Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn NSNN, cũng như các địa phương khác, quá trình thực hiện đầu tư XDCB tại tỉn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐINH THỊ NHƯỢNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐINH THỊ NHƯỢNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGÔ ĐỨC CÁT
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do bản thân tự thực hiện Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tài liệu tham khảo có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Tác giả hoàn
toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Đinh Thị Nhượng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới PGS.TS Ngô Đức Cát
- người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực
hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, Khoa sau Đại học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên là cơ sở đào tạo Thạc sỹ, Cùng sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô Khoa sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo UBND thành phố, phòng Kinh tế thành phố , Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã giúp
đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Phòng Tài chính Kế hoạch thành phố, Ban quản lý dự án các Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - TP Thái Nguyên và các đồng nghiệp nơi tôi công tác đã ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận
lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè luôn động
viên, ủng hộ giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 3 năm 2016
Tác giả
Đinh Thị Nhượng
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Đóng góp của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Đầu tư XDCB 5
1.1.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 11
1.1.3 Vai trò của VĐT XDCB từ NSNN 15
1.1.4 Nguyên tắc quản lý và cấp phát VĐT XDCB của NSNN 15
1.1.5 Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB 17
1.1.6 Nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN 25
1.1.7 Chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước, ngành và địa phương 29
1.1.8 Tác động của cơ chế và chính sách đến hiệu quả đầu tư 31
1.2 Cơ sở thực tiễn 31 1.2.1 Kinh nghiệm quản lý sử dụng vốn hiệu quả cho đầu tư XDCB của
Trang 6Nhà nước Cộng hòa Pháp 31
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý sử dụng vốn hiệu quả cho đầu tư XDCB của tỉnh Thái Nguyên 34
1.2.3 Bài học kinh nghiệm 36
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 39
2.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 39
2.3 Phân tích ma trận SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro) 40 2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 41
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương 42
2.4.2 Về kinh tế 42
2.4.3 Về văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế 42
2.4.4 Chỉ tiêu về hiệu quả công tác thu NS 42
2.4.5 Chỉ tiêu kết quả sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn 42
Chương 3: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA TP THÁI NGUYÊN NĂM 2011-2015 45
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên-kinh tế xã hội của thành phố Thái Nguyên 45
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên, vị trí địa lý 45
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Thái Nguyên 46
3.2 Thực trạng sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành phố Thái Nguyên 53
3.3 Hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB tại thành phố Thái Nguyên 58 3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB tại thành
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
phố Thái Nguyên thông qua điều tra phỏng vấn 59
3.4.1 Về Luật và các quy định có liên quan trong chi NSNN trong đầu tư XDCB 59
3.4.2 Chính sách ngân sách và lập kế hoạch chi NSNN trong đầu tư XDCB 61 3.4.3 Về lập dự toán chi, chấp hành chi, quyết toán chi NSNN trong đầu tư XDCB 62
3.5 Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư XDCB từ nguồn NSNN 65
3.5.1 Hiệu quả về kinh tế 68
3.5.2 Hiệu quả xã hội 69
3.6 Hiệu quả sử dụng VĐT XDCB thông qua xác định thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB từ nguồn NSNN 71
3.6.1 Thất thoát lãng phí trong khâu xác định chủ trương đầu tư 71
3.6.2 Thất thoát lãng phí vốn trong đấu thầu xây dựng 71
3.6.3 Thất thoát lãng phí trong khâu bồi thường - giải phóng mặt bằng 72 3.6.4 Thất thoát lãng phí trong thi công công trình 72
3.6.5 Khép kín trong đầu tư xây dựng 73
3.7 Phân tích ma trận SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và rủi ro) về hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ NSNN tại TP Thái Nguyên 74
3.7.1 Điểm mạnh 74
3.7.2 Điểm yếu 74
3.7.3 Cơ hội 75
3.7.4 Rủi ro 76
3.8 Đánh giá chung về công tác sử dụng vốn đầu tư XD CB từ ngân sách tại TP Thái Nguyên 79
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VĐT XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 82 4.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội trong thời gian tới tại thành phố
Trang 8Thái Nguyên 82
4.1.1 Mục tiêu và chủ đề 82
4.1.2 Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2016 82
4.1.3 Phương hướng 83
4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước thành phố Thái Nguyên 89
4.2.1 Xây dựng và công khai qui trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư 89
4.2.2 Đẩy nhanh việc huy động vốn đầu tư XDCB 89
4.2.3 Nâng cao chất lượng công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư 90
4.2.4 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, quyết toán VĐT XDCB 91
4.2.5 Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đầu tư và quản lý tài chính đầu tư 91
4.2.6 Một số giải pháp khác 92
4.3 Kiến nghị 93
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 97
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án 8Bảng 3.1: Tổng hợp chi ngân sách thành phố giai đoạn 2012 - 2015 53Bảng 3.2: Tổng hợp thu ngân sách thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2012
- 2015 54Bảng 3.3: Tình hình tích luỹ đầu tư XDCB từ NSNN giai đoạn 2012 - 2015 57Bảng 3.3 Hiệu quả sử dụng vốn NSNN qua các năm của thành phố 59Bảng 3.4: Thống kê mô tả các điều tra về Luật và các quy định có liên
quan trong chi NSNN cho đầu tư XDCB 60Bảng 3.5: Thống kê mô tả các điều tra về chính sách ngân sách và lập kế
hoạch chi cho đầu tư XDCB trong chi NSNN 61Bảng 3.6: Thống kê mô tả các điều tra về dự toán chi cho đầu tư XDCB
trong chi NSNN 62Bảng 3.7: Thống kê mô tả các điều tra về chấp hành cho đầu tư XDCB
trong chi NSNN 63Bảng 3.8: Thống kê mô tả các điều tra về quyết toán chi cho đầu tư XDCB
trong chi NSNN 64Bảng 3.9: Thống kê mô tả các điều tra về việc thanh tra, kiểm tra, đánh
giá chương trình, dự án cho đầu tư XDCB trong chi NSNN 65
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội, đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, hơn 40% trong suốt giai đoạn 2010 – 2014 Năm 2014, đầu tư sử dụng nguồn vốn nhà
nước đạt 215.101 tỷ đồng, chiếm khoảng 44,2% tổng vốn đầu tư xã hội (Nguồn: Tổng cục Thống kê) trong đó đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là một trong những
vấn đề then chốt nhất
