1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển hoạt động logistics đáp ứng nhu cầu của thương mại điện tử tại việt nam

82 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 487,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOHỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ TRƯƠNG HÀ MY Mã sinh viên 18A4050162 Tên đề tài PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐÁP ỨNG NHU CẦ

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ

TRƯƠNG HÀ MY

Mã sinh viên 18A4050162

Tên đề tài PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ

TRƯƠNG HÀ MY

Mã sinh viên:

18A4050162

Tên đề tài PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh doanh quốc tế

Mã số: 734.01.20 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:

Th.S LÊ HÀ TRANG

Hà Nội, ngày 21 tháng 5 năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng Khóa luận nghiên cứu với chủ đề: “Phát triển hoạt độnglogistics đáp ứng nhu cầu của thương mại điện tử tại Việt Nam” là công trình nghiêncứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn của Th.S Lê Hà Trang - Học viện Ngân Hàng.Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dướibất kì hình thức nào trước đây Những số liệu sử dụng trong việc phân tích trong Khóaluận được thu thập từ các nguồn khác nhau và ghi rõ trong danh mục Tài liệu thamkhảo Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về Khóa luận của mình

Ngày 21 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trương Hà My

Trang 4

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

LỜI MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 13

1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 13

1.1.1 Khái niệm logistics 13

1.1.2 Đặc điểm của ngành Logistics 15

1.1.3 Các hình thức hoạt động logistics 17

1.1.4 Các nhân tố tác động đến Logistics 19

1.2 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 21

1.2.1 Khái niệm thương mại điện tử 21

1.2.2 Đặc điểm của thương mại điện tử 23

1.2.3 Hình thức thương mại điện tử 25

Loại hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và chính phủ (B2G) 26

1.2.4 Tác động của TMĐT đến nền kinh tế 26

1.3 VAI TRÒ CẢU LOGISTICS VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TMĐT 30

1.3.1 Vai trò của logistics trong chuỗi cung ứng tong thể 31

1.3.2 Vai trò của logistics trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 35

2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 35

2.1.1 Thực trạng hoạt động Logistics tại VN 35

2.1.2 Thực trạng Thương mại điện tử Việt Nam 43

2.2 THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA LOGISTICS VÀ TMĐT 54

2.2.1 Thực trạng mối liên kết 54

2.2.2 Tình hình mối liên kết giữa Logistics và thương mại điện tử tại một số DN 56 2.3 ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA LOGISTICS VỚI NHU CẦU TMĐT

61 2.3.1 Thành tựu 61

2.3.2 Hạn chế 64

Trang 5

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS ĐÁP

ỨNG NHU CẦU CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 70

3.1 XU THẾ VÀ CƠ HỘI PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH LOGISTICS TMĐT 70

3.1.1 Xu hướng tương lai 70

3.1.2 Cơ hội của logistics Việt Nam 72

3.2 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOGISTICS ĐÁP ỨNG NHU CẦU CỦA TMĐT 72

3.2.1 Tăng tính liên kết của các doanh nghiệp thuộc 2 lĩnh vực 72

3.2.2 Thay thế các nhà kho truyền thống thành các trung tâm phân phối 73

3.2.3 Đầu tư công nghệ 73

3.2.4 Nâng cao trình độ đội ngũ nhân lực 74

3.2.5 Ứng dụng các phần mềm quản lí vào trong việc quản lí nhà kho, trung tâm phân phối hàng hóa 75

3.3 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 75

3.3.1 Xây dựng các khung pháp lý cho logistics thương mại điện tử 75

3.3.2 Liên kết phối hợp giữa các bộ, ban, ngành liên quan 75

3.3.2 Cải thiện hạ tầng cơ sở giao thông 76

Trang 6

CNTT Công nghệ thông tin

EBI Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử Việt nam

ICT Công nghệ thông tin và truyền thông

LPI Chỉ số Năng lực Logistics

RFID Nhận dạng qua tần số vô tuyến

UNCTAD Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triểnVECOM Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam

VLA Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam

WEF Diễn đàn kinh tế thế giới

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

Bảng 2.1: Xep hạng Năng lực Logistics quốc gia 2018 36Bảng 2.2: Chỉ số đánh giá Mức độ cạnh tranh của Cơ sở hạ tầng giao thông

Biêu đô 2.1: Doanh thu và tỉ lệ tăng trưởng TMĐT Việt Nam 2016 -2018 45Biêu đô 2.2: Số người tham gia hoạt động TMĐT tại Việt Nam 2016-2020 46Biêu đô 2.3: Tỷ lệ các thiết bị dùng đê mua sắm trực tuyến năm 2016-2018 52Biêu đô 2.4: Tỷ lệ thanh toán đơn hàng TMĐT 2018 53Biêu đô 2.5: Xếp hạng website TMĐT dựa vào lượng truy cập 2018 55Biêu đô 2.6: Các yếu tố người mua hàng quan tâm khi mua sắm trực tuyến 57Biêu đô 2.7: Trở ngại khi mua hàng trực tuyến 57

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Thương mại điện tử đang bùng no mạnh mẽ trên toàn thế giới và phát triển mạnh mẽ tạiViệt Nam những năm gần đây Internet ngày càng phổ biến, số lượng người sử dụng diđộng thông minh tăng nhanh, ứng dụng khoa học vào công nghệ ngày càng nhiều vàchúng ta luôn có nhu cầu về mua sắm khiến cho thương mại điện tử tăng trưởng cáchnhanh chóng

Trong TMĐT, logistics đóng vai trò quan trọng, như là một cầu nối giữa TMĐTvới khách hàng Để nhận được hàng hóa, chúng ta đều cần đến logistics Chúng ta cóthể thấy rõ mối liên kết giữa TMĐT và logistics trong sự phát triển của các quốc giaphát triển mạnh trong khu vực như Singapore, Trung Quốc hay Àn Độ Logistics ViệtNam dù đang trong giai đoạn phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu lớn từTMĐT Điều này được chỉ rõ hơn trong khuôn khổ “Diễn đàn Logistics Việt Nam2018”

diễn ra 7/12 tại Quảng Ninh, Bộ Công thương đã nêu ra vấn đề thiết yếu hiện nay làkhó

khăn của logistics trong phục vụ thương mại điện tử Như vậy có thể thấy thương mạiđiện tử VN đang phát triển một cách rõ nét, vì thế logistics cũng cần phải cập nhậtthêm

những nghiên cứu để thích ứng với sự phát triển này

2 Tổng quan nghiên cứu

Sự bùng nổ công nghệ 4.0 diễn ra trên toàn cầu kéo theo sự phát triển mạnh củathương mại điện tử Thương mại điện tử trở thành lĩnh vực đang nhận được sự quantâm

từ các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả các tổ chức kinh tế lớn và các trường đại họctrên thế giới trong vòng 40 năm trở lại đây Kể từ khi mua sắm trực tuyến được phátminh ra bởi Michael Aldrich năm 1979, thương mại điện tử đã thật sự trở thành xuhướng của cả thế giới đến tận ngày nay Và đã có không ít những nghiên cứu về thươngmại điện tử, cũng như những vấn đề xung quanh nó Nghiên cứu “E -commerce” củatác

giả Mihai Moraru từ trường Đại học Romanian - American cho thấy cái nhìn tổng quátnhất về thương mại điện tử, về lịch sử hình thành từ xa xưa, các hình thức và vai tròcủa

Trang 9

Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ nêu qua những nhân tố ảnh hưởng đến TMĐT,chứ chưa tập trung sâu vào mối liên kết giữa TMĐT và các nhân tố này Vì vậy, nghiêncứu “Factors influencing e-commerce development” của tác giả Henri Isaac đã giúpcho

chúng ta câu trả lời về vấn đề này Isaac nêu ra nhân tố chủ quan ở phía doanh nghiệpkinh doanh TMĐT (như con người, công nghệ) và nhân tố khách quan (bao gồm chínhtrị, xã hội và kinh tế) tác động đến hoạt động kinh doanh mạng của doanh nghiệp, từ đócũng đưa ra những giải pháp giúp doanh nghiệp có thể có được một kết quả kinh doanhtốt hơn và phát triển hơn nữa Phân tích của tác giả Isaac là một phân tích bao quátđược

hết nhân tố ảnh hưởng đến TMĐT nhưng vẫn chưa đi vào phân tích kĩ hơn từng nhân

tố, đặc biệt mỗi quốc gia lại có một điểm riêng nên khó có thể áp dụng mà chúng ta chỉ

có thể học hỏi từ nghiên cứu, làm tiền đề và phân tích các yếu tố trong nước Khithương

mại điện tử bắt đầu vào Việt Nam, chúng ta cũng có nghiên cứu về lĩnh vực mới này

