Muốntạo được lợi thế trong cạnh tranh thì doanh nghiệp nhà nước phải nâng caohiệu quả hoạt động của mình thông qua việc thực hiện chuyển đổi sở hữu.Quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghi
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng một lần nữa lại khẳngđịnh nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa với sự phát triển của sáu thành phần kinh tế Các thành phần kinh tếnày bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnhtranh lành mạnh trong đó thành phần kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủđạo Một trong những bộ phận quan trọng cấu thành kinh tế Nhà nướcchính là doanh nghiệp nhà nước Để kinh tế Nhà nước thực sự đóng vai tròchủ đạo trong nền kinh tế thì bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải khôngngừng được hoàn thiện về tổ chức quản lý và chỉ đạo sản xuất
Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không phải thể hiện ở số lượngdoanh nghiệp nhà nước nhiều hay ít mà chủ đạo ở chỗ là lực lượng vật chấtquan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môitrường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển Do đónhững doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn chỉ nên đầu tư vàocác lĩnh vực, địa bàn kinh doanh phức tạp và góp phần giải quyết các vấn
đề xã hội Ở những lĩnh vực còn lại thì phải có sự cạnh tranh bình đẳnggiữa những doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Muốntạo được lợi thế trong cạnh tranh thì doanh nghiệp nhà nước phải nâng caohiệu quả hoạt động của mình thông qua việc thực hiện chuyển đổi sở hữu.Quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đượctiến hành bắt đầu từ năm 1992 Hơn 12 năm thực hiện đã tạo ra nhữngdoanh nghiệp năng động, nhạy bén, thích nghi với điều kiện kinh tế thịtrường Mặc dù vậy, kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệpnhà nước trong thời gian qua đã không hoàn thành mục tiêu đề ra Kết quả
là số lượng doanh nghiệp nhà nước cần phải thực hiện chuyển đổi sở hữucòn nhiều, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục thực hiện và hoàn thành cơ bản kếhoạch chuyển đổi sở hữu trong giai đoạn 2006 – 2010 Để có thể thực hiệnmục tiêu này thì trong kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Trang 2giai đoạn 2006 – 2010 cần phải đưa ra những giải pháp mạnh hơn, kiênquyết hơn và khả thi hơn nữa.
Với những lý do trên và được sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS
Ngô Thắng Lợi, em đã quyết định chọn đề tài “Giải pháp thực hiện kế
hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn
2006 – 2010” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: các doanh nghiệp nhà nước hiện có ởViệt Nam, phân tích thực trạng hoạt động và tình hình thực hiện kế hoạchchuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005.Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung nghiên cứu và đánh giá quátrình thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở ViệtNam giai đoạn 2001 – 2005 và những nguyên nhân khiến cho kế hoạchkhông hoàn thành mục tiêu đặt ra Bên cạnh đó, đề tài cũng phân tích quátrình chuyển đổi sở hữu ở Trung Quốc từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm đối với thực tế chuyển đổi ở Việt Nam
Mục tiêu đề tài
Cung cấp những lý luận chứng minh chủ trương chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước là đúng đắn và cần phải tiếptục thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2010
Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanhnghiệp nhà nước trên phạm vi cả nước và tại một số ngành, địa phươngđiển hình
Đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006 – 2010
Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Lênin với phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để thựchiện nghiên cứu đối tượng
Trang 3Kết cấu của bài viết gồm 3 chương
Chương I: Sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Chương II: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Chương III: Giải pháp thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanhnghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010
Trang 4I Tổng quan về doanh nghiệp nhà nước
Khái niệm DNNN được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo cáchtiếp cận và mục đích nghiên cứu đối tượng này Đối với Việt Nam, kháiniệm về DNNN thay đổi qua nhiều thời kỳ, tương ứng với sự thay đổi quanniệm về sở hữu Nhà nước và sự thay đổi về cơ chế quản lý kinh tế
1 Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986)
Trong thời kỳ Kế hoạch hoá tập trung (1960 – 1986), tổ chức kinh tếNhà nước tồn tại dưới dạng các xí nghiệp (trong lĩnh vực công nghiệp),nông trường quốc doanh (trong lĩnh vực nông nghiệp) và các công ty (tronglĩnh vực thương mại) Khái niệm DNNN lúc này chưa xuất hiện mà chỉ cókhái niệm về xí nghiệp công nghiệp quốc doanh và xí nghiệp thương mạiquốc doanh Đặc trưng của những xí nghiệp này là: các xí nghiệp có tưcách pháp nhân tức là những chủ thể pháp luật, chủ thể kinh tế độc lập;toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước; các xí nghiệp phải thực hiệncác chỉ tiêu kế hoạch do Nhà nước đề ra bởi thị trường giai đoạn này chưahình thành đúng nghĩa nên các nhu cầu thường xuất phát từ sự hoạch địnhchủ quan của các cơ quan lập kế hoạch
2 Thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước (1986 đến nay)
Cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN,cách tiếp cận thành phần KTNN cũng có nhiều thay đổi Mặt khác, đểDNNN có thể hoạt động hiệu quả hơn, cần phải có một cơ sở pháp lý vữngchắc cho loại hình doanh nghiệp được coi là có vai trò chủ đạo này Chính
Trang 5vì vậy, năm 1995 Nhà nước ta đã ban hành Luật doanh nghiệp nhà nước thểchế hoá nhiều quan điểm mới về loại hình doanh nghiệp này Luật doanhnghiệp nhà nước năm 1995 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhànước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặchoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhànước giao DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự,
tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn
do doanh nghiệp quản lý DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sởtrên lãnh thổ Việt Nam”
Khái niệm về DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20-4-1995 đãphản ánh hai tính chất đặc trưng của DNNN là tính chất kinh doanh vàcông hữu Với đặc trưng kinh doanh, DNNN được xem như là một công cụhay phương tiện để Nhà nước thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hộirộng lớn của mình, bởi DNNN tự chủ tài chính, dùng kết quả hoạt động sảnxuất kinh doanh làm cơ sở tăng trưởng và phát huy vai trò chủ đạo Vớitính chất công hữu, lợi ích thu được từ các hoạt động của DNNN không sửdụng để phục vụ lợi ích riêng cá nhân mà phục vụ cho lợi ích chung của xãhội Do đó, DNNN được xem là một chính sách hay công cụ can thiệp củaChính phủ
Đến Luật DNNN năm 2003, khái niệm DNNN được hiểu sâu hơn.Điều 1 Luật DNNN năm 2003 định nghĩa: “DNNN là tổ chức kinh tế doNhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối,được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công tytrách nhiệm hữu hạn” Như vậy, về khía cạnh sở hữu, quan điểm của Đảng
và Chính phủ Việt Nam có những mặt nới lỏng và năng động hơn Bêncạnh những doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, còn tồn tại những doanhnghiệp mà Nhà nước chỉ có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực thenchốt và địa bàn quan trọng Khái niệm DNNN trong Luật DNNN năm 2003chứa đựng một số điểm mới cơ bản sau:
- Việc xác định DNNN không hoàn toàn dựa vào tiêu chí sở hữu nhưtrước đây Trước đây, chỉ những doanh nghiệp được Nhà nước thành lập và
Trang 6đầu tư vốn, hoàn toàn do Nhà nước quản lý thì mới được coi là DNNN.Trong số đó, tiêu chí sở hữu là tiêu chí cơ bản nhất để quyết định doanhnghiệp là DNNN.
- Thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu trong mộtDNNN Điều này có nghĩa là có những DNNN trong đó các hình thức sởhữu khác nhau hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật
- Pháp luật hiện hành thừa nhận khả năng chuyển đổi DNNN thànhdoanh nghiệp thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán cổ phần.Theo Luật DNNN năm 2003, tiêu chí xác định DNNN là quyền kiểmsoát và quyền chi phối chứ không dựa vào tiêu chuẩn sở hữu và quản lýnhư một điều kiện cần và đủ Nếu không sở hữu một lượng cổ phần cầnthiết thì không thể nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp Tiêu chí sở hữu đểxác định DNNN hoàn toàn mang tính định tính Còn tiêu chí quyền chiphối được áp dụng trong Luật DNNN năm 2003 là tiêu chí mang tính chấtđịnh lượng Tính định lượng thể hiện ở tỷ lệ phần vốn góp của Nhà nướctrong toàn bộ vốn của doanh nghiệp Như vậy, quyền kiểm soát được coi làtiêu chí cơ bản để xác định một doanh nghiệp có phải là DNNN hay không.Đây chính là điểm mới trong cách tiếp cận DNNN Do cách tiếp cậnDNNN như vậy nên hình thức pháp lý của DNNN trở nên đa dạng hơn baogồm: công ty nhà nước độc lập hoặc tổng công ty nhà nước, công ty cổphần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên,công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên, doanh nghiệp
có cổ phần hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước, công ty Nhà nước giữquyền chi phối và loại hình doanh nghiệp mà Nhà nước chỉ là cổ đông bìnhthường
II Lý luận chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Chuyển đổi sở hữu là quá trình đa dạng hoá các DNNN, làm chodoanh nghiệp đó không thuộc quyền sở hữu 100% của Nhà nước Nói cáchkhác, từ chỗ doanh nghiệp chỉ có một chủ sở hữu thì nay doanh nghiệp cónhiều chủ sở hữu thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau Việc chuyểnđổi sở hữu này sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, tự chủ tự
Trang 7chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình Chuyển đổi sở hữuđược tiến hành theo ba hình thức: CPH, bán hoặc giao doanh nghiệp chotập thể người lao động.
để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản
lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư vàngười lao động trong doanh nghiệp
1.1.2 Yêu cầu
Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phụctình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với pháttriển thị trường vốn, thị trường chứng khoán
1.2 Đối tượng và điều kiện cổ phần hóa
Các công ty nhà nước không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốnđiều lệ thực hiện CPH bao gồm: các Tổng công ty nhà nước (kể cả Ngânhàng thương mại nhà nước và các tổ chức tài chính nhà nước); công ty nhànước độc lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty doNhà nước quyết định đầu tư và thành lập; đơn vị hạch toán phụ thuộc củacông ty nhà nước
Những công ty nêu trên được tiến hành CPH khi còn vốn Nhà nước(chưa bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi giảm trừ giá trị tài sảnkhông cần dùng, tài sản chờ thanh lý; các khoản tổn thất do lỗ, giảm giá tàisản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí CPH
Việc CPH đơn vị hạch toán phụ thuộc của các công ty nhà nước chỉđược tiến hành khi:
Trang 8- Đơn vị hạch toán phụ thuộc của doanh nghiệp có đủ điều kiện hạchtoán độc lập
- Không gây khó khăn hoặc ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất,kinh doanh của doanh nghiệp hoặc các bộ phận còn lại của doanh nghiệp
1.3 Hình thức CPH công ty nhà nước
Có ba hình thức CPH như sau:
- Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổphiếu thu hút thêm vốn áp dụng đối với những doanh nghiệp CPH có nhucầu tăng thêm vốn điều lệ Mức vốn huy động thêm tuỳ thuộc vào quy mô
và nhu cầu vốn của công ty cổ phần Cơ cấu vốn điều lệ của công ty cổphần được phản ánh trong phương án CPH
- Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợpvừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thuhút vốn
- Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừabán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để thu hút vốn
2 Hình thức giao công ty nhà nước cho tập thể người lao động
Giao công ty cho tập thể người lao động được hiểu là việc chuyển đổi
sở hữu công ty nhà nước và tài sản nhà nước tại công ty thành sở hữu củatập thể người lao động trong công ty có phân định rõ sở hữu của từngngười, từng thành viên với các điều kiện ràng buộc
2.1 Mục tiêu của việc giao công ty nhà nước
Giao công ty nhà nước là biện pháp tiếp tục sắp xếp và đổi mới nhữngcông ty nhà nước kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài, Nhà nước không cần nắmgiữ và không CPH được nhằm:
- Tạo điều kiện cơ cấu lại công ty nhà nước, nâng cao hiệu quả kinh tế
và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế Nhà nước
- Sử dụng có hiệu quả hơn số vốn, tài sản Nhà nước đã đầu tư vàocông ty, khai thác mọi tiềm năng trong các thành phần kinh tế để đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh
Trang 9- Bảo đảm việc làm cho người lao động, thay đổi phương thức quản lýcông ty, tạo động lực để phát huy quyền làm chủ của người lao động.
- Giảm bớt chi phí và trách nhiệm trực tiếp kinh doanh của Nhà nước,đảm bảo lợi ích chung cho cả Nhà nước và người lao động trong công ty.Giao công ty nhà nước (gọi tắt là giao công ty) áp dụng đối với công
ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty
có vốn nhà nước ghi trên sổ sách kế toán dưới 5 tỷ đồng
2.2 Điều kiện giao doanh nghiêp cho tập thể người lao động
Tập thể người lao động trong công ty được xem xét giao công ty khiđáp ứng đủ các điều kiện sau:
- Tự nguyện đăng ký nhận giao công ty
- Cam kết đầu tư thêm để phát triển sản xuất kinh doanh, bảo đảm việclàm tối thiểu từ 3 năm trở lên, đóng đầy đủ bảo hiểm cho người lao độngtrong công ty theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp tự nguyện chấmdứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động và chínhsách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước)
- Kế thừa phần công nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty sau khi xử lý
Kế thừa quyền và nghĩa vụ đối với người lao động theo Bộ luật Lao động
- Không được cho thuê, chuyển nhượng, tự giải thể công ty trong thờigian tối thiểu 3 năm sau khi giao
3 Hình thức bán công ty nhà nước
Bán công ty hoặc bộ phận của công ty là việc chuyển đổi sở hữu cóthu tiền toàn bộ công ty, bộ phận công ty sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặcpháp nhân khác
3.1 Mục tiêu của việc bán công ty nhà nước
Việc thực hiện bán công ty nhà nước nhằm cơ cấu lại công ty, nângcao khả năng cạnh tranh của công ty trong điều kiện nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN Thông qua đó, sử dụng có hiệu quả số vốn, tài sản củaNhà nước và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế khác chođầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
Trang 10Khi tiến hành bán công ty nhà nước, người lao động sẽ được bảo đảmviệc làm, ổn định thu nhập và phát huy quyền làm chủ của người lao động.Lúc này, Nhà nước sẽ không sở hữu hoàn toàn DNNN đã thực hiện bán nêngiảm bớt chi phí và trách nhiệm kinh doanh của Nhà nước Do đó bảo đảmđược lợi ích của cả Nhà nước và người lao động.
3.2 Các phương thức tiến hành bán công ty nhà nước
Việc bán DNNN được tiến hành theo ba phương thức: đấu thầu, đấugiá hoặc bán trực tiếp
Nếu có từ hai người trở lên đăng ký mua doanh nghiệp thuộc diện phảichuyển đổi sở hữu thì doanh nghiệp sẽ được bán theo phương thức đấu thầu.Trường hợp công ty đã giải quyết hết số lao động hoặc đã phê duyệtphương án giải quyết hết số lao động theo quy định mà lại có từ hai ngườiđăng ký mua trở lên thì phải bán doanh nghiệp theo phương thức đấu giátheo Quy chế bán đấu giá do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nếu chỉ có một người đăng ký mua thì doanh nghiệp sẽ được bán theophương thức trực tiếp
Người đăng ký mua doanh nghiệp có quyền đến doanh nghiệp nghiêncứu sổ sách kế toán, bảng kê tài sản và thực trạng hoạt động của doanhnghiệp để quyết định có tiếp tục mua doanh nghiệp hay không
Tóm lại, việc thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN chỉ được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt khi có phương án sử dụng lao động trong doanhnghiệp hợp lý Đây chính là mục tiêu chung và quan trọng nhất của cáchình thức chuyển đổi sở hữu DNNN
4 Các nhân tố tác động đến quá trình chuyển đổi sở hữudoanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN ở nước ta diễn ra nhanh haychậm, thuận lợi hay khó khăn là do sự tác động của rất nhiều nhân tố Cácnhân tố đó có quan hệ tác động qua lại hoặc cùng chiều hoặc ngược chiều.Nếu chúng tác động đồng thuận sẽ tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi
sở hữu diễn ra nhanh Ngược lại, nếu chúng tác động ngược chiều nhau sẽ
Trang 11làm chậm lại quá trình chuyển đổi Có rất nhiều nhân tố tác động nhưngtheo em bốn nhân tố sau có tác động mạnh nhất.