Đầu tư xây dựng là một trong những chính sách có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và của các địa phương nói riêng Đầu tư xây dựng cơ bản góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới… Tuy nhiên hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng và hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản nói chung hiện nay đang tồn tại khá nhiều yếu kém, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển đất nước, đặc biệt được sự hỗ trợ của nguồn vốn NSNN, cũng như các địa phương khác, quá trình thực hiện đầu tư XDCB tại tỉnh Thái Nguyên nói chung, thành phố Thái Nguyên nói riêng đã đạt được những kết quả, thành công nhất định, nhờ đó tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh, thành phố đã đạt được khá cao so với bình quân chung của cả nước trong nhiều năm, qua đó góp phần phát triển mạng lưới giao thông đô thị, nhằm đáp ứng nhu cầu giao thông ngày càng tăng, giúp giảm thiểu, tiến tới xóa bỏ tình trạng nghèo tại các đô thị, thỏa mãn một phần nhu cầu của người dân mong muốn được hưởng hạ tầng kỹ thuật đô thị hiện đại, nâng cao vai trò vị thế của đô thị loại I của thành phố và của trung tâm vùng Đồng thời việc đầu tư xây dựng cơ bản giúp mở rộng không gian đô thị, kết nối giữa khu vực đô thị cũ với khu vực đô thị mới rút ngắn khoảng cách
Trang 12giữa nội thị và ngoại thị góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Thái Nguyên nói riêng và khu vực vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói chung
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đầu tư và đầu tư XDCB vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, đặc biệt là hiệu quả của đầu tư XDCB còn thấp; thất thoát và lãng phí trong đầu tư XDCB còn nhiều và diễn ra ở tất cả các khâu như: Chủ trương đầu tư; lập dự án, thiết kế; thi công xây dựng; quản lý khai thác Đây là một trong những vấn đề bức xúc của toàn xã hội, là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đòi hỏi các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương phải giải quyết
Nhận thức được các vấn đề nói trên và với mong muốn nghiên cứu và tìm
ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả VĐT từ NSNN trên địa bàn thành phố
Thái Nguyên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB từ NSNN trên địa bàn thành phố Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên” để thực hiện luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề tài tiến hành nghiên cứu, phân tích thực trạng về tình hình quản lý sử dụng VĐT cho XDCB và từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng vốn NSNN trong đầu tư XDCB ở thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu ngân sách đầu tư XDCB
và thực trạng hoạt động sử dụng vốn NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012- 2015
Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình sử dụng VĐT các dự án XDCB thuộc nguồn vốn NSNN trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
Phạm vi về nội dung: Luận văn đi sâu nghiên cứu về hoạt động sử dụng vốn Ngân sách đầu tư XDCB
4 Đóng góp của luận văn
Làm sáng tỏ thực trạng sử dụng vốn ngân sách XDCB và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vốn NSNN cho XDCB của thành phố Thái Nguyên Đồng thời làm sáng tỏ một số vấn đề về cơ sở lý luận, thực tiễn trong việc sử dụng
vốn ngân sách nhà nước cho XDCB
Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý kinh tế, đặc biệt
là các cán bộ lãnh đạo trực thuộc ngành Tài chính, Kho bạc, các cán bộ lãnh đạo cấp địa phương (HĐND, UBND thành phố Thái Nguyên, Các phòng, ban ngành liên qua sử dụng vốn NSNN cho các dự án xây dựng cơ bản
Tác giả mong muốn những giải pháp đưa ra trong luận văn được ứng dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả của sử dụng vốn NSNN cho XDCB thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
5 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục các tài liệu
tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng VĐT XDCB
Trang 14từ NSNN
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng sử dụng VĐT XDCB từ NSNN của thành phố
Thái Nguyên năm 2012 - 2015
Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT
XDCB từ NSNN ở thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2015 - 2020
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đầu tư XDCB là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính,vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền KT - XH, tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người trong
xã hội
Đầu tư XDCB bằng vốn Nhà nước là việc sử dụng phần vốn NSNN dành cho đầu tư XDCB, vốn vay nước ngoài của Chính phủ và vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của nước ngoài cho Chính phủ và Chính quyền các cấp, vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và VĐT của doanh nghiệp Nhà nước, dùng để đầu tư vào các khâu then chốt và cần thiết của nền kinh tế quốc dân, các dự án công, các ngành kinh tế mũi nhọn có vị trí quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đầu tư XDCB bằng vốn Nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong
Trang 16từng thời kỳ
1.1.1.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững
để đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất Bao gồm các đặc điểm sau:
Thứ nhất: đầu tư XDCB là khâu mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái
sản xuất nhằm tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế Đầu tư XDCB chính là một phần tiết kiệm những tiêu dùng của xã hội thay vì những tiêu dùng lớn hơn trong tương lai
Thứ hai: quá trình đầu tư XDCB phải trải qua một thời gian lao động rất
dài mới có thể đưa vào sử dụng được, thời gian hoàn vốn lâu vì sản phẩm XDCB mang tính chất đặc biệt và tổng hợp Sản xuất không theo dây chuyền hàng loạt mà mỗi công trình dự án có kiểu cách, tính chất khác nhau lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên, địa điểm hoạt động lại thay đổi liên tục và phân tán Thời gian khai thác và sử dụng lâu dài, thường là 10 năm, 20 năm,
50 năm hoặc lâu hơn tuỳ thuộc vào tính chất dự án
Thứ ba: đầu tư là lĩnh vực có mức độ rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư
chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại để mong nhận được những tiêu dùng lớn hơn nhưng chưa thật chắc chắn trong tương lai,
“Chưa thật chắc chắn” chính là yếu tố rủi ro mạo hiểm Vì vậy có nhà kinh
tế đã nói rằng đầu tư là đánh bạc với tương lai
Thứ tư: sản phẩm của đầu tư XDCB là những công trình xây dựng như
nhà máy, công trình công cộng, nhà ở, cầu cống, sân bay, cảng biển… có tính
cố định gắn liền với đất đai Vì thế nên trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch cụ thể, khi thi công xây lắp thường gặp phải khó khăn trong đền bù giải phóng mặt bằng, khi đã hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó di chuyển đi nơi khác
1.1.1.3 Các giai đoạn Đầu tư XDCB
Dự án đầu tư được hình thành và phát triển với nhiều giai đoạn riêng biệt, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, thậm chí đan xen nhau theo một tiến trình
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
lôgic Mặc dù vậy, có thể nghiên cứu chúng một cách tương đối độc lập và trên các góc độ khác nhau để hiểu chúng một cách hệ thống hơn, toàn diện hơn Trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư bao gồm 8 bước công việc, phân thành hai giai đoạn theo sơ đồ1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án
Qua sơ đồ ta thấy: bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau, giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn sau Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của
dự án mà một vài bước có thể gộp nhau như ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với dự án vừa và nhỏ thì có thể không cần phải có bước nghiên cứu cơ hội đầu
tư và bước nghiên cứu dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, thậm chí chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ và những
dự án có thiết kế mẫu
Giai đoạn I Chuẩn bị đầu tư
Nghiên cứu cơ
hội đầu tư
Lập dự án, lập BCKT - KT
Thẩm định và phê duyệt dự án
Giai đoạn II Thực hiện đầu tư
Thiết kế, lập tổng
dự toán, dự toán Ký kết HĐ; xây dựng, thiết bị
Chạy thử nghiệm thu, quyết toán
Thi công xây dựng, đào tạo CN, CNKT, QL
Bàn giao, đưa vào khai thác sử dụng
