1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TIỄN xét xử tội cố ý gây THƯƠNG TÍCH tại tòa án NHÂN dân cẩm lệ, TP đà NẴNG

37 10 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Xét Xử Tội Cố Ý Gây Thương Tích Tại Tòa Án Nhân Dân Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng
Tác giả Nguyễn Ngọc Tín
Người hướng dẫn ThS. Lê Thị Xuân Phương
Trường học Trường Đại Học Duy Tân
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tình hình nghiên cứu:về việc xét xử tội phạm cố ý gây thương tích Vấn đề lý luận và thực tiễn về “tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”không phải là

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN - -

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

KHÓA K24

SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN NGỌC TÍN

Đà Nẵng, tháng 3 năm 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN - -

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

THƯƠNG TÍCH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Giáo viên hướng dẫn : ThS Lê Thị Xuân Phương

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Ngọc Tín

Mã số sinh viên : 2321869651

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành báo cáo thực tập này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắctới toàn thể các thầy cô trong Ban Giám hiệu, cùng toàn thể các cán bộ các thầy côtham gia giảng dạy, tư vấn, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho khóa học cũng như cho

em hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Duy Tân

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với giảng viên hướng dẫncủa em là cô Lê Thị Xuân Phương đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài báo cáo thực tậpcủa mình

Em cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên tại Tòa ánnhân Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng đã quan tâm, giúp đỡ em trong suốt quá trình thựctập, nghiên cứu thực tế để làm bài chuyên đề tốt nghiệp Đặc biệt em xin chân thànhcảm ơn anh Lê Văn Thoảng – người hướng dẫn trực tiếp cho em trong quá trìnhthực tập, cảm ơn anh đã chia sẻ những kinh nghiệm đi trước cho em có thêm kiếnthức thực tế về ngành học của mình

Trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp, vì trình độ lý luận cũng như kinhnghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài làm của em không tránh khỏi những thiếu sót,

em rất mong nhận được ý kiến nhận xét của quý thầy, cô để em có thể hoàn thiệnkiến thức hơn trong tương lai

Em xin trân trọng cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 3 năm 2022

Sinh viên Nguyễn Ngọc Tín

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 cơ cấu tổ chức TAND Cẩm Lệ TP Đà Nẵng 19Bảng 2.1 Tổng hợp số vụ án phải và đã giải quyết về tội cố ý gây thương tích năm

2018 đến 2021 tại quận Cẩm Lệ TP Đà Nẵng 20

Bảng 2.2 Mức Hình Phạt tại Tòa Án Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng 21

Trang 7

MỞ ĐẦU

1. tính cấp thiết của đề tài:

Những năm gần đây nhóm tội xâm phạm về tính mạng, sức khỏe có xu hướnggia tăng trong đó có tội cố ý gây thương tích đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe conngười, gây bất ổn cho xã hội, là tội phạm thường xuyên diễn ra và là mối quan tâmnhức nhối của cả nước nói chung và Đà Nẵng nói riêng Sự phát triển và chuyểnhóa tội phạm hiện nay trong xã hội khá phức tạp nên những quy định pháp luật cũkhông còn phù hợp

Đà Nẵng là một thành phố du lịch lớn của Việt Nam, nằm ở trung độ của ViệtNam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc Nam về cả đường bộ, đường sắt, đườngbiển và đường hàng không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của miền Trung vàTây Nguyên Với vị thế này, Đà Nẵng trở thành vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung, có tốc độ đô thị hóa cao, ngành du lịch phát triển mạnh mẽ, thu hút nhiều laođộng từ các tỉnh khác đến làm việc Điều này khiến lượng người nhập cư ở thànhphố tăng lên rõ rệt Đây là một điểm tích cực, góp phần vào việc giúp đất nước pháttriển kinh tế nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng Tuy nhiên, việc dân cư tậptrung đông đúc, mật độ dân số gia tăng tại thành phố Đà Nẵng như vậy cũng khiếnnhiều vấn đề xã hội phức tạp, kéo theo nhiều tiêu cực liên quan đến tội phạm trênđịa bàn quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng gia tăng Tiêu biểu là những vấn đề liênquan đến tội phạm cố ý gây thương tích và những vấn đề pháp luật xoay quanh nó

Để có thể giải quyết và ngăn chặn loại tội phạm này, bảo vệ an ninh thành phố thìnhững cơ quan chức năng tại địa bàn quận Cẩm Lệ thành phố Đà Nẵng cần nghiêncứu về loại tội phạm này