Ớ góc độ vĩ mô tác giả Trần Thị Thu Hiền trong cuốn nghiên cứu “Thương mạiđiện tử và thực trạng, giải pháp ở Việt Nam” đã cho chúng ta thấy được rất rõ thựctrạng

và tầm quan trọng của TMĐT đối với nền kinh tế của VN, từ đó chỉ ra hiện trạng vànhững vấn đề bức thiết mà chúng ta cần phải có phương án để phát triển hơn TMĐT,đặc biệt là các chính sách của nhà nước để tập trung phát triển cơ sở hạ tầng

Hay rõ hơn như trong nghiên cứu “Thương mại điện tử trong doanh nghiệp nhỏ

và vừa của Việt Nam- Thực trạng và giải pháp” của tác giả Phan Thị Hải Anh nêu lênnhững lợi ích mà thương mại điện tử mang lại cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạinước

ta, và cũng chỉ ra những bước đi cần phải tập trung phát triển bên trong các doanhnghiệp

để thích ứng với sự phát triển của TMĐT như nâng cao nhận thức về TMĐT trongdoanh

nghiệp, lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp, đào tạo nguồn nhân lực, củng cốquan

hệ khách hàng và hoàn thiện các website trực tuyến Các nghiên cứu nhìn chung đềucho

Trang 10

tác giả Alberto Behar và Phil Manners tập trung vào phân tích vai trò và tầm quantrọng

của logistics đối với xuất nhập khẩu, và đưa ra những giải pháp giúp liên kết logistics

và xuất nhập khẩu cũng như những lợi ích của việc hợp tác này đem lại Tại Việt Nam,chúng ta cũng có không ít những nghiên cứu chuyên sâu về logistics

Trong nghiên cứu của tác giả Phan Thị Thúy Nga về “Dịch vụ Logistics tronggiao nhận và vận tải tại Việt Nam” đã khái quát được tình hình chung trong hoạt độnglogistics tại VN đặc biệt là ở khâu giao nhận và vận tải, và cũng đưa ra cho chúng tanhững giải pháp để phát triển dịch vụ trong các doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầuchung

của thị trường

Nhưng hoạt động của logistics là hoạt động của một chuỗi các khâu, nhưng dohiện tại nước ta phần lớn chỉ tập trung làm về giao nhận vận tải nên ít có nghiên cứu vềchuỗi logistics Công trình nghiên cứu “Thực trạng phát triển hoạt động logistics củaNhật Bản và bài học rút ra cho Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Huệ cho chúng ta thấy

rõ sự phát triển logistics của thế giới về đẩy mạnh phát triển logistics, điển hình là NhậtBản Từ đó rút ra những bài học mà Việt Nam có thể áp dụng để phát triển logistics,nhưng mới chỉ dừng lại ở logistics phục vụ cho việc xuất nhập khẩu, chứ không nói đếnquy trình logistics trong nước

Như đã nói ở trên, ở thời đại hiện nay, chúng ta không chỉ cần tập trung pháttriển

logistics trong quá trình vận tải giao nhận hàng hóa đối với hoạt động xuất nhập khẩu,

mà logistics còn đóng góp một vai trò tối quan trọng trong sự phát triển của thương mạiđiện tử Tại các nước phát triển, do đã có các công trình nghiên cứu kĩ lưỡng, nênlogistics của họ cùng với thương mại điện tử tăng trưởng rất nhanh, trở thành các nước

đi đầu về thương mại điện tử Điển hình là nghiên cứu “Interconnection Of Commerce

E-And Logistics” của tác giả Aleksandar Erceg và Zafer Kilic Nghiên cứu chỉ ra rằng,các

công ty thương mại điện tử muốn làm hài lòng khách hàng, thì đầu tiên họ phải đặc biệtquan tâm đến vấn đề logistics, vì ngày nay, logistics đóng vai trò quan trọng trong mốiquan hệ giữa người bán và khách hàng, họ phải giao hàng trong khoảng thời gian đãthỏa thuận với mức phí thấp nhất nếu không muốn làm ảnh hưởng đến uy tín và lợi

Trang 11

Hay như trong nghiên cứu về “New trends in logistics as Retail support” của cáctác giả Sanda Renko, Dejan Ficko và Kristina Petljak cũng nói rõ thương mại điện tửảnh hưởng trên toàn thế giới cũng đã thay đoi mạnh mẽ ngành bán lẻ, đẩy cao tốc độcủa toàn ngành, tạo ra những nền tảng bán hàng mới Để làm được điều đó, cần có sựtrợ giúp từ logistics Chỉ ra rằng, logistics cần phải có những thay đổi để thích nghiđược

với sự phát triển này Hai lĩnh vực cần phải liên kết với nhau, chỉ ra tầm quan trọng củalogistics đối với sự tồn tại và phát triển của nhà bán lẻ, cũng đưa ra những lợi ích màcác bên tham gia có thể mang lại cho nhau Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra một trongnhững cách mà logistics có thể thay đổi để thích ứng với thương mại điện tử bán lẻ là

áp dụng các phần mềm công nghệ vào trong hệ thống của mình như công nghệ RFIDhay hệ thống kết nối EDI, kết nối doanh nghiệp bán lẻ TMĐT với công ty logistics vàkhách hàng, Từ những nghiên cứu này, các quốc gia phát triển trong khối châu Âu đã

áp dụng thành công và trở thành những nước thương mại điện tử phát triển mạnh Cóthể thấy rõ ràng, muốn phát triển được thương mại điện tử, thì logistics cũng phải thayđổi và phát triển song hành

Tại Việt Nam, thương mại điện tử đang tăng trưởng rất nhanh, nhu cầu pháttriển

mạnh, trong logistics lại rất chậm trong việc thích ứng với sự biến đổi này Bởi, nhưchúng ta có thể thấy, những nghiên cứu trước đây đã nghiên cứu rất rõ về logistics vànhững vấn đề xoay quanh TMĐT, vẫn chưa có những nghiên cứu chỉ ra mối liên hệmật

thiết của 2 yếu tố này, trong khi chúng ta đều có thể nhận ra tầm quan trọng củalogistics

đối với thương mại điện tử Đặc biệt, chúng ta vẫn chưa có những phân tích cụ thể,chuyên sâu dựa trên tình hình thực tế của logistics và thương mại điện tử tại Việt Nam,

để như đưa ra những giải pháp để phát triển hoạt động logistics để phục vụ nhu cầu củaTMĐT Vì vậy, với đề tài “Phát triển hoạt động logistics đáp ứng nhu cầu thương mạiđiện tử tại Việt Nam”, tôi muốn góp sức của mình để nghiên cứu vấn đề này Bài viếttrả lời cho các câu hỏi: Tại sao phải phát triển hoạt động logistics đáp ứng nhu cầu vềThương mại điện tử tại Việt Nam? Diễn biến TMĐT và logistics tại Việt Nam đangdiễn

ra như thế nào? Và Phải làm gì để phát triển?

Trang 12

và thương mại điện tử, chỉ ra việc cần làm hiện nay là phải liên kết được logistics vớithương mại điện tử, từ đó đề ra những biện pháp để logistics và thương mại điện tử Việt

Nam có thể cùng nhau song hành phát triển, tiếp tục góp phần để xây dựng nền kinh tếtrong tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: mối liên hệ giữa logistics và thương mại điện tử

Phạm vi nghiên cứu: thương mại điện tử và hoạt động logistics năm 2016 -2018

5 Phương pháp nghiên cứu

Để sử dụng cho bài nghiên cứu này, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiêncứu sau: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê, tong hợp dữ liệu,phương pháp phân tích trường hợp cụ thể đưa ra đánh giá, về việc phát triển hoạtđộng

logistics đáp ứng nhu cầu của thương mại điện tử Việt Nam

6 Ket cấu của đề tài

Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung có kết cấu 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận về Logistics và Thương mại điện tử

Chương 2: Thực trạng mối liên kết giữa logistics và thương mại điện tử tại Việt NamChương 3: Các giải pháp phát triển hoạt động Logistics đáp ứng nhu cầu của thương

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS

1.1.1 Khái niệm logistics

Hội nhập kinh tế mở đường cho sự phát triển, giao thương giữa nhiều nền kinh

tế trên thế giới, cộng với việc năng lực sản xuất phát triển, đặc biệt là những thành tựumới trong công nghệ thông tin liên tục ra đời, dẫn đến nhu cầu về hàng hóa tăng lên vàkhối lượng hàng hóa vật chất cũng từ đó ngày một lớn dần Từ đó các doanh nghiệphướng đến việc tối ưu hóa quá trình sản xuất, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sứccạnh tranh của hàng hóa trên thị trường cần phải hoàn thiện hệ thống quản lí phân phốivật chất để giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do tồn kho, ứ đọng nguyên vật liệu, bánthành phẩm trong quá trình sản xuất và lưu thông Hệ thống phân phối vật chất nàyđược

gọi là “Logistics”