Trang 18Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án
Khi bước trước đã thực hiện xong, trước khi triển khai thực hiện bước tiếp theo phải kiểm tra và đánh giá về kinh tế, tài chính, kỹ thuật của bước đó, nếu đạt yêu cầu về các tiêu chuẩn, quy phạm (nếu có) cho bước đó và được cấp có thẩm quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo Đáng lưu ý nhất là thực hiện trình tự theo giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư
dự án
Nội dung công việc thực hiện ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư gồm:
+ Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư
+ Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ; tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn VĐT và lựa chọn hình thức đầu tư
+ Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng
+ Lập dự án đầu tư
+ Gửi hồ sơ dự án và văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu
tư, tổ chức cho vay VĐT và cơ quan có chức năng thẩm quyền lập dự án đầu tư
- Nội dung công việc ở giai đoạn thực hiện dự án bao gồm:
+ Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước, mặt biển và thềm lục địa
+ Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, thiết bị
+ Xin giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có) + Ký kết hợp đồng kinh tế với nhà thầu đã trúng thầu
+ Thi công xây lắp công trình
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
+ Kiểm tra giám sát thực hiện các hợp đồng
1.1.1.4 Vai trò của đầu tư XDCB từ NSNN
Đầu tư XDCB từ NSNN đóng vai trò cực kỳ quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam - một quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế và tăng trưởng nhanh vào bậc nhất trên thế giới Cụ thể có các vai trò sau:
Một là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là công cụ kinh tế quan trọng để
Nhà nước trực tiếp tác động đến các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, điều tiết
vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước Bằng việc cung cấp các dịch vụ công cộng, như: hạ tầng kinh tế - xã hội,
an ninh quốc phòng… mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; các dự án đầu tư từ NSNN được triển khai ở các vị trí quan trọng, then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nền kinh tế - xã hội phát triển ổn định theo định hướng XHCN
Hai là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN được coi là một công cụ để Nhà
nước chủ động điều tiết, điều chỉnh hàng loạt các quan hệ và những cân đối lớn của nền kinh tế:
- Đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là một công cụ để Nhà nước chủ động điều chỉnh tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
+ Về mặt cầu: Đầu tư (trong đó có đầu tư Chính phủ) sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc đẩy lưu thông, tạo việc làm và thu nhập… Tuy nhiên tác động của đầu tư đối với tổng cầu chỉ là ngắn hạn Trong khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ kéo theo tổng cầu tăng, các yếu
tố giá cả đầu vào của đầu tư tăng, sản lượng cân bằng tăng theo dẫn đến cân bằng cung cầu mới
+ Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới của nền kinh tế tăng lên thì lại tác động làm tăng tổng cung trong dài hạn, kéo theo sản lượng tiềm năng tăng, giá cả sản phẩm giảm Sản lượng tăng, giá
cả giảm cho phép tăng tiêu dùng, kích thích đầu tư Đây là nguồn cơ bản để
Trang 20tăng tích luỹ, phát triển kinh tế - xã hội Như vậy thông qua chi đầu tư XDCB
từ NSNN, Chính phủ có thể chủ động xử lý những cân đối vĩ mô của nền kinh
tế
Ba là, đầu tư XDCB từ nguồn NSNN tạo điều kiện cho các thành phần
kinh tế và cho toàn nền kinh tế phát triển.Vốn đầu tư từ NSNN được coi là
“vốn mồi” để thu hút các nguồn lực trong nước và ngoài nước vào đầu tư phát triển; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển sẽ tạo khả năng lớn để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, du lịch… Có đủ vốn đầu tư trong nước mới góp phần giải ngân, hấp thụ được các nguồn vốn ODA, có hạ tầng kinh tế - xã hội tốt mới thu hút được vốn FDI, có vốn đầu tư “mồi” của Nhà nước mới khuyến khích phát triển các hình thức BOT… Như vậy đầu tư từ NSNN có vai trò hạt nhân để thúc đẩy xã hội hoá trong đầu tư, thực hiện CNH - HĐH đất nước
Bốn là, đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN tạo điều kiện phát triển nguồn
nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân Các dự
án đầu tư vào các lĩnh vực trên (như đã nêu) rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp nên thường được Nhà nước đầu tư bằng nguồn NSNN Khi hoàn thành và đưa vào sử dụng sẽ cung cấp các dịch vụ công, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế - xã hội
Năm là, sản phẩm đầu tư XDCB có ý nghĩa lớn về mặt chính trị, xã hội, nghệ thuật và an ninh - quốc phòng:
Về mặt kinh tế - xã hội: Cơ cấu đầu tư XDCB thể hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn
Về mặt nghệ thuật: Đầu tư XDCB góp phần mở mang đời sống văn hoá, tinh thần làm phong phú thêm nền kiến trúc của đất nước
Về mặt an ninh, chính trị và quốc phòng: Đầu tư XDCB góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước, ổn định an ninh trật tự, và chính trị
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
để đạt được mục đích đầu tư bao gồm: chi phí cho việc khảo sát quy hoạch xây dựng, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng chi phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán” Các văn bản pháp luật sau Nghị định này không đưa ra định nghĩa về VĐT XDCB nữa Tuy nhiên, thuật ngữ “VĐT XDCB” vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản pháp luật hiện nay
VĐT XDCB là giá trị tài sản xã hội đã được sử dụng nhằm thực hiện các
dự án đầu tư XDCB mang lại hiệu quả trong tương lai Hay nói cách khác, đầu
tư phát triển là đầu tư mang lại kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ nâng cao mức thu nhập bình quân của mỗi quốc gia, nhưng ý nghĩa quan trọng nhất của đầu tư phát triển là làm thay đổi cơ cấu KT - XH của mỗi quốc gia
1.1.2.2 Các nguồn VĐT XDCB
VĐT phát triển kinh tế của một nước được hình thành từ hai nguồn vốn: Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Đối với nước ta và các nước đang phát triển khác, đứng trước thực trạng của nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng chậm, thu nhập bình quân đầu người thấp, nguồn vốn tiết kiệm so với GDP còn rất hạn hẹp, cần kết hợp huy động vốn nước ngoài với vốn trong nước
để đầu tư phát triển kinh tế, trong đó nguồn vốn trong nước có ý nghĩa chiến lược đối với sự tăng trưởng của mỗi quốc gia Phù hợp với phạm vi của đề tài
là nghiên cứu về nguồn VĐT trong nước Nguồn VĐT trong nước được hình thành chủ yếu từ: tiết kiệm của Chính phủ; tiết kiệm của dân cư; tiết kiệm của
Trang 22doanh nghiệp và vốn huy động thông qua sử dụng các tài sản quốc gia, ngoài
ra nguồn VĐT trong nước có thể hình thành từ tài trợ nước ngoài, dưới hình thức vay hoặc nhận viện trợ của Chính phủ Mỗi nguồn vốn có những đặc điểm khác nhau:
Nguồn vốn hình thành từ tiết kiệm Chính phủ: Là số chênh lệch giữa
tổng các khoản thu và tổng các khoản chi dùng thường xuyên của Chính phủ Mặc dù, tiết kiệm của các doanh nghiệp Nhà nước cũng đóng góp vào tiết kiệm của Chính phủ, nhưng sẽ được trình bày ở phần tiết kiệm của doanh nghiệp (phần sau đây)
Khi nghiên cứu tiết kiệm của Nhà nước, cần lưu ý là tiết kiệm của khu vực này vẫn có thể là một số dương, ngay cả khi NSNN bội chi, bởi vì chi của ngân sách bao gồm cả chi về đầu tư, tức là sử dụng tiết kiệm của khu vực Nhà nước
Nguồn vốn hình thành từ tiết kiệm trong dân cư: Được hình thành từ
phần còn lại trong thu nhập của dân cư, sau khi đóng góp nghĩa vụ đối với Nhà nước (nếu có) và đảm bảo tiêu dùng cho nhu thiết yếu của bản thân và gia đình
