LEPe3_R1 121
Hình 45 Kết quả điện di sản phẩm cắt đoạn gen DGAT1 bằng enzyme giới hạn CfrI trên bò Lai Sindhi trên gel agarose 1,5% 122
Hình 46 Kết quả kiểm tra độ chính xác của đoạn gen bằng đọc trình tự 123
Hình 47 Kết quả điện di sản phẩm cắt đoạn gen SCD1 bằng enzyme giới hạn gel agarose 1,5% 124
Hình 48 Màu sắc thịt thăn Nhóm bò lai Brahman (A), nhóm bò cỏ (B) 126
Hình 49 Màu sắc mỡ Nhóm bò lai Brahman (A), nhóm bò cỏ (B) 126
DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Các cặp mồi sử dụng chạy PCR 37
Bảng 2 Các cặp mồi sử dụng chạy PCR 42
Bảng 3 Đánh giá chất lượng màu sắc thịt theo các cấp độ 43
Bảng 4 Đánh giá chất lượng màu sắc mỡ theo các cấp độ 44
Bảng 5 Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt của lợn 6 tháng tuổi 60
Bảng 6 Các chỉ tiêu về chiều dài thân thịt, độ dày mỡ lưng và da lưng 61
Bảng 7 Hàm lượng dinh dưỡng thịt đùi ở các nhóm heo 63
Bảng 8 Giá trị pH bảo quản thịt đùi các nhóm heo 64
Bảng 9 Tỷ lệ mất nước bảo quản thịt đùi 65
Bảng 10 Tỷ lệ mất nước chế biến thịt đùi 66
Bảng 11 Chất lượng thịt heo đánh giá cảm quan 66
Bảng 12 Những chỉ tiêu về chất lượng tinh heo rừng Tây Nguyên 69
Bảng 13 Một số chỉ tiêu sinh học của heo rừng đực lúc thu tinh hoàn 72
Bảng 14 Chỉ tiêu về chất lượng tinh heo rừng Tây Nguyên thu từ mào tinh 72
Bảng 15 Tỷ lệ giữa thể tích tinh dịch và trọng lượng cơ thể 73
Bảng 16 Ảnh hưởng của mật độ tinh trùng lên phát triển của phôi heo 75
Bảng 17 Ảnh hưởng của thời gian thụ tinh lên sự phát triển phôi heo 76
Bảng 18 Sự phát triển phôi heo giai đoạn tiền làm tổ 78
Bảng 19 So sánh tốc độ phát triển của tế bào mẫu tươi và mẫu đông lạnh 80
Bảng 20 Sự Thay đổi các thông số kích thước tế bào, nhân, vi sợi 81
Trang 9Bảng 21 Bảng đo ADN tổng số của Heo Rừng Lai bằng máy nanodrop 86
Bảng 22 Các kiểu allen và kích thước tương ứng cho các bang sau khi cắt enzyme 89
Bảng 23 Tỷ lệ đa hình gen GRHM trên các giống heo 90
Bảng 24 Tỷ lệ kiểu gen và tần số alen của gen Mc4R 93
Bảng 25 Tỷ lệ kiểu gen và tần số alen của gen C8B 95
Bảng 26 Số lượng heo rừng thuần và lai tại các đơn vị 96
Bảng 27 Trọng lượng của heo ở các công thức lai qua các mốc thời gian 97
Bảng 28 Sự tăng trọng của các loại heo 98
Bảng 29 Số con trên một lứa giữa các nhóm thí nghiệm 98
Bảng 30 Danh sách các hộ được chọn làm mô hình 104
Bảng 31 Tỷ lệ đậu thai và số bê đẻ ra từ gieo tinh giới tính 104
Bảng 32 Kết quả tăng trọng bê ở các nhóm thí nghiệm 105
Bảng 33 Tính sơ bộ hiệu quả kinh tế 107
Bảng 34 Danh sách đàn bò của các Đồn Biên phòng 107
Bảng 35 Danh sách đàn bò các hộ chọn làm mô hình 108
Bảng 36 Khả năng phát triển của đàn bê lai nhảy trực tiếp 109
Bảng 37 Trọng lượng bê qua các giai đoạn 110
Bảng 38 Chênh lệc khối lượng bê từ sơ sinh đến 6 tháng 111
Bảng 39 Chênh lệc khối lượng bê giai đoạn từ 6 tháng đến 12 tháng 111
Bảng 40 Tình trạng cơ quan sinh dục trên số bò khám 200 con 114
Bảng 41 Kết quả xử lý với công thức PG-F 2α - PG-F 2α 116
Bảng 42 Kết quả xử lý với công thức PG-F 2α – PMSG + PG-F 2α 116
Bảng 43 Kết quả xử lý với công thức PG-F 2α – HCG+ PG-F 2α 117
Bảng 44 Tổng hợp thu thập mẫu mô và tách chiết ADN bò 118
Bảng 45 Kết quả đa hình gen Leptin trên đàn bò Đắk Nông 122
Bảng 46 Đa hình gen DGAT1 trên đàn bò tại Đắk Nông 123
Bảng 47 Đa hình gen SCD1 trên đàn bò tại Đắk Nông 124
Bảng 48 Giá trị pH thịt thăn của bò lai Brahman và bò cỏ 127
Bảng 49 Giá trị pH thịt đùi của bò lai Brahman và bò cỏ 127
Bảng 50 Tỉ lệ mất nước bảo quản thịt thăn (%) 128
Bảng 51 Tỉ lệ mất nước bảo quản thịt đùi (%) 129
Bảng 52 Tỉ lệ mất nước chế biến thịt thăn (%) 129
Bảng 53 Tỉ lệ mất chế biến quản thịt đùi (%) 130
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tây Nguyên là vùng cao nguyên với độ cao khoảng từ 500m trở lên so với mặt biển, có một số ngọn núi độ cao lên đến trên 2.000m Đất đai được coi là tài nguyên cơ bản của vùng Tây Nguyên, thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp Diện tích đất chủ yếu là đất đỏ bazan, đất đỏ vàng và đất xám với tầng phong hoá dày, địa hình lượn sóng nhẹ tạo thành các cao nguyên đất đỏ thích hợp với nhiều loại cây trồng, thích hợp cho trồng cây công nghiệp, cây lương thực, trồng cỏ chăn nuôi gia súc Chăn nuôi đại gia súc ở các tỉnh Tây Nguyên chiếm gần 81% tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong toàn vùng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 7,1% Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên cũng đang đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình chăn nuôi trọng điểm, tập trung chỉ đạo thực hiện chương trình cải tạo đàn bò, chủ yếu là thực hiện đại trà đàn bò lai, trồng cỏ chăn nuôi trâu, bò Tỉnh Lâm Đồng là nơi có khí hậu thích hợp cho phát triển chăn nuôi bò sữa và là vùng chăn nuôi bò sữa lớn nhất nước ta hiện nay Bên cạnh đó, một số địa phương cũng phát triển chăn nuôi heo rừng lai cho thu nhập khá cao
Tây nguyên là một trong những vùng có tính đa dạng sinh học rất cao của Việt Nam Heo rừng gốc Tây Nguyên là loại heo rừng có chất lượng thịt rất thơm ngon và được người tiêu dùng ưa chuộng Trên cơ sở muốn thuần hóa heo rừng Tây Nguyên giống đực và cái để từ đó nhân giống tạo đàn heo
rừng thuần chủng mà giai đoạn 1 đã tiến hành đề tài TN3/C05 “Nghiên cứu
ứng dụng thụ tinh nhân tạo phục vụ nhân giống heo rừng Tây Nguyên (Sus scrofa) và lai tạo heo rừng thương phẩm” Đề tài đã ứng dụng kỹ thuật
thụ tinh nhân tạo cũng như nhảy trực tiếp để thực hiện các công thức lai tạo nhằm tạo ra các thế hệ con lai có thể chọn làm giống cũng như mong muốn bảo tồn nguồn gen heo rừng Tây Nguyên Đề tài đã phân tích ADN và đánh giá nhiễm sắc thể, xây dựng được cây phát sinh loài, các đặc điểm sinh học và sinh sản của giống heo rừng có nguồn gốc Tây nguyên Đề tài cũng đã nghiên cứu khai thác và bảo quản tinh heo rừng Tây Nguyên, ứng dụng thụ tinh nhân tạo phục vụ nhân giống thuần và lai tạo heo rừng thương phẩm; Đông lạnh và bảo quản lạnh tinh heo rừng Tây Nguyên, đề xuất phương án bảo tồn nguồn gen cấp độ tế bào trong phòng thí nghiệm Việc tiếp tục thực hiện các nghiên
cứu để ổn định được giống; hoàn thiện quy trình thu nhận tinh, tạo phôi in vitro và lưu giữ nguồn tinh, phôi heo rừng có nguồn gốc Tây Nguyên; phát
triển chăn nuôi heo rừng lai thương phẩm, tạo được một giống heo rừng lai có nguồn gốc từ heo rừng Tây Nguyên đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất là rất cần thiết Trên cơ sở nhân giống thuần sẽ thực hiện phương án thả heo rừng thuần về với thiên nhiên khu vực Tây Nguyên nhằm góp phần bảo
Trang 11vệ nguồn gen heo rừng có nguồn gốc Tây Nguyên trên cả hai phương diện in
vivo và in vitro
Chăn nuôi bò sữa, bò thịt ở Tây Nguyên là thành phần không thể thiếu
để phát triển kinh tế vùng Áp dụng công nghệ thụ tinh nhân tạo, cấy chuyển phôi bò, gieo tinh giới tính và công nghệ hỗ trợ sinh sản sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng đàn bò, cũng là cách nâng cao mức thu nhập của
người dân một cách bền vững Giai đoạn 2011-2014, đề tài TN3/CO2 “Ứng
dụng công nghệ cấy phôi bò sữa cao sản tại Tây Nguyên” đã thực hiện để
trợ giúp phát triển đàn bò sữa ở tỉnh Lâm Đồng, nơi có điều kiện khí hậu để nuôi bò sữa tốt nhất nước, nhằm mở rộng chăn nuôi bò sữa trên cơ sở tạo ra những con bê sữa cao sản bằng phương pháp cấy phôi Việc áp dụng các công nghệ hỗ trợ sinh sản như cấy truyền phôi, gieo tinh giới tính, sử dụng các công thức hóc môn để thúc đẩy hơn nữa năng suất và chất lượng đàn bò sữa tạo mô hình sản xuất có hiệu quả là hướng nghiên cứu đúng đắn và cần tiếp tục phát huy Chăn nuôi bò thịt kết hợp với vườn rừng và canh tác nông nghiệp đã từ lâu hình thành nét đặc trưng trong đời sống của đồng bào các dân tộc các tỉnh Tây Nguyên, nó không chỉ là một lợi thế mà còn là công cụ để xóa đói giảm nghèo, tăng tích lũy cho người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc ít người Quy mô chăn nuôi bò hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên chủ yếu vẫn là hộ gia đình có số đầu bò khoảng 10 - 20 con, cũng có một số trang trại
có số lượng bò lớn hơn 100 con và chỉ có một số rất ít trang trại có số bò thịt trên 1.000 con như Hoàng Anh Gia Lai, Sao Đỏ M’Đrắk (Hoàng Nghĩa Sơn, 2015) Kiểu chăn nuôi bò phổ biến ở vùng Tây Nguyên vẫn là vừa đảm bảo tận dụng được nguồn thức ăn tại chỗ, các phụ phẩm của canh tác nông nghiệp, trồng rừng, cũng như tận dụng trồng cỏ xen trong các vùng trồng cây công nghiệp Việc áp dụng khoa học kỹ thuật sẽ góp phần cải thiện năng suất chăn nuôi, chất lượng sản phẩm và đạt hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Từ các cơ sở trình bày ở trên và được sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm Chương trình Tây Nguyên 2016 - 2020, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu hoàn thiện quy trình tuyển chọn, nhân nuôi; xây dựng mô
hình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm trong chăn nuôi heo rừng, bò sữa, bò thịt tại khu vực Tây Nguyên”
MỤC TIÊU:
- Truyển chọn, ổn định được giống heo rừng thuần và phát triển công nghệ chăn nuôi heo rừng lai thương phẩm Xây dựng trang trại chăn nuôi và thương hiệu thịt heo rừng có nguồn gốc Tây Nguyên Bảo vệ nguồn gen heo rừng cấp độ phòng thí nghiệm và trong tự nhiên
Trang 12- Cải tạo và nâng cao chất lượng đàn bò thịt tại một số vùng thuộc biên giới của tỉnh Đắk Nông phục vụ phát triển kinh tế gắn liền với an ninh quốc phòng
- Ứng dụng công nghệ tinh giới tính và sử dụng hóc môn sinh sản để tăng hiệu quả chăn nuôi bò sữa, góp phần phát triển cả về chất và lượng đàn
bò sữa tại Lâm Đồng
CÁC NỘI DUNG THỰC HIỆN:
Nội dung 1: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình tuyển chọn, ổn định giống heo
rừng thuần
Nội dung 2: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình chăn nuôi heo rừng lai thương
phẩm
Nội dung 3: Đánh giá chất lượng thịt heo lai F1 của 3 mô hình lai
Nội dung 4: Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thu nhận, lưu giữ nguồn tinh
Nội dung 7: Nghiên cứu đánh giá đa hình gene GHRH, Mc4R, C8 với tương
quan đến tốc độ tăng trưởng, chất lượng thịt, tính kháng bệnh của heo rừng thuần và heo rừng lai
Nội dung 8: Nghiên cứu xây dựng mô hình trang trại nuôi heo rừng thuần,
nuôi heo rừng lai thương phẩm kiêm hệ thống nhà hàng tiêu thụ sản phẩm tại Đắk Lắk
Nội dung 9: Nghiên cứu xây dựng mô hình bảo tồn heo rừng Tây nguyên
trong tự nhiên
Nội dung 10: Nghiên cứu xây dựng thương hiệu thịt heo rừng Tây Nguyên
(có các chỉ dẫn nguồn gốc, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng)
Nội dung 11: Nghiên cứu xây dựng mô hình nuôi bò sữa nông hộ ứng dụng
công nghệ hỗ trợ hóc môn để cải thiện năng suất sinh sản tại Đức Trọng, Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
Nội dung 12: Nghiên cứu xây dựng mô hình trang trại nuôi bò lai hướng thịt
của các đồn biên phòng thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội biên tỉnh Đắk Nông
Nội dung 13: Xây dựng mô hình trang trại nuôi bò lai hướng thịt quy mô
nông hộ tại các huyện biên giới tỉnh Đắk Nông
Nội dung 14: Khảo sát chỉ thị ADN của các giống bò lai có tương quan chất
lượng thịt
Trang 13TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Giới thiệu về heo rừng
1.1.1 Đặc điểm chung của heo rừng trên thế giới
Heo rừng hiện nay có thể tìm thấy ở nhiều môi trường và vùng địa lý khác nhau Môi trường sống chủ yếu của loài này là ở những khu rừng ẩm ướt, vùng đất đầy bụi gai, đặc biệt là những khu rừng sồi, tre và nơi có nhiều sậy, nhất là gần các khu vực trồng tỉa hoa màu, trái cây của đồng bào dân tộc
ít người để đêm đêm tìm đến nương rẫy đào bới khoai củ mà ăn Hễ nơi nào
có đầy đủ thức ăn như rau củ quả giúp no đủ được quanh năm thì chính là vùng sinh sống của heo rừng (Việt Chương, 2018)
Heo rừng thuộc Bộ ngón chẵn và được đánh giá là các dạng sống giống nhất với các dạng tổ tiên thuộc bộ này Heo rừng vừa là tổ tiên vừa có thể giao phối tự do với heo nhà Một số quần thể heo hoang dã, chẳng hạn như ở
Úc và các vùng của Bắc Mỹ có nguồn gốc hoàn toàn từ heo nhà, nhưng các loài heo hiện tại ở Anh với hình dáng giống heo rừng, có thể là heo rừng thuần hoặc lai heo rừng (Lever C và cs, 1985), (Long J L và cs, 2003) Tuy nhiên, kể từ khi một số nông trại cho lai với heo nhà thì tình trạng di truyền thực sự của các quần thể hoang dã là không chắc chắn, rõ ràng
Heo rừng là thủy tổ của heo nhà nên hình dáng heo rừng cũng tương đồng như heo nhà, phần mông của heo rừng nhỏ hơn heo nhà nhưng phần đầu
và ngực của heo rừng rất phát triển Bộ lông thô, dài, cứng, màu đen xám bao phủ toàn thân heo rừng Lông gáy dày và rậm, khi bị kích động hàng lông này dựng lên rất dữ tợn Heo rừng trưởng thành có chiều dài khoảng 90 - 180 cm, chiều dài đuôi khoảng 30 cm, chiều cao vai khoảng 55 - 110 cm, trọng lượng
cơ thể từ 50 - 350 kg, con đực thường lớn hơn con cái Heo rừng thường có 2 đôi nanh ranh, 6 cặp vú Sọ heo rừng khá dài, khẩu cái tới 20 – 22cm, rất thích hợp cho việc đào bới, ủi đất tìm kiếm thức ăn (Nguyễn Chung, 2012) Theo phân vùng địa lý, da heo rừng có màu khác nhau, chiều dài đuôi và hình dáng mõm cũng thay đổi Heo rừng có thân mình thon dài, lưng thẳng, mõm dài và nhọn, tai nhỏ, mắt màu nâu lợt và ánh mắt hoang dại, lông màu đen hoặc nâu sậm, bốn chân nhỏ nhưng khỏe Heo rừng có bờm lông ở trên gáy mọc dài tận sống lưng Chùm lông bờm vừa dài vừa dày, có ba chấu mọc thành hình tam giác rất đặc trưng (Hoàng Nghĩa Sơn và cs, 2015) Bộ lông của heo rừng thường có màu tối nhưng có thể thay đổi từ màu vàng xám nhạt đến toàn thân đỏ - nâu hoặc đen (Macdonal và cs, 1991) Heo con khi mới sinh có bộ lông màu đỏ nâu, với các sọc dọc Bộ lông sẽ được thay đồng đều màu đỏ nâu ở tháng thứ 4 đến tháng thứ 5, sau đó có bộ lông của con trưởng
Trang 14thành ở khoảng tháng thứ mười đến tháng 12 Mặt, má và họng có nhúm lông hoa râm hơi trắng, lưng tròn và chân tương đối dài
Heo rừng đực trưởng thành đều có răng nanh Răng nanh thường dài khoảng 6 cm Răng nanh trên thì mọc hướng lên phía trên và cong ra ngoài Răng nanh dưới thì giống dao cạo, tự mài sắc bằng cách tỳ sát vào răng nanh trên Heo rừng cái cũng có răng nanh nhưng nhỏ hơn heo rừng đực và không nhô ra ngoài Đuôi ngắn với 1 chùm lông đơn giản phía cuối Răng của heo rừng phản ánh chế độ thức ăn và họ heo vẫn còn răng cửa trên trong khi ở các họ khác của Bộ ngón chẵn thì răng cửa trên không còn Răng nanh phát triển
to ra làm cho nó có dạng lồi lên, dùng để ủi đất ẩm ướt hoặc bụi cây thấp và
để chiến đấu Số lượng răng thay đổi giữa các loài Họ heo có thính giác rất phát triển, chúng giao tiếp với nhau bằng một loạt các tiếng kêu en éc, ủn ỉn và các âm thanh tương tự Heo rừng bơi rất giỏi, có tài liệu ghi lại rằng chúng
có thể bơi giữa các đảo cách nhau đến 7 km (Massei và cs, 2000)
Heo rừng là loài ăn tạp, chúng có thể ăn bất cứ thứ gì từ quả cây, nấm, củ, rễ đến giun đất, rắn rết, ốc sên, chuột, xác động vật kể cả khi đã thối rữa Thức ăn khoái khẩu nhất là các loại củ quả giàu tinh bột và các loại cây nhiều chất xơ như chuối, măng
1.1.2 Đặc điểm của heo rừng Việt Nam
Ở Việt Nam, heo rừng có mặt từ trung du đến miền núi Phạm vi hoạt động của heo rừng ở Việt Nam rất rộng, chúng sống được trong nhiều sinh cảnh khác nhau như rừng thứ sinh, rừng thưa (trừ núi đá) nhưng thích hợp nhất là những thung lũng ven các suối nước, đầm lầy có độ ẩm cao, nhiều thức ăn như rừng tre nứa, gần nương rẫy Heo rừng thường sống theo bầy đàn,
có những bầy đàn lớn từ 20 – 100 con Tuy nhiên, chúng ta thường chỉ gặp những đàn dưới 20 con Những con đực bình thường vẫn kiếm ăn một mình, đến mùa động dục chúng mới nhập đàn, tìm bạn tình Heo rừng trong tự nhiên thường kiếm ăn vào ban đêm, khoảng từ chập tối đến gần sáng và nghỉ ngơi trong bụi rậm vào ban ngày Mùa đông, heo rừng thường ít vận động, chúng làm tổ trong hang để nằm nghỉ, thỉnh thoảng có ra khỏi rừng tìm đến những nương rẫy hoặc những nơi có sẵn măng tre vào sáng sớm hoặc chiều tối để tìm thức ăn (Hoàng Nghĩa Sơn và cs, 2015)
Heo rừng Việt Nam nhỏ, thường con đến tuổi trưởng thành chỉ nặng từ
35 – 50kg Mõm dài và nhọn, đầu nhỏ, tai nhỏ, không có má Lông heo rừng
là 3 lông mọc cùng một chỗ, trong khi heo nhà thì lông mọc rời rạc Con non chậm lớn, màu lông thường là hung đen, có sọc vàng chạy dọc theo thân (Hình 1) Heo con mới đẻ nuôi rất khó và hay bị chết do hay bị bệnh đi phân trắng Heo mẹ thường đẻ ít con (2 - 3 con/lứa) nên hiệu quả kinh tế không
Trang 15cao Trong sản xuất, người dân thường chỉ nuôi con lai giữa heo rừng bố và heo nhà mẹ (Hoàng Nghĩa Sơn và cs 2015)
Hình 1 Heo rừng mẹ và heo rừng con 10 ngày sau sinh
Heo rừng Việt Nam hoang dã thường được phát hiện ở những khu vực rộng lớn, chúng sống thành bầy đàn, số lượng có thể lên đến 100 con Những đàn heo rừng này là những thế hệ con và những con chưa trưởng thành Chúng di chuyển cùng nhau suốt hành trình dài tới khu vực định cư mới nhưng không di trú Heo rừng hoạt động nhiều hơn vào ban đêm, lúc chạng vạng tối và bình minh Khi heo đực trưởng thành, nó sẽ rời khỏi bầy đàn và sống độc lập Chúng hoạt động mạnh và trở nên liều lĩnh nếu cảm thấy bị đe dọa, khi bị dồn vào đường cùng, không chỉ heo già mà ngay cả heo tơ cũng dám quay đầu lại tấn công kẻ thù của chúng (Hoàng Nghĩa Sơn và cs, 2015) Heo rừng có tài bẩm sinh biết bơi lội qua sông, qua suối một cách nhanh nhẹn, nhiều khi không phải để tắm, mà chúng cần bơi qua bờ đất bên kia sông suối để kiếm ăn (Nguyễn Chung, 2012) Heo rừng có khả năng cảm nhận được sự thay đổi của nhiệt độ Để đối phó với cái lạnh, chúng dầm mình xuống bùn hay nước để có được thân nhiệt thích hợp Khi nhiệt độ xuống dưới 10oC sẽ gây nguy hiểm cho chúng và nhiệt độ đột ngột tăng cao có thể làm chúng say nắng Việc đầm mình cũng nhằm mục đích điều trị chứng ghẻ
lở, ngứa ngáy do các loại ký sinh trùng bám vào da để hút máu như ve, vắt, bọ chét và ruồi muỗi… (Hoàng Nghĩa Sơn và cs, 2015)
Những nơi heo rừng sinh sống thì vùng đất đó được cải thiện đáng kể do heo rừng đóng góp khá nhiều vào việc cày xới đất, tạo điều kiện cho cây nảy mầm, đồng thời giúp phân tán những hạt giống
Trang 161.1.3 Đặc điểm sinh sản heo rừng
Heo rừng sinh sản quanh năm Thời gian mang thai khoảng gần 4 tháng, mỗi năm đẻ 1 - 2 lứa, mỗi lứa 5 - 6 con Tuy nhiên, mùa sinh sản thích hợp nhất vẫn là mùa xuân và mùa thu Heo mẹ làm tổ để đẻ rất chu đáo Heo con sau khi đẻ 30 phút có thể đi lại bình thường, sau một tuần có thể theo mẹ đi kiếm ăn và sau 2 năm thì trưởng thành sinh dục (thiennhien.net/2007)
Trong thiên nhiên hoang dã, heo rừng cái đẻ nhiều lần trong năm và mùa giao phối thay đổi tùy theo vùng địa lý và môi trường sinh sống Số lượng con mỗi lần sinh là 1 - 12 con, trung bình 4 - 8 con/lần Thời gian mang thai trung bình là 115 ngày, thời gian cho con bú là 3 - 4 tháng, thời gian heo con trưởng thành trung bình là 7 tháng và dần trở nên độc lập (Nguyễn Chung, 2012) Tuổi động dục của heo cái sớm hay muộn là tùy vào từng giống heo và tùy vào sự phát triển cơ thể của mỗi cá thể, chu kỳ động dục ở heo thường kéo dài 21 ngày