Thực tế, logistics là một thuật ngữ quân sự đã có từ xa xưa, thuật ngữ được sửdụng trong quân đội mang nghĩa là “hậu cần” hoặc “tiếp vận” Bắt nguồn từ cuộc chiếntranh co đại của đế chế Hy Lạp và La Mã với những chiến binh gọi tên là “logistikas”,

có nhiệm vụ chuẩn bị vũ khí và các nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc chiến Trongchiến

tranh thế giới thứ 2, lực lượng quân đội của các nước tham gia cũng sử dụng phươngthức “logistics” rất hiệu quả, đảm bảo hậu cần đúng lúc, lúc nơi cho lực lượng chiếnđấu Thuật ngữ này đến nơi vẫn được tiếp tục sử dụng rộng rãi trong quân đội và cácứng dụng dạng quân đội

Khái niệm hậu cần (logistics) liên quan đến kinh doanh bắt nguồn từ những năm

1950 Điều này chủ yếu là do sự gia tăng trong việc cung cấp, vận chuyển trong mộtthế

giới toàn cầu hóa đòi hỏi phải có những nhà chuyên gia trong lĩnh vực này Tuy nhiênđến nay, vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ nào về logistics

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics

có thể chia làm hai nhóm - Tổng quan về dịch vụ Logistics:

Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005, coilogistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Luật qui định “Dịch vụlogistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặcnhiều

Trang 14

thù lao” Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở,thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa” Kháiniệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức

là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vựcquân sự) Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu

tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo họ,dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo kháiniệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phươngthức (MTO)

Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giaiđoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Theonhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vậtliệu

làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưuthông,

phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch vụlogistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ nhưdịch

vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấnquản

lý với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộcác khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng.Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn,nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất.Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao Ví dụ, khi một nhà cung cấpdịch

vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cân đối sản lượngcủa

nhà máy và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chutrình

sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chương trình marketing, xúctiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng Định nghĩa tiêu biểu: Hộiđồng

Trang 15

cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba Ớ một số mức độ khác nhau, các chứcnăng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đónggói,

dịch vụ khách hàng Quản trị logistics là chức năng tong hợp kết hợp và tối ưu hóa tất

cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năngkhác

như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.”

Qua một số khái niệm trên, ta có thể thấy dù logistics được định nghĩa qua từ ngữ hay cách diễn đạt nào thì tựu chung lại, logistics là cả 1 chuỗi (chain) từ quá trình chuẩn bị hàng của người xuất khẩu (exporter) cho tới sản xuất hàng, vận tải nội địa, thông quan và thủ tục hải quan, kho bãi, vận chuyển quốc tế, giao nhận quốc tế tới tận kho của người mua với mức thỏa mãn cao nhất.

1.1.2 Đặc điểm của ngành Logistics

Các chuyên gia nghiên cứu về dịch vụ logistics đã rút ra một số đặc điểm cơ bản củangành dịch vụ này như sau:

a) Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp

Logistics tổng hợp hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh chính, đó làlogistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống

Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống Logistics

sinh tồn đúng như tên gọi của nói xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người, đápứng

các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu.Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nói chung;

Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn

bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp Logistics hoạt độngliên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào vào trong, đi qua

và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến tayngười

tiêu dùng cuối cùng;

Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động Các yếu tố của

logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ

Trang 16

b) Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp

Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sảnphẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng.Một

doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu

tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình Logistics còn hỗ trợ hoạt động củadoanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào doanhnghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp

c) Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận

Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng khóa khái niệmvận tải giao nhận truyền thống và vận tải giao nhận giờ gắn liền và nằm trong logistics

Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước,chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan, cho tới cung cấp dịch

vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door) Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủ ythác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng,chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp

vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận tới vậntải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trongkho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi,kiểm

tra, Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụ logistic s

d) Logistics và vận tải đa phương thức

Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức Trước đây,hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải quanhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa làrất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau

mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm.Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảmbảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời

và phát triển vận tải đa phương thức Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉphải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-Multimodal Transport Operator) MTO sẽ chịu trách nhiệm to chức thực hiện toàn bộ

Trang 17

vận tải duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế Như vậy, MTO

ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics

1.1.3 Các hình thức hoạt động logistics

a) 1PL (First Party Logistics hay Logistics tự cấp)

1PL là hình thức dịch vụ mà những người sở hữu hàng hóa tự mình to chức vàthực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân Các công ty này cóthể sở hữu phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác baogồm cả nhân lực để thực hiện các hoạt động logistics

1PL có sự khác biệt rõ rệt với các loại hình Logistics còn lại bởi đặc trưng mangtính tự cấp dịch vụ logistics mà không cần đến một bên cung cấp dịch vụ logisticskhác

Vì vậy, ở hình thức 1PL, người sở hữu hàng hóa sẽ tự đầu tư phương tiện vận tải,nguồn

nhân lực và các công cụ hỗ trợ khác để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa của côngty

Đa số hình thức 1PL được áp dụng với những hàng hóa có kích thước khôngquá

lớn, dễ vận chuyển và phạm vi vận chuyển hẹp, chủ yếu là nội bộ hoặc trong nước.Cũng

có một số trường hợp, đó có thể là công ty rất lớn có khả năng tự thiết kế và điều hànhhoạt động logistics Tuy vậy, với những doanh nghiệp không có quy mô cũng nhưkhông

có đủ kinh nghiệm, trình độ, chất lượng nhân lực thì hình thức 1PL sẽ gây ra nhiều khókhăn, làm giảm hiệu quả lại dễ gây ra nhiều rủi ro và tốn kém chi phí

b) 2PL (Second Party Logistics hay Cung cấp dịch vụ logistics bên thứ hai)

Đây là một chuỗi những người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ cho chuỗihoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ hàng nhưng chưa tích hợp với hoạtđộng logistics (chỉ đảm nhận một khâu trong chuỗi logistics) 2PL là việc quản lý cáchoạt động truyền thống như vận tải, kho vận, thủ tục hải quan, thanh toán,

2PL thường chỉ đảm nhận và đóng góp vào một khía cạnh nhỏ trong toàn bộ chuỗilogistics của khách hàng, thường là những hãng tàu hoặc những công ty vận tải đường

bộ hay đường hàng không

Trang 18

Các hoạt động mà bên cung cấp dịch vụ logistics thực hiện cho công ty kháchhàng dựa trên hợp đồng bao gồm: kê khai hải quan, thông quan hàng hóa, các chứng từgiao nhận, vận chuyển, bốc dỡ hàng, để đảm bảo hàng hóa đến đúng nơi quy định.Thường thì các công ty 3PL sở hữu nhiều loại phương tiện vận chuyển từ đường bộ đếnđường hàng không và có mối liên hệ mật thiết với các công ty vận chuyển khác để đápứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng và tận dụng tối đa chức năng dịch vụ của công ty.

Bên cạnh việc đảm nhận mọi thủ tục và việc vận chuyển hàng hóa, công ty cungcấp dịch vụ 3PL còn chịu trách nhiệm về thời gian vận chuyển hợp lí để hàng hóa cònnguyên vẹn, được giao đúng thời gian và địa điểm Bởi nếu hàng hóa không cònnguyên

vẹn hoặc xảy ra sự cố nào đó thì công ty Logistics thuê ngoài sẽ phải chịu toàn bộ tráchnhiệm

d) 4PL (Fourth Party Logistics - Logistics chuỗi phân phối hay nhà cung cấp

Logistics chủ đạo)

Công ty Logistics 4PL là công ty đóng vai trò hợp nhất, gắn kết các nguồn lựctiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các to chức khác để thiết kế, xâydựng

và vận hành các giải pháp chuỗi logistics toàn diện

Như vậy, 4PL được phát triển trên nền tảng 3PL, nhưng bao gồm các hoạt độngrộng hơn và mang tính trách nhiệm cao như các dịch vụ công nghệ thông tin, và quảnlý

các tiến trình kinh doanh 4PL được coi như một điểm liên lạc duy nhất, là nơi thựchiện

việc quản lý, tổng hợp tất cả các nguồn lực và giám sát các chức năng 3PL trong suốtchuỗi phân phối nhằm vươn tới thị trường toàn cầu, lợi thế chiến lược và các mối quan

hệ lâu bền

Hình thức 4PL ảnh hưởng không chỉ đến hệ thống logistics mà còn là toàn bộchuỗi cung ứng của khách hàng Các công ty Logistics cung cấp dịch vụ 4PL thường làcông ty liên doanh và có hợp đồng hợp tác dài hạn, mang tính tầm nhìn chiến lược lâudài Những công ty đó đóng vai trò như cầu nối giữa khách hàng với nhà cung ứng vànhà phân phối, từ đó giúp chuỗi cung ứng được phát triển phù hợp với tầm nhìn chungcủa công ty khách hàng

Nhìn chung, mọi yếu tố ngõ ngách trong chuỗi cung ứng của khách hàng đều

Trang 19

Đặc biệt, vì 4PL được phát triển trên nền tảng 3PL nên nó đảm trách và quản lítoàn bộ các chức năng của 3PL, đồng thời tham gia quản lí một hoặc nhiều công ty 3PLkhác để cung cấp toàn bộ các chức năng Logistics được thuê ngoài Chúng ta có thểthấy

rằng 4PL mang đặc trưng rõ nét hơn so với 3PL đó là tính giá trị cốt lõi, mang tầmchiến

lược, có ảnh hưởng lâu dài đến mọi hoạt động trong chuỗi cung ứng của công ty, nókhông chỉ là nhằm mục đích cắt giảm chi phí như dịch vụ 3PL