họ Phạm vi hình thành thu nhập của dân cư bao gồm: thu nhập từ kết quả lao động, từ sản xuất và kinh doanh dịch vụ của bản thân dân cư và gia đình họ; thu nhập do thân nhân của họ từ nước ngoài gửi về (người định cư, hợp tác lao động, học tập và công tác…); thu nhập do quyền thừa kế gồm vàng, tiền, nhà cửa và đất đai; thu nhập hình thành từ những cơ hội may mắn bất ngờ (trúng
số độc đắc, giá của tài sản thay đổi…) Tiết kiệm trong dân cư là một bộ phận của tổng tiết kiệm trong nước, đóng vai trò chủ yếu trong việc hình thành VĐT của mỗi quốc gia Nó đã được thừa nhận là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng số các khoản tiết kiệm Vấn đề đặt ra là khai thác nguồn tiết kiệm này như thế nào để khuyến khích quá trình tự đầu tư vào lĩnh vực XDCB, để bù đắp thiếu hụt ngân sách, để thúc đẩy các doanh nghiệp tự
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
đầu tư
Nguồn VĐT hình thành từ các doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị
trường, doanh nghiệp là những tổ chức kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận Nếu xét trên góc độ cung và cầu vốn cho nền kinh tế thì các doanh nghiệp được phân chia làm hai loại: doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các Ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, có khả năng ứng vốn cho nền kinh tế, thông qua hoạt động kinh doanh hàng hoá, không giống như hàng hoá thông thường mà là các hàng hoá đặc biệt như: tiền tệ, vốn, chứng khoán Các doanh nghiệp này có vai trò quan trọng như những “cầu nối” giữa người bán ra và người mua vào quyền sử dụng vốn Giúp cho các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực bỏ vốn, giảm chi phí tìm kiếm, giao dịch và rủi ro Thông qua vai trò trung gian, các doanh nghiệp tài chính thực hiện được lợi nhuận của mình và làm nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, các doanh nghiệp đã đóng góp vào việc mở rộng tiết kiệm và đầu tư của nền kinh tế, thông qua việc làm tăng nguồn tiết kiệm của khu vực Chính phủ, tăng hoạt động đầu tư của chính nó
Nguồn vốn hình thành từ việc sử dụng các tài sản Quốc gia: Tài sản quốc
gia không chỉ biểu hiện bằng vốn tiền tệ thực tế, đang vận động theo các luồng giá trị của quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh tế, mà còn được biểu hiện dưới dạng tiềm năng là những tài sản hữu hình và vô hình, nếu biết khai thác và tác động của ngoại lực thì nó có thể trở thành vốn tiền tệ, làm tăng nguồn VĐT phát triển cho nền kinh tế Các tài sản quốc gia như đất đai, tài nguyên và lao động được thừa nhận có đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển đối với các nước đang phát triển, nhưng chúng chỉ biến từ nguồn tài chính tiềm năng thành nguồn tài chính thực tế cho đầu tư phát triển khi đã dùng đến ngoại lực tác động,
để có VĐT phải đầu tư vốn, đó là một nguyên lý
Như vậy, việc xác định các nguồn tiết kiệm của Chính phủ, tiết kiệm của
Trang 24dân cư, tiết kiệm của doanh nghiệp và các nguồn vốn tiềm năng khác, có vai trò quan trọng trong việc hình thành VĐT XDCB trong nước để đầu tư phát triển kinh tế của các quốc gia.
1.1.2.3 Vốn NSNN trong đầu tư XDCB
NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước tham gia huy động và phân phối VĐT thông qua hoạt động thu, chi ngân sách
Căn cứ vào phạm vi, tính chất và hình thức thu cụ thể, VĐT XDCB từ NSNN được hình thành từ các nguồn sau:
+ Nguồn vốn thu trong nước (thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ bán, cho thuê tài sản, tài nguyên của đất nước…và các khoản thu khác)
+ Nguồn vốn từ nước ngoài (vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nguồn viện trợ NGO)
Phân cấp quản lý ngân sách chia VĐT XDCB từ NSNN gồm:
+ VĐT XDCB của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích quốc gia Nguồn vốn này được giao cho các bộ, ngành quản lý sử dụng
+ VĐT XDCB của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoản thu ngân sách địa phương đầu tư vào các dự án phục vụ cho lợi ích của từng địa phương Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) quản lý thực hiện
Mức độ kế hoạch hoá, VĐT từ NSNN được phân thành:
+ VĐT xây dựng tập trung: nguồn vốn này được hình thành theo kế hoạch với tổng mức vốn và cơ cấu vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho từng bộ, ngành và từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
+ VĐT XDCB từ nguồn thu được để lại theo Nghị quyết của Quốc hội: thu từ thuế nông nghiệp, thu bán, cho thuê nhà của Nhà nước, thu cấp quyền
sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất…
+ VĐT XDCB theo chương trình quốc gia
+ VĐT XDCB thuộc NSNN nhưng được để lại tại đơn vị để đầu tư tăng
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
cường cơ sở vật chất như: quảng cáo truyền hình, thu học phí,
Vốn NSNN đầu tư cho XDCB thường có quy mô lớn và không có khả năng thu hồi trực tiếp, có tác dụng chung cho nền KT - XH nhưng các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn tham gia đầu tư Hơn nữa, nguồn vốn cấp phát trực tiếp từ ngân sách không hoàn lại nên đây là nguồn vốn dễ bị thất thoát, lãng phí nhất đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ
1.1.3 Vai trò của VĐT XDCB từ NSNN
Trong nền kinh tế quốc dân, vốn ĐTXDCB từ NSNN có vai trò rất quan trọng đối với phát triển KT - XH Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau:
Một là, các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN là những dự án chủ yếu nhằm xây dựng hệ thống, kết cấu hạ tầng vật chất, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh
Hai là, vốn ĐTXDCB từ NSNN góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hoá
và phân công lao động xã hội
Ba là, vốn ĐTXDCB từ NSNN có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế
Bốn là, vốn ĐTXDCB từ NSNN có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa
Năm là, các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN tác động đến tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế
Sáu là, các dự án ĐTXDCB bằng nguồn vốn NSNN có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế
1.1.4 Nguyên tắc quản lý và cấp phát VĐT XDCB của NSNN
Quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Đúng đối tượng: Cấp phát VĐT XDCB của ngân sách NN được thực
hiện theo phương thức cấp phát không hoàn trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các dự án cần thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng an ninh từ đó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho sự phát triển toàn diện
Trang 26và cân đối của nền kinh tế quốc dân
Các dự án thuộc đối tượng cấp phát VĐT XDCB của NSNN bao gồm: Các dự án đầu tư kết cấu hạ tầng KT - XH, quốc phòng, an ninh, không
có khả năng thu hồi vốn và được quản lý theo phân cấp quản lý chi NSNN cho đầu tư phát triển như: các dự án giao thông, thủy lợi, giáo dục đào tạo, y tế, trồng rừng đầu nguồn, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu giống mới, phúc lợi công cộng, quản lý nhà nước, khoa học
- Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết
có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật được NSNN hỗ trợ
- Các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước, vùng, lãnh thổ, ngành (bao gồm cả quy hoạch hệ thống các khu công nghiệp); quy hoạch sử dụng đất đai cả nước, các vùng kinh tế và các vùng kinh tế trọng điểm, quy hoạch xây dựng vùng, xây dựng đô thị, nông thôn, quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị
- Các dự án khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Thực hiện đúng, đầy đủ thủ tục, trình tự đầu tư và xây dựng
Trình tự đầu tư và xây dựng là trật tự các giai đoạn, các bước công việc