Tuổi được coi là trưởng thành về mặt sinh dục có thể giao phối ở con cái và con đực là 8 - 10 tháng, nhưng thường đến 12 tháng tuổi con cái mới giao phối và những con đực thường không thích tiếp xúc đến những con heo cái dưới 1 tuổi Trong mùa sinh sản, những con đực hung hãn nhất có thể có từ 8
- 10 con heo cái Việc giao phối xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa (hoặc là mùa thu, đầu mùa đông) (Hoàng Nghĩa Sơn và cs, 2015)
Khi đến ngày đẻ, heo rừng mẹ thường tách ra khỏi đàn để tìm một khu lùm bụi kín đáo cách xa nơi cả đàn đang sống để đẻ con Heo rừng cái sinh heo con trong một cái ổ bằng cỏ, heo con sẽ ở lại ổ vài ngày, chờ bầy con đủ cứng cáp, đi đứng vững vàng, chúng mới kéo ra nhập bầy, heo con có thói quen lạ lùng, mỗi con từ đầu hễ bú vú nào thì từ đó cứ tiếp tục bú mãi cái vú
đó Các vú ở phía ngực trước có lượng sữa nhiều hơn các vú sau (Việt Chương và cs, 2010) Trái với vẻ khỏe mạnh ban đầu, chỉ có khoảng một nửa heo rừng con sống đến trưởng thành, một vài con chết vì bệnh hay bị những loài động vật khác ăn thịt Trong thiên nhiên hoang dã, heo rừng có thể sống
10 năm, đôi khi chúng có thể sống tới 27 năm (Nguyễn Chung, 2012)
Thành thục sinh dục ở heo cái phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể (25 - 30 kg) hơn là so với tuổi, tương tự như heo nhà (Masters và cs, 1979), (Pavlov và
cs, 1980) Số con trong một lứa của heo rừng thường trung bình là 4,9 đến 6,3 heo con, nhưng có thể lên đến 10 con trong điều kiện thuận lợi (Choquenot và
cs, 1996)
Trang 17Trong tự nhiên, sau khi cai sữa heo con sẽ ở lại với mẹ của chúng cho đến lứa tiếp theo, hoặc trong trường hợp heo cái thì cho đến khi chúng có khả năng giao phối (Pavlov và cs, 1980)
Tỷ lệ tử vong của con trưởng thành dao động từ 15 - 50% tùy thuộc vào
sự xuất hiện của động vật ăn thịt (bao gồm cả áp lực săn bắn), bệnh tật, chất lượng và thực phẩm sẵn có Heo rừng từ lâu đã là biểu tượng của sức mạnh và
sự tàn bạo, và là một động vật được tôn trọng trong nhiều nền văn hóa Heo nái bảo vệ con của chúng và có thể bảo vệ chúng một cách mạnh mẽ bằng cách sử dụng răng nanh sắc bén (Powell và cs, 2004)
1.2 Nghiên cứu bảo tồn nguồn gen heo rừng
1.2.1 Thu nhận và đánh giá tinh heo
Chất lượng tinh dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tế như: phẩm giống, tuổi, mức độ làm việc, chế độ dinh dưỡng, thời tiết, bệnh lý và kỹ thuật lấy tinh… Khi kiểm tra đánh giá chất lượng tinh dịch heo thấy trên hoặc dưới tiêu chuẩn quy định sử dụng, cần tìm nguyên nhân để phát huy hoặc để khắc phục, thậm chí cần loại thải để có hiệu quả kinh tế (Nguyễn Tấn Anh, 2003)
Tinh heo được thu nhận từ hai nguồn chính là tinh xuất ngoài từ những heo được huấn luyện nhảy giá và tinh từ mào tinh hoàn Những tinh thu được được đánh giá các thông số như: tỉ lệ sống, tỉ lệ tiến thẳng, tỉ lệ kỳ hình … Qua những thông số thu được sẽ tiến hành pha loãng là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tinh dịch heo đực giống, nâng cao sức sống của tinh trùng
và kéo dài thời gian bảo quản
Theo Nguyễn Tấn Anh (2002), thông số cần thiết giúp ta quyết định tỷ lệ pha loãng tinh nguyên với môi trường bảo quản và định liều phối trong TTNT Để pha loãng bảo quản tinh dịch đạt kết quả cao thì tinh dịch phải đạt yêu cầu: Theo tiêu chuẩn nhà nước TCVN 1859/76, C heo ngoại ≥ 80x106/ml,
C heo nội khoảng 20x106/ml
1.2.2 Đông lạnh tinh heo
Đông lạnh tinh heo là một biện pháp hữu ích cho việc bảo quản các nguyên liệu di truyền, cải thiện di truyền và tăng cường khả năng trao đổi di truyền giữa các nước khác nhau (Johnson và cs, 1998) Tinh dịch đông lạnh còn được sử dụng cho các công nghệ sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro fertilization-IVF), chuyển phôi (embryo transfer) và chọn lọc giới tính (Gerrits và cs, 2005) Tuy nhiên, một điều không thuận lợi là những nghiên cứu của quá trình đông lạnh tinh diễn ra chậm Ở heo, quá trình đông lạnh tinh gặp một số khó khăn trong quá trình đông lạnh và giải đông Trong quá trình gieo tinh nhân tạo, việc sử dụng tinh trùng đông lạnh vẫn cho tỉ lệ
Trang 18thụ tinh thấp hơn so với quá trình thụ tinh sử dụng tinh tươi (Eriksson và cs, 2002)
Diễn biến của quá trình đông lạnh và giải đông có một tác động rõ rệt tới tỉ lệ sống của tinh trùng sau đông lạnh (Johnson và cs, 2000) Tuy nhiên, quá trình đông lạnh tối ưu và tốc độ giải đông thay đổi phụ thuộc vào loại và nồng độ chất bảo quản đông lạnh (Mazur P., 1970), (Fiser và cs, 1990) Một số nghiên cứu khác cho rằng, tốc độ tối ưu cho đông lạnh tinh heo là khoảng
30oC/phút với chất bảo quản là 3% glycerol khi đông lạnh trong cọng rạ 0,5
ml (Fiser và cs, 1990) và 16oC/phút với 3,3% glycerol trong cọng rạ 5 ml Cả hai phương pháp trên đều có tốc độ giải đông tối ưu là 1.200oC/phút (Fiser và
cs, 1993), (Westendorf và cs, 1975) Eriksson và Rodriguez-Martinez (2000) đã thấy rằng tốc độ đông lạnh tối ưu là 50oC/phút trong 3% glycerol với tốc
độ giải đông là 900oC/phút trong túi nhựa phẳng (FlatPack®)
Sự thay đổi chất bảo quản trong quá trình đông lạnh cần được thực hiện khác nhau ở các loài khác nhau Glycerol, lòng đỏ trứng già và Sodium dodecyl sulphate (SDS) được sử dụng phổ biến làm chất bảo quản trong quá trình đông lạnh tinh heo (Holt và cs, 2000b), (Westendorf và cs, 1975) Nồng
độ tối ưu của glycerol ở heo là (Holt và cs, 2000b) Lòng đỏ trứng gà và SDS
là chất bảo quản không gây tính thấm được sử dụng trong quá trình đông lạnh tinh heo và cung cấp những khả năng bảo vệ tinh heo và cải thiện chất lượng tinh heo sau giải đông Lòng đỏ trứng gà và SDS có khả năng tăng đặc tính bảo vệ màng sinh chất của tinh trùng heo
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu tinh trùng heo đông lạnh đã
có những cải tiến quan trong trong kĩ thuật thuật đông lạnh tinh, tối ưu hóa các quy trình đông lạnh (Rodriguez-Martinez và cs, 2009), phương pháp ly tâm tinh trùng, giải đông tinh trùng cũng như bổ sung các nhân tố giúp cải thiện quá trình đông lạnh tinh trùng (Roca và cs, 2005)
1.2.3 Đông lạnh tế bào bảo tồn nguồn gen
Hiện nay, đa dạng ở động vật nuôi được coi là bị đe dọa Trên thế giới, một số lượng lớn các giống vật nuôi đang bị đe dọa, trong tình trạng nghiêm trọng hoặc đã tuyệt chủng rồi (Hiemstra et al., 2005) Quần thể giống vật nuôi
6379, 9% là các trạng nguy kịch và 39% đang bị nguy hiểm (FAO, 2015) Có một số phương thức để bảo tồn sự đa dạng di truyền Nói chung, bảo tồn tại chỗ hoặc bảo tồn bằng cách tạo sản phẩm sử dụng được ưa thích như là một
cơ chế để bảo tồn giống (Hiemstra et al., 2005) Một giống có phát triển và thích ứng với thay đổi môi trường và những nỗ lực để tạo ra một nhu cầu cho các sản phẩm hoặc các chức năng của giống đó cần được thúc đẩy ứng dụng Bảo tồn mà không phát triển hơn nữa sức sống của giống hoặc không khả
Trang 19năng sử dụng dự kiến trong tương lai không phải là một chiến lược mong muốn Tuy nhiên, ngoài việc bảo tồn tại chỗ, phương pháp hay kỹ thuật để duy trì động vật sống bên ngoài sản xuất, môi trường tự nhiên của chúng (ví
dụ chỗ sống) hoặc thông qua bảo quản lạnh của tế bào (ex situ) được thiết lập
để bảo tồn giống hiếm cũng như các giống thương phẩm sử dụng rộng rãi hơn Hơn nữa, bảo quản lạnh của tế bào là một chiến lược rất tốt để bảo tồn đa dạng alen hiện có để sử dụng trong tương lai (Hiemstra et al., 2005)
Đối với tế bào soma, các loại tế bào khác nhau đã được sử dụng thành công để thực hiện nhân bản vô tính ở động vật có vú là một cơ sở để làm nguồn vật liệu bảo tồn gen lý tưởng (Mastromonaco et al., 2014) Tuy nhiên, các nguyên bào sợi là những tế bào thường được sử dụng nhiều nhất bởi vì các tế bào này được mô tả như là các tế bào gốc trung mô, với tăng cao tiềm năng và khả năng của chúng để biệt hóa thành nhiều loại tế bào từ nối các mô khác, chẳng hạn như xương, sụn và cơ (Aoued and Singh, 2015) Để có được một bản sao khỏe mạnh với sự phát triển đầy đủ, tính toàn vẹn của hệ gen nhân của tế bào các tế bào cho là cần thiết trong bảo tồn lạnh tế bào, thông qua đánh giá bộ nhiễm sắc thể (Mastromonaco et al., 2006) Nó đã được chứng minh rằng các tế bào đó có sự phát triển bình thường trong nuôi cấy bao gồm cả khả năng tồn tại của chúng, tỷ lệ tăng trưởng sẽ đảm bảo tính toàn vẹn di truyền và nâng cao tỷ lệ thành công của nhân bản động vật (Ogura et al., 2013) Trên lợn, nhân bản vô tính hiện nay đã phổ biến (Tomii et al., 2009), việc bảo tồn nguồn tế bào là một phương thức hữu hiện và hiệu quả trong bảo tồn nguồn gen giống lợn tốt
1.3 Cơ sở khoa học ứng dụng các chỉ thị phân tử trong chọn giống heo
Theo Sellier và cs (1998), chất lượng thịt chịu sự tác động cửa nhiều nhân tố như đặc điểm của cơ (loại và kích thước sợi cơ), mỡ và mô liên kết, điều kiện sản xuất và môi trường (tốc độ sinh trưởng, dinh dưỡng, tuổi tác điều kiện trước khi giết mổ, quá trình chín sau khi mổ thịt) và di truyền động vật (giống, kiểu gen) Yếu tố về giống được coi là một trong những yếu tố quan trọng nhất Giữa các giống khác nhau thì chất lượng thịt cũng khác nhau Hầu hết các giống heo nội có tỷ lệ mỡ cao (heo Ỉ mỡ tỷ lệ mỡ lên tới 48% so với thịt xẻ và tỷ lệ nạc rất thấp, hay heo Móng Cái tỷ lệ nạc cũng chỉ đạt khoảng 37%) Trong khi đó hầu hết các giống heo ngoại nhập chủ yếu là những giống hướng nạc như heo Yorshire tỷ lệ nạc từ 52-53%, heo Landrace
tỷ lệ nạc 54-56%, heo Pietrain có tỷ lệ nạc rất cao lên tới 60% Tuy nhiên thịt của những giống heo này thường có mùi vị thơm ngon, thớ co nhỏ, mịn Trái lại như giống heo Pietrain tuy có tỷ lệ thịt cao nhưng thịt thường nhão chua
Trang 20Vì vậy việc nhận biết kiểu gen điều khiển chất lượng thịt là nghiên cứu quan trọng cải thiện các tính trạng chất lượng thịt