4.1 Tâm lý, nhận thức của cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động
Khi nhắc đến chuyển đổi sở hữu là phải kể đến những người trực tiếptham gia chuyển đổi Đó là cán bộ quản lý doanh nghiệp và người laođộng Nếu thái độ và nhận thức của họ thông suốt, sẵn sàng tiến hànhchuyển đổi doanh nghiệp thì sẽ đẩy nhanh tiến trình chuyển sở hữu
Đối với cán bộ quản lý doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại trong họ tâm lýbất di bất dịch “chủ nghĩa xã hội gắn liền với sở hữu nhà nước” Nếu nhữngtâm lý tiểu nông ấy không được gạt bỏ thì khó có thể thực hiện chuyển đổi
sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh đó, họ còn lo sợ bị mất lợi ích, lo sợchuyển đổi sẽ làm chệch định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là rào cản củaquá trình chuyển đổi sở hữu
Đối với người lao động, nếu họ thông suốt được vai trò và ưu thế củaviệc chuyển đổi, hiểu được vì sao phải tiến hành chuyển đổi thì chắc chắn
họ sẽ là lực lượng nòng cốt của quá trình chuyển đổi Nhận thức và tâm lýđược giải toả, người lao động sẽ sẵn sàng và quyết tâm thực hiện chuyểnđổi sở hữu DNNN
4.2 Cơ chế chính sách liên quan đến việc chuyển đổi sở hữu
Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch
sử Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nó cũng tácđộng trở lại đến quá trình kinh tế xã hội Chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn
là mối quan tâm của các nhà chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước ta.Việc tiến hành chuyển đổi sở hữu DNNN đồng nghĩa với việc giảm sở hữuNhà nước, đây là vấn đề không mới nhưng chúng ta vẫn phải vừa làm vừa
“dò dẫm” và học hỏi kinh nghiệm các nước bạn Bởi vậy, để việc chuyểnđổi sở hữu được tiến hành thống nhất trên phạm vi cả nước, Đảng và Nhànước đã không ngừng ban hành các quyết định, nghị định phù hợp với điềukiện thực tế khi tiến hành chuyển đổi Cơ chế chính sách được ban hành cóphù hợp với thực tiễn, có phù hợp với yêu cầu đổi mới hay không phụthuộc vào sự nhanh nhẹn và nhạy bén của cơ quan thường trực sắp xếp và
Trang 12đổi mới DNNN Chỉ khi nào những cơ chế chính sách không còn là rào cảncho quá trình chuyển đổi thì quá trình đó mới diễn ra theo đúng mục tiêu
mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra
Một trong những chính sách có tác động mạnh đến sự chuyển đổi sởhữu DNNN chính là chính sách ưu đãi đối với người lao động Niềm tincủa người lao động trong doanh nghiệp khi thực hiện chuyển đổi sở hữu vềkhả năng thành công có ý nghĩa vô cùng quan trọng Theo chủ trương củaĐảng khi tiến hành chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần là ưu tiênbán cổ phần cho người lao động để đảm bảo thu nhập và quyền làm chủcủa người lao động Nếu chuyển sang hình thức giao hoặc bán thì đốitượng nhận mua hoặc nhận giao chủ yếu là tập thể người lao động Do vậy,nếu không có những chính sách ưu đãi phù hợp với người lao động tạo cho
họ niềm tin về sự hiệu quả về khả năng kinh doanh có lời sau khi tiến hànhchuyển đổi sở hữu thì người lao động sẽ không chủ động tham gia vào quátrình chuyển đổi
Xuất phát từ mục tiêu đảm bảo thu nhập, nâng cao mức sống củangười lao động cùng với việc đẩy mạnh hiệu quả sử dụng đồng vốn kinhdoanh sau chuyển đổi là những yếu tố quan trọng tạo niềm tin cho ngườilao động khi tham gia chuyển đổi sở hữu Muốn như vậy thì cơ chế chínhsách ưu đãi người lao động phải phù hợp và dễ hiểu để người lao độngkhông cảm thấy khó khăn khi tiếp cận chính sách pháp luật
4.3 Sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện
Có được cơ chế chính sách về chuyển đổi sở hữu phù hợp đã quantrọng thì sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước lại càng quan trọng hơn Nóquyết định rất nhiều đến sự thành công hay thất bại của quá trình chuyểnđổi sở hữu Bởi một Nghị định hay Quyết định được ban hành, không phải
cơ quan nào, cấp có thẩm quyền nào cũng có thể hiểu thông suốt, cũng cókhả năng tiến hành thực hiện Việc thực hiện phải có sự chỉ đạo, hướng dẫn
cụ thể của Đảng và Nhà nước Một Nghị định được ban hành về một vấn đềkinh tế xã hội nào đó thì kèm theo nó là một Thông tư hướng dẫn cụ thểviệc thi hành Nghị định ấy Mà việc chuyển đổi sở hữu DNNN khá phức
Trang 13tạp và “đụng chạm” đến quyền lợi của nhiều người Vì vậy, cần phải có sựchỉ đạo và hướng dẫn cụ thể thông qua Ban chỉ đạo chuyển đổi.
Ban chỉ đạo chuyển đổi bao gồm nhiều cá nhân được lựa chọn và cùngnhau chuẩn bị các chương trình hành động, lên kế hoạch sắp xếp lại hay kếhoạch chuyển đổi sở hữu DNNN Ban chỉ đạo có trách nhiệm nghiên cứuvăn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cũng như các Bộ, ngành có liênquan, tham khảo ý kiến tư vấn trong trường hợp cần thiết Ban chỉ đạo sẽthay mặt Đảng và Nhà nước tiến hành chuyển đổi sở hữu các DNNN cầnphải chuyển đổi Đồng thời cũng thay mặt Nhà nước trực tiếp quản lý quátrình chuyển đổi Do đó, Ban chỉ đạo có tầm quan trọng rất lớn, có ảnhhưởng không chỉ với tiến độ chuyển đổi mà còn ảnh hưởng đến khả năngphát triển trong tương lai của doanh nghiệp sau chuyển đổi Bởi vậy, việclựa chọn các thành viên trong Ban chỉ đạo chuyển đổi cũng vô cùng quantrọng Nếu các cá nhân trong Ban chỉ đạo chỉ đưa ra những ý kiến đánh giánhằm duy trì quyền lợi cá nhân hay các ý kiến mang tính chủ quan, duy ýchí thì mục tiêu hoạt động của Ban chỉ đạo chuyển đổi sẽ không thể thựchiện được Chính vì vậy, các thành viên phải là những người quán triệt sâusắc chủ trương đổi mới DNNN của Đảng và Nhà nước, có trình độ, có kinhnghiệm, có nhiệt huyết đối với công cuộc đổi mới để “thổi những luồng giómới” vào quá trình chuyển đổi sở hữu Có như thế, quá trình chuyển đổi sởhữu DNNN mới được tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả cao
4.4 Nhân tố xuất phát từ chính trong nội tại doanh nghiệp
Quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN có tiến hành thuận lợi khi bảnthân doanh nghiệp vẫn còn tồn tại những rào cản cản trở sự chuyển đổi?Những rào cản phải kể đến là: quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, nợcủa DNNN và giá trị tài sản của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi
Một là, bất cập từ quá trình xác định giá trị doanh nghiệp Giá trị
doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong giá trị cổ phần của người lao độngkhi thực hiện giao doanh nghiệp cho tập thể người lao động, có vai tròtrong việc hình thành cơ cấu cổ phần lần đầu khi thực hiện CPH và có vaitrò trong việc xác định giá bán doanh nghiệp Giá trị doanh nghiệp cao hay