trong từng giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng công trình Các dự án đầu tư không phân biệt quy mô và mức độ VĐT đều phải thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng gồm ba giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng Các công việc trong giai đoạn thực hiện đầu tư và kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác
sử dụng có thể thực hiện tuần tự hoặc gối đầu, xen kẽ, tùy theo điều kiện cụ thể của từng dự án đầu tư
Đúng mục đích, đúng kế hoạch, theo mức độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán được duyệt
Nguồn vốn NSNN đầu tư cho các công trình, dự án được xác định trong
kế hoạch NSNN hàng năm, dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của toàn
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
bộ nền kinh tế quốc dân, kế hoạch XDCB của từng Bộ, ngành, địa phương, từng đơn vị cơ sở và khả năng nguồn vốn của NSNN Vì vậy, cấp phát VĐT XDCB của NSNN đúng mục đích, đúng kế hoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc quản lý NSNN và đảm bảo tính kế hoạch, cân đối của toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, của từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương
Giám đốc bằng tiền
Kiểm tra bằng đồng tiền đối với việc sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, đúng kế hoạch, có hiệu quả là chức năng của tài chính Thực hiện công tác giám đốc trong quá trình cấp phát VĐT có tác dụng đảm bảo sử dụng tiền vốn tiết kiệm, đúng mục đích, đúng kế hoạch và thúc đẩy các đơn vị thực hiện tốt trình tự đầu tư và xây dựng, kế hoạch tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình và hoàn thành công trình đúng thời hạn để đưa vào sản xuất sử dụng
Giám đốc bằng đồng tiền được thực hiện đối với mọi dự án đầu tư, trong tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng, bao gồm giám đốc trước, trong và sau khi cấp phát vốn
1.1.5 Hiệu quả đầu tư và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB
1.1.5.1 Một số khái niệm
- Hiệu quả
Có nhiều cách nhìn và tiếp cận khác nhau về hiệu quả kinh tế và hiệu quả sử dụng VĐT XDCB Theo Đại từ điển kinh tế thị trường thì hiệu quả và tỷ suất hiệu quả được hiểu như sau: "Hiệu quả là thù lao mà nhà đầu tư thu được sau một thời gian nhất định, như lợi tức, lãi cổ phần, lợi nhuận Tỷ suất hiệu quả là tỷ
lệ giữa mức hiệu quả và mức đầu tư, tức mỗi đồng hiệu quả thì thu được của đầu tư"
"Hệ số hiệu quả đầu tư: là tên gọi của hệ số hiệu quả đầu tư Là tỷ lệ giá trị của mức tăng thu nhập quốc dân trong một thời kỳ nhất định và đầu tư tài sản cố định toàn xã hội dẫn đến sự tăng trưởng năm"
Trang 28Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả
đó trong những điều kiện nhất định
Đánh giá hiệu quả VĐT XDCB là một nội dung rất quan trọng, nhưng rất phức tạp khó khăn, tuy vậy nó là rất cần thiết và kết quả tổng hợp của quá trình công tác đầu tư XDCB Khi xem xét một lợi ích KT - XH do dự án đem lại đều phải xác định vị trí của dự án trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân
- Hiệu quả tổng hợp
Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp là hiệu quả chung nhất phản ánh kết quả thực hiện mọi mục tiêu mà chủ thể đặt ra trong một giai đoạn nhất định trong quan
hệ với chi phí để có được những kết quả đó
Hiệu quả tổng hợp là sự so sánh giữa kết quả đầu tư mang lại và chi phí của đầu tư Có nhiều cách để phân loại, đánh giá hiệu quả đầu tư Có thể có hiệu quả trực tiếp hay hiệu quả gián tiếp Hiệu quả trực tiếp là lợi ích mang lại (sinh
và lợi nhuận cao) sau một thời gian bỏ vốn ra đầu tư và thu hồi lại Hiệu quả gián tiếp là lợi ích mang lại chung cho nền kinh tế, một địa phương Ví dụ hiệu quả sau khi xây dựng một con đường, một cây cầu, một công trình thủy lợi, một nhà máy khi đi vào sản xuất
- Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất, nói rộng ra là của hoạt động kinh tế, kinh doanh, phản ánh tương quan giữ kết quả đạt được so với hao phí lao động, vật tư, tài chính, là chỉ tiêu phản ánh trình độ và chất lượng sử dụng các yếu tố của sản xuất - kinh doanh, nhằm đạt được kết quả kinh tế tối đa, với chi phí tối thiểu Tuỳ theo mục đích đánh giá, có thể đánh giá hiệu quả kinh tế bằng những chỉ tiêu khác nhau như năng suất lao động, hiệu suất sử dụng vốn, hàm lượng vật tư của sản phẩm, lợi nhuận so với vốn, thời gian thu hồi vốn Chỉ tiêu tổng hợp thường dùng nhất là doanh lợi thu được
so với tổng số vốn bỏ ra Tuy nhiên, cần lưu ý “Hiệu quả kinh tế thường được
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
nghiên cứu ở góc độ vĩ mô và phải chú ý rằng không phải bao giờ hiệu quả kinh
tế và hiệu quả kinh doanh là vận động cùng chiều”
Hiệu quả kinh tế ở tầm vĩ mô đó là lợi ích KT - XH do dự án mang lại gắn liền với việc tăng trưởng GDP với tốc độ cao; hiệu quả phải gắn với tính bền vững, với tiến bộ và công nghệ bằng xã hội, với bảo đảm an ninh quốc phòng v.v
Trong XDCB, đặc biệt trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khi mà các nguồn vốn huy động còn khan hiếm, trong lúc phải thực hiện CNH, HĐH cần phải đầu tư ở các lĩnh vực KT - XH, thì việc tính toán hiệu quả đầu tư XDCB
là một vấn đề hết sức quan trọng Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước không thể không nói tới đầu tư XDCB Đầu tư XDCB sẽ góp phần quyết định sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, tiến trình CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Chủ thể được hưởng hiệu quả KT - XH là toàn bộ xã hội mà lực lượng chủ yếu là nhân dân, vì vậy những hiệu quả (lợi ích) và chi phí được xem xét trong hiệu quả KT - XH xuất phát từ quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Nội dung cơ bản của hiệu quả KT - XH là hiệu quả kinh tế xét theo quan điểm toàn bộ của nền kinh tế và thường được giải quyết ở cấp vĩ mô
- Quan hệ giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả KT - XH
Trong đầu tư XDCB, hiệu quả kinh tế trước hết là lợi nhuận luôn là mối quan tâm của doanh nghiệp hoặc của những nhà đầu tư Hiệu quả KT - XH
Trang 30là mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là Nhà nước Hiệu quả sản xuất kinh doanh (hiệu quả kinh tế) được xem xét theo quan điểm của doanh nghiệp, lợi nhuận là mục tiêu và động lực trước hết của doanh nghiệp, họ bỏ vốn ra và thu được lợi nhuận là bao nhiêu? còn hiệu quả KT - XH được xem xét theo quan điểm của toàn xã hội Hiệu quả sản xuất kinh doanh xét theo quan điểm
bộ phận của một nhóm người, nhà đầu tư, hay của một doanh nghiệp, lợi nhuận
là chủ yếu, còn hiệu quả KT - XH xét theo quan điểm toàn thể, đồng bộ và có tính dài hạn
Quan hệ giữa hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả KT - XH là quan
hệ giữa lợi ích bộ phận và lợi ích tổng thể, giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội Đó là mối quan hệ vừa có tính thống nhất vừa có tính mâu thuẫn
Do vậy, để đảm bảo hài hòa lợi ích (hiệu quả) thì phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, không phải vì lợi ích cục bộ trước mắt mà hại đến lợi ích lâu dài của đất nước, quốc gia, xã hội Tuy nhiên, nếu không vì lợi ích kinh tế (lợi nhuận) thì sẽ triệt tiêu động lực phát triển
1.1.5.2 Các nguyên tắc xác định và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả XDCB
- Các nguyên tắc xác định hiệu quả XDCB
+ Nguyên tắc về mối quan hệ giữa mục tiêu và tiêu chuẩn hiệu quả:
Theo nguyên tắc này, tiêu chuẩn hiệu quả được định ra trên cơ sở mục tiêu Mục tiêu khác nhau, thì tiêu chuẩn hiệu quả khác nhau Nếu xây dựng một nhà máy thì phải tính đến công suất sử dụng nguyên nhiên liệu, số lao động được việc làm, thu nhập, lợi nhuận là bao nhiêu? Còn nếu làm một con đường thì ai người được thụ hưởng, nó góp phần phát triển KT - XH, bình đẳng thế nào? thu phí bao nhiêu và khi nào thì hoàn vốn Rõ ràng mục tiêu xây dựng của một nhà máy sẽ khác nhiều so với việc xây dựng một con đường, một trường học hoặc một công trình thủy lợi v.v Nếu thay đổi mục tiêu thì tiêu chuẩn hiệu quả cũng phải thay đổi Tiêu chuẩn hiệu quả phải được xem như là thước đo cơ bản để thực hiện các mục tiêu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Phân tích hiệu quả của một dự án đầu tư XDCB nào đó luôn luôn dựa trên phân tích mục tiêu Phương án có hiệu quả cao nhất khi nó có đóng góp nhiều nhất và việc thực hiện các mục tiêu đặt ra với chi phí thấp nhất