Chọn giống bằng di truyền số lượng dựa trên kiểu hình của cá thể chính
là tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng (kiểu gen/môi trường) đã mang lại hiệu quả đáng kể cho ngành chăn nuôi Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ hạn chế nhất là với các tính trạng khó xác định dựa trên kiểu hình (tính thích nghi, kháng bệnh), hoặc chỉ biểu hiện khi cá thể đã trưởng thành (khả năng cho sữa, sinh sản) Sử dụng chỉ thị phân tử hỗ trợ chọn giống giúp khắc phục được các hạn chế trên của chọn lọc truyền thống Cơ sở khoa học của nghiên cứu này dựa trên cơ sở
dữ liệu các vùng gen liên quan tính trạng kinh tế (Quantitative Trait Loci –QTL) phong phú của chương trình nghiên cứu genome thế giới (http://www animalgenome.org/ cgi-bin/QTLdb/BT/index), trong đó ứng dụng các chỉ thị phân tử trong hỗ trợ chọn giống bằng phân tích tương quan giữa các chỉ thị di truyền, các gen ứng cử liên quan với tính trạng kinh tế quan tâm Bản đồ QTL hiện tại ở heo chứa 30,170 QTLs liên quan đến 688 giống khác nhau, trong đó nhiều chỉ thị liên quan năng suất thị đã được nghiên cứu và công bố, Trên cơ
sở đó, đa hình di truyền một số gen đã được xác nhận liên quan đến tính trạng sức tăng trọng, sức đề kháng và chất lượng thịt ở heo và đăng ký bản quyền trên một số giống có tính trạng đặc biệt
1.3.1 Chỉ thị gen GHRH liên quan đến khả năng sinh trưởng ở heo
Sinh trưởng là quá trình tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích của
cơ thể theo từng giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn khác nhau con vật có thể sinh trưởng nhanh hay chậm khác nhau phù hợp với quy luật phát triển ở mỗi giống Mức độ tăng trưởng của giống được thể hiện ở sinh trưởng tích luỹ và sinh trưởng tuyệt đối
Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình sinh trưởng ở vật nuôi bao gồm yếu tố di truyền, chế độ nuôi dưỡng và tác động của môi trường… Các gen ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của vật nuôi đã được xác định như: GHRH (growth hormone releasing hormone), IGF1 (insulin – like growth factor 1), PIT1 (pituitary – specific transcription factor 1), GHRHR (growth hormone releasing hormone receptor), GHR (growth hormone receptor), GH (growth hormone)
Hóc môn tăng trưởng (GH), một loại hóc môn polypeptide chuỗi đơn do tuyến yên tiết ra từ động vật, đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình tăng trưởng và chuyển hóa của cơ thể bằng cách điều chỉnh quá trình chuyển hóa carbohydrate, lipid và protein (Yakar và cs, 2016) Là hóc môn chính của trục tăng trưởng, GH đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự tăng trưởng
và phát triển của động vật (Zeng và cs, 2014) Vize và cs (1987) đã chỉ ra
Trang 21rằng, ở heo, gen GH là một gen sao chép đơn lẻ và được định vị trong nhiễm sắc thể số 12, với tổng số chiều dài phiên mã là 1,7 kb, chứa khoảng 2231 bp Ảnh hưởng lớn của gen GH trong các đặc điểm liên quan đến chất lượng thịt đã kích thích một số nghiên cứu về đa hình phân tử trong gen GH (Schellander và cs, 1994) Knorr và cs (1997) đã chứng minh ý nghĩa sự liên kết của kiểu gen GH với đặc điểm độ béo thân thịt ở heo Meishan x Pietrain
Đa hình của gen GH có liên quan đến đặc điểm thành phần và thân thịt ở các giống heo khác nhau (Geldermann và cs, 1996; Knorr và cs, 1997; Nielsen và
cs, 1998; Putnova và cs, 2001; Franco và cs, 2005) Kiểu gen GH có liên quan đến một số tính trạng kinh tế như độ dày mỡ lưng, tỷ lệ nạc Năm 2013, Cheng và cs xác nhận khả năng sinh trưởng của heo có tương quan với kiểu gen GH Wang và cs (2003) cho thấy mối liên quan của đa hình gen GH / ApaI với hàm lượng thịt thân thịt ở heo Yorkshire Năm 2004, Nguyễn Thị Diệu Thuý kết luận khả năng sinh trưởng ở giống heo Móng Cái có tương quan với kiểu gen GH Pierzchała và cs (2004) nghiên cứu hai vị trí đa hình nucleotide đơn trong gen GH Họ tìm thấy kiểu gen GH / MspI và GH / HaeII liên quan đáng kể đến trọng lượng của heo, sự khác biệt đáng kể giữa các kiểu gen GH / MspIn đã được tìm thấy có nghĩa là độ dày mỡ lưng và mỡ giắt Franco và cs (2005) chỉ ra ý nghĩa sự liên kết của các biến thể gen GH khác nhau với thân thịt ở các giống heo khác nhau GH đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh sự phát triển của mô và trao đổi chất ở động vật gen
GH ảnh hưởng đến các đặc điểm về tăng trưởng, tỷ lệ nạc và sản xuất sữa (Jing và cs, 2006) GH là một trong những gen đầu tiên được sử dụng như một gen ứng cử viên chức năng liên quan đến tăng trưởng và các đặc điểm của thân thịt (Thomas và cs, 2007)
1.3.2 Gen chỉ thị C8B liên quan đến khả năng miễn dịch ở heo
Hệ thống bổ thể là một phần của hệ thống miễn dịch bẩm sinh, góp phần trực tiếp vào việc tiêu diệt các tế bào vi khuẩn Gen C8 là một trong năm thành phần của phức hợp tấn công màng (MAC) trong đường dẫn cuối của hệ thống bổ sung Nó là một protein oligomeric bao gồm ba tiểu đơn vị C8A, C8B và C8G có nguồn gốc từ các gen khác nhau (Plumb và cs, 1999) Các tiểu đơn vị C8A và C8G liên kết cộng hóa trị thông qua liên kết disulphide, trong khi C8B được liên kết thông qua các liên kết không cộng hóa trị yếu hơn (Alper và cs, 1983) Các gen mã hóa cả C8A và C8B tương đồng với các thành phần bổ sung cuối cùng là gen C6, C7 và C9 trong khi C8G khác biệt vì
nó là thành viên của lipocalin, một họ protein liên kết các phối tử kỵ nước nhỏ (Dewald và cs, 1996, Schreck và cs, 2000) Protein lipocalin cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch bẩm sinh và phản ứng giai đoạn cấp
Trang 22tính với nhiễm trùng (Flo và cs, 2004) Những nghiên cứu tập trung vào việc phát hiện các đa hình của C8G và mối liên hệ của nó với hoạt động bổ sung tan máu ở heo đã được tiến hành (Do và cs, 2012)
Từ năm 1998, Nakajima và cộng sự đã công bố định vị vị trí gen pC8A trên vùng q3.3-3.5 của nhiễm sắc thể số 6 bằng phương pháp lai miễn dịch tại
chỗ in situ Việc xác định vị trí này trên bản đồ gen cũng đã được công bố
(www.ensembl.org), đánh giá gen pC8A được xác định trong vùng 110.311.107-110.360.077 trên nhiễm sắc thể số 6 Tương tự, vị trí của gen pC8B cũng được xác đinh trên cùng nhiễm sắc thể với pC8A nhưng vị trí của
nó trong khoảng 11 (1.258.223-110.299.383) Vị trí của hai gen pC8A và pC8B được xác đinh rất gần nhau, khoảng các từ gen này đến gen kia theo tính toán cách 11.824 nucleotid (Đỗ và cs, 2011)
Chức năng của bổ thể là kích hoạt dẫn đến sự hình thành phức hợp tấn công màng bao gồm các thành phần C5b-9 từ ba con đường phức tạp khác nhau Chức năng giúp ly giải các tế bào vi khuẩn Trong đó protein huyết thanh oligomeric C8 được lắp ráp từ các sản phẩm của ba chuỗi polypeptide không giống nhau, được mã hóa bởi ba gen riêng biệt C8A, C8B và C8G (Plumb và cs, 2000) Các tiểu đơn vị C8A và C8G liên kết cộng hóa trị thông qua liên kết disulfide, trong đó C8B được liên kết thông qua các liên kết không cộng hóa trị yếu hơn (Alper và cs, 1983) C8A liên kết trực tiếp với C9 thông qua mô-đun MACPF của nó trong quá trình hình thành MAC (Slade và
cs, 2006) Cả hai, khu vực mã hóa của con người (Rao và cs, 1987) và porcine (Nakajima và cs, 1998) C8A, đã được đặc trưng Tuy nhiên, người ta biết rằng sự biểu hiện gen được điều hòa tốt ở cấp độ sau phiên mã Các đặc điểm của các vùng mRNA chưa được dịch mã kiểm soát quá trình dịch mã, suy thoái và bản địa hóa của chúng bao gồm các cấu trúc vòng lặp gốc, các codon khởi đầu ngược dòng và các khung đọc mở, các vị trí nhập ribosome bên trong và các yếu tố hoạt động cis khác được liên kết bởi các protein gắn RNA (Mignone và cs, 2002) Cho đến nay, 5 vùng 5, bao gồm 5 chuỗi 5-UTR và trình tự khởi động xuôi dòng, của C8A ở người và heo chưa được phân tích Trong nghiên cứu hiện tại, một phân tích silico đã được thực hiện để phát hiện các yếu tố điều hòa tiềm năng trong khu vực này và giải trình tự so sánh đã được tiến hành để xác định biến thể di truyền có thể góp phần vào sự điều hòa phiên mã gen C8A ở heo
1.3.3 Gen chỉ thị MC4R liên quan đến chất lượng thịt ở heo
Gen thụ thể melanocortin 4 (MC4R) mã hóa một thụ thể kết hợp protein
G thể hiện ở các khu vực điều chỉnh sự thèm ăn của não tương tác với hóc mône adreno corticotropic và hóc mône kích thích melanocortin (MSH) và là
Trang 23thành viên của họ thụ thể melanocortin Họ gen này có liên quan đến việc điều chỉnh lượng thức ăn và cân bằng năng lượng (Bruun và cs, 2006) Ở heo, gen MC4R là một trong những gen ứng cử viên quan trọng thể hiện mối tương quan tích cực với đặc điểm chất lượng thịt Gen này đã được ánh xạ trên nhiễm sắc thể 1 (SSC1) của Sus Scrofa bởi (Kim và cs, 2012) Đa hình trong gen MC4R đã được báo cáo và được biết là có liên quan đến sự thay đổi đáng kể về chất lượng thịt heo Một đột biến tên lửa thay thế axit aspartic (Asp) bằng asparagine (Asn) ở vị trí 298 của chuỗi protein của sản phẩm gen MC4R (p.Asp298Asn) có liên quan đến thịt nạc và độ dày mỡ lưng trong quần thể heo thương mại của Bỉ, và một quần thể tổng hợp giống heo (DIV2)
ở Trung Quốc (Chao và cs, 2012; Van và cs, 2007) Tuy nhiên, ảnh hưởng của đột biến này không được quan sát theo kinh nghiệm và không thể xác nhận trong tất cả các quần thể được điều tra (Muñoz và cs, 2012; Park và cs, 2002; Stachowiak và cs, 2006; Stinckens và cs, 2009) Do đó, mục tiêu của nghiên cứu này là xác định xem gen MC4R có liên quan đến đặc điểm chất lượng thịt trong quần thể heo Rừng Lai Để đạt được điều này, chúng tôi đã xác định kiểu gen của đa hình đơn nucleotide c.892A> G (p.Asp298Asn) bằng cách sử dụng phân tích đa hình đoạn giới hạn phản ứng chuỗi polymerase (PCR-RFLP)