Nhưng từ thực tiễn xét xử tội cướp giật tài sản tại Tòa án nhân dân thành phố

Đà Nẵng ngoài những ưu điểm thì vẫn còn tồn đọng những khó khăn, vướng mắccần xem xét và giải quyết để nhanh chóng đưa vào thực tiễn áp dụng, nâng cao đờisống, an toàn xã hội cho cộng đồng dân cư Vì vậy em đã chọn đề tài “thực tiễn xét

xử tội cố ý gây thương tích tại TAND Cẩm Lệ TP Đà Nẵng” làm bài báo cáo thựctập tốt nghiệp của mình

Trang 8

2. tình hình nghiên cứu:

về việc xét xử tội phạm cố ý gây thương tích Vấn đề lý luận và thực tiễn về

“tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”không phải là vấn đề mới, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí

và bài viết về vấn đề này, có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây:

(1)Trách nhiệm hình sự của tội phạm của tác giả Nguyễn Ngọc Hàn, Trần Văn

Độ;

(2) Lỗi cố ý tác giả Nguyễn Cường , về vấn đề

(3) Khách thể trực tiếp của tội phạm; các tác giả Vũ Lập Thành, Nguyễn Văn

Sơn, Nguyễn Quốc Hội đã tiến hành nghiên cứu về những tình tiết tăng nặng, giảmnhẹ TNHS ,

(4) Tội phạm học như công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Cầu

“Đặc điểm tội phạm học của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác ở Việt Nam hiện nay và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa”(Luận án Tiến Sĩ Luật học viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội 2002) Ngoài ra, các tác giả như TS Phùng Thế Vắc và TS Trần Văn Luyện có công trình “bình luận khoa học BLHS năm 1999” (phần các tội phạm) do Nxb Chính trị Quốc gia

xuất bản trong đó có đề cập đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác , Nhìn chung thì các công trình, các bài viết đều đã đề cập

đến nhưng vấn đề lý luận cơ bản, tổng thể của tội “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” ở khía cạnh pháp luật hình sự và Luật tố tụng

Hình sự

Tuy nhiên đến nay, Đặc biệt là chưa có bất kì một công trình nghiên cứuchuyên sâu nói về thực tiễn áp dụng pháp luật trong quá trình xét xử tội phạm cố ý

gây thương tích của cơ quan tiến hành tố tụng trên đại bàn Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng

Vì vậy đây là một bài viết với góc nhìn chuyên sâutại tòa án nhân dân Cẩm Lệ, TP

Đà Nẵng

3. mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Trong thời gian gần đây tình tình vi phạm, “tội phạm cố ý gây thương tíchhoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” tại địa bàn Cẩm Lệ TP Đà Nẵngđang có chiều hướng gia tăng với tính chất mức độ, hậu quả ngày càng nghiêmtrọng Thực tiễn cho thấy một số vụ việc xảy ra mâu thuẫn đã giải quyết bằng conđường bạo lực Tuy nhiên, công tác đấu tranh và xử lý đối với loại tội phạm này cònthiếu tính kịp thời, thực tiễn xét xử còn gặp nhiều khó khăn Dựa vào cơ sở trên

Trang 9

mục đích đề tài nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp hoàn thiện, nhằm đảm bảo ápdụng đúng quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích

Nhiệm vụ nghiên cứu, Để đạt được những mục đích này, cần đảm bảo tập

trung giải quyết nhưng nhiệm vụ sau

Thứ nhất, Nghiên cứu về lý luận chung của tội cố ý gây thương tích theo quy

định BLHS Việt Nam

Thứ hai, Thu Thập, phân tích số liệu thụ lý và giải quyết xét xử với tội phạm

cố ý gây thương tích

Thứ ba, Đánh giá thực tiễn tội danh cố ý gây thương tích tại tòa án nhân dân

Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng và đưa ra một số kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiệncác quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt đối với tội cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

4. đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhũng quy định pháp luật về xét xử tội cố ýgây thương tích trong BLHS Việt Nam hiện hành, thực trạng và giải pháp phòngchống tội phạm cố ý gây thương tích

Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về xét xử tội phạm cố ý gây thương tích trên địa bàn QuậnCẩm Lệ, TP Đà Nẵng từ nằm 2018-2021

5. phương Pháp nghiên cứu:

Bài nghiên cứu khoa học sẽ được thực hiện bằng các phương pháp chủ yếusau:

Thứ nhất, phương pháp phân tích được sử dụng để làm rõ các vấn đề lý luận

về tội cố ý gây thương tích trong bài nghiên cứu

Thứ hai, sử dụng phương pháp thực tiễn thống kê số liệu, tổng hợp số liệu

nhằm đánh giá được thực trạng tội cố ý gây thương tích trên địa bàn quận CẩmLệ,TP Đà Nẵng

Thứ ba, sử dụng phương pháp tổng hợp để rút ra những kết luận đối với từng

vấn đề đã nghiên cứu phân tích, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp góp phầnhoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng chốngtội cố ý gây thương tích

Ngoài nhưng phương pháp nghiên cứu cơ bản trên thì Đề tài tập trung nghiêncứu về các quy phạm pháp luật về tội cố ý gây thương tích từ BLHS 2015 (sửa đổi

Trang 10

bổ sung 2017) sử dụng các phương pháp khác như đánh giá, liệt kê, so sánh những số liệu, bản án từ Tòa án nhân dân Cẩm Lệ,TP Đà Nẵng từ năm 2018-2021

để làm rõ hơn nội dung của bài nghiên cứu

6 kết cấu của chuyên đề:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:

Chương 1: những vấn đề cơ bản về tội cố ý gây thương tích, pháp luật về giải

quyết các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích

Chương 2: thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích tại

tòa án nhân dân cẩm lệ

Chương 3: một số giải pháp , kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử

các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích tại tòa án nhân dân cẩm lệ tp đà nẵng

Trang 11

CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH, PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ

TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH 1.1 khái niệm, phân loại, đặc điểm, pháp luật giải quyết tội cố ý gây thương tích:

1.1.1 khái niệm :

Chúng ta được biết cố ý gây thương tích là cố tình xâm phạm đến quyền sứckhỏe của người khác, và tội cố ý gây thương tích được pháp luật hiểu theo bộ luậthình sự là

“Tội cố ý gây thương tích theo Bộ Luật Hình sự là hành vi cố ý của một hay nhiều chủ thể xâm phạm đến sức khỏe của người khác dưới các thương tích cụ thể,

là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác” [Đ134]1

Như vậy, có thể hiểu là hành vi một hay nhiều chủ thể dùng sức mạnh vật chấttác động lên thân thể của con người, làm cho con người có những thương tích nhấtđịnh như: vết bỏng, mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay,cánh tay, bàn chân, để lại trạng thái bất thường mất đi sức lực vốn có của họ được

gọi là “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác”.

1.1.2 đặc điểm tội phạm cố ý gây thương tích

(i) các yếu tố cấu thành của tội phạm cố ý gây thương tích

Xác định rõ cấu thành tội phạm có ý nghĩa rất lớn trong định tội cho tội phạm

và để phân biết các loại tội phạm với nhau đặc biệt để không bị hiểu nhầm trongluật hình sự khi việc nhầm lẫn giữa các tội là rất dễ xảy ra Nên để xác định rõ yếu

tố cấu thành của tội phạm cố ý gây thương tích ta có 4 yếu tố, đó là mặt khách thể,khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm

Thứ nhất, khách thể của tội phạm Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

sức khỏe của người khác là quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của con người.Quyền này được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ (Theo khoản 1 Điều 20 Hiến Pháp2013), đòi hỏi các cá nhân và chủ thể khác trong xã hội phải tôn trọng

Hành vi phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác đã xâm phạm đến quyền được bảo về sức khỏe của con người thông qua

sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động Nếu đốitượng tác động là trẻ em, người già, phụ nữ có thai, không có khả năng tự vệ thìtrách nhiệm hình sự đối với người phạm tội sẽ nặng hơn

1 (Quốc Hội,Bộ Luật Hình Sự,2015)

Trang 12

Khách thể của tội cố ý gây thương tích là một trong những yếu tố cấu thànhnên tội cố ý gây thương tích, người thực hiện hành vi được coi là tội phạm nếu hành

vi đó xâm hại đến quan hệ xã hội, ở đây kà quyền được bảo về sức khỏe mà LHSbảo vệ

Thứ hai, chủ thể của tội phạm là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội,

mà hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự Chủ thể của tội phạm phải là người có

đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự.Theo quy định của Điều 12 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì người từ đủ