+ Nguyên tắc về sự thống nhất lợi ích:
Một phương án được xem là có hiệu quả khi nó kết hợp hài hoà các loại lợi ích Những lợi ích đó bao gồm lợi ích của chủ doanh nghiệp (đầu tư) và lợi ích của xã hội, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường
Về lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của xã hội được xem xét trong phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội Theo nguyên tắc "lợi ích", hiệu quả sản xuất kinh doanh không thể thay thế cho hiệu quả KT
- XH và ngược lại trong việc quyết định cho ra đời một phương án kinh doanh của doanh nghiệp hoặc một nhà đầu tư
Về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài cũng không thể hy sinh lợi ích lâu dài để lấy lợi ích trước mắt Nhưng cũng không thể vì lợi ích trước mắt mà hy sinh lợi ích lâu dài Do vậy, phải kết hợp đúng đắn giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài Trong quan hệ giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi ích lâu dài là cơ bản nhất
Nên kết hợp lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội, cũng như lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần Đừng vì lợi ích này mà bỏ lợi ích khác Việc phân tích hiệu quả kinh tế các phương án cần đặt trong mối quan hệ với phân tích các lợi ích khác mà phương án mang lại Bất kỳ một đầu tư nào mà hy sinh lợi ích đều giảm hiệu quả chung của phương án đó Trong đại bộ phận các trường hợp, lợi ích xã hội đóng vai trò quyết định, lợi ích kinh tế là hết sức quan trọng, cần thiết
+ Đảm bảo tính chính xác, tính khoa học và lượng hoá tối đa các chỉ tiêu:
Để đánh giá hiệu quả các phương án đầu tư XDCB cần phải dựa trên một hệ thống các chỉ tiêu có thể lượng hoá được và không lượng hoá được, tức
Trang 32là phải kết hợp phân tích định lượng hiệu quả với phân tích định tính Không thể thay thế phân tích định lượng bằng phân tích định tính Tuy nhiên, định lượng chưa đủ bảo đảm tính chính xác, chưa cho phép phản ánh được mọi lợi ích cũng như mọi chi phí mà chủ thể quan tâm, nhưng không vì vậy mà bỏ qua, hoặc nhấn mạnh chung chung định tính
Nhưng nếu phân tích chính xác, có định lượng, thì từ những căn cứ tính toán đó, hiệu quả phải được xác định chính xác, tránh chủ quan tuỳ tiện, duy ý chí, chung chung
+Nguyên tắc về tính đơn giản và tính thực tế:
Theo nguyên tắc này, những phương pháp tính toán hiệu quả và hiệu quả kinh tế phải được dựa trên cơ sở các số liệu thông tin thực tế, đơn giản và dễ hiểu Tránh tình trạng sử dụng những phương pháp quá phức tạp khi chưa có đầy đủ các thông tin cần thiết hoặc những thông tin không đảm bảo độ chính xác làm giảm tính thuyết phục hoặc không hiệu quả trong đầu tư XDCB
- Một số mô hình đánh giá hiệu quả sử dụng VĐT
+ Mô hình Harrod - Domar:
Mô hình tăng trưởng kinh tế đơn giản nhất và rất nổi tiếng được sử dụng khá phổ biến trên thế giới để phân tích sự phát triển kinh tế Mô hình này được hai nhà kinh tế học: ông Roy Harrod người Anh và ông Evsey Domar ở người
Mỹ nêu ra từ những năm 1940 của thế kỷ XX - đã chỉ ra mối quan hệ số gia tăng tư bản - đầu ra (ICOR) và tỷ lệ đầu tư như sau:
G = s/k Trong đó:
g: Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế (GDP)
s: Tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế (GDP, GNI) (Hai ông này ngầm đã giả định toàn bộ số tiền tiết kiệm chỉ dành cho đầu tư)
k: Hệ số gia tăng tư bản - đầu ra (ICOR) (Icremetal Capital Output Ratio)
Hệ số ICOR chỉ ra rằng: Để làm ra 1 đồng sản lượng đầu ra thì cần bao nhiêu đồng đầu vào
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, theo quan niệm của mô hình Harrod - Domar ở phương trình trên thi: tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tỷ lệ thuận với tỷ lệ tích luỹ của nền kinh tế và tỷ lệ nghịch với hệ số ICOR Điều đó có nghĩa là để duy trì được tốc
độ tăng trưởng cao và lâu dài của nền kinh tế cần phải giữ vững và gia tăng tỷ
lệ đầu tư và khống chế ở mức chấp nhận được đối với hệ số gia tăng vốn Ví
dụ, đối với nước ta, để giữ được tốc độ tăng trưởng trong năm năm tới (2006 - 2010) của nền kinh tế là 8% với hệ số ICOR là 4 thì tỷ lệ đầu tư phải đạt ở mức 32% trong GDP (hoặc GNI)
Hệ số ICOR thường gắn chặt với hiệu quả đầu tư, nếu hiệu quả đầu tư thấp, hay nói cách khác là sử dụng các nguồn vốn đã được huy động không có hiệu quả, sẽ làm cho ICOR tăng theo chiều hướng tiêu cực và làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không cao, không bền vững dẫn đến gánh nặng nợ nần không những cho ngày hôm nay mà cho cả thế hệ tương lai Tuy nhiên, như trên đã nói trong công thức này, Hai ông đã giả định rằng nền kinh tế chỉ phụ thuộc vào một yếu tố cố định là đầu tư, trên thực tế tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, đặc biệt là chất lượng tăng trưởng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Tuy vậy, công thức này cũng phần nào phản ánh được hiệu quả của VĐT bằng định lượng
Mô hình Harrod - Domar được ứng dụng trong việc lập kế hoạch phát triển không chỉ cho nền kinh tế mà có thể cho tất cả các ngành, các lĩnh vực (tính theo
hệ số ICOR) Với hệ số ICOR ước lượng được và với mục tiêu tăng trưởng cho trước thì từ mô hình sẽ tính được tỷ lệ tiết kiệm cần thiết cho tăng trưởng Tuy nhiên mô hình đơn giản này bỏ qua yếu tố lao động và tiến bộ công nghệ nên không phản ánh đầy đủ và chính xác của sự phát triển Đòi hỏi phải xét đến các
mô hình tăng trưởng kinh tế với hàm sản xuất nhiều biến hơn
+ Mô hình tăng trưởng kinh tế của R.Solow
Robert Solow là Giáo sư của Khoa kinh tế, Học viện công nghệ Massachusetts, từng được giải thưởng Noben kinh tế năm 1987 cho những
Trang 34đóng góp xuất sắc trong lý thuyết tăng trưởng và những nghiên cứu thực nghiệm về quá trình tăng trưởng Như đã phân tích ở trên, mô hình tăng trưởng kinh tế Harrod - Domar đã đưa ra điều kiện để một nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ không đổi, với tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ phụ thuộc vào một nhân tố duy nhất đó là vốn Do vậy, ông đã đưa ra một mô hình khác là:
Q = F (K, L, t) Trong đó: Q là sản lượng đầu ra; L là lượng đầu vào (số lượng lao động cùng trên một đơn vị thời gian); K là lượng với vật chất đầu vào (số giờ máy trên một đơn vị thời gian); t là biểu thời gian [16]
Sự xuất hiện của biểu số t trong hàng sản xuất cho phép đánh giá sự thay đổi kỹ thuật Ở đây vì những điều kiện và lý do khác nhau chúng tôi không có đủ khả năng để phân tích và đánh giá mô hình tăng trưởng R.Solow, nhưng mô hình này đã có những kết luận sau: tăng trưởng nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào vốn, công nhân mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nữa, đặc biệt là các nhân tố tổng hợp (TFP), đó là sự gia tăng của vốn, lực lượng lao động và tiến bộ công nghệ tác động qua lại với nhau như thế nào và
có ảnh hưởng tới sản lượng đầu ra (tốc độ và quy mô của GDP) Đây là điểm mấu chốt hay có thể nhận định rằng, các yếu tố đầu vào là quan trọng, nhưng quan trọng hơn cả là sử dụng chúng thế nào cho hiệu quả Mô hình R.Solow
đã được áp dụng và đánh giá tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ vào những năm
40 của thế kỷ XX Hiện nay mô hình này đã được đánh giá và lượng hóa để xem xét các nhân tố đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế như thế nào?