Gen Mc4R được giải trình tự gen và có hiện trong ngân hàng gen Theo kết quả của (Fan và cs, 2009) gen Mc4R của heo có 1681bp Vùng ADN mã hóa từ Nuleotit 910 đến Nucleotit 1393 mã hóa cho 483 aixt amnin Houston phân tích đa hình gen MC4R của quần thể heo Đại Bạch cho thấy đột biến Asp298Asn có mối liên quan đáng kể với độ dày mỡ lưng và tăng trọng trung bình hằng ngày Stachowiak phân tích đa hình gen MC4R của 2 giống heo Đại Bạch và Landrace Ba Lan cho thấy tần số alen A khác nhau đáng kể ở 2 giống tương ứng là 0,76 và 0,29 ở heo Đại Bạch và Landrace Alen A ở heo Landrace liên quan với tốc độ tăng trọng hằng ngày và tỷ lệ mỡ dắt trong cơ, nhưng ở heo Đại Bạch lại có tỷ lệ mỡ cao Bruun (2006) phân tích đa hình gen MC4R của heo lai Landrace x Hampshire cho thấy ở đàn heo F2 độ dày
mỡ lưng trung bình của heo mang kiểu gen GG, GA và AA tương ứng là 9,1; 10,6 và 11,1 mm Jokubka (2006 ) nghiên cứu mối liên quan của đa hình gen MC4R với các tính trạng sản xuất của heo cho thấy cá thể mang gen đột biến Asn298 trong các gen MC4R có tốc độ tăng trưởng trung bình hàng ngày và
tỷ lệ thịt nạc cao, nhưng độ dày mỡ lưng thấp Meidtner (2006) xác nhận đột biến Asp298Asn trong gen MC4R có mối liên quan với tốc độ tăng trọng hàng ngày của đàn heo lai F2 Mangalistax Pietrain Tác giả cho biết chỉ thị của gen MC4R là chỉ thị phân tử hữu ích để xác định độ tăng trọng của heo
Trang 24Kim (2006) phân tích đa hình gen Mc4R và HMGA1 của 470 heo Duroc nuôi
ở Hàn Quốc Cho thấy đa hình Gen HMGA1 có mối liên quan đáng kể đến độ dày mỡ lưng, nhưng không liên quan với tăng trọng trung bình hàng ngày và
tỷ lệ thịt nạc Trong khi đó đa hình gen Mc4R không liên quan với độ dày mỡ lưng, nhưng liên quan đáng kể với tốc độ tăng trọng hằng ngày và tỷ lệ thịt nạc Kang Kwon (2014), phân tích đa hình gen Mc4R nuôi ở Hàn Quốc cho thấy gen Mc4R có là chỉ thị đánh dấu để chọn heo có chất lượng thịt tốt Maria Anastasiadou (2017) Phân tích đa hình trong gen MC4R và GPX5 của
100 heo được nuôi ở Hy Lạp Cho thấy 2 gen Mc4R và GPX5 liên quan đến
các đặc điểm sinh sản như kích thước lứa đẻ
1.4 Khái quát về các giống bò thịt liên quan khu vực Tây Nguyên
Cho đến nay thì trên thế giới có rất nhiều giống bò, trong đó có những giống bò chuyên thịt, những giống bò chuyên sữa, những giống bò kiêm dụng thịt và sữa hoặc kiêm dụng thịt và cày kéo
Giống là một tập hợp các con vật cùng loài, với một số lượng khá lớn có chung một nguồn gốc, có những đặc tính về ngoại hình, sinh lý, lợi ích kinh tế và những điều kiện sống gần giống nhau Trong công tác giống thì có giống thuần và giống lai Chỉ tính riêng giống bò chuyên thịt nổi tiếng thế giới cũng đã có trên 60 giống hững giống bò chuyên thịt nêu trên thường là giống có trọng lượng lớn, con đực trưởng thành có thể nặng 1.200 - 1.350kg (Everett
và cs, 1990)
Các nước trên thế giới đã và đang quan tâm rất nhiều đến việc tạo các giống bò lai 2, 3 máu nhằm tận dụng ưu thế lai để hình thành các giống có khả năng sản xuất tốt và có chất lượng thịt thơm ngon hơn (Frisch và cs,
1998, Magana và cs, 2006) Kết quả điều tra của Hasker (2000) cho thấy trên tổng đàn bò của nước Úc thì bò lai chiếm khoảng 43%
Công tác giống bò nói riêng và công tác giống gia súc, gia cầm nói chung
ở các nước tiên tiến được quan tâm rất lớn và được quản lý rất chặt chẽ,
nghiêm túc
1.4.1 Khái quát về bò vàng địa phương
Bò vàng địa phương (bò vàng Việt nam) chủ yếu nuôi để lấy thịt và cày kéo, còn có tên chung là bò vàng Việt nam Tầm vóc của bò vàng Việt nam trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nhìn chung là nhỏ bé, trọng lượng 140 - 200kg/con trưởng thành Tỷ lệ thịt xẻ thấp, đặc biệt vùng đồng bào dân tộc thiểu số với phương thức chăn nuôi thả theo đàn thì tầm vóc của đàn bò là rất nhỏ U và yếm không phát triển, sắc lông thường vàng sẫm hoặc có con hơi trắng nhạt vì vậy có tên gọi chung là bò vàng, có nơi còn gọi là bò cóc, bò cỏ,
bò ta Bò vàng Việt nam có khả năng chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu
Trang 25khắc nghiệt, kham khổ, có thể sinh sống tốt ở vùng khí hậu nóng ẩm, biên độ thay đổi nhiệt độ lớn và khả năng chống chịu bệnh tật, ve, mòng rất tốt Tuy nhiên bò vàng Việt nam chậm thành thục, sinh sản muộn, sản lượng thịt và sữa rất thấp và khả năng cày kéo cũng không cao (Nguyễn Tấn Anh và cs, 2002; Trần Văn Chính và cs, 2001)
Các nhóm bò địa phương đang được nuôi trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên mặc dù có thể khác nhau về màu lông, biểu thị sự đa dạng về ngoại hình như màu sắc lông, tầm vóc cơ thể và được nuôi ở hầu hết các huyện (chiếm 70 - 90% tổng đàn bò) nhưng chúng cùng mang một số đặc tính đặc trưng giống nhau nhất là tầm vóc nhỏ bé, năng suất thịt thấp, lượng sữa chỉ đủ nuôi bê con nhỏ, có khả năng chịu được điều kiện khắc khổ, khả năng kháng bệnh và sinh sản khá tốt Kết cấu thân hình cân đối, bò cái trước thấp sau cao,
bò đực trước cao sau thấp Yếm không sâu nhưng cũng kéo dài từ hầu đến vú, cổ có nhiều nếp nhăn nhỏ Nhìn chung bò địa phương dễ nuôi, thành thục sớm, mắn đẻ, chịu đựng tốt với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, thích nghi được với phương thức chăn nuôi tận dụng, đầu tư ít, chăn thả tự do trong rừng Tuy nhiên, bò địa phương có nhược điểm lớn nhất là không đáp ứng được với yêu cầu chăn nuôi thâm canh và hiệu quả kinh tế thấp vì sinh trưởng chậm, năng suất thịt và sữa rất thấp, tỷ lệ thịt xẻ thấp Khả năng cày kéo của bò địa phương khá tốt, có thể làm việc được ở nhiều địa hình khác nhau
1.4.2 Khái quát về giống bò Zebu (Red Sindhi, Brahman)
Các giống Red Sindhi và Brahman thuộc giống bò Zebu của Ấn Độ (hoặc Pakistan), trọng lượng con trưởng thành 350 - 500kg Đối với giống Brahman có hai loại là Brahman trắng và đỏ Nguồn gốc Ấn độ và Pakistan,
là giống bò nhiệt đới, có khả năng thích nghi cao với khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm và điều kiện sống tương đối khắc nghiệt Đây là một giống bò tuyệt vời cho công tác lai tạo giống mới trên khắp thế giới, có khoảng trên 70% bò trên thế giới có mang máu Brahman Ở Việt Nam đã có một thời gian khá dài thực hiện chương trình Sind hóa đàn bò vàng Việt Nam và đến nay đã gặt hái được thành công (Ng T Anh, 2002); (Tr V Chính, 200)1; (V T Dũng, 2009) Ngoại hình giống thuần nhập từ nước ngoài:
Bò lai Zebu (lai Sind hoặc lai Brahman hoặc 3 máu)
Bò Lai Zebu là là giống bò lai tạo từ con đực Red Sindhi hoặc Brahman thuần với bò cái địa phương Đây là loại bò có tỷ lệ dòng máu của bò lai Sind hoặc Brahman do đó mang nhiều ưu điểm hơn so với các giống bò địa phương (Hình 2) Ưu điểm cụ thể là: mắn đẻ, nuôi con tốt, thích nghi được với điều kiện khí hậu nóng ẩm, ít bệnh, dễ nuôi, tính phàm ăn, kháng bệnh tốt
Trang 26và chịu được kham khổ Nhờ những ưu điểm này mà bò Lai Zebu hiện đã và đang bắt đầu được nuôi và lai tạo tại các tỉnh Tây Nguyên
Hình 2 Bò giống Red Sindhi và Brahman
Đàn bò lai Sind của tỉnh Đắk Nông chỉ chiếm từ 10 - 20% tổng đàn bò của toàn tỉnh Một số đàn có máu Sind hoặc Brahman nhưng không đáng kể Phần lớn đàn bò lai Zebu thường tập trung ở Gia Nghĩa và một số vùng trung tâm của các huyện Đắk mil, Cư Jut, Đắk Song (Hoàng Nghĩa Sơn, 2017) Bò Lai Sind có đặc điểm ngoại hình là đầu hẹp, trán gồ, tai to hơi cụp xuống , yếm có nhiều nếp nhăn kéo dài đến rốn (bò lai Brahman thì tai to, cụp xuống nhiều hơn và yếm cũng rộng, sâu hơn), u vai nổi rõ, âm hộ có nhiều nếp nhăn, lưng ngắn, ngực sâu, mông dốc, bầu vú phát triển, đuôi dài, lông có màu vàng hoặc vàng sẫm cũng có con có vá trắng
1.4.3 Khái quát về giống Droughtmaster
Là một giống bò thịt của Úc, trọng lượng con trưởng thành 400 - 600kg
Bò Droughtmaster chiếm số lượng lớn ở Úc, thích hợp khí hậu nhiệt đới, màu lông đỏ sậm và đỏ tối, không có sừng, đã được xuất sang các nước Đông Nam
Á, Venezuela và Đài loan (Hình 3)
Hình 3 Bò Droughtmaster thuần
Trang 27Tỷ lệ thịt xẻ cao, chất lượng thịt tốt Là giống Nhiệt đới, đã được nhập vào nuôi ở Việt nam trong mấy năm gần đây Là giống lớn con trung bình, thân dài, tròn, lông ngắn, thưa, mượt, da mỏng, đàn hồi tốt Màu lông từ màu vàng nhạt đến đỏ sậm Phần lớn bò đều không sừng, u lưng nhỏ, chân và móng chắc, khỏe Không bị trúng nắng, mò mắt, ung thư mắt, kháng ve, kí sinh trùng (Đặng Quang Điện 1996), (Trần Văn Chính, 2001)
Một số hộ chăn nuôi và trang trại trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đã bắt đầu tiến hành lai tạo bò Droughtmaster với bò cái nền lai Zebu Nếu xem bò lai Sind là giống nền phổ biến thì số lượng bò lai Drought Master hiện nay là lớn nhất trong tất cả giống bò lai của tỉnh Đắk Nông, nhưng tỷ lệ này so với tổng đàn bò toàn tỉnh thì cũng không đáng kể Bò lai Droughtmaster có lông màu vàng, thường mắt và mũi có màu hồng Phần lớn không có sừng hoặc có sừng ngắn Hiện nay chưa có một đánh giá khoa học nào về khả năng sinh trưởng và phát triển của bò lai Droughtmaster trên địa bàn tỉnh Đắk Nông
1.4.4 Một số nghiên cứu cải thiện năng suất đàn bò ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của Lê Xuân Cương và cs (2001) trong điều kiện chăn nuôi tại huyện Lâm hà, tỉnh Lâm Đồng cho thấy với chế độ nuôi dưỡng chăn thả kết hợp bổ sung thức ăn xanh tại chuồng, ở thời điểm 12 tháng tuổi , F1 giữa đực Charolais với bò địa phương đạt 165,7kg, F1 Simental đạt 151kg, F1 Brahman đạt 149kg và F1 giữa đực Red Sindhi với bò địa phương đạt 144,8kg Nếu lấy F1 Sind làm đối chứng thì mức tăng trọng từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi của con lai Charolais là cao nhất, tiếp đến là bò lai Simental, bò Brahman (giữa bò lai Sind và lai Brahman sự chênh lệch không đáng kể) Nguyễn Quốc Đạt và cs (1995) cho biết tại Bảo Lộc, Lâm Đồng với điều kiện nuôi dưỡng: Chăn thả 1 bò trên 1ha đồi chè và bổ sung thêm 10kg cỏ cắt, trọng lượng lúc 24 tháng tuổi của bê lai F1 Charolais đạt 350,46kg; bê lai F1 Simental đạt 314,48kg