Chính vì vậy, 4PL được mệnh danh là Những Nhà Cung cấp Dịch vụ Logisticsdẫn đầu (Lead Logistics Providers)

e) 5PL (Cung cấp dịch vụ logistics bên thứ năm)

5PL là loại dịch vụ thị trường thương mại điện tử, bao gồm các 3PL và 4PLquản

lý tất cả các bên liên quan trong chuỗi phân phối trên nền tảng thương mại điện tử.Chìa

khoá thành công của các nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ năm là các hệ thống: Hệthống quản lý đơn hàng (OMS), Hệ thống quản lý kho hàng (WMS) và Hệ thống quản

lý vận tải (TMS) Cả ba hệ thống này có liên quan chặt chẽ với nhau trong một hệthống

thống nhất và công nghệ thông tin

1.1.4 Các nhân tố tác động đến Logistics

Logistics là dòng hàng hóa, dịch vụ và thông tin cần thiết để quản trị dòng này.Những xu thế biến đoi của các thành phần này chỉ ra xu thế biến đoi của logistics.Quan

hệ giữa các thành phần này không chỉ đơn giản là quan hệ một chiều, mà chúng có tácđộng qua lại lẫn nhau Chúng ta có thể nhận thấy các nhân tố chính gây ra sự biến đổinày:

a) Nhân tố khách quan

Điều kiện địa lí

Địa lý Việt Nam giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia có nhiều cơ hội trởthành

nơi trung chuyển, trao đổi hàng hóa Việt Nam có đường bờ biển dài 3260km, nằm ở vịtrí chiến lược trong khu vực với diện tích vùng biển khoảng 1.000.000km2, nhiều cảng

Trang 20

nhiều bộ ngành như: Giao thông vận tải, Hải quan, kiểm định mỗi bộ ban hành nhữngquy định khác nhau đôi khi chồng chéo nhau gây không ít khó khăn cho ngànhlogistics.

Bên cạnh đó cơ chế quản lý hành chính, năng lực làm việc và thái độ phục vụ của cáccông chức quản lý cần phải thay đoi, vì đây cũng là một trong những trở lực không nhỏlàm ảnh hưởng trực tiếp đến ngành Logistics Việt nam trong quá trình hội nhập thếgiới

Sự thay đổi trong thương mại quốc tế

Những thay đổi trong thương mại quốc tế đã được nhìn thấy, ví dụ như trong sốlượng các chuyến tàu ngày càng tăng nhanh từ Trung Quốc đến khu vực EU Khốilượng

thương mại Trung Quốc-EU tăng trưởng cả 2 chiều, các khoản đầu tư mới dọc theotuyến thương mại và vận tải đường bộ có thể sẽ định hình lại thị trường logistics quốc

tế ở lục địa Á-Âu Các tuyến thương mại mới sẽ mở ra và các tuyến hiện tại sẽ mởrộng,

khi các nền kinh tế mới nổi trở nên kết nối mạnh mẽ hơn với nền kinh tế toàn cầu

Trang 21

cấp và xây dựng mới đường bộ, đường sắt, cảng biển và hàng không Đến nay, nước ta

đã có một mạng lưới giao thông khá đa dạng về số lượng, mật độ và loại hình phon gphú Xong chất lượng còn chưa cao, đặc biệt là đường bộ

Nguồn nhân lực phục vụ logistics

Tại bất kì ngành nghề nào thì nguồn nhân lực luôn là nhân tố tác động to lớnđến

sự phát triển của doanh nghiệp Nguồn nhân lực phục vụ logistics cần phải là nhữngngười có chuyên môn, được đào tạo bài bản và có tay nghề cao Tuy nhiên, do pháttriển

nhanh nên nguồn nhân lực cung cấp cho thị trường logistic tại Việt Nam hiện nay trởnên thiếu hụt trầm trọng Các chương trình đào tạo, nâng cao tay nghề trong ngànhlogistics hiện nay được thực hiện ở các cơ sở đào tạo chính thức, đào tạo theo chươngtrình Hiệp hội và đào tạo nội bộ Tập trung đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề đểnâng

cao hiệu quả dịch vụ logistics là hết sức cần thiết

Đầu tư cho công nghệ

Trong những năm qua, công nghệ thông tin và thương mại điện tử tại Việt Nam

đã không ngừng phát triển, điều này góp phần không nhỏ vào việc phát triển ngànhlogistics Nhờ có công nghệ thông tin và thương mại điện tử mà logistics Việt Nam trởnên linh hoạt hơn, giao thương được với nhiều quốc gia trên thế giới cách nhanh chónghơn, hiệu quả hơn và tiết kiệm được nhiều thời gian chi phí cho các doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ logistics Tuy nhiên bên cạnh đó việc ứng dụng công nghệ thông tintrong

quản lý để nâng cao hiệu quả logistics cũng còn nhiều hạn chế vì thế đòi hỏi các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ logistics phải linh hoạt hơn nữa, chú trọng đầu tư hơn nữathì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn

1.2 TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

1.2.1 Khái niệm thương mại điện tử

Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau, như “thươngmại

điện tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mạikhông giấy tờ” (paperless commerce) hoặc “kinh doanh điện tử” (e - business) Tuynhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi pho biến nhất và được dùng thống nhất

Trang 22

đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác, khách hàng khi đó thương mạiđiện tử phát triển thành kinh doanh điện tử, tức là doanh nghiệp ứng dụng thương mạiđiện tử ở mức cao được gọi là doanh nghiệp điện tử Như vậy, có thể hiểu kinh doanhđiện tử là mô hình phát triển của doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử ở mức

độ cao và ứng dụng công nghệ thông tin chuyên sâu trong mọi hoạt động của doanhnghiệp

Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử là việc mua bán hàng hoá và dịch vụ thôngqua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và internet

Cách hiểu này tương tự với một số các quan điểm như:

Một là, TMĐT là các giao dịch thương mại về hàng hoá và dịch vụ được thựchiện thông qua các phương tiện điện tử (Diễn đàn đối thoại xuyên Đại T ây Dương,1997)

Hai là, TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạngmáy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sửdụng

hàng hoá và dịch vụ (Cục thống kê Hoa Kỳ, 2000)

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử bắt đầu bằng việc các doanh nghiệp sửdụng

các phương tiện điện tử và mạng internet để mua bán hàng hóa, dịch vụ của doanhnghiệp mình, các giao dịch có thể giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) hoặcgiữa

doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C), cá nhân với nhau (C2C) Ví dụ: Alibaba,Amazon, eBay

Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng

Đã có nhiều to chức quốc tế đưa ra khái niệm theo nghĩa rộng về thương mạiđiện

tử Dưới mỗi góc nhìn, mỗi quan điểm lại có định nghĩa khác về TMĐT Sau đây làmột

số khái niệm:

- UNCTAD (Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển): Thươngmại điện tử bao gồm các hoạt động của doanh nghiệp Trên góc độ doanh nghiệp

“TMĐT

Trang 23

S - Sales (có trang web có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng)

D - Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng)

P - Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngânhàng)

Như vậy, đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạngvào

trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toánthì được coi là tham gia thương mại điện tử

Theo Ủy ban châu Âu: "Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự muabán, trao đoi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, to chức tưnhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trunggian (thông tin liên lạc trực tuyến) Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và dịch thông quamạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay dịch vụ cuối cùng

có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công."

Tại Việt Nam nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT được hiểu như sau:

“Thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt độngthương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông diđộng hoặc các mạng mở khác”

Trong thương mại điện tử, khái niệm thương mại được mở rộng hơn khái niệmthương mại truyền thống Phạm vi của thương mại điện tử rất rộng Nó phản ánh xu thếphát triển của nền kinh tế số hóa trong đó mọi hình thái hoạt động kinh tế đang có xuhướng được hội tụ trên mạng máy tính

1.2.2 Đặc điểm của thương mại điện tử

a) Sự phát triển của thương mại điện tử gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển của ICT.