1.1.5.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN
Huy động, sử dụng vốn đầu tư nói chung và xây dựng cơ bản nói riêng nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển nền kinh tế luôn là một vấn
đề quan trọng và cần được giải quyết chặt chẽ mới mang lại hiệu quả cao nhất Bất cứ một ngành, một lĩnh vực nào để đi vào hoạt động đều phải thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, tài sản cố định, vì vậy đầu tư xây dựng cơ bản luôn là
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
vấn đề đặc biệt được quan tâm Trong những năm qua, đầu tư xây dựng cơ bản
đã góp phần không nhỏ đối với tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của nước
ta Rất nhiều công trình về các lĩnh vực như: năng lượng, công nghiệp khai thác, chế biến, cơ sở hạ tầng, nông, lâm nghiệp được đầu tư xây dựng làm tiền
đề cho việc chấn hưng và phát triển kinh tế của đất nước
Cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước, quá trình thực hiện đầu
tư xây dựng cơ bản tại thành phố Thái Nguyên đã có những kết quả thành công nhất định, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đã đạt được khá cao
so với mức bình quân chung của cả nước trong nhiều năm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, đặc biệt là hiệu quả của đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp; thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản còn nhiều và diễn ra ở tất cả các khâu như: Chủ trương đầu tư; lập dự án, thiết kế; thi công xây dựng; quản lý khai thác,…Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN của Thái Nguyên đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bên cạnh đó, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho vốn đầu tư XDCB từ NSNN sử dụng chưa đạt hiệu quả cao Điều này đã làm hạn chế khá nhiều đến tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội của cả tỉnh Do vậy, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN
là một vấn đề vô cùng quan trọng cần các cấp, ban, ngành phối hợp tìm nhiều giải pháp Các nhân tố tác động tới sử dụng hiệu quả VĐT cho XDCB
1.1.6 Nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN
- Một là công tác quy hoạch và kế hoạch đề ra:
Công tác quy hoạch và kế hoạch hóa hoạt động đầu tư (gọi tắt là kế hoạch hóa đầu tư) vừa là nội dung vừa là công cụ quản lý hoạt động đầu tư Để nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT XDCB thì công tác quy hoạch kế hoạch đầu tư phải xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế Mục đích đầu tư cuối cùng của hoạt động đầu tư XDCB là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở
kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội Do đó nhu cầu của nền kinh tế là xuất phát
Trang 36điểm cho việc lập quy hoạch và công tác kế hoạch hóa và phải dựa vào định hướng lâu dài của Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật Kế hoạch đầu tư phải dựa trên khả năng huy động của nguồn lực trong và ngoài nước đảm bảo tinh vững chắc và có mục tiêu rõ rệt
Công tác quy hoạch và kế hoạch phải đảm bảo tính khoa học, tính đồng
bộ và tính lien tục Có như vậy thì hiệu quả sử dụng VĐT XDCB mới được nâng cao, ngược lại công tác quy hoạch, công tác kế hoạch tính khoa học không cao, không xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế, không có mục đích
rõ rệt, không có tính bền vững thì dễ gây nên lãng phí thất thoát VĐT XDCB
Có thể khẳng định quy hoạch ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả của hoạt động đầu tư XDCB Thực tế đầu tư XDCB trong những năm qua cho thấy, nếu quy hoạch yếu thì tình trạng các công trình không đưa vào sử dụng được hoặc thua lỗ kéo dài phải phá sản như nhà máy đường, cảng cá, chợ đầu mối…
Quy hoạch dàn trải sẽ làm cho việc đầu tư XDCB manh mún không có hiệu quả Nhưng nếu không có quy hoạch thì hậu quả lại càng nặng nề hơn VÌ vậy khi đã có quy hoạch càn phải công khai quy hoạch để người dân có quyền được biết Trên cơ sở quy hoạch, về đầu tư XDCB của Nhà nước, Nhà nước cần phải đưa vào đầu tư, khuyến khích các khu vực vốn khác tham gia đầu tư
để tránh tình trạng quy hoạch treo
- Hai là cá chính sách kinh tế:
Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả
sử dụng VĐT Đó là chính sách dịch vụ thương mại, chính sách đầu tư… Các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, vi mô như chính sách tài khóa( chủ yếu là chính sách thuế và chính sách chi tiêu của Chính phủ), chính sách tiền tệ (công
cụ chính sách lãi suất và mức cung tiền), chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách khấu hao…
Chính sách kinh tế góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, tạo điều
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
kiện cho nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực hay tiêu cực, VĐT được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp Các chính sách kinh tế tác động vào lĩnh vực đầu tư góp phần tạo ra một cơ cấu đầu tư nhất định, là cơ sở để hình thành một
cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp lý cũng như tác động làm tang hoặc giảm thất thoát VĐT, theo đó mà VĐT được sử dụng có hiệu quả hay không hiệu quả
Trong quá trình khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, các chính sách kinh tế tác động làm cho đối tượng này phát huy tác dung tích cực hay tiêu cực Tức là làm cho VĐT được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp
Cùng với chiến lược CNH đúng đắn, nếu các chính sách kinh tế được xác định phù hợp với hệ thống đồng bộ và nhất quán thị sự nghiệp CNH sẽ thắng lợi, VĐT sẽ mang lại hiệu quả sử dụng cao Ngược lại, nếu các chính sách kinh tế xác định không phù hợp, thiếu tính hệ thống, thiếu sự đồng bộ và nhất quán thì sự nghiệp CNH sẽ gặp trở ngại, làm cho hiệu quả sử dụng VĐT thấp
- Ba là công tác tổ chức quản lý vốn đầu tư xây dựng