Phạm Văn Quyến và cs (2009) cho thấy trong điều kiện chăn nuôi trang trại, các nhóm bò tham gia nghiên cứu được nuôi trong cùng một điều kiện thức ăn, chăm sóc theo phương thức nuôi dưỡng bán chăn thả tại Bến cát, Bình Phước cho thấy ở giai đoạn 18 tháng tuổi bê lai Charolais đạt 308,81kg,
bê lai Hereford đạt 209,63kg, bê lai Simental đạt 220,27kg và bê lai Sind đạt 205,50kg Ở giai đoạn 24 tháng tuổi bê lai F1 Charolais đạt 394,95kg; bê lai F1 Droughtmaster đạt 355,81kg; bê lai F1 Brahman đạt 318,09kg; trong khi
đó bê lai Sind chỉ đạt 276,50kg
Năm 2012, tại tỉnh Đắk Lắk nghiên cứu gủa Văn Tiến Dũng đã chỉ ra là trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, bò được chăn thả 6 - 8h/ ngày có cho ăn thêm cỏ và 1-2kg thức ăn tinh vào ban đêm, ở giai đoạn 21 tháng tuổi trọng
Trang 28lượng của bê lai Red Angus đạt 326,6kg; bê lai Droughtmaster đạt 299,1kg;
bê lai Limousin đạt 267,8kg và trọng lượng của bê lai Sind là 238,0kg Trong điều kiện chăn nuôi với lượng thức ăn thô đáp ứng đủ nhu cầu và có bổ sung thêm 1% thức ăn tinh theo trọng lượng cơ thể thì ở 21 tháng tuổi bê lai Red Angus đạt 329,9kg; bê lai Droughtmaster đạt 354,9kg; bê lai Limousin đạt 354,2kg và bê lai Sind là 257,2 kg
Việt Nam đã có nhiều chương trình lai tạo giống đàn bò, giúp cải tạo nâng cao năng suất sinh sản, sinh trưởng cũng như chất lượng của các giống bò hướng thịt Việc lai tạo với các cá thể bò đực ngoại nhập như bò Zebu, Red Sind, Brow Swiss, Holstein đã cho ra các cá thể bò lai có chất lượng cải tiến năng suất (Nguyễn Tiến Vởn và cs, 1984) Nhóm nghiên cứu của Bùi Ngọc Lẫy và công sự năm 1994 đã có những đánh giá về khả năng sinh trưởng và phát dục giữa bò vàng cái Việt Nam và bò đực Zebu Một nhóm nghiên cứu khác đã tiến hành nghiên cứu lai kinh tế cải tạo chất lượng bò thịt bằng cách
sử dụng tinh bò đực giống Lai Sind, Limousine, Simental với bò cái Lai Sind (Vũ Văn Nội và cs, 1995) Bò cái nền Lai Sind cũng đã được sử dụng trong nghiên cứu lai tạo bằng cách phối với tinh trùng bò Charolais, Tarentaise, Brahman (Đinh Văn Cải và cs, 2001, Hoàng Văn Trường và cs, 2005) Các phương pháp lai tạo trên đã giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện năng suất thịt bò
1.5 Nghiên cứu đánh giá chất lượng thịt bò
Trong sản xuất và chế biến, các đặc tính có thể đo và quan sát được của thịt được sử dụng để xác định giá trị thịt bò Đặc biệt, các phép đo chiều sâu
mỡ và cơ được sử dụng để đánh giá thân thịt, chúng đóng vai trò là chỉ số gián tiếp cho sản lượng thịt nạc và chất lượng thịt (Purchas và cs, 2012) Đạt được tiêu chuẩn chất lượng thịt bò cao là điều vô cùng quan trọng trong sản xuất và chế biến Đối với những ngành chăn nuôi dựa vào xuất khẩu thịt bò để đạt được lợi ích kinh tế, việc hoàn thiện chất lượng thịt bò là chìa khóa để duy trì và tăng thị phần toàn cầu (Scollan và cs, 2006)
Ngành chăn nuôi bò thịt chú trọng việc thúc đẩy tốc độ sinh trưởng nhanh hơn để đạt được trọng lượng giết mổ sớm hơn và cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn Sự lai tạo giữa bò giống thịt và giống sữa vừa mang lại lợi ích giúp bê con có trọng lượng lớn hơn nhờ dòng bò sữa mẹ vừa đồng thời tạo ra
ưu thế lai (Barton và cs, 1994; Hickson và cs, 2014) Tại New Zealand, ngành công nghiệp sữa đã cung cấp nguồn động vật tham gia vào hệ thống sản xuất thịt bò như là một cơ chế tăng sản lượng thịt bò (Barton và cs, 1994) Các giống bò sữa chủ lực được sử dụng ở New Zealand là: Holstein-Friesian
Trang 29(37%), Jersey (12%), Holstein-Friesian và bò lai Jersey (43%) (DairyNZ & Livestock Improvement Corporation, 2014)
Thịt kém chất lượng hoặc các vấn đề xấu về chất lượng thịt bò có thể cản trở việc sử dụng giống bò sữa hoặc giống lai để sản xuất thịt bò So với các giống bò thịt, giống bò sữa hoặc bò lai bò sữa có tỉ lệ thịt xẻ thấp hơn (Barton và cs, 1997; Barton và cs, 1994; Clarke và cs, 2009), sản lượng thịt nạc hoặc thịt có thể bán được đồng thời cũng thấp hơn (Clarke và cs, 2009), ít
mỡ trong thịt (bao gồm độ dày mỡ dưới da), nhiều mỡ ngoài thịt (Muir và cs, 2000), cấu trúc thịt và cơ xấu (Barton và cs, 1997; Warren và cs, 2008), các vấn đề với mỡ vàng và thịt kém săn chắc (Muir và cs, 2000; Purchas và cs, 2007)
Minchin và cs (2008) đã đề cập rằng tuổi tác có thể ảnh hưởng đến chất lượng thịt bò, chủ yếu ở động vật trẻ và già Một số thí nghiệm của các tác giả khác cho thấy độ tuổi còn ảnh hưởng đến màu sắc của thịt, hàm lượng mỡ bắp thịt, và lực cắt của thịt Đánh giá cảm quan của thịt cũng rất quan trọng, đặc biệt là khi được xử lý nhiệt Vì hương vị và màu sắc đóng vai trò chính trong các thông số cảm quan (Galli và cs, 2008) Ngoài ra, giới tính cũng ảnh hưởng đến chất lượng thịt bò (Goodson và cs, 2002)
1.6 Nghiên cứu ứng dụng các chỉ thị phân tử trong chọn giống bò
1.6.1 Nghiên cứu gen DGAT1 liên quan chất lượng thịt bò
Diacylglycerol acyltransferase 1 (DGAT1) là enzyme xúc tác cho quá trình tổng hợp triacylglycerol từ acyl-CoA và 1, 2-diacylglycerol Enzyme này đã được tìm thấy năm 1998 bởi Cases và cộng sự (1998) Nó đã được chứng minh rằng các đột biến nucleotide dẫn đến một sự thay thế axit amin lysine từ (K) để alanine (A) tại vị trí 232 (exon 8) trong chuỗi mã hóa DGAT1 liên quan đến lượng mỡ bắp bò (Thaller và cs, 2003) Lysine có một chuỗi bên mang điện tích dương và alanine có một chuỗi bên kỵ nước là một axit amin nhỏ hơn Các allele K gốc đã gắn liền với hoạt động cao của các enzyme này (Grisart và cs, 2002) Nghiên cứu lập bản đồ gen đã phát hiện nhiều đột biến gây đa hình bộ gen bò có tương quan với các tính trạng năng suất, qua đó
có thể giúp đánh giá tiềm năng di truyền để lựa chọn các cá thể ưu việt trong chương trình chọn, tạo giống (Nanaei và cs, 2013)
Ở bò, gen DGAT1 được coi là một gen tương quan rất chặt với tỷ lệ chất béo trong sữa và thịt (Nanaei và cs, 2013) Gen này nằm ở đầu centromeric của nhiễm sắc thể số 14 (BTA14), chứa chấp các QTL tác động lớn đến các tính trạng sản xuất mỡ sữa (Heyen và cs, 1999) và tỷ lệ mỡ giắt (Thaller và cs, 2003) Nguyên nhân là do gen DGAT1 mã hóa một enzyme
Trang 30màng, khi đột biến đã ảnh hưởng đến quá trình xúc tác làm cho bước cuối cùng trong tổng hợp triglyceride không xẩy ra (Lehner và cs, 1999)
Nghiên cứu của Thaller và cs (2003), đã xác định mối liên hệ giữa đa hình và IMF trên bò Holstein và Charolais của Đức, nghiên cứu đã tìm cho thấy có sự tương quan chặt hơn của đa hình gen này với tỷ lệ mỡ giắt trong cơ bắp chân so với cơ thăn Tuy nhiên, Pannier và cs (2010) đã tìm thấy sự khác biệt về tần số allele ở đột biến K232A giữa các giống bò khác nhau ở Ireland, nhưng không tìm thấy thông tin chứng tỏ đây đa hình ảnh hưởng đáng kể đến IMF trên các nhóm bò lai, ở cả cơ đùi và cơ thăn Trong một nghiên cứu về
bò lai Tây Ban Nha, Aviles và cs (2013) nhận thấy có mối liên hệ đáng kể giữa kiểu gen DGAT1 và chiều dày mỡ Gần đây, một nghiên cứu về các quần thể gia súc của Thụy Điển (Li và cs, 2013) đã tìm thấy mối liên hệ đáng
kể giữa kiểu gen DGAT1 và điểm số IMF cả sơ bắp chân và cơ thăm, theo đó với các động vật có kiểu gen dị hợp (KA) có mức chất béo cao hơn so với động vật đồng hợp (AA) Các đột biến điểm khác cũng được xác định trên gen DGAT1 ở các giống bò Trung Quốc cũng đã được xác định là có tương quan với một số tính trạng của thịt, bao gồm các chỉ số về mỡ giắt và độ mềm thịt tại vùng thăn (Yuan và cs, 2013)
1.6.2 Nghiên cứu gen Leptin liên quan chất lượng thịt bò
Leptin đã được phát hiện bởi Halaas và cs (1995) Từ leptos Hy Lạp có nghĩa là mỏng, mặc dù gen leptin được gọi là gen béo phì (Dandapat và cs, 2010) Ở bò, gen leptin nằm trên nhiễm sắc thể số 4 và bao gồm ba exon (Stone và cs, 1996) Hai exon cuối cùng chứa các trình tự mã hóa và được tách ra từ các promoter và exon đầu tiên của một intron lớn 14 kb (Buchanan
và cs, 2002) Nó là một loại hóc môn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa, chức năng là để ức chế sự thèm ăn, chẳng hạn như khi leptin không hoạt động sẽ dẫn đến sự gia tăng cảm giác đói (Ahani và cs, 2012) Trong huyết thanh bò nồng độ leptin đã được báo cáo là có tương quan với số vân mỡ và tỷ lệ mỡ giắt (Geary và cs, 2003) Đột biến allele T ở gen Leptin được xác định có tương quan với số điểm siêu âm màu cẩm thạch trong thớ thịt thăn (Nkrumah và cs, 2005) và cũng tương quan với độ mềm và chất lượng hương vị thịt bò (Gill và cs, 2009) SNP này không ảnh hưởng đến quá trình dịch mã, với mRNA, vì nó nằm trong vùng promoter, nhưng vẫn có thể quan trọng bởi vì một khu vực như vậy có thể điều tiết biểu hiện gen (Foote
và cs, 2015) Cho đến nay đã phát hiện 21 điểm đột biến trên gen leptin ở bò đen Hàn Quốc (Yoon và cs, 2005) và tần số đột biến là khác nhau ở mỗi điểm tùy theo mỗi giống bò (Dandapat và cs, 2010) Tùy vào vị trí đột biến, Kawaguchi và cs (2017) nhận thấy 3 trong số tám đột biến điểm (Y7F, R25C
Trang 31và A80V) trong vùng mã hóa của gen leptin ở bò đen của Nhật Bản có liên quan đến các tính trạng thớ thịt hoặc thành phần axit béo của thị và hai trong số này (R25C Và A80V) có thể được sử dụng làm marker DNA hiệu quả để
sử dụng vào mục đích chọn lọc nhằm cải thiện thành phần acid béo trên giống
bò này
1.6.3 Nghiên cứu gen SCD1 liên quan chất lượng thịt bò