14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêmtrọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 134 Theo đó người phạmtội thuộc khoản 3, 4, 5 Điều 134 thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Điều kiện chủ thể nếu mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hìnhsự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh Nếu mới chỉđược xác nhận là mắc bệnh tâm thần mà chưa đến mức mất khả năng nhận thứchoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì người đó phải chịu trách nhiệm hìnhsự

Người đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi trường hợp phạm tộinày Về cách tính độ tuổi ở đây là tuổi tròn “đủ 14 tuổi” hoặc “đủ 16 tuổi” Trongthực tiễn cũng như trong lý luận việc xác định độ tuổi không phải bao giờ cũng dễdàng, thông thường việc xác định dộ tuổi theo căn cứ theo “Giấy đăng ký khaisinh”, “Căn cước công dân” Việc xác đinh độ tuổi chính xác này đảm bảo nguyêntắc có lợi cho người bị can, bị cáo

Thứ ba, khách quan của tội phạm, Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là những biểu hiện của conngười ra thế giới khách quan có sự kiểm soát của ý thức và điều khiển của ý chí.Đây là điều kiện cần Điều kiện đủ là hành vi đó phải có khả năng gây ra thươngtích hoặc gây tốn hại sức khỏe người khác một cách trái pháp luật

Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác chính là thiệt hại do hành vi khách quan gây ra cho quan hệ nhân thân,cho quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người Thiệt hại này được thế hiện

Trang 13

dưới dạng thiệt hại về thể chất, hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sứckhỏe của người khác.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quà nhằm mục đích xác định hậuquả xảy ra trên thực tế, cũng như tính chất, mức độ của hậu quả xảy ra trên thực tế

có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có đù yếu tố cấu thành tội phạm haykhông, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội và có vai trò quan trọng trong việcquyết định hình phạt

Các yếu tố khác như hành vi này có khả năng gây ra những thương tích nhấtđịnh hoặc làm tổn hại đến sức khỏe của con người Những hành vi này có thể đượcthực hiện bằng các công cụ, phương tiện phạm tội như đâm chém, đầu độc , hoặckhông có công cụ, phương tiện phạm tội như đấm, đá hoặc có thể thông qua các loạisúc vật như thả chó cắn, bò đá dựa vào các yếu tố trên là cơ sở để xét đến các tìnhtiết tăng nặng

Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm cố ý gây thương tích được chia làm 3 ý

chính như sau:

Lỗi người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củangười khác chỉ bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn củachính họ, họ tự ý thức và kiểm sát hành vi của chính mình

Động cơ của tội phạm này là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thựchiện hành vi phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác

Mục đích phạm tội là gây ra những tổn hại sức khỏe có thể nhìn thấy được vềvật chất, tinh thần cho nạn nhân

(ii) quy định và khung hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích

Luật Hình sự là một trong hệ thống pháp luật của Nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành,xác định những hành vi nào nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, đồng thời quy địnhhình phạt đối với các tội phạm Luật Tố tụng hình sự là hệ thống các quy phạm phápluật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, xét

xử và thi hành án hình sự Đối với “tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hạiđến sức khỏe người khác” pháp luật có tính chất nghiêm trọng nhất do nó xâmphạm đến an ninh, trật tự, sức khỏe, danh dự nhân phẩm của nhân dân Sau nhiều

Trang 14

lần sửa đổi thì BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) quy định và khung hình phạt vềtội cố ý gây thương tích như sau:

(1) Đối với người không đủ hành vi dân sự, mất khả năng nhận thức:

Theo Điều 51 BLHS 2015 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình

sự Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năngđiều khiển hành vi của mình Điều này có nghĩa là nếu như cơ quan giám định xácđịnh đối tượng chỉ mắc bệnh làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điềukhiển hành vi thì đối tượng vẫn bị xử lý hình sự bình thường nhưng sẽ được hưởngtình tiết giảm nhẹ Căn cứ quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi,

bổ sung năm 2017, việc xử lý vi phạm với người dưới 18 tuổi phải bảo đảm lợi íchtốt nhất của người họ và chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ sửa chữa sai lầm, pháttriển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội

(2) Đối với người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi:

Vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, cố ý gây thương tích.(Theo khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017)

Khi có kết quả giám định, nếu tỉ lệ thương tích thuộc một trong các khoản 3,4hoặc 5 Điều 134 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì đối với tội phạm này

sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt mà pháp luật quy định

Nếu áp dụng điều luật quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mứcphạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù;