Trang 14thấp có ảnh hưởng đến việc đánh giá hiệu quả chuyển đổi Bởi sau khi tiếnhành chuyển đổi sở hữu bằng CPH, giao, bán doanh nghiệp thì phải thôngqua tỷ suất lợi nhuận vốn góp của cổ động hoặc lợi suất của tài sản để đánhgiá hiệu quả của việc chuyển đổi Giá trị của doanh nghiệp được xác địnhtheo giá thực tế là tốt nhất Nếu đánh giá quá cao sẽ tạo tâm lý e ngại khôngmuốn mua cổ phần hoặc không muốn mua lại doanh nghiệp Ngược lại,nếu giá trị doanh nghiệp được xác định ở mức thấp sẽ tạo lợi thế cạnh tranh
để loại bỏ các đối thủ khác
Hai là, nợ tồn đọng của DNNN Do đầu tư kém hiệu quả, nhiều doanh
nghiệp thua lỗ, không có vốn trả nợ ngân hàng, nợ tồn đọng của những nămtrước để lại còn quá lớn Sự khó khăn về tài chính và vấn đề xử lý tài chínhnhư thế nào đã gây trở ngại lớn cho quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN.Nếu nợ tồn đọng quá nhiều và doanh nghiệp không có phương án giải trìnhkhắc phục và đảm bảo khả năng trả nợ thì doanh nghiệp không thể tiếnhành chuyển đổi sở hữu Bởi trong hồ sơ chuyển đổi sở hữu, DNNN cầnphải giải trình cụ thể và chi tiết số tiền bán cổ phần hay số tiền bán doanhnghiệp sẽ được sử dụng như thế nào
Ba là, giá trị tài sản doanh nghiệp trước khi tiến hành chuyển đổi Việc
xác định giá trị tài sản doanh nghiệp vào giá trị doanh nghiệp có đúng haykhông? Việc làm này có làm nâng cao giá trị doanh nghiệp hay không? Đốivới những tài sản cần thanh lý thì thanh lý vào lúc nào, trước hay sau khichuyển đổi? Bên cạnh đó, những vướng mắc về đất đai và sở hữu tài sảncũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển đổi sở hữu Nếu giátrị tài sản của doanh nghiệp được xác định rõ ràng, quyền sở hữu tài sản vàđất đai được giải quyết dứt điểm thì việc chuyển đổi sở hữu sẽ gặp nhiềuthuận lợi và quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra nhanh hơn và đúng tiến độ
Bốn là, tính chất kinh tế của sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp cho
thị trường Những sản phẩm nào thích ứng với thị trường, đáp ứng yêu cầucủa người tiêu dùng, có lợi thế cạnh tranh so với đối thủ sẽ hấp dẫn cácthành phần kinh tế khác nhảy vào Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc thựchiện chuyển đổi sở hữu nhanh hơn và hiệu quả hơn Ngược lại, đối với
Trang 15những sản phẩm mà để sản xuất ra nó đòi hỏi phải có quy mô vốn đầu tưlớn, thời gian quay vòng vốn lâu thì không hấp dẫn các nhà đầu tư nên việcchuyển đổi sở hữu sẽ gặp nhiều khó khăn.
III Sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ỏ Việt Nam
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đã được xác định rõ từ Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ VI Đó là phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiềuthành phần trong đó thành phần KTNN giữ vai trò chủ đạo Đến Đại hộiĐại biểu toàn quốc lần thứ X, quan điểm ấy vẫn không hề thay đổi mà pháttriển cao hơn thích nghi với điều kiện kinh tế - xã hội mới Nhưng thực tếcho thấy, trong những năm qua thành phần KTNN đặc biệt là bộ phậnDNNN hoạt động không có hiệu quả Để có thể phát huy vai trò chủ đạocủa DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì phải tiếnhành chuyển đổi sở hữu DNNN, chỉ giữ lại những doanh nghiệp mà Nhànước nắm 100% vốn trong các lĩnh vực kinh doanh phức tạp Chuyển đổi
sở hữu những DNNN hoạt động không hiệu quả để thích nghi với nền kinh
tế nhiều thành phần, chuyển đổi để nâng cao khả năng cạnh tranh trong nềnkinh tế và chuyển đổi để thích nghi với những yêu cầu của tình hình mới
1 Chính sách đa thành phần sở hữu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thực hiện nhất quán chính sách của Đảng về xây dựngnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, các doanh nghiệp pháttriển đa dạng, phong phú gồm nhiều loại hình sở hữu, nhiều quy mô, hoạtđộng trong môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng
Qua các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, Đảng ta luôn khẳngđịnh đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhữnghình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp Cácthành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thànhquan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bìnhđẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lànhmạnh Thực tiễn đã chứng minh chủ trương đó là đúng và nhận được sự
Trang 16đồng tình nhất trí cao trong Đảng và nhân dân Tuy nhiên việc xác định cácthành phần kinh tế cụ thể và vai trò của từng thành phần thì có nhiều ý kiếnkhác nhau Điều quan trọng là phải có chính sách khuyến khích mọi thànhphần kinh tế cùng phát triển, không phân biệt đối xử, kỳ thị, định kiến đốivới bất cứ thành phần kinh tế nào Ở nước ta hiện nay có sáu thành phầnkinh tế khác nhau cùng tồn tại và thúc đẩy nhau cùng phát triển, đó là:
- Thành phần kinh tế Nhà nước, bao gồm các nguồn lực do Nhà nướclàm chủ sở hữu, đưa vào và biến thành tài sản được dùng trong quá trìnhsản xuất – kinh doanh của các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Thànhphần KTNN về thực chất là phản ánh quy mô, cấu trúc, sức mạnh của hệthống các DNNN
- Kinh tế tập thể là hình thức liên kết tự nguyện giữa những người laođộng nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh của tập thể
để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn đề trong sản xuất – kinh doanh.Kinh tế tập thể phát triển dưới nhiều hình thức hợp tác đa dạng, trong đóhợp tác xã là nòng cốt Các hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên
- Kinh tế tư bản tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất Tuy đều là sở hữu tư nhân nhưng kinh tế tư bản tư nhânphân biệt với kinh tế cá thể, tiểu chủ ở quy mô hoạt động Kinh tế tư bản tưnhân có quy mô sản xuất kinh doanh và quy mô sử dụng lao động lớn hơn.Kinh tế tư bản tư nhân đại diện cho trình độ phát triển cao về kinh tế vớitrình độ công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến
- Kinh tế tư bản Nhà nước là loại hình kinh tế dựa trên hình thức sởhữu hỗn hợp Đó là hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế Nhà nước vàkinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là loại hình kinh tế dựa trên vốn
Trang 17đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là loại hình kinh tế hỗ trợ và bổ sung quantrọng cho các loại hình kinh tế trong nước về vốn, công nghệ và thị trường.