Tổ chức quản lý VĐT xây dựng là một lĩnh vực rộng vao gồm nhiều nội dung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tuwsanr xuất kinh doanh phù hợp với chiến lược phát triển KT-XH trong từng thời kì nhất định để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH đất nước Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn VĐT do Nhà nước quản lý chống thất thoát, lãng phí, bảo đảm dự án được xây dựng đúng quy hoạch, mỹ quan, bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong đầu tư xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến với chi phí hợp lý, tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với các dự án thuộc nguồn vốn NSNN Vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng phát triển do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước, chủ đầu tư, tổ chức tư vấn và nhà thầu trong quá trình đầu tư và xây dựng, nhằm sử dụng có hiệu quả VĐT CHất lượng của
Trang 38công tác quản lý đầu tư sẽ tạo điều kiện cho việc tiết kiệm hay thất thoát, lãng phí VĐT, cũng như tạo điều kiện cho các kết quả đầu tư tang hay giảm về mặt khối lượng và mang lại nhiều hay ít lợi ích KT-XH khi khai thác sử dụng có hiệu quả đầu tư này Chính do những thiếu sót trong công tác quản lý và đầu tư
và xây dựng đã làm cho VĐT bị thất thoát, lãng phí Một số đối tượng đầu tư hoàn thành mang lại hiệu quả sử dụng không như mong muốn về lợi ịch KT-
XH chính là những nguyên nhân làm cho VĐT kém hiệu quả
- Bốn là tổ chức khai thác, sử dụng cho các đối tượng đầu tư hoàn thành
Tổ chức khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành sẽ tạo ra một khối lượng cung ứng hang hóa dịch vụ nhất định So sánh khối lượng hang hóa dịch vụ này với nhu cầu hang hóa dịch vụ của nền kinh tế sẽ xác định lợi ích kinh tế của VĐT
Tổ chức khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành có kết quả tốt hay không lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Thứ nhất: do tác động của việc chọn mô hình chiến lược CNH, tác động của việc sử dụng các chính sách kinh tế và tác động của các tổ chức quản lý quá trình đầu tư xây dựng Các nhân tố này tùy thuộc vào mức độ đúng đắn, phù hợp của chúng mà có tác động ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến các đối tượng của quá trình đầu tư hoàn thành
Thứ hai: các nhân tố thuộc bản than của quá trình tổ chức, khai thác, sử dụng các đối tượng ddaauf tư hoàn thành như công tác tổ chức điều hành, công tác nghiên cứu triển khai, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, công tác tiếp thị, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công tác cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm…
Nhóm nhân tố tổ chức khai thác sử dụng các đối tượng đầu tư hoàn thành, với vị trị riêng có vai trò quan trọng trong sự tác động độc lập và theo mối lien
hệ tác động lẫn nhau giữa chúng có thể tác động tổng hợp đến hiệu quả sử dụng VĐT
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.7 Chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước, ngành và địa phương
Việc xây dựng chiến lược phát triển KT - XH của cả nước, ngành, địa phương phải dựa trên những điều kiện, lợi thế, tiềm năng và khả năng của đất nước, địa phương và từng ngành, lĩnh vực cụ thể Trong giai đoạn hiện nay, chiến lược đó lại phải phù hợp với thực tiễn của đất nước, vừa phải phù hợp với xu thế phát triển của cả thế giới và khu vực Nghị quyết Đại hội X của Đảng
đã nhấn mạnh:
Định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường Đổi mới căn bản công tác quy hoạch, kế hoạch phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển KT - XH
Nếu xác định tốt chiến lược, thực hiện có quy hoạch chiến lược đó thì đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia Do vậy, việc xây dựng đồng bộ dài hạn chiến lược phát triển KT - XH là một yêu cầu bức thiết, tất yếu khách quan của quá trình phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngày nay, trong xu thế biến đổi rất nhanh chóng của nền kinh tế thế giới,
sự lớn mạnh và tăng cường của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, nhiều quốc gia đã đưa ra những chiến lược phát triển dài hạn theo những định hướng lớn, trong chiến lược dài hạn đó, có những chiến lược "mềm", linh hoạt được thay đổi theo sự thay đổi của tình hình thế giới và hoàn cảnh của đất nước ở Việt Nam, đã xây dựng chiến lược phát triển KT - XH 10 năm 2001-2010, kế hoạch
5 năm 2001-2005, 2005-2010 và có định hướng phát triển đất nước đến năm
2020, hàng năm có những thay đổi nếu thấy cần thiết để phù hợp với tình hình của đất nước và thế giới
Trang 40Để quản lý, thực hiện chiến lược phát triển đất nước, thì cần phải có nhiều công cụ và chính sách, trong đó có công cụ quy hoạch Quy hoạch là cụ thể hoá mục tiêu, giải pháp và nhiệm vụ để thực hiện chiến lược đó Do vậy, nếu quy hoạch sai thì sẽ dẫn đến những sai lầm mà đất nước phải gánh chịu, đặc biệt phải hạn chế tối đa những quy hoạch sai mà nhiều năm không khắc phục được hoặc khắc phục lại quá tốn kém
Nếu quy hoạch tốt, thì sẽ bố trí hợp lý, bền vững về các công trình, hiệu quả phù hợp với điều kiện của đất nước, vùng, địa phương và ngành Ngược lại, nếu qui hoạch không tốt, thiếu sự thực hiện đồng bộ giữa qui hoạch ngành, qui hoạch phát triển địa phương, qui hoạch tổng thể cộng thêm sự phát triển cục bộ, thực hiện chồng chéo sẽ dẫn đến sự lãng phí rất lớn, không đem lại được hiệu quả của VĐT Thực tế những năm qua, việc quyết định đầu tư cơ sở
hạ tầng của cả xã hội là rất cần thiết và đã đem lại hiệu quả Tuy nhiên, cũng không ít những trường hợp do chỉ suy tính đến phát triển của địa phương mà chưa tính đến qui hoạch chung nên hiệu quả chưa đạt được như mục tiêu đã đề
ra Vấn đề này, nhiều chuyên gia nước ngoài sau khi nghiên cứu đã không khỏi
có những ngạc nhiên khi thấy rằng ở Việt Nam có gần 80% người dân, với mức thu nhập dưới 500 USD/người/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 30,0 tỷ USD/năm nhưng lại có tới 110 cảng biển, 61 cảng hàng không và sân bay, đáng chú ý trong đó có nhiều cảng biển, sân bay được qui hoạch xây dựng quá gần nhau nên vô hình chung đã tự hạn chế sự phát triển của nhau và lãng phí nguồn lực của đất nước Ví dụ, Cảng Hòn La (Quảng Bình) chỉ cách cảng Vũng Áng 25km, cảng Chân Mây (Thừa Thiên Huế) cách cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) 30km, cảng Dung Quất cách cảng Kỳ Hà 10km, khoảng cách giữa sân bay Quảng Bình và sân bay Phú Bài (Thừa Thiên Huế) rất nhỏ, thời gian đi bằng đường
bộ chỉ khoảng 2 đến 3 giờ Qua đây cho thấy, việc thực hiện có cơ sở khoa học, thực tiễn để đầu tư có ưu tiên, có trọng điểm các công trình XDCB, lượng VĐT,
bố trí cụ thể, thích hợp từng dự án, từng công trình, tránh việc đầu tư dàn trải