Thương mại điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong mọi hoạtđộng thương mại, chính vì lẽ đó mà sự phát triển của công nghệ thông tin sẽ thúc đẩythương mại điện tử phát triển nhanh chóng, tuy nhiên sự phát triển của thương mại điện

tử cũng thúc đẩy và gợi mở nhiều lĩnh vực của ICT như phần cứng và phần mềmchuyển

dụng cho các ứng dụng thương mại điện tử, dịch vụ thanh toán cho thương mại điện tử,cũng như đẩy mạnh sản xuất trong lĩnh vực ICT như máy tính, thiết bị viễn thông, thiết

Trang 24

trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch Còn trong hoạt động thương mại điện

tử nhờ việc sử dụng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng toàn cầu, chủ yếu làsử

dụng mạng internet, mà giờ đây các bên tham gia vào giao dịch không phải gặp gỡnhau

trực tiếp mà vẫn có thể đàm phán, giao dịch được với nhau dù cho các bên tham giagiao

dịch đang ở bất cứ quốc gia nào Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng thamgia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọingười ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàncầu và không đòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau

c) Phạm vi hoạt động

Có thể nói TMĐT hoạt động trên khắp toàn cầu hay thị trường trong thương mạiđiện tử là thị trường phi biên giới Điều này thể hiện ở chỗ mọi người ở tất cả các quốcgia trên khắp toàn cầu không phải di chuyển tới bất kì địa điểm nào mà vẫn có thể thamgia vào cũng một giao dịch bằng cách truy cập vào các website thương mại hoặc vàocác trang mạng xã hội

Trang 25

thông và có các phương tiện điện tử kết nối với các mạng này, đây là các phương tiện

có khả năng tự động hóa cao giúp đẩy nhanh quá trình giao dịch

g) Trong thương mại điện tử, hệ thống thông tin chính là thị trường.

Trong thương mại truyền thống các bên phải gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hànhđàm phán, giao dịch và ký kết hợp đồng Còn trong thương mại điện tử các bên khôngphải gặp gỡ nhau trực tiếp mà vẫn có thể tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng Để làmđược điều này các bên phải truy cập vào hệ thống thông tin của nhau hay hệ thốngthông

tin của các giải pháp tìm kiếm thông qua mạng internet, mạng extranet để tìm hiểuthông tin về nhau từ đó tiến hành đàm phán kí kết hợp đồng

Như vậy, so với thương mại truyền thống, TMĐT có những đặc trưng khác biệt sau:

- Có mặt ở khắp mọi nơi

- Phạm vi toàn cầu không giới hạn trong phạm vi quốc gia

- Chuẩn dùng chung

- Giàu và đa dạng thông tin ở nhiều dạng

- Tương tác với website hay với người bán vượt qua khoảng cách địa lý

- Thông tin nhiều, đa dạng, rẻ, đa phần miễn phí qua internet

- Cá nhân hóa, tùy biến theo yêu cầu riêng biệt của từng khách hàng cho một sốlượng rất lớn khách hàng trong cùng một thời điểm, tất cả đều nhờ vào phần mềm haychương trình máy tính

- Tính chất xã hội: cho phép người sử dụng tự tạo ra nội dung của mình, giao tiếp,liên lạc với người sử dụng khác một cách tiện lợi, nhanh chóng, và hầu như không tốnchi phí

1.2.3 Hình thức thương mại điện tử

a) Loại hình thương mại điện tử giữa các công ty (B2B)

B2B là loại hình nói lên mối quan hệ giữa các công ty với nhau, loại hình nàyđem lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp và là một trong số những loại hình phát triển nhấthiện nay B2B có đặc điểm chính là hình thức hạ tầng ảo và thị trường ảo, hình thànhnên một thị trường thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp, cũng vẫn diễn ra cáchoạt

động mua bán và trao đoi nhưng không theo hình thức truyền thống nữa

Các doanh nghiệp B2B cung cấp những hạ tầng mạng cho nhiều doanh nghiệp

Trang 26

toán doanh nghiệp khác nhau Đồng thời các doanh nghiệp B2B cũng được biết đến làcác trung gian thương mại trên mạng.

b) Loại hình thương mại điện tử giữa công ty và người tiêu dùng (B2C)

B2C là loại hình thương mại điện tử mà ở đó người tiêu dùng mua các loại hànghóa hữu hình thông qua mạng internet Loại hình kinh doanh này hiện nay rất pho biến,

hàng loạt các website bán hàng hình thành nhằm đem đến những sản phẩm dịch vụ đếnvới người tiêu dùng như các sản phẩm về thiết kế website, cung cấp sản phẩm nộithất,

c) Loại hình thương mại điện tử giữa cá nhân với người tiêu dùng (C2C)

C2C cũng là loại hình khá phổ biến hiện nay, nó được xuất phát từ nhu cầu thịtrưởng của hệ thống thương mại điện tử Đây là hình thức kinh doanh giữa cá thể với cáthể Trong đó cả người mua và người bán sản phẩm hay dịch vụ đều là cá nhân khôngphải doanh nghiệp Mô hình nổi bật nhất của C2C có thể kể đến Đấu giá C ác ngànhhoặc doanh nghiệp có thể đấu thầu những gì họ muốn từ nhiều nhà cung cấp như: cácphần mềm nói chuyện qua mạng, quảng cáo và phân loại tại một cổng thương mại nào

đó,

d) Loại hình thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và chính phủ (B2G)

Là hình thức thương mại giữa khối hành chính công nhà nước với các doanhnghiệp trên thị trường Hình thức này diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán liên quanđến chính phủ thông qua mạng internet B2G được thực hiện nhằm tăng tính minh bạch

và giả rủi ro trong các hoạt động, tuy nhiên nó là hình thức chưa được phổ biến hiệnnay

1.2.4 Tác động của TMĐT đến nền kinh tế

a) Phá vỡ các giới hạn của không gian và thời gian

TMĐT đã phá vỡ các giới hạn của thời gian và không gian Các hoạt độngthương

mại không ngừng là một hình thức phá vỡ các giới hạn của không gian và thời gian.TMĐT có thể thực hiện 24 giờ trong ngày, 365 ngày trong năm Một người truy nhậpvào Internet có thể mua một cái gì đó vào bất kỳ thời điểm nào, ở bất kỳ đâu Kết quảlà

sản lượng thương mại thế giới sẽ tăng lên Thương mại không ngừng là tác động đầutiên của TMĐT

Trang 27

phổ biến, một siêu thị trước đây thường bán khoảng 200.000 mặt hàng có thể tăng sốmặt hàng bán ra lên tới 10 triệu Người sử dụng có thể đặt hàng thay vì mua hàng tạichỗ Họ chỉ cần thông báo trên Internet sản phẩm dịch vụ mà họ cần là họ có thể tìm ranó.

b) Quan hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng

Tác động thứ hai là nhà cung cấp có thể có quan hệ trực tiếp tới người tiêudùng,

do đó bỏ qua được các khâu trung gian, qua Internet, họ có thể bán trực tiếp tới người

sử dụng Họ đã tránh được rủi ro không tìm thấy khách hàng và không mất chi phí lưukho hàng hóa Một khi họ hiểu được nhu cầu của người đọc, họ sẽ bớt bị rủi ro, tiếtkiệm

chi phí và tăng suất lợi nhuận

trình thương mại và đem lại hiệu quả sản xuất

Thay đổi vai trò từ đại lý sang người mua

Theo truyền thống, các sản phẩm từ một nhà máy phải đi qua một số khâu trung giantrước khi đến được với người tiêu dùng Tuy nhiên, các nhà máy bây giờ có thể bán sảnphẩm của họ trực tiếp cho người tiêu dùng khi nhận được yêu cầu từ khách hàng, bỏqua

các khâu trung gian Điều này đã cách mạng hóa hệ thống bán lẻ

Về phía đại lý và cửa hàng bán lẻ, họ đều có nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhucầu tăng, giảm của hàng hóa Các đại lý và người bán lẻ sẽ dần dần trở thành ngườimua

hàng bởi vì họ biết khách hàng muốn gì và có thể tìm ra cái mà họ muốn Họ có thể chokhách hàng những lời khuyên và cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp Khi kháchhàng đã có một quyết định, họ sẽ gửi một lệnh đặt hàng lên Internet với tư cách ngườimua Đây là tác động thứ hai

Trang 28

Chỉ có loại hàng hóa nào khách hàng cần mới được sản xuất Đây là cách tốt nhất đểgiảm chi phí, tránh các chi phí khác phát sinh Neu so với trước đây, chúng ta đều dựavào phỏng đoán, tốn chi phí phỏng đoán, chi phí lưu kho mà chưa chắc đã phù hợp vớithị hiếu của khách hàng, dễ dẫn đến tình trạng không bán được hàng, tồn kho.

d) Từ những lựa chọn hạn chế đến các yêu cầu hạn chế

Với những khách hàng đã xác định được yêu cầu của mình nhưng người bán lạikhông thể đáp ứng được yêu cầu đó, dẫn đến việc thay đoi yêu cầu ban đầu hoặc ngườibán sẽ không thể bán được hàng vì họ không có thứ mà khách hàng muốn

Phòng nghiên cứu và triển khai (R&D) -> Phòng nhu cầu và thỏa mãn khách hàng (N&S)