So với các loại hình kinh tế trong nước, loại hình này thường có trình độcông nghệ và trình độ quản lý cao hơn Do đó, đối với những nước nhưnước ta, việc khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho nhà đầu tưnước ngoài là vấn đề có ý nghĩa quan trọng
Cùng với việc xác định rõ 6 thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta, tạiĐại hội lần thứ X, quan điểm của Đảng ta về vị trí của các thành phần kinh
tế được hoàn thiện ở mức độ cao hơn Đảng và Nhà nước ta đã xác định,trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN các thành phần kinh tếcùng tồn tại và phát triển trong một thể thống nhất, mọi thành viên đều bìnhđẳng và có quyền lợi cũng như nghĩa vụ trước pháp luật là như nhau Trong
đó KTNN giữ vai trò chủ đạo, KTNN cùng với kinh tế tập thể ngày càngtrở thành nền tảng quan trọng của nền kinh tế quốc dân và KTTN cũng cóvai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Các thànhphần kinh tế tồn tại với vị trí quan trọng của nó và cần phải được chú trọngphát triển
2 Chủ trương chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Quyết định 155/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24tháng 8 năm 2004 về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty nhànước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty Nhànước được xem là căn cứ để lựa chọn DNNN tiến hành chuyển đổi sở hữu.Các DNNN sẽ dựa vào nội dung của Quyết định này để đánh giá xemdoanh nghiệp của mình có tiến hành chuyển đổi sở hữu được hay không
2.1 Những công ty mà Nhà nước giữ 100% vốn
Nhà nước nắm giữ 100% vốn đối với những công ty hoạt động trongcác ngành, lĩnh vực sau:
- Những công ty hoạt động trong một số lĩnh vực quan trọng: Sảnxuất, cung ứng vật liệu nổ; Sản xuất, cung ứng hoá chất độc; Sản xuất,cung ứng chất phóng xạ; Hệ thống truyền tải điện quốc gia; Mạng trụcthông tin quốc gia và quốc tế; Sản xuất thuốc lá điếu; Điều hành bay; Bảo
Trang 18đảm hàng hải; Sản xuất, sửa chữa vũ khí, khí tài, trang bị chuyên dùng choquốc phòng, an ninh, trang thiết bị, tài liệu kỹ thuật và cung ứng dịch vụbảo mật thông tin bằng kỹ thuật nghiệp vụ mật mã; Các công ty được giaothực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh đặc biệt và các công ty đóng tạiđịa bàn chiến lược quan trọng kết hợp kinh tế với quốc phòng theo quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ; In tiền, chứng chỉ có giá, sản xuất tiền kimloại; Xổ số kiến thiết; Các nhà xuất bản; Sản xuất phim khoa học, phimthời sự, phim tài liệu, phim cho thiếu nhi; Đo đạc bản đồ; Quản lý, bảo trì
hệ thống đường sắt quốc gia, cảng hàng không và cảng biển có quy mô lớn,
vị trí quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Quản lý, khaithác công trình thuỷ nông đầu nguồn, công trình thuỷ nông có quy mô lớn;Trồng và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; Thoátnước ở đô thị lớn; Chiếu sáng đô thị; Một số lĩnh vực quan trọng khác theoquyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Những công ty bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất vànâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc miền núi, vùngsâu, vùng xa
- Những công ty đáp ứng đủ các điều kiện sau: vốn nhà nước từ 30 tỷđồng trở lên, mức thu nộp ngân sách nhà nước bình quân ba năm liền kề từ
3 tỷ đồng trở lên, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, côngnghệ cao, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và hoạt động trongnhững ngành, lĩnh vực sau: Chế biến dầu mỏ; Khai thác quặng có chấtphóng xạ; Đóng và sửa chữa phương tiện vận tải đường không; In sách, báochính trị; Bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, hoá dược; Bán buônlương thực; Bán buôn xăng dầu; Vận tải đường không, đường sắt
2.2 Những công ty tiến hành chuyển đổi sở hữu dưới hình thức cổ phần hoá, giao cho tập thể người lao động hoặc bán
- Những công ty khi CPH, Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổphần là những công ty có vốn nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên, mức thu nộpngân sách nhà nước bình quân ba năm liền kề từ 2 tỷ đồng trở lên, hoạtđộng trong những ngành, lĩnh vực đã nêu ở trên và các ngành, lĩnh vực sau:
Trang 19Sản xuất điện; Khai thác các khoáng sản quan trọng: than, bô xít, quặngđồng, quặng sắt, quặng thiếc, vàng, đá quý; Sản xuất các sản phẩm cơ khí:thiết bị kỹ thuật điện và vật liệu điện, máy công nghiệp chuyên dùng, máymóc, thiết bị phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp, đóng và sửa chữa phương tiệnvận tải đường biển, đường sắt; Cung cấp hạ tầng mạng viễn thông; Sảnxuất kim loại đen (gang, thép) trên 100.000 tấn/năm; Sản xuất xi măngcông nghệ hiện đại, chất lượng cao, có công suất thiết kế trên 1,5 triệutấn/năm; Sản xuất phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; Sản xuất một sốmặt hàng tiêu dùng, thực phẩm: muối ăn, sữa, bia trên 50 triệu lít/năm, cồn
và rượu trên 10 triệu lít/năm; Khai thác, lọc và cung cấp nước sạch ở cácthành phố lớn; Vận tải đường biển; Kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm; Sản xuấtgiống cây trồng, vật nuôi; Dịch vụ đánh bắt hải sản xa bời; Quản lý, bảo trì
hệ thống đường bộ, đường thuỷ quan trọng; Quản lý, khai thác các côngtrình thuỷ nông; Dịch vụ hợp tác lao động; Kinh doanh mặt bằng hội chợ,triển lãm
- Những công ty không thuộc mục kể trên khi tiến hành CPH, cơ quanNhà nước có thẩm quyền căn cứ từng trường hợp cụ thể, quyết định việcNhà nước giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ cổ phần
- Những công ty không CPH được, thì thực hiện chuyển đổi sở hữudưới hình thức giao công ty cho tập thể người lao động hoặc bán công tytheo quy định của Chính phủ
3 Vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong thời kỳ chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam
DNNN là một công cụ quan trọng, một lực lượng vật chất hùng mạnhgiúp Nhà nước thực hiện ý đồ can thiệp của mình để đưa nền kinh tế vậnhành theo đúng định hướng và đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội màkinh tế thị trường thuần tuý không thể thực hiện được Vai trò của DNNNđược thể hiện qua những khía cạnh chủ yếu sau:
3.1 DNNN là một tổ chức kinh tế có lợi thế so sánh so với các doanh nghiệp cùng loại thuộc các khu vực khác của nền kinh tế quốc dân
Lợi thế so sánh của DNNN thể hiện chủ yếu ở phương diện hiệu quả
Trang 20xã hội DNTN thuộc quyền sở hữu tư nhân nên mục tiêu chính của nó làphải đem lại lợi nhuận tài chính cao cho chủ sở hữu doanh nghiệp, bất chấpmột thực tế rằng để đạt hiệu quả đó, xã hội có thể phải hy sinh hiệu quảphân bổ nguồn lực ở một nơi nào đó trong nền kinh tế Do đó, hiệu quảtổng thể kinh tế - xã hội của doanh nghiệp tư nhân có thể không cao Việchàng loạt DNTN hoạt động không chú ý đến những hậu quả về mặt môitrường do mình gây ra là một thí dụ điển hình Trái lại, DNNN thuộc quyền
sở hữu công cộng, nên mục tiêu chính của nó là phải tối đa hoá lợi ích củachủ sở hữu, tức là nhân dân, thông qua đại diện của mình là Nhà nước.Chính vì thế, đối với loại hình doanh nghiệp này, hiệu quả kinh tế xã hộiphải được đặt lên hàng đầu
3.2 DNNN là một nhân tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế
Điều này thể hiện rõ nét ở việc DNNN thường được trao nhiệm vụ đầu
tư vào những công trình kết cấu hạ tầng có quy mô tương đối lớn so vớinăng lực của khu vực tư nhân và các loại hàng hoá công cộng khác mà tỷsuất lợi nhuận không hấp dẫn DNTN Đặc điểm chung của các công trìnhkết cấu hạ tầng là quy mô vốn đòi hỏi tương đối lớn, thời gian thu hồi vốnlại lâu, kèm theo nhiều rủi ro trong quá trình đầu tư mà bản thân DNTNkhông thể kiểm soát nổi Chính những đặc điểm này đã làm cho việc đầu tưvào nhiều loại kết cấu hạ tầng không hấp dẫn DNTN Bên cạnh đó, nhiềuloại hàng hoá công cộng còn có thuộc tính chung là rất khó loại trừ việctiêu dùng của những cá nhân “không sẵn sàng trả tiền” cho nó Vì thế, nếuDNTN đầu tư và thu hồi vốn thông qua việc thu phí sử dụng thì sẽ rất khókhăn Trái lại, một DNNN đầu tư với sự hỗ trợ vốn của Chính phủ lại cóthể giải quyết tốt vấn đề này