Nếu là tù có thời hạn thì mức phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mứcphạt tù mà điều luật quy định

Đối với không thuộc trong những trường hợp trên thì phải chịu trách nhiệm vềdân sự, và phải bồi thường cho người bị hại khi gây tổn thất về tinh thần và sứckhỏe cho người bị hại

(3) Đối với người đủ 16 tuổi trở lên:

Theo Khoản 1 Điều 12 BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) quy định từ đủ 16tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm Nếu áp dụng điều luậtquy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức phạt cao nhất được áp dụngkhông quá 18 năm tù Nếu là tù có thời hạn thì hình mức phạt cao nhất được ápdụng không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định

(4) Đối với người đủ 18 tuổi trở lên:

Là đối tượng tội phạm đã đủ hành vi ý thức về việc phạm tội của minh Vàpháp luật quy định Tội cố ý gây thương

Trang 15

Điều 134, BLHS năm 2015 quy định về mức độ gây thương tích cho nạn nhânvới tỷ lệ tổn thương từ 11% trở lên mới cầu thành tội phạm Đồng thời điều luậtcũng quy định về tỷ lệ % tồn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc một trong cáctrường hợp quy định tại [k1,Đ134]2 , BLHS năm 2015 thì người có hành vi vẫn bịtruy cứu TNHS về tội phạm này:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chưa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt

tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

đối với người có hành vi cố ý gây thương tích bao gồm các hành cố ý gâythương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ11% đến 30% hoặc dưới 11% áp dụng với các trường hợp phạm tội:

Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 2 người trở lênDùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

2 (Quốc Hội,Bộ Luật Hình Sự,2015)

Trang 16

Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân là hậu quả của hành vi cố ý gây thương tích hoặcgây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân để lại trạng thái bất thường, không thể chữađược cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11% khi thuộcmột trong các trường hợp: làm mất một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm mất chứcnăng một bộ phận cơ thể của nạn nhân; làm giảm chức năng hoạt động của một bộphận cơ thể của nạn nhân hoặc làm ảnh hưởng đến thẩm mỹ của nạn nhân.

Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt

tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trườnggiáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc

Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặcgây tổn hạu sức khỏe do được thuê

Có tính chất côn đồ

Tái phạm nguy hiểm

Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân

phạt tù từ 02 năm đến 06 năm đối với trường hợp:

Có từ 2 lần phạm tội trở lên

Có hành vi tái phạm nguy hiểm

Mức độ tỷ lệ tổn thương cơ thể gây ra cho nạn nhân là từ 31% đến 60%

Mức độ tỷ lệ tổn thương cơ thể gây ra cho nạn nhân là từ 11% đến 30% nhưng

có một trong những tình tiết nguy hiểm đã kể đến ở trên

Gây thương tích cho 02 trở lên người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗingười là từ 11% đến 30%

phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với các trường hợp

Tỷ lệ tổn thương cơ thể mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân lên đến 61%trở lên

Gây thương tích cho 02 trở lên người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗingười là từ 31% đến 60%

Tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân ở mức 31% đến 60% nhưng có nhữngtình tiết nguy hiểm như là sử dụng hung khí, vũ khí, gây thương tích với ngườikhông có khả năng chống cự, đang thi hành công vụ như đã nêu trên

Trang 17

Gây thương tích cho từ 02 nạn nhân trở lên, tỷ lệ tổn thương của mỗi nạn nhân

là từ 11% đến 30% nhưng có một trong những tình tiết nguy hiểm như là sử dụngnhững thủ đoạn có khả năng gây tổn hại cho nhiều người, sử dụng vũ khí, hung khínguy hiểm; sử dụng hóa chất nguy hiểm, a-xít để phạm tội; phạm tội có tổ chức, cótính chất côn đồ…

phạt tù từ 07 năm đến 14 năm đối với trường hợp

Làm thiệt hại về tính mạng của nạn nhân

Làm biến dạng vùng mặt của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể lên đến hơn61%

Phạm tội đối với 2 người trở lên, tỷ lệ tổn thương của mỗi người đã vượt quá61%

Hoặc trường hợp gây thương tích cho một người, tỷ lệ tổn thương cơ thể củangười đó là từ 61% trở lên nhưng thuộc trường hợp có một trong những tình tiếtnguy hiểm (sử dụng hung khí, axit, có tình chất côn đồ, bạo lực…)