Nhưng với Internet thì khác Khách hàng có thể nói cái mà họ muốn có Điều nàychuyển

trọng tâm từ phòng nghiên cứu và triển khai R&D (Research & Development) sangphòng nhu cầu và thỏa mãn khách hàng N&S (Customer’s Need and Satisfaction).Phòng N&S có trách nhiệm tìm ra nhu cầu của khách hàng là gì và cố gắng tốt nhất đểthỏa mãn khách hàng Với sự liên lạc trực tiếp do Internet đem lại, chúng ta có thể tìmhiểu rõ và phân tích nhu cầu từ đó đáp ứng và làm hài lòng khách hàng

Với những khách hàng cho chúng ta biết nhu cầu và mong muốn của họ, các kỹ sư cóthể phát triển các sản phẩm mới mà không phải tham gia phỏng đoán Các cơ hộithương

mại nảy sinh từ quá trình này sẽ hoàn chỉnh hơn và hiệu quả hơn

Các sản phẩm và dịch vụ mới tự do phát triển

Khi khách hàng đặt ra các yêu cầu không hạn chế thì có nghĩa là chúng ta sẽ bước vàomột thời kì mà không có giới hạn về các sản phẩm, dịch vụ mới Trong thế giới ngàynay, cung đang vượt cầu nên có sự cạnh tranh khốc liệt Trong xã hội mạng, chúng tacó

thể có quan hệ trực tiếp với khách hàng và tìm hiểu nhu cầu của khách hàng trước khichúng ta thực hiện, vì vậy, luôn có sản phẩm dịch vụ mới xuất hiện

e) Thương mại quốc tế giữa các cá nhân

Trong quá khứ, bất cứ khi nào chúng ta nói về TMĐT, chúng ta thường nghĩđến

máy tính PC và Internet và chỉ có các công ty lớn hoặc các cá nhân làm việc trong cáclĩnh vực công nghệ cao mới triển khai TMĐT

Trang 29

không có thương mại Thương mại phát triển mạnh mẽ đồng nghĩa với một nền kinh tếbùng no Nơi nào cung đáp ứng cầu thì nơi đó nền kinh tế đang tăng trưởng tốt Hình

thức thương mại quốc tế này sẽ phát triển và nền kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng f)

Cuộc

cách mạng tiếp thị của các sản phẩm và dịch vụ số hóa

Bất cứ điều gì có thể truyền qua đường dây điện thoại dưới dạng tín hiệu sốđược

gọi là một sản phẩm số hóa Tất cả các dạng thông tin đã được số hóa Nội dung củamột cuốn sách đã được số hóa và truyền qua đường dây điện thoại Cuốn sách này cóthể là một sản phẩm số hóa Ngược lại, một chiếc máy thu hình không thể được truyềnqua các đường dây điện thoại Do đó, nó không phải là một sản phẩm số hóa

Sự biến đổi tiền mặt là tác động rõ ràng nhất Trong quá khứ, tiền là vàng trướckhi nó biến đổi thành dạng tiền giấy Bây giờ nó đang biến thành dạng tiền số hóa Khibạn mua hàng ở một siêu thị, tất cả những gì chúng ta cần là trả tiền bằng thẻ tín dụng.Không hề có sự trao đổi tiền mặt nào cả

Dịch vụ số hóa cũng phát triển mạnh Một lượng lớn tiền mua bán các cổ phiếu

có thể được truyền qua Internet trong một giây Dịch vụ này đã cách mạng hóa chutrình

bán lẻ

g) Sự biến đoi của các ngân hàng truyền thống

TMĐT đã khiến cho các ngân hàng phải cải tổ hệ thống Nếu như trước đây,chức

năng của các ngân hàng truyền thống là cất giữ, phát hành, quản lý và giao nhận tiền thìngày nay đã có những thay đổi

Các ngân hàng truyền thống giữ tiền cho chúng ta Giữ, phát hành, quản lý vàgiao nhận tiền là chức năng của một ngân hàng truyền thống Trong thời gian đầu,ngành

tài chính chỉ là cơ quan cất giữ tiền của mọi người, nhưng sau đó ngân hàng còn làmchức năng tín dụng Các chi nhánh ngân hàng và sau này là các máy rút tiền tự động(ATM) được đặt khắp nơi trên thế giới để tạo thuận lợi hơn cho việc rút tiền

Xuất hiện Ngân hàng trực tuyến với chức năng bảo vệ tiền điện tử và đảm bảosử

dụng đồng tiền có hiệu quả Tiền có thể được gửi vào trong hệ thống ngân hàng trong

Trang 30

h) Cước viễn thông trở thành là khoản thu lớn nhất của chính phủ

Khi toàn bộ thế giới tham gia vào TMĐT, doanh số và lợi nhuận có thể khôngcòn được nghiên cứu chặt chẽ nữa Chính phủ không thể kiểm soát hết hết được cáchoạt

động trên internet Để giải quyết vấn đề nghiêm trọng này, thuế trong tương lai có thểdựa trên tần suất và thời gian sử dụng mạng viễn thông Khi nào chúng ta sử dụngmạng,

qua vệ tinh, cáp hoặc hệ thống hữu tuyến, thì chúng ta sẽ bị quản lý bởi một hệ thốngviễn thông Do đó, các hệ thống viễn thông có thể là nền tảng cho việc đánh thuế trongthế kỷ sau

i) Các luật và quy định mới cần ban hành ngay

Nhờ có internet, TMĐT đã vượt qua biên giới quốc gia và hướng tới toàn cầu.Khi thế giới được kết nối qua mạng, các ranh giới quốc gia không còn là ranh giớithương

mại nữa Mọi người đều tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế Vì thế, các luật lệ

và quy định cũ không còn áp dụng được nữa Cần có những luật lệ mới để tạo hànhlang

pháp lý cho TMĐT phát triển Điều này bao gồm cả các quy tắc ứng xử trong kinhdoanh

và nguyên tắc quản lý

1.3 VAI TRÒ CỦA LOGISTICS VỚI Sự PHÁT TRIỂN CỦA TMĐT

Ngày nay khi công nghệ, thương mại điện tử và toàn cầu hóa dần trở nên phobiến, người mua và người bán đang gia tăng khả năng kết nối, do đó việc mua bán, giaodịch sẽ rất nhanh Vì vậy, các công ty thương mại điện tử không chỉ cạnh tranh về nềntảng công nghệ, mà còn cạnh tranh về dịch vụ hậu cần, hay còn gọi là Logistics.Logistics

thương mại điện tử xuất hiện (e-logistics) E-logistics có thể hiểu là mối liên kết giữalogistics và thương mại điện tử (E -commerce) ngày nay, được định nghĩa là “tất cả cáchoạt động nhằm hỗ trợ việc di chuyển hàng hóa từ nơi cung ứng đến đến nơi tiêu dùngqua các giao dịch mua bán điện tử” Vai trò của dịch vụ logistics thể hiện rõ ở các khíacạnh mà nó tham gia

Theo phân tích của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen, hệ thống logistics là

Trang 31

1.3.1 Vai trò của logistics trong chuỗi cung ứng tổng thể

Các hoạt động logistics đáp ứng yêu cầu về đơn hàng, kho bãi, dự trữ, vậnchuyển, có nhiệm vụ kết nối một cách hiệu quả các thành viên trong chuỗi cung ứng

từ đó đem lại giá trị cao nhất cho khách hàng và các thành viên Nhiệm vụ kết nối củalogistics thể hiện qua việc vận hành hoạt động trôi chảy 3 dòng sau:

- Dòng sản phẩm: con đường dịch chuyển hàng hóa và dịch vụ từ nhà cung cấp đếnkhách hàng đảm bảo đúng số lượng và chất lượng

- Dòng thông tin: dòng giao và nhận của các đơn vị đặt hàng theo dõi quá trình dịchchuyển của hàng hóa và chứng từ giữa người gửi và người nhận

- Dòng tiền tệ: thể hiện sự thanh toán của khách hàng với nhà cung cấp, thể hiện hiệuquả kinh doanh

Trong TMĐT dòng thông tin là có vai trò đặc biệt quan trọng Đây là yếu tố duynhất có khả năng vừa góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ cho chuỗi logistics vừađưa

ra những thông tin về tong chi phí trong toàn chuỗi cung ứng

1.3.2 Vai trò của logistics trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp

Trong những năm gần đây, quản trị logistics được ghi nhận như một thành tốquan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận và lợi thế cạnh tranh trong doanh nghiệp Trongchuỗi giá trị của doanh nghiệp, logistics đầu vào và đầu ra cùng với quản trị tác nghiệp,marketing và dịch vụ là những hoạt động chủ chốt tạo nên giá trị cho khách hàng vàdoanh thu cho doanh nghiệp Quản trị logistics là chức năng tổng hợp và tối ưu hóa tất

cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năngkhác

như marketing, công nghệ thông tin, nhằm đem lại giá trị cao nhất cho khách hàng.Giá trị khách hàng thể hiện qua các khía cạnh sau:

- giá trị sản phẩm: đặc điểm, chức năng và công dụng

- giá trị dịch vụ: vận chuyển, hướng dẫn sử dụng, bảo hành, sửa chữa

- giá trị giao tiếp: sự hài lòng trong tiếp xúc với nhân viên

- giá trị biểu tượng: nhãn hiệu và uy tín của doanh nghiệp

Doanh nghiệp cung ứng được giá trị cao tới khách hàng trong mối tương quanvới chi phí bỏ ra sẽ có nhiều cơ hội giành giá trị cao hơn cho chính mình, thể hiện ở lợithế cạnh tranh, mở rộng thị trường và tăng trưởng doanh thu bền vững cho doanhnghiệp

Trang 32

các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên đều có xu hướng hướng đến các nhà cung cấp dịchvụ

logistics phục vụ đủ nhu cầu về kho hàng và vận chuyển cho họ Và đó cũng chính làvai trò chính của e-logistics, đặc biệt là trong B2C, cụ thể là các hoạt động như:

Lưu kho, là việc duy trì một lượng hàng hóa tại các điểm dự trữ hợp lý nhằm

Chuẩn bị đơn hàng, là hệ thống tiếp nhận, xử lý và chuẩn bị hàng hóa theo đơn

hàng đặt từ các kênh bán khác nhau (cửa hàng, sàn TMĐT, ) Bao gồm việc đặt hàngtheo đơn hàng, đóng gói theo tiêu chuẩn để giao hàng Mức độ ứng dụng công nghệ cơgiới hóa và tự động hóa vào khâu này hết sức quan trọng vì sẽ cho phép tăng năng suấtcung ứng, nâng cao tính chính xác, giảm thời gian chờ đợi của khách, nâng cao hiệuquả

bán hàng

Giao hàng, bao gồm điều phối đơn hàng, xuất hàng từ kho cho khách hàng hoặc

bên chuyển phát, và cập nhật thông tin tới khách hàng Các DN bán lẻ B2C có thể tựtiến hành hoạt động giao hàng nếu có đủ chi phí và kinh nghiệm để xây dựng, đào tạo

và quản lý đội ngũ giao hàng Nhưng các DN nhỏ thì thường thiếu năng lực này nên sẽphải thuê các dịch vụ giao nhận từ các công ty logistics bên thứ ba Khi giao hàng, nhàbán lẻ B2C thường sử dụng một số phương thức giao hàng khác nhau, các phương thứcnày quyết định số lượng dịch vụ logistics và mức độ tham gia ít hay nhiều của DN vàocác giao dịch điện tử

Chăm sóc khách hàng sau khi giao hàng và giải quyết các dịch vụ phát sinh.

Hậu

cần thương mại điện tử phát triển, có vai trò tiếp nhận kiến nghị và giải quyết các đơnhàng thay cho thương mại điện tử Bên cạnh đó các doanh nghiệp e-logistics cũng giúp

Trang 33

nhanh chóng với giá thành rẻ, vì vậy việc lựa chọn các doanh nghiệp e -logistics có đủđiều kiện sẽ góp phần tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Trang 34

cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận và mối quan hệ giữa logistics và vận tải

đa phương thức Các hình thức hoạt động của logistics hiện nay là: 1PL, 2PL, 3PL, 4PL

và 5PL Các nhân tố tác động đến những đặc điểm cơ bản và loại hình hoạt động củalogistics được nghiên cứu được chia thành nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.Các

nhân tố khách quan bao gồm điều kiện địa lí, cơ sở pháp lí, sự trao đổi trong thươngmại

quốc tế và tốc độ số hóa Các nhân tố chủ quan tác động đến logistics gồm có cơ sở hạtầng, nguồn nhân lực phục vụ logistics và việc các doanh nghiệp logistics đầu tư chocông nghệ hiện đại

3 về thương mại điện tử, chương 1 đề cập đến các đặc điểm của thương mại điện tử:sự

phát triển của thương mại điện tử gắn liền và tác động qua lại với sự phát triển củacông

nghệ thông tin và truyền thông; hình thức khi giao dịch thương mại điện tử; phạm vihoạt động, các chủ thể tham gia thương mại điện tử, thời gian hoạt động và thị trườngcủa ngành này Trong chương này, cũng tập trung phân tích một số hình thức phổ biếncủa thương mại điện tử: B2B, B2C, C2C và B2G Từ những đặc điểm và các loại hìnhthức trên, nêu lên những tác động của TMĐT đến nền kinh tế

4 Cuối cùng, với sự xuất hiện của thương mại điện tử, logistics đóng một vai trò

Trang 35

LPI I LP

quan hạ tầng quốc tế logistics dõi và

truy xuất

thời gian

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MỐI LIÊN KẾT GIỮA LOGISTICS VÀ

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM 2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Thực trạng hoạt động Logistics tại VN

Những năm gần đây, Logistics đang dần khẳng định vai trò của mình bằng việcđóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế đất nước Quan hệ quốc tế của Việt Namngày càng mở rộng, chúng ta giao thương, buôn bán với nước ngoài ngày càng nhiều,

từ đó, Logistics trở thành nhân tố chủ chốt trong việc giao được hàng hóa đến tận tayngười mua hàng Nhà nước cũng chú trọng vào phát triển dịch vụ này, từng bước đưa ranhững chính sách mới để phát triển, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics nhỏ vàvừa cũng được thành lập, chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch vụ dần được hoàn thiện,hướng tới thị trường trong nước và quốc tế Theo đánh giá của Bộ Công thương, mức

độ tăng trưởng ngành Logistics nước ta năm 2018 là vào khoảng 12 -14%

Xep hạng dịch vụ Logistics Việt Nam trên thế giới

Theo phân tích và đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), dựa trên “Bảng xếphạng năng lực logistics quốc gia” (LPI-2018), Việt Nam được xếp thứ 39/160 quốc giađược xếp hạng, một cú nhảy vượt bậc sau khi giảm từ vị trí 48 (2014) xuống vị trí 64(2016) Chỉ số LPI của Việt Nam thay đổi rõ rệt: 3,27, đứng thứ 3 trong ASEAN (sauSingapore xếp thứ 7 và Thái Lan xếp thứ 32) (Bảng 2.1)

Bảng 2.1: Xếp hạng Năng lực logistics quốc gia (LPI) năm 2018

Nguồn: World Bank

Trang 36

Trong số các nước có thu nhập bình quân ở mức thấp tại khu vực, nối bật nhất làcác quốc gia có nền kinh tế phát triển như Àn Độ, Indonesia hay nền kinh tế mới nốinhư Việt Nam Các chỉ số LPI của Việt Nam năm 2018 đều tăng mạnh, trong đó caonhất là Năng lực Logistics: xếp thứ 33, tăng 29 bậc và Khả năng Theo dõi và truy xuấthàng hóa xếp thứ 34, tăng 41 bậc Điều này đã cho thấy việc cải thiện năng lực củadoanh nghiệp logistics thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin đã thu được kết quảtốt, khi năng lực của các doanh nghiệp tăng lên 40 -50% (giai đoạn 2017-2018) so vớitỷ

lệ 15-20% (giai đoạn 2015-2016) (Theo VLA)

về quản lý Nhà nước đối với logistics

Để có được kết quả như trên là nỗ lực từ cấp lãnh đạo từ trung ương đến địaphương và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấpdịch

vụ logistics, VLA và các hội viên trong việc triển khai các phương án, quy định củamình để cùng thực hiện Quyết định 200 QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ

“Về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triểndịch

vụ logistics Việt Nam đến năm 2025” Đây có thể được coi là bước ngoặt trong việcmở

rộng tiềm năng phát triển logistics của Việt Nam, nêu lên những giải pháp tống quát,đồng bộ để cải thiện cơ sở hạ tầng vật chất, phát triển thị trường và nâng cao nguồnnhân

lực phục vụ cho logistics

Tại “Diễn đàn Logistics Việt Nam lần thứ 6”, ngày 7/12/2018, Phó Thủ tướngChính phủ Vương Đình Nhuệ đã phát biểu nếu muốn kết nối logistics với các khu vựctăng trưởng kinh tế, chúng ta cần phải tiếp tục đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở hạtầng,

đặc biệt là cơ sở hạ tầng giao thông và thông tin, bên cạnh đó đặc biệt chú ý đến việcxây dựng và phát triển logistics xanh Đồng thời ông cũng đề nghị các cơ quan Nhànước

và các doanh nghiệp logistics cần phối hợp tốt với nhau để mang lại những kết quả tốt.Nghị quyết số 36-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 về “Chiếnlược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm

Trang 37

Cũng tại “Diễn đàn Logistics Việt Nam 2018”, Bộ Công thương cũng cho biếttong số doanh nghiệp logistics của nước ta là khoảng 3000 doanh nghiệp, hoạt độngtrên

tất cả các lĩnh vực vận tải, phần là tại TP Hồ Chí Minh, 1300 doanh nghiệp hoạt độngsôi nổi trên thị trường ngành Tuy nhiên theo thống kê của VLA thì mới ghi nhận trên

360 doanh nghiệp tham gia Hiệp hội Điều này cho thấy sự liên kết giữa các doanhnghiệp trong ngành vẫn còn quá yếu, vẫn còn tập trung hoạt động riêng biệt