Nếu coi hàng hoá công cộng do DNNN cung cấp là tiền đề cho sự pháttriển kinh tế thì tính chất tiền đề đó càng thể hiện rõ và phát huy tác dụngtrực tiếp nếu DNNN thiết lập mối quan hệ trực tiếp với các doanh nghiệpthuộc các khu vực cần hỗ trợ Bằng cách đó, DNNN sẽ góp phần tạo cácmối quan hệ xuôi chiều, ngược chiều, quan hệ mạng lưới với DNTN, trở
Trang 21thành đối tác và là lực lượng hậu thuẫn cho sự phát triển của khu vực kinh
tế tư nhân Thông qua mối quan hợp tác này mà nền kinh tế sẽ đạt tốc độtăng trưởng vững mạnh hơn nhiều
3.3 DNNN là một công cụ để góp phần khắc phục các khuyết tật của thị trường
Điều này không chỉ thể hiện ở vai trò tiên phong của DNNN trongviệc cung cấp hàng hoá công cộng, mà còn thể hiện ở chỗ DNNN góp phầnđiều tiết “độc quyền”, tạo ra các “ngoại ứng tích cực” và nâng cao hiệu quảcung cấp thông tin thị trường
Do tính chất tự nhiên của nhiều loại thị trường mà độc quyền vẫn tồntại như một tất yếu khách quan Bên cạnh những tác động tiêu cực của độcquyền như bán với giá cao, thu lợi nhuận siêu ngạch, lũng đoạn thị trường cũng cần kể đến những tác dụng tích cực khác của nó như tăng cường tậptrung hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học công nghệmới, tranh thủ lợi thế kinh tế theo quy mô Vì thế, vai trò của Nhà nướckhông phải là xoá bỏ độc quyền, mà là điều tiết để tranh thủ lợi ích và hạnchế tác dụng của độc quyền
Sự có mặt của DNNN trong những lĩnh vực kinh tế cơ bản như nghiêncứu, triển khai, bảo vệ môi trường vừa là tiền đề cho phát triển kinh tếbền vững, vừa tạo ra những ngoại ứng tích cực mà các thành phần kinh tếkhác cũng có thể tranh thủ được lợi ích của nó
Cuối cùng, DNNN có thể cải thiện thông tin thị trường bằng cách cungcấp các thông tin cạnh tranh để điều tiết giá cả thị trường hoặc trực tiếptham gia vào lĩnh vực thông tin tuyên truyền Là một thành phần kinh tếchủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, có khả năng chi phối một thị phần lớn,những thông tin về giá cả do DNNN đưa ra sẽ là dấu hiệu quan trọng chocác doanh nghiệp khác theo dõi những biến động của môi trường kinhdoanh
3.4 DNNN góp phần cải thiện tình hình phân phối phúc lợi xã hội
Với hai đặc trưng cơ bản là “kinh doanh” và “công hữu”, thặng dư do
Trang 22các hoạt động của DNNN tạo ra không bị phân tán cho các hoạt động tiêudùng và tái đầu tư tư nhân, mà được sử dụng tập trung cho khu vực côngcộng thông qua Chính phủ Việc tự hạch toán và đóng góp cho Ngân sáchNhà nước có vai trò tích cực nhằm giúp cắt giảm chi tiêu chính phủ và hạnchế tăng thuế cá nhân Tác dụng tạo công ăn việc làm và thu nhập củaDNNN cũng là một đóng góp có ý nghĩa, đặc biệt là ở những vùng sâuvùng xa, vùng có điều kiện khó khăn mà đầu tư tư nhân chưa vươn tới.
Tóm lại, những phân tích trên nói lên “vai trò tiềm năng” mà DNNN
có thể đảm nhiệm Nhưng để biến vai trò đó thành hiện thực thì đòi hỏi bảnthân các DNNN phải tự phấn đấu vươn lên, đổi mới công tác quản lý, thựchiện chuyển đổi sở hữu, kết hợp nhiều loại hình sở hữu khác nhau tạo điềukiện kinh doanh có hiệu quả Có như vậy doanh nghiệp mới thích nghi vớiđiều kiện cạnh tranh thị trường, thực sự giữ những vị trí then chốt trong nềnkinh tế, đi đầu ứng dụng khoa học công nghệ, nêu gương về năng suất, chấtlượng và hiệu quả kinh tế - xã hội
4 Thực trạng hoạt động kinh doanh của những doanh nghiệp nhà nước chưa chuyển đổi và những yêu cầu mới đặt ra
4.1 Thực trạng kém hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước
4.1.1 Hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh thấp
Theo đánh giá chung của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanhnghiệp Trung ương, số DNNN thực sự kinh doanh có hiệu quả chỉ chiếm40%, số doanh nghiệp chưa có hiệu quả, hoạt động sản xuất khi lỗ khi lãichiếm 31% và còn lại 29% số DNNN hoạt động không có hiệu quả, lỗ liêntục trong nhiều năm liền Cũng trong năm 2000, DNNN chỉ đóng góp choNgân sách Nhà nước 39,2% tổng thu Ngân sách nhưng trong đó phần thuếthu nhập doanh nghiệp chỉ có 13,4% Một đồng vốn Nhà nước của doanhnghiệp chỉ làm ra 0,095 đồng lợi nhuận trước thuế Trong khi đó đối vớiDNNN sau chuyển đổi thì tỷ lệ vốn/lợi nhuận trước thuế bằng 0,19 đồng.Điều này đặt ra yêu cầu phải thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Đến năm 2002, tỷ lệ lợi
Trang 23nhuận/vốn của DNNN vẫn ở mức thấp 2,9%, tỷ lệ lãi/doanh thu tiêu thụnăm 2003 chỉ đạt 4,2% so với 13,6% của doanh nghiệp thuộc khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm
do DNNN sản xuất trên thị trường quốc tế và trong nước còn thấp Một sốmặt hàng như sắt thép, phân bón, xi măng có mức giá cao hơn giá nhậpkhẩu từ 20 - 40%, riêng mặt hàng dầu thô cao hơn 70 - 80%
Hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của DNNN thấp là những nguyênnhân chính dẫn đến tốc độ phát triển của DNNN không cao, thấp hơn nhiều
so với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
4.1.2 Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé
Xét về quy mô DNNN, các doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng vẫnchiếm tỷ trọng lớn
Bảng 1: Quy mô vốn của doanh nghiệp nhà nước
S
T
T
Số lượng DNNN
Quy mô vốn Nhà nước
Trang 24đồng, còn tỷ trọng DNNN có quy mô vốn trên 5 tỷ vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ.
Để thành phần kinh tế Nhà nước phát huy được vai trò chủ đạo của mìnhtrong nền kinh tế thì phải giảm dần số lượng các DNNN có quy mô vốndưới 5 tỷ đồng và tăng dần tỷ trọng DNNN có quy mô vốn trên 5 tỷ đồng.Điều này đặt ra yêu cầu phải nỗ lực hơn nữa trong việc sắp xếp và đổi mớiDNNN đặc biệt là chuyển đổi sở hữu Bởi thông qua việc nhiều loại hình
sở hữu cùng tồn tại trong một doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện tăng quy môvốn của doanh nghiệp
4.1.3 Công nợ của các DNNN ngày càng tăng, lao động thiếu việc làm vàdôi dư còn lớn, trình độ quản lý còn yếu kém
Nợ của các DNNN đang là một gánh nặng khó khắc phục, nợ quá hạn
và nợ khó đòi ngày càng tăng Tổng số nợ phải trả của DNNN tính đếntháng 12 năm 2003 theo Bộ Tài chính lên đến 207,8 nghìn tỷ đồng, trong
đó 76% là vay nợ ngân hàng, còn lại là do chiếm dụng các khoản phải nộpngân sách hoặc chiếm dụng vốn của các doanh nghiệp khác Tình hình tàichính không lành mạnh một phần là do lịch sử để lại, mặt khác là do lúngtúng, chưa có giải pháp khả thi xử lý dứt điểm Điều này làm cho hạch toán
kế toán của doanh nghiệp bị méo mó, không minh bạch và DNNN luôn ởtrong tình trạng bị động đối với các khoản nợ khó đòi
Lao động thiếu việc làm và dôi dư cũng là khó khăn lớn, ảnh hưởngđến quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN Không ít DNNN tuỳ tiện tăngbiên chế gián tiếp, trực tiếp quá mức khiến cho bộ máy làm việc cồng kềnhdẫn đến chi phí tăng và năng suất lao động giảm Bên cạnh đó, các DNNNlại thiếu lao động trẻ có trình độ chuyên môn cao, người lao động đang làmviệc phần lớn chưa qua đào tạo hoặc làm việc trái nghề dẫn đến năng suấtlao động thấp Năm 2000, theo báo cáo của Bộ Lao động – thương binh và
Xã hội, số lao động mất việc và không có việc làm thường xuyên ở cácDNNN là 20%, và đến năm 2002, 2003 tăng lên tương ứng là 26% và 28%.Thêm vào đó là trình độ quản lý của lãnh đạo DNNN chưa đáp ứngđược yêu cầu của cơ chế thị trường, chưa năng động, nhanh nhạy với điềukiện mới Nhiều cán bộ quản lý chưa được đào tạo hoặc đào tạo lại nên
Trang 25không đáp ứng được nhu cầu chuyên môn của công việc Một bộ phậnkhông nhỏ cán bộ quản lý sa sút về phẩm chất đạo đức, dựa vào hoạt độngsản xuất của doanh nghiệp để làm lợi cho cá nhân.