Stearoyl-CoA desaturase 1 (SCD1) là một enzyme được tìm thấy hầu hết ở động vật có vú (Milanesi và cs, 2008) Chịu trách nhiệm cho việc chuyển đổi và điều tiết của quá trình bão hòa các axit béo đơn không bão hòa trong các mô động vật có vú, SCD1 cũng được gọi là delta 9-desaturase vì liên kết đôi được gắn vào carbon thứ chín từ cuối omega trong phân tử Một trong những gen ảnh hưởng đến thành phần axit béo trong sữa, mô mỡ và thịt
là Stearoyl-CoA desaturase-1 (Milannesi và cs, 2008; Orru và cs, 2011) Quá trình sinh tổng hợp palmitoleyl-CoA và oleyl-CoA từ palmitoyl CoA và stearoyl-CoA được xúc tác bởi enzym SCD1, các chất nền này rất quan trọng cho sự hình thành triacylglycerols, phospholipids, cholesterol và cấu trúc dạng estes (Mauvoisin và cs, 2011) Sự biểu hiện gen SCD1 ảnh hưởng đến thành phần axit béo trong màng phospolipid, trigliseride và cholesteryl ester, chuyển hóa chất béo và béo phì, nó cho thấy vai trò đáng kể của gen SCD1 được quy định trong các quá trình sinh lý (Scaglia và cs, 2009)
Đột biến thay thế axit amin Alanin bằng Valin ở vị trí 293 (A293V) trong gen SCD tương ứng thay nucleotide G bằng A tại vị trí 1.878, dường như không tạo sự khác biệt về cấu trúc protein Nhưng đột biến này được đánh giá là có ảnh hưởng đến thành phần chất lượng thịt trên bò (Taniguchi và cs, 2004; Ohsaki và cs, 2009; Barton và cs, 2010; Orru và cs, 2011)
Sự biến đổi allen của gen SCD1 trên giống bò lai Wagyu x Limousin, góp phần quá trình tích lũy chất béo, tỷ lệ mỡ giắt và thành phần của axit béo trong thịt (Jiang và cs, 2008) Đột biến điểm (SNP - Single Nucleotide Polymorphism) tại exon 5 (T10329C/T878C) chuyển đổi mã hóa axit amin Valine thành Alanine (Val293Ala) gây ra sự khác biệt về thành phần axit béo trong da ở bò đen Nhật Bản (Taniguchi và cs, 2004 Ohsaki và cs, 2009) Vì vậy, SNP V293A này có tiềm năng như là một ứng cử viên cho chỉ thị phân tử
để lựa chọn cá thể có chất lượng thịt tốt hơn trên bò đen Nhật Bản (Ohsaki và
cs, 2009) Đa hình gen SCD1 trên các giống bò khác nhau cũng biến động khác nhau Nghiên cứu của Milanesi và cs (2008) trên đàn bò Italia cho thấy tần số allen C ở T878C giao động từ 89% ở giống bò Grey Alpine và 34% ở giống bò Red Piedmintosa Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tần số allen C cao hơn ở những giống bò thịt (Milanesi và cs, 2008) Đối với giống bò ở Bali
Trang 32kiêu gen SCD1 là dạng monomorphic, đã không có đột biến ở gen này Giống
bò ở Bali là một bò bản địa của Indonesia, nó được cho là được thuần hoá từ Banteng (Hilmia và cs, 2017) Chính phủ Inđônêxia đã có chương trình bảo vệ sự thuần chủng của đàn bò ở Bali, thông qua việc cấm lai giống bò này với các giống khác Nhiều nghiên cứu cho thấy không có thể đột biến trên gen SCD1 trên đàn ở bò Bali (Zulkarnain và cs, 2010)
Ở Việt Nam, nghiên cứu đa hình các gen chỉ thị chất lượng thịt đã được tiến hành trên nhiều đối tượng và với các gen chỉ thị khác nhau Tuy nhiên, đối cới các gen chỉ thị này trên bò lai sindhi cho đến nay còn chưa được công bố Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát đa hình gen Leptin, DGAT1 và SCD1 trên đàn bò nuôi tại Đắk Nông
1.7 Nghiên cứu về tinh giới tính
Lựa chọn giới tính bê con sẽ có lợi ích đáng kể cho người chăn nuôi Lập
kế hoạch lựa chọn giới tính bê con trước khi thụ thai là phương pháp hiệu quả nhất để giảm chi phí và đạt được kết quả mong muốn Sử dụng tinh trùng đã xác định giới tính cho phép sản xuất con đực hoặc con cái để tận dụng các đặc điểm ưu thế về giới tính trên bò thịt hay bò sữa Để có thể sử dụng tinh đã xác định giới tính rộng rãi, kỹ thuật lựa chọn giới tính tinh phải hiệu quả và khả năng thụ tinh của sản phẩm sau lựa chọn phải ở mức chấp nhận được và giá thành hợp lý
1.7.1 Kỹ thuật lựa chọn giới tinh tinh bằng máy lọc dòng chảy
Ở động vật có vú, giới tính cái được xác định bởi sự kết hợp của cặp nhiễm sắc thể XX và giới tính đực được quy định bởi cặp XY Vì nhiễm sắc thể X và Y có chiều dài khác nhau, nên có thể phân biệt tinh trùng mang nhiễm sắc thể X và Y do sự khác biệt về hàm lượng ADN của chúng Hiện nay, phương pháp sử dụng dòng chảy tế bào để phân loại tinh trùng theo giới tính đã được áp dụng trong thực tế Phương pháp này có thể tạo ra các quần thể tinh trùng X hoặc Y với độ chính xác tới 95 %
Trước tiên, tinh trùng được xử lý với thuốc nhuộm DNA Hoechst
33342, sau đó được cho qua hệ thống dòng chảy kết nối chùm laser huỳnh quang xanh Các tinh trùng nhuộm sẽ nhận ánh sáng kích thích từ chùm laser
và phát ra tín hiệu được đo bằng hệ thống đâu dò Các tín hiệu thu được được
xử lý thông qua máy tính có kết nối trực tiếp với hệ thống phân tách Sau đó, dựa trên dữ liệu phân tích, tinh trùng nhuộm màu huỳnh quang được sắp xếp theo lượng DNA bằng cách tích diện dương cho các giọt chứa tinh trùng X và điện âm cho giọt chứa tinh trùng Y (Hình 4)
Trang 33Hình 4 Cơ chế phân loại giới tính tinh bằng kỹ thuật dòng chảy (Hopper và cs.,
2015)
1.7.2 Thụ tinh nhân tạo bằng tinh đã xác định giới tính
Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ phân loại tinh bằng kỹ thuật dòng chảy liên tục để tạo ra con được lựa chọn giới tính đạt khoảng 90 % và đảm bảo điều kiện có thể thương mại hóa Công nghệ được đưa vào ứng dụng
ở Vương quốc Anh vào năm 2000 Hiện nay, một số trung tâm ở Mỹ cũng đã triển khai công nghệ này Do vậy, thị trường liên quan tới cá thể con cái xác định giới tính đã phổ biến trên toàn thế giới
Mặc dù đã thành công, tuy nhiên việc phân loại giới tính tinh có ảnh hưởng đến khả năng tồn tại tinh trùng và chất lượng tinh (Vishwanath và cs, 2018) Ngoài ra, vì lý do kinh tế, số lượng tinh trùng trong các liều tinh phân loại giới tính giảm xuống còn khoảng 2 triệu tinh trùng mỗi liều Trong các chương trình nhân giống sử dụng tinh dịch thông thường, một số yếu tố gây ra
sự khác biệt về khả năng thụ tinh là khả năng tăng số lượng tinh trùng trong một liều thụ tinh, trong khi ở tinh đông lạnh làm điều này hết sức khó khăn Thành phần tối thiểu để cho một liều thụ tinh là khoảng 4,0 triệu tinh trùng Tuy nhiên, tùy theo sự khác biệt giữa các đực giống, phạm vi là 1-11 triệu tinh trùng mỗi liều là có thể đáp ứng yêu cầu cho một liều thụ tinh nhân tạo Nghiên cứu của Vishwanath và cs (2018) cho thấy việc áp dụng liều chứa 2,1 triệu tinh trùng đã được phân loại giới tính ở bò Holstein mang lại tỷ lệ thụ thai đạt khoảng 75 - 80 % so với khi thụ tinh bằng tinh dịch thông thường, tỷ lệ này phù hợp với kết quả thực nghiệm tại Hoa Kỳ Kết quả này cho thấy rõ ràng có sự khác biệt về sinh lý giữa tinh trùng phân loại giới tính và tinh trùng chưa phân loại Do đó, một bộ nguyên tắc khác cần được triển khai trong
Trang 34chương trình thụ tinh nhân tạo với tinh xác định giới tính so với cách sử dụng như tinh thông thường Ngược lại, các kết quả thử nghiệm thực tế cho thấy khả năng thụ tinh của tinh đã xác định giới tính chưa đông lạnh không có sự khác biệt so với tinh không phân lọai Dữ liệu từ các thử nghiệm ở quy mô lớn ở New Zealand cho thấy tinh trùng được phân loại theo giới tính ở nồng
độ 1 triệu có tỉ lệ thụ tinh từ 93% đến 97% tương đương với liều tinh thông
thường ở nồng độ 2 triệu (Vishwanath và cs, 2018)
Trang 35VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Tuyển chọn, ổn định giống heo rừng thuần
2.1.1 Đối tượng và địa điểm thu thập heo rừng Tây Nguyên
Giống heo rừng Tây Nguyên thuần được thu nhận trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên và các vùng giáp ranh với các tỉnh Tây Nguyên Heo rừng tự nhiên chủ yếu do săn bắt mà có nên địa bàn săn bắt cũng khá rộng, có thể giao thoa giữa các địa bàn giáp ranh nhau
Heo rừng Tây Nguyên được cho là thuần để tiến hành thu nhận trước khi đánh giá bằng phương pháp sinh học phân tử là những con heo rừng mua được của người dân mới bẫy từ trong rừng thuộc các tỉnh Tây Nguyên và vùng giáp ranh với các tỉnh Tây Nguyên Đặt các trạm để thu nhận heo rừng tại Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông
2.1.2 Phương pháp đánh giá heo rừng Tây Nguyên thuần để thuần hóa
Phương pháp đánh giá ngoại hình:
Những heo rừng được thu nhận có ngoại hình thon dài, phần đầu và ngực phát triển hơn phần sau, mõm dài, có 3 chấu lông chụm vào một chỗ, lông màu xám Những con heo rừng non có lông sọc dưa rất rõ Da heo rừng thường dày, màu chính là xám nhưng cũng có sự thay đổi theo thời gian Chỉ chọn những con có vết thương không quá nặng, không bị hoại tử chân
Đánh giá bằng phương pháp sinh học phân tử:
Đánh giá mối quan hệ di truyền và cây phát sinh loài dựa trên các gen
D-Loop, Chytocrom b, 16S (xem trình bày ở phần 2.3)
2.1.3 Chọn heo rừng Tây Nguyên thuần làm giống
Những heo rừng đực và cái sau khi thu nhận phải được đánh giá nguồn gốc bằng phân tích ADN Những con được xác định là heo rừng Tây Nguyên sẽ được đánh giá về một số tiêu chuẩn như ngoại hình, tập tính trước khi chọn để thuần hóa và nhân thuần, lai tạo (theo TCVN 3897-84, TCVN 3898-
84, TCVN 1280-81)
Chọn heo rừng Tây Nguyên đực
Chọn những con đầu thanh, mặt dài, lưng thẳng, bụng thon không sệ, 4 chân cao, thẳng và vững chắc Lông bờm dựng đứng chạy dài từ cổ tới lưng Da không sần sùi, không thô ráp Chọn những con không quá nhát hoặc không quá hung dữ Hai tinh hoàn lộ rõ, to và cân đối, độ đàn hồi tốt
Chọn heo rừng Tây Nguyên cái:
Nái sinh sản phải không có khuyết tật, ngoại hình cân đối, hiền lành
Trang 36Cần quan tâm tới 3 bộ phận: cơ quan sinh dục, vú và khung xương Heo cái hậu bị phải chọn những con có cơ quan sinh dục phát triển bình thường cả về hình thể và hoạt động Chọn heo rừng cái có 5 đôi vú đồng đều mỗi bên, có khung xương và 4 chân chắc, khoẻ, nhanh nhẹn và linh hoạt