Gây thương tích cho từ 02 người trở lên, thương tích của mỗi nạn nhân có tỷ lệtổn thương cơ thể là 31% đến 60% có một trong những tình tiết nguy hiểm (sử dụnghung khí, vũ khí, axit, có tình chất côn đồ, có tổ chức…)

phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, hoặc phạt tù trung thân đối với trường hợp:

Có 02 người thiệt mạng trở lên

Gây thương tích cho từ 02 người trở lên, thương tích của mỗi nạn nhân có tỷ lệtổn thương cơ thể là từ 61% trở lên có một trong những tình tiết nguy hiểm (sửdụng hung khí, vũ khí, axit, có tình chất côn đồ, có tổ chức…)

Trường hợp mà chưa đủ yếu tố để cấu thành tội hình sự theo quy định tại Điều

134 Bộ luật Hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, antoàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng chống bạolực gia đình

Phạt tiền từ 500 ngàn đồng đến 01 triệu đồng đối với hành vi đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau.

Phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 03 triệu đồng đối với hành vi:

Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau

Cố tình xâm hại hoặc thuê người khác thực hiện hành vi xâm hại sức khỏe củangười khác

Việc xử phạt hành chính đối với hành vi này sẽ được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền lập thành biên bản

Trang 18

1.2 pháp Luật giải quyết các vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích

1.2.1 nguyên tắc cơ bản trong xét xử các vụ án hình sự

Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự góp phần bảo đảm cho quá trìnhtiến hành xét xử thực hiện một cách thống nhất Là cơ sở quan trọng cho việc đảmbảo quyền con người; quyền công dân; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân trong phiên tòa xét xử hình sự Góp phần động viên, tạo điều kiện để các cơquan, tổ chức và mọi người tham gia vào việc đấu tranh phòng ngừa, phòng chốngtội phạm, tăng cường dân chủ trong xét xử, Còn góp phần định hướng xây dựngpháp luật tố tụng hình sự Theo điều [1] BLTTHS 2015

Như vậy căn cứ vào nhiệm vụ của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ ánhình sự và căn cứ vào tính chất, mục đích của các hoạt động tố tụng do các chủ thểtiến hành có thể chia các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS thành những nhómnguyên tắc sau:

- Các nguyên tắc đảm bảo pháp chế Xã Hội Chủ Nghĩa

- Các nguyên tắc đảm bảo các quyền và lợi ích của công dân

- Các nguyên tắc đảm bảo tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng

- Nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động tố tụng

1.2.2 thẩm quyền của Tòa án trong xét xử các vụ án cố ý gây thương tích

Thẩm quyền xét xử của tòa án là quyền xem xét và quyết định trong hoạt độngxét xử của Tòa án theo quy định của pháp luật Việc xét xử của tòa án nhân dânđược phân cấp thẩm quyền theo tiêu chí cấp tỉnh, cấp huyện và tiêu chí lãnh thổ vàtuân thủ theo quy định tại (Quốc, Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015) (Theo Điều 268BLTTHS 2015) như sau

Thẩm quyền tòa án cấp huyện bao gồm:

Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những

vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rấtnghiêm trọng, trừ những tội phạm:

Ngày đăng: 07/04/2022, 10:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1 BLHS BỘ LUẬT HÌNH SỰ - THỰC TIỄN xét xử tội cố ý gây THƯƠNG TÍCH tại tòa án NHÂN dân cẩm lệ, TP đà NẴNG
1 BLHS BỘ LUẬT HÌNH SỰ (Trang 5)
Bảng2.1. Tổng hợp số vụ án phải và đã giải quyết về tội cố ý gây thương tích năm 2018 đến 2021 tại quận Cẩm Lệ TP Đà Nẵng - THỰC TIỄN xét xử tội cố ý gây THƯƠNG TÍCH tại tòa án NHÂN dân cẩm lệ, TP đà NẴNG
Bảng 2.1. Tổng hợp số vụ án phải và đã giải quyết về tội cố ý gây thương tích năm 2018 đến 2021 tại quận Cẩm Lệ TP Đà Nẵng (Trang 24)
Bảng 2.2. Mức Hình Phạt tại Tòa Án Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng - THỰC TIỄN xét xử tội cố ý gây THƯƠNG TÍCH tại tòa án NHÂN dân cẩm lệ, TP đà NẴNG
Bảng 2.2. Mức Hình Phạt tại Tòa Án Quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng (Trang 25)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w