4.1.4 Trình độ công nghệ của DNNN còn lạc hậu
Theo khảo sát của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường tại nhiềuDNNN, thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất lạc hậu so với thế giới
10 – 20 năm, trình độ cơ khí hoá, tự động hoá dưới 10%, tài sản ở dạngthanh lý chiếm 38% và 52% đã qua bảo dưỡng, sửa chữa Hậu quả là chưatạo được nhiều sản phẩm mũi nhọn có hàm lượng chất xám cao trên cơ sởkết hợp phát huy lợi thế so sánh, nội lực của đất nước với sử dụng có hiệuquả hợp tác quốc tế
Tóm lại, với thực trạng hoạt động kém hiệu quả như trên của những
DNNN chưa chuyển đổi trong thời gian qua đặt ra yêu cầu phải thực hiệncác giải pháp mạnh mẽ và cương quyết nhằm nâng cao hiệu quả và sứccạnh tranh của DNNN Một trong những giải pháp quan trọng nhất là thựchiện chuyển đổi sở hữu DNNN Có như vậy DNNN mới phát huy tác dụngtrong việc nâng cao vai trò chủ đạo của khu vực KTNN
4.2 Những yêu cầu mới đặt ra
4.2.1 Gắn kết lợi ích của người lao động, lợi ích của người quản lý với lợiích của Nhà nước
Trong các DNNN chưa có sự xác định thực sự mối quan hệ giữa chủ
sở hữu và người điều hành Do đó không xác định rõ trách nhiệm trongquyền điều hành hoạt động của DNNN Bản thân yếu tố sở hữu được quanniệm là Nhà nước nhưng tồn tại một cách chung chung, thiếu cụ thể vềngười đại diện Điều hành các DNNN là ban giám đốc, ban quản lý nhưngthiếu những yếu tố ràng buộc trách nhiệm và hạn chế cả về quyền hạn nênthiếu sự kiểm soát chặt chẽ từ phía chủ sở hữu và thiếu tính tích cực chủđộng sáng tạo trong điều hành của bộ máy quản lý Vì vậy, các doanhnghiệp này thường chậm đổi mới về mọi mặt, kém năng động trên thịtrường, né tránh thách thức và ít mạnh dạn trong hoạt động kinh doanh, bỏ
lỡ nhiều cơ hội kinh doanh và phát triển
Trang 26Hệ thống quản lý của các DNNN thiết kế quá cồng kềnh, phức tạp,nhiều cấp trung gian nhưng trách nhiệm cá nhân lại không được ràng buộcchặt chẽ và tương xứng với quyền hạn, đồng thời không gắn với lợi ích cánhân của các cán bộ quản lý một cách thoả đáng Nhiều khi đây lại lànguyên nhân làm cho các doanh nghiệp này mất đi lợi thế so với các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác ở trong nước, làm chúng chịuthua thiệt trong kinh doanh với khách hàng nước ngoài.
Sự can thiệp nhiều khi quá sâu của các cơ quan Nhà nước vào hoạtđộng của DNNN (quy định các định mức kinh tế - tài chính, quyết địnhmức chi tiêu hoặc hạn mức chi tiêu cho nhiều hoạt động cụ thể, quy địnhcách thức hoặc mức thù lao, cách thức hạch toán ) làm giảm tính tự chủ vàgiảm đi một phần trách nhiệm của cá nhân các cán bộ hoặc của cả tập thểban quản lý DNNN Mặt khác, các thủ tục quá chặt chẽ về quá nhiều vấn
đề có tính sự vụ (mua sắm, thanh lý tài sản ) làm cho tính chủ động củacán bộ quản lý DNNN bị hạn chế Tâm lý ỷ lại, trông chờ, thái độ thiếu tíchcực cũng từ đó mà phát sinh, gây ra những cản trở không nhỏ cho hoạtđộng kinh doanh của các DNNN
4.2.2 Khai thác các nguồn lực xã hội
Trong nhiều năm qua, theo báo cáo của DNNN cũng như bất kỳ cuộcđiều tra nào về doanh nghiệp này cũng có thể nhận thấy yêu cầu cấp báchcủa các doanh nghiệp về việc cấp thêm vốn Cho đến nay, DNNN chỉ cóthể bổ sung vốn bằng cách xin cấp thêm vốn hoặc vay ngân hàng Hìnhthức vay vốn của cán bộ, công nhân viên đã được thử nghiệm ở một sốdoanh nghiệp, đã phát huy tác dụng tích cực nhất định nhưng cũng làmxuất hiện thêm nhiều vấn đề khó giải quyết Trong khi đó vẫn chưa tậndụng được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân dẫn đến các nguồn lực xãhội chưa được khai thác đầy đủ và có hiệu quả
4.2.3 Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Quan hệ kinh doanh với đối tác nước ngoài không chỉ đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải có tiềm năng thích hợp, có khả năng ra quyết định kịpthời, độc lập mà còn phải có những hình thức pháp lý quen thuộc đối với
Trang 27họ Việc chuyển đổi sở hữu DNNN sẽ cho phép tạo ra những hình thứcpháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế Đứng trước yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế, hàng loạt những yêu cầu ngày càng trở nên bức thiết đòi hỏi cácDNNN phải tiến hành chuyển đổi sở hữu.
Tóm lại, việc chuyển đổi sở hữu ở các doanh nghiệp là những hoạt
động bình thường trong hoạt động của chủ sở hữu Sự chuyển đổi đó là cầnthiết nếu nó liên quan, phục vụ trực tiếp cho lợi ích của chủ sở hữu và chủđầu tư Đối với các DNNN cũng không phải là ngoại lệ mặc dù trong nhiềutrường hợp Nhà nước chú trọng đến lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn lợiích kinh tế đơn thuần Bên cạnh đó, chuyển đổi sở hữu vì lợi ích của Nhànước với tư cách là chủ đầu tư Khi các DNNN hoạt động kinh doanh kémhiệu quả thì chẳng những lợi ích kinh tế đã không được bảo đảm mà lợi íchchính trị - xã hội cũng bị ảnh hưởng không tốt
Kết luận: Một lần nữa Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
lại khẳng định chính sách đa loại hình sở hữu với nhiều thành phần kinh tếkhác nhau cùng đan xen tồn tại, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo vàDNNN - bộ phận quan trọng cấu thành KTNN được xem là công cụ điềutiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế Nhưng thực tế hiện nay, nhiềudoanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chưa đáp ứng được vai trò quan trọng
ấy bởi hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, nợ đọng kéo dài, gâythiệt hại cho nền kinh tế quốc dân Do đó, trong giai đoạn 2006 – 2010,Đảng nhấn mạnh phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa quá trình chuyển đổi sởhữu DNNN, chỉ giữ lại những doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước trong cáclĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế nhằm mục tiêu giải quyết các vấn đề xãhội
IV Kinh nghiệm chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước bạn láng giềng của Việt Nam, có diện tích lớn vàdân số đông, có nền kinh tế phát triển Việc lựa chọn Trung Quốc làm quốcgia để học hỏi kinh nghiệm về chuyển đổi sở hữu DNNN là tất yếu bởi sựphát triển của Việt Nam tương đối đồng nhất và diễn ra theo đúng tiến trình
Trang 28giống như Trung Quốc Mặc dù trình độ phát triển của Việt Nam còn thuakém Trung Quốc rất nhiều lần Việt Nam cũng như Trung Quốc đi lên chủnghĩa xã hội từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Cùng với sự phát triểncủa cơ chế kế hoạch hoá tập trung, số lượng DNNN được thành lập ngàymột nhiều và khi chuyển lên chủ nghĩa xã hội giai đoạn đầu, DNNN vẫntiếp tục được thành lập bởi chủ nghĩa xã hội là sự công hữu về tư liệu sảnxuất Chủ nghĩa xã hội là sở hữu toàn dân mà giai đoạn đầu của nó là sởhữu nhà nước Chỉ khi nào lực lượng sản xuất phát triển đến mức độ hiệnđại và tiên tiến nhất định thì sở hữu nhà nước sẽ chuyển thành sở hữu toàndân Học hỏi kinh nghiệm cải cách DNNN của Trung Quốc sẽ giúp ViệtNam định hướng những quan điểm và giải pháp thực hiện sắp xếp, đổi mớiDNNN có hiệu quả hơn.
1 Bối cảnh thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Cải cách xí nghiệp quốc hữu ở Trung Quốc được bắt đầu sau Hội nghịTrung ương lần thứ 3 khoá XI của Đảng cộng sản Trung Quốc (tháng 12năm 1978) Mặc dù Chính phủ Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực trong việctạo cơ chế cho các xí nghiệp quốc hữu thích nghi với cơ chế thị trường,song nhìn chung hoạt động của các xí nghiệp quốc hữu vẫn còn kém hiệuquả Nguyên nhân của những yếu kém là:
- Hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu duy nhất mà các xí nghiệpquốc hữu theo đuổi Bên cạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế, xí nghiệp quốchữu còn phải theo đuổi một số mục tiêu xã hội như bảo đảm việc làm, việc
sa thải lao động là một hành động rất khó thực hiện
- Mức độ chênh lệch thu nhập không cao giữa xí nghiệp có hiệu quả
và không có hiệu quả, vì vậy không những không khuyến khích được ngườilao động mà còn hạn chế cả luồng luân chuyển lao động, đặc biệt là laođộng trí tuệ
- Những khó khăn trong việc tìm nguồn vốn, tìm kiếm và tuyển dụngnhân tài đã làm cho các xí nghiệp quốc hữu khó có thể tìm ra giải pháp đểnâng cao hiệu quả kinh tế của mình
- Những gánh nặng mang tính lịch sử còn đè nặng lên các xí nghiệp
Trang 29quốc hữu Hầu hết các xí nghiệp quốc hữu đều do Nhà nước đầu tư trongthời gian trước do vậy cơ cấu tài sản được đầu tư có thể không phù hợp vớichiến lược kinh doanh trong nền kinh tế thị trường của xí nghiệp
- Trình độ quản lý xí nghiệp yếu kém Chuyển sang hoạt động trong
cơ chế thị trường với những điều kiện mới nhưng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
ở các xí nghiệp quốc hữu vẫn chủ yếu là những người cũ với nếp nghĩ và tưduy cũ
Với những hạn chế nêu trên chính là lí do khiến 2/3 DNNN ở TrungQuốc được lên kế hoạch chuyển đổi sở hữu theo hướng dẫn của Luật Công
ty Trung Quốc Luật Công ty được ban hành năm 1993 nhằm mục tiêukhông chỉ đưa ra một hình thức pháp lý mới cho các nhà đầu tư mà còn hỗtrợ cho việc cải cách các xí nghiệp quốc hữu theo hướng chế độ xí nghiệphiện đại
2 Các hình thức và nội dung cải cách DNNN tại Trung Quốc
Cải cách DNNN ở Trung Quốc được chia làm 3 giai đoạn, mỗi giaiđoạn có đặc điểm và mục tiêu riêng do điều kiện cụ thể quyết định Nếugiai đoạn thứ nhất nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp về cơbản vẫn trên nền cơ chế kế hoạch hoá tập trung thì trong giai đoạn thứ haithực hiện hệ thống trách nhiệm của doanh nghiệp Giai đoạn thứ ba gắn vớiviệc thiết lập cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa, cải cách sở hữu đối vớicác DNNN vừa và lớn, mỗi giai đoạn đều tổ chức thí điểm và rút kinhnghiệm
Việc cải cách DNNN được tiến hành theo các hướng sau:
- Sắp xếp lại tài sản: trong cơ chế kế hoạch hoá trước đây, do doanhnghiệp phải đảm nhận nhiều chức năng, theo đuổi nhiều mục tiêu, tài sảncủa doanh nghiệp bao gồm tài sản kinh doanh và tài sản phi kinh doanh Đểtạo điều kiện cho các doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu quan trọng nhấtcủa mình trong cơ chế thị trường, trước hết cần phải tách phần tài sản phikinh doanh của các doanh nghiệp Phần này có thể giao lại cho chính quyềnquản lý hoặc tách ra thành đơn vị độc lập Phần tài sản còn lại sẽ được xử
lý theo cơ chế thị trường, nghĩa là phải phân định tiếp loại tài sản có hiệu
Trang 30quả và tài sản không có hiệu quả để tiếp tục sử dụng hoặc thanh lý.
- Sắp xếp lại các khoản vay: cũng như ở các nước có nền kinh tế kếhoạch hoá tập trung trước đây, các khoản nợ ngân hàng của doanh nghiệprất lớn, tỷ trọng nợ khó đòi, nợ quá hạn tương đối cao Tỷ trọng nợ khó đòicao đã làm cho khả năng vay nợ của doanh nghiệp rất kém dẫn đến doanhnghiệp không thể có hy vọng vay tín dụng đầu tư chiều sâu để đổi mới sảnxuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Một giải pháp được đưa
ra xử lý là chuyển các khoản nợ này thành vốn góp, ngân hàng từ vị trí chủ
nợ sang vị trí cổ đông của doanh nghiệp
- Sắp xếp lại sản phẩm: Đây là giải pháp cơ bản để chuyển doanhnghiếp sang hoạt động theo cơ chế thị trường Trên cơ sở nghiên cứu nhucầu thị trường, khả năng cạnh tranh, các doanh nghiệp phải xác định lại cơcấu sản phẩm của mình để đạt hiệu quả cao nhất
- Sắp xếp lại lao động: lao động dôi dư là vấn đề có tính phức tạptrong quá trình cải cách, đặc biệt khi hệ thống bảo hiểm thất nghiệp chưathực hiện được chức năng của mình Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốcđưa ra biện pháp “ba người cùng gánh vác”, đó là chính quyền, bảo hiểm ởđịa phương và doanh nghiệp
- Sắp xếp lại quan hệ phân phối: việc xác định lại quan hệ phân phốitrong doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng vì đây chính là vấn đề để thốngnhất lợi ích của các nhóm trong doanh nghiệp Quan hệ phân phối mới đadạng hơn, không chỉ phân phối theo kết quả lao động mà còn phân phốitheo cả sự đóng góp về vốn, về trí tuệ
3 Quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Phương châm cải cách DNNN của Trung Quốc là từ từ, thực hiện từngbước, thí điểm trước sau đó mới áp dụng rộng rãi, nắm cái lớn, buông cáinhỏ, chỉ duy trì sở hữu nhà nước trong những ngành, những doanh nghiệpchủ chốt Và cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN bằng cáchtạo ra sự cạnh tranh theo cơ chế thị trường và khuyến khích sự phát triểnkhu vực ngoài quốc doanh để tạo công ăn việc làm và phát triển nhanh nềnkinh tế, thay thế dần các DNNN trong nhiều ngành
Trang 31Với phương châm đó, từ năm 1978 đến năm 1992, Nhà nước tập trungvào việc phân định rõ vai trò Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và quyền
tự chủ sản xuất kinh doanh của DNNN thông qua việc giao quyền tự chủkinh doanh và công ty hoá DNNN
Năm 1994, Chính phủ đã lựa chọn 1000 doanh nghiệp trong nhữngngành chủ chốt để thành lập nhóm doanh