2.1.4 Hệ thống chuồng trại thuần dưỡng
Hệ thống chuồng trại thoáng mát, các cá thể heo rừng được nhốt đơn lẻ trong mỗi chuồng với diện tích 12m2 có mái che và 15m2 sân vận động Hệ thống camera được sử dụng để quan sát đánh giá hoạt động của heo rừng trong các thời gian khác nhau, đặc biệt là thời gian động dục và giao phối Mỗi ô chuồng đều được trang bị hệ thống nước uống tự động, máng hứng nước và máng chứa thức ăn
2.1.5 Chăm sóc thuần dưỡng
Khẩu phần ăn cho heo từ lúc cai sữa đến trưởng thành là:
- Thức ăn tinh: từ cai sữa (55 ngày tuổi) đến 75 ngày tuổi 400gram cám con Cò/con/ngày Từ 75 ngày tuổi đến 90 ngày tuổi 600 gram cám Con Cò mỗi ngày Từ 90 ngày tuổi đến 6 tháng tuổi 1.000 gram mỗi ngày Chia thức ăn tinh cho ăn 2 bữa, vào lúc 8h sáng và 17h chiều hàng ngày
- Thức ăn xanh: Rau xanh, cỏ được cho ăn tự do, đảm bảo cung cấp từ 0,5 - 1,0kg thức ăn xanh cho mỗi con trong 1 ngày
Đo các chiều của xương đầu của heo rừng để so sánh với heo nhà
2.2 Chăn nuôi heo rừng lai thương phẩm
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Heo rừng lai F1 có 3 loại, được tạo ra từ lai tạo giữa heo đực giống rừng Tây Nguyên với heo nái Móng cái (MC), heo nái Sóc Tây Nguyên (S) và heo đen địa phương (LH) Heo nái có sức khỏe tốt được nhập từ cơ sở trung tâm cung cấp giống Móng cái thuần và từ vùng Đồng bào dân Tộc ở tỉnh Gia Lai Các cá thể heo lai F1 được nuôi tại trang trại của Viện Sinh học nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt nam và trang trại heo rừng của HTX Minh Tâm, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông
Trang 372.2.2 Phương thức chăn nuôi
Heo thí nghiệm được nuôi theo phương thức bán chăn thả, tại trang trại chăn nuôi của viện Sinh học nhiệt đới và HTX Minh Tâm
- Heo con cai sữa lúc 50 – 55 ngày tuổi Bắt đầu tập ăn cho heo con theo mẹ lúc 25 – 30 ngày tuổi
- Thức ăn tinh: từ cai sữa (55 ngày tuổi) đến 75 ngày tuổi 400gram cám Con
Cò loại hàm lượng đạm cao cho 1 con mỗi ngày Từ 75 ngày tuổi đến 90 ngày tuổi 600 gram cám Con Cò cho 1 con mỗi ngày Từ 90 ngày tuổi đến 6 tháng tuổi 1.000 gram cám Con Cò loại thường mỗi ngày Chia thức ăn tinh cho ăn
2 bữa, vào lúc 8h sáng và 17h chiều hàng ngày
- Thức ăn xanh: Rau xanh, cỏ được cho ăn tự do theo nhu cầu, đảm bảo cung cấp từ 0,5 - 1,0kg thức ăn xanh cho mỗi con trong 1 ngày
2.2.3 Đánh giá tốc độ sinh trưởng của heo rừng lai F1 qua các giai đoạn
Tính trọng lượng heo qua các mốc thời gian: sơ sinh, 1 tháng tuổi, 2 tháng tuổi (cai sữa), 3 tháng tuổi, 8 tháng tuổi Cân heo từng con một bằng cân Nhơn Hòa có biên độ cân 100kg đối với heo lớn, 1kg đối với heo sơ sinh để cân heo lúc chưa cho ăn
Tính tăng trọng trung bình trong thời gian nuôi thịt (g/con/ngày): A = V1)/(T2-T1), trong đó: A: tăng khối lượng tuyệt đối (g/con/ngày), V1: là khối lượng ứng với thời gian T1 (g); V2: là khối lượng ứng với thời gian T2 (g)
(V2-2.2.4 Đánh giá khả năng cho thịt
Kết thúc thí nghiệm, mỗi loại heo chọn ngẫu nhiên 10 con đưa vào mổ khảo sát, mỗi đợt 5 con F1 thuộc 3 nhóm 6 tháng tuổi, thu ngẫu nhiên từ đàn Đánh giá các chỉ tiêu về: tỷ lệ móc hàm; tỷ lệ thịt xẻ; tỷ lệ nạc và độ dày mỡ lưng theo Marsico và đồng tác giả (2007)
Khả năng sinh trưởng: khối lượng bắt đầu nuôi thịt (kg), khối lượng kết thúc nuôi thịt (kg), sinh trưởng tích luỹ qua các tháng tuổi (kg), tăng trọng tuyệt đối qua các tháng tuổi (g/ngày) Cân khối lượng heo từng con hàng tháng bằng cân đồng hồ Nhơn Hòa loại 20kg và 60kg Sử dụng thước dây để
đo vòng ngực và dài thân của heo cùng các thời điểm cân khối lượng Số liệu cân đo, đong đếm hàng tháng được ghi chép vào sổ sách theo dõi trong thời gian nuôi thí nghiệm Sinh trưởng tích luỹ: là khối lượng heo tại các thời điểm sinh trưởng Heo được cân từng con vào ngày cố định hàng tháng vào buổi sáng trước khi cho heo ăn
Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức: A = (P2 − P1)/(T1 − T2) Trong đó: A: sinh trưởng tuyệt đối (gam/ngày) P1, T1: khối lượng heo cân tại thời điểm T1 (g) P2, T2: khối lượng heo cân tại thời điểm T2 (g)
Trang 38- Năng suất thân thịt và chất lượng thịt: khối lượng giết mổ (kg), khối lượng móc hàm (kg), khối lượng thịt xẻ (kg), tỷ lệ thịt móc hàm (%), tỷ lệ thịt xẻ (%), chiều dài thân thịt (cm), độ dày mỡ lưng (mm), diện tích cơ thăn (cm2 ),
tỷ lệ mất nước bảo quản sau 1, 24, 48, 72 giờ, 7 ngày (%), tỷ lệ mất nước chế biến (%), giá trị pH ở thời điểm 1 giờ, 24 giờ và 48 giờ, 7 ngày sau khi giết thịt, độ dai của thịt thăn (N) và màu sắc thịt Mỗi lô tiến hành mổ khảo sát 5 heo thịt (3 đực thiến và 2 cái), chọn những con có khối lượng trung bình của toàn đàn để xác định các chỉ tiêu về năng suất thân thịt và chất lượng thịt
2.2.5 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Sigma Plot, đánh giá bằng các giá trị
trung bình (TB) và sai số tuyệt đối (SSTĐ)
2.3 Đánh giá chất lượng thịt heo lai F1 của 3 mô hình lai
Các thí nghiệm được lặp lại 5 lần, P ≤ 0.05 được đánh giá là có ý nghĩa thống kê Tiến hành đánh giá các chỉ tiêu về tỷ lệ mất nước sau 24 giờ bảo quản, độ pH và phân tích thành phần hoá học theo Marsico và cs (2007)
2.3.1 Thu nhận mẫu
Đánh giá chất lượng thịt ở ba nhóm heo F1: rừng lai Móng Cái, rừng lai Sóc
và heo Landrace Mỗi nhóm thí nghiệm được lấy với số mẫu là năm Mẫu thịt dùng cho đánh giá là thịt đùi Thịt được thu nhận tại các lò mổ, được ghi số nhận diện cho từng mẫu
2.3.2 Đánh giá hàm lượng Sắt, Lipid, Protein
Các mẫu thịt đùi của ba nhóm nghiên cứu (heo lai Móng Cái, heo lai Sóc, heo Landrace) ngay sau khi giết mổ được gửi đến Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm TPHCM – CASE, Số 02 Nguyễn Văn Thủ, phường Đa Kao, quận
1, Tp HCM để phân tích hàm lượng Sắt, Lipide và Protein Các thí nghiệm phân tích được lặp lại ba lần, mỗi lần sử dụng 100g mẫu thịt
để phẩn thịt cắt nhuyễn ngập điện cực
Mỗi mẫu thịt heo, thí nghiệm được lặp lại 3 lần
Trang 392.3.4 Đánh giá mất nước bảo quản
Tỷ lệ mất nước bảo quản (%) được xác định trên các mẫu cơ đùi bảo quản tại phòng thí nghiệm ở các thời điểm 24 giờ, 48 giờ và 7 ngày
Đánh giá tỷ lệ mất nước được tiến hành theo Marsico và đồng tác giả (2007)
2.3.5 Đánh giá mất nước chế biến
Tỷ lệ mất nước chế biến (%) được xác định trên các mẫu cơ đùi bảo quản tại phòng thí nghiệm ở các thời điểm 24 giờ, 48 giờ và 7 ngày đem hấp cách thủy
1 giờ, cân khối lượng trước và sau khi hấp
Công thức tính được thực hiện như sau:
Tỷ lệ mất nước chế biến=(P1-P2)/P1 ×100
P1: khối lượng mẫu trước khi chế biến; P2: khối lượng mẫu sau chế biến
2.3.6 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Sigma Plot, đánh giá bằng các giá trị trung bình (TB) và sai số tuyệt đối (SSTĐ)
2.4 Thu nhận, lưu giữ nguồn tinh heo rừng
2.4.1 Khai tác tinh tươi từ nhảy giá
Khai thác tinh heo bằng tập nhảy giá hoặc thu trực tiếp khi heo đực nhảy lên heo cái động dục
Môi trường pha loãng tinh dịch:
- Sử dụng môi trường pha loãng tinh heo GUELF thường sử dụng (Pháp):
Glucoze 60g, Citrat de sodium 3,7g, EDTA 3,7g, Bicarbonnat Na 1,2g, nước
cất vừa đủ 1000ml (nước cất được đong bằng ống đong 1000 ml)
- Hòa tan môi trường vào nước cất ở nhiệt độ phòng, không chênh quá nhiệt
độ tinh dịch 2oC Môi trường ban đầu nên sử dụng ngay sau khi pha Nếu chưa sử dụng thì nên bảo quản lạnh 0 - 4oC nhưng không để quá 24h
Xác định pH tinh dịch
- Trộn đều tinh dịch của heo Đưa giấy đo pH vào tinh dịch Chờ cho đến khi màu sắc của giấy pH ổn định (trong khoảng 30 giây)
- Mỗi đợt lấy tinh tiến hành đo pH 3 lần và lấy số liệu trung bình
Đánh giá màu sắc, mùi và các đặc điểm hiển vi của tinh trùng
- Trộn tinh dịch đồng nhất, đánh giá bằng mắt thường về màu sắc tinh dịch Màu sắc tinh dịch được đánh giá độc lập của 3 người sau đó trao đổi và thống nhất chung
- Đánh giá mùi tinh dịch bằng phương pháp ngửi, để lọ đựng tinh cách mũi
3 cm, được thực hiện bởi 3 thành viên sau đó thống nhất chung
- Đánh giá hoạt lực của tinh trùng: Chuyển 20 µl tinh dịch lên lame, đậy bằng lamelle, quan sát dưới kính hiển vi để đánh giá chất lượng tinh trùng
Trang 40Kiểm tra số lượng tinh trùng
Nồng độ tinh trùng có trong 1 ml tinh dịch (C) và tổng số tinh trùng của
1 lần xuất tinh
Dung dịch để giết chết và pha loãng đếm tinh trùng được dùng trong thí nghiệm là dung dịch TRIS của IMV, Pháp: 4g NaCl + 1ml Formol + 100ml H2O (tương ứng: 4% NaCl + 1% Formol)
Lấy một lượng tinh đủ để phục vụ đếm tinh trùng và làm các kiểm tra khác, pha dung dịch trên với lượng tinh này ngay sau khi thu nhận với tỷ lệ 1/50 hoặc tỷ lệ 1/100 tùy thuộc vào người đếm
Dùng buồng đếm hồng cầu có 16 ô vuông (buồng Thomas) để đếm tinh trùng
Số tinh trùng đếm được là N Thể tích 1 ô vuông của buồng đếm hồng cầu là 0,2*0,2*0,1 = 0,004mm3 = 4*10-6 ml
Công thức tính nồng độ tinh trùng:
C = N/4 * n * 10-6 = N * 106/4 * n
Nếu tính trước pha loãng thì C = N*D*106/4*n
(D: tỷ lệ pha loãng 1/50 hoặc 1/100)
Chất lượng tinh dịch đạt yêu cầu để tiếp tục sử dụng
- Yêu cầu chất lượng tinh dịch đưa vào pha loãng, bảo quản:
+ Có màu sắc đẹp, màu trắng sữa hoặc trắng đục, trắng ngà
+ Mật độ tinh trùng đạt tiêu chuẩn, hoạt lực không dưới 70%
+ Tỷ lệ tinh trùng chết không quá 30%, không có tinh trùng kết tụ từng đám + Tỷ lệ kỳ hình không quá 20%, pH từ 6,5 - 7,0
2.4.2 Khai thác và đông lạnh tinh trùng heo rừng Tây Nguyên thu nhận
từ mào tinh
Kỹ thuật khai thác
- Bắt giữ và cố định heo rừng đực, sử dụng những heo đực từ 8 tháng tuổi trở lên để thu tinh từ mào tinh Mổ bao dịch hoàn và thu nhận tinh hoàn Chuyển dịch hoàn heo về phòng thí nghiệm