Theo VLA, các doanh nghiệp Việt Nam có thể làm được các khâu riêng biệt như khobãi, thông quan, nhưng nếu làm các khâu hoàn thiện theo chuỗi cung ứng thì rất khóthực hiện, trong khi các doanh nghiệp sản xuất đều có nhu cầu cần thuê công ty làmđược đầy đủ tất cả các dịch vụ để giảm chi phí từ việc thuê nhiều khâu riêng lẻ

Theo “Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương” (CIEM), các doanhnghiệp

logistics Việt Nam hoạt động vẫn chưa chuyên nghiệp, thiếu kinh nghiệm, mới chỉ bắtđầu có những động thái với thị trường, hầu hết các doanh nghiệp có cung cấp các dịc h

vụ cung ứng cơ bản, hoặc các chuỗi cung ứng nhỏ đem lại không nhiều giá trị gia tăng,hoặc là nhận gia công cho phía nước ngoài Năng lực tài chính của các công ty ViệtNam

vẫn còn nhiều hạn chế, hầu hết các công ty là công ty nhỏ, vốn đầu tư chưa đến 10 tỷđồng, chỉ 10% là các công ty có mức vốn trên 10 tỷ đồng

VLA cho biết thêm, có khoảng 70% doanh nghiệp logistics Việt Nam không cótài sản, 16% doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị, phương tiện vận tải và 4% đầu tư vàokho bãi, cảng còn lại phải thuê ngoài

Tỷ lệ thuê ngoài logistics ở Việt Nam vào khoảng 25 - 30%, đây là một con sốvẫn còn thấp, so với 63,3% tại Trung Quốc (2010), Nhật Bản, Mỹ và các nước châu Âutrên 40%

về phạm vi hoạt động của doanh nghiệp VN

Theo “Báo cáo Logistics Việt Nam 2018” của Bộ Công thương: 88% doanhnghiệp dịch vụ logistics có mặt tại nước ta là doanh nghiệp Việt, 10% là các doanhnghiệp liên doanh và 2% là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Trong đó, 84% doanhViệt Nam có phạm vi hoạt động cả trong và ngoài nước và 16% doanh nghiệp ch ỉ hoạtđộng trong nước Trong xu thế toàn cầu hóa, thuê ngoài tại các nước khác đang là xuhướng được các công ty lớn trên thế giới áp dụng Tại Việt Nam, hiện giờ chỉ có vài

Trang 38

mới chỉ đáp ứng được nhu cầu trong một số khâu, chứ chưa đáp ứng được hoàn toàn cảchuỗi cung ứng, ví dụ: làm thủ tục thông quan, cho thuê kho bãi, giao nhận hàng hóa,đóng gói bao bì, lưu kho, hoặc ch ỉ làm đại lí hoặc nhà thầu phụ cho các doanh nghiệpnước ngoài.

Tình hình cạnh tranh trong việc cung ứng dịch vụ

Các nhà xuất khẩu Việt Nam từ trước đến nay hầu hết đều chọn xuất khẩu hànghóa theo điều kiện FOB, FCA theo Incoterms, nên người mua có quyền chỉ định ngườichuyên chở và họ sẽ chọn một công ty uy tín bên họ để thực hiện việc lô hàng Vì thế

cơ hội của các doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam là rất nhỏ, vì từ trước đến naycác doanh nghiệp nước ta đều nhận gia công hoặc xuất hàng cho những đối tác lớn, cóhợp đồng dài hạn với các công ty logistics toàn cầu

Đối với thị trường xuất nhập khẩu Việt Nam, do kim ngạch nhập khẩu của nước

ta đều lớn hơn kim ngạch xuất khẩu trong những năm qua, vì vậy, việc chúng ta nhậpsiêu trở thành thị trường để các doanh nghiệp logistics Việt Nam phát triển Việc cácnhà nhập khẩu của Việt Nam dần chuyển sang mua hàng theo phương thức FOB so vớiCIF như trước đây đã tạo cơ hội cho doanh nghiệp logistics trong nước có thể khaithác

Mặc dù vậy, các doanh nghiệp logistics nước ngoài vẫn giữ một phần lớn thị trường dohiện giờ Việt Nam có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và số lượng hàng hóa họnhập

vào cũng chiếm số lượng nhiều nhất

Ớ lĩnh vực vận tải hàng không và vận tải cảng biển, do chưa nhận được sự đầutư

đúng đắn để thiết lập hệ thống kho bãi, dịch vụ logistics nên đây vẫn là điểm yếu củacác doanh nghiệp Logistics Việt Nam Từ đó làm giảm khả năng cạnh tranh trong việccung ứng dịch vụ

Chi phí dịch vụ Logistics

Theo Báo cáo cuối kỳ về “Dịch vụ tư vấn: Hỗ trợ Bộ Giao thông vận tải về Pháttriển vận tải đa phương thức” tháng 3/2014, Công ty tư vấn ALG của World Bank tạiViệt Nam đã tính toán và báo cáo năm 2010, tong chi phí logistics VN là 413.141 tỷđồng, chiếm 20,9% GDP của cả nước Trong đó, Chi phí tồn kho và quản lí 40%, còn

Trang 39

và thủ tục thông quan Chi phí logistics chiếm 16.8% GDP của cả nước, trong khi đó,dịch vụ logistics chỉ góp 3-4% GDP Việt Nam (theo “Diễn đàn Logistics Việt Nam2018”).

Như vậy có thể thấy Việt Nam đã thay đổi cải cách từ chi phí logistics chiếm20.9% GDP cả nước, thì nay giảm xuống còn 16.8%, cho thấy chúng ta đã có nhữngthay đổi tích cực trong dịch vụ logistics

Cơ sở hạ tầng vận tải

Việt Nam có mạng lưới hạ tầng giao thông phục vụ mọi phương thức vận tải,nhưng chủ yếu là đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường biển và đường hàng không.Theo Báo cáo “Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2018” của Diễn đàn kinh tế thế giớiWEF, Việt Nam ở vị trí 77/140 về năng lực cạnh tranh logistics so với các nước thamgia khảo sát Trong đó, cơ sở hạ tầng đứng thứ 75, cơ sở giao thông vận tải đứng thứnăm 2018

Nguồn: Global Competitiveness Report 2018

Từ bảng 2.2, có thể thấy hệ thống cơ sở hạ tầng nước ta vẫn còn tồn tại nhiềuyếu

kém, chỉ số xếp hạng giảm đều trên tất cả các loại hình vận tải

Trang 40

Hiện nay, đường bộ là phương thức vận tải phát triển nhất trong logistics nộiđịa.

Theo thống kê của Tong cục đường bộ Việt Nam, hệ thống đường bộ nước ta tongchiều

dài 547,448 km, trong đó, 816 km đường cao tốc và hơn 23000 km tỉnh lộ tạo thànhmạng lưới rộng khắp cả nước Nhiều tuyến đường mới đã được đưa vào khai thác gópphần cải thiện hạ tầng đường bộ Việt Nam, nhưng vẫn không đủ để đưa chúng ta rakhỏi

top những nước xếp thấp nhất về cơ sở hạ tầng đường bộ vì không thể sử dụng cho vậntải hàng hóa cồng kềnh, khối lượng lớn vì đa số đường còn nhỏ, chất lượng kỹ thuậtcòn

kém, khả năng chịu tải kém, tình trạng tắc đường diễn ra thường xuyên, không đủ tiêuchuẩn để đảm bảo cho việc kết nối vận tải đa phương thức, dễ dẫn đến tình trạng quátải

hàng hóa, kéo dài thời gian vận chuyển

Đường sắt Việt Nam với tổng chiều dài 3160 km, còn sử dụng công nghệ cònlạc

hậu, thiếu an toàn do sử dụng khổ đường hẹp, hạ tầng không đồng bộ và không có kếtnối với hệ thống cảng biển nên việc sử dụng đường sắt để vận chuyển hàng còn khókhăn và tốn thời gian vận chuyển Hiện nay, số lượng hàng hóa đường sắt Việt Nam làrất ít (chưa đến 1%) vì vậy chúng ta không sử dụng vận tải đường sắt trong thương mạiquốc tế

Về mạng lưới đường thủy nội địa phục vụ vận tải tập trung chủ yếu ở Đồngbằng

sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, với chiều dài hơn 17000 km, đảm nhận17.9%

lượng hàng hóa chuyên chở và kết nối các khu vực sản xuất nông, công nghiệp vớithành

phố Vận tải hàng hóa bằng đường thủy nội địa chủ yếu là vận chuyển qua lan can tàu,chi phí thấp, ít xảy ra tai nạn nhưng tốn nhiều thời gian vận chuyển và bị ảnh hưởngcủa

sự bồi đắp phù sa và lưu lượng dòng chảy nên cũng không phù hợp để phục vụ trongthương mại quốc tế

Ngày đăng: 07/04/2022, 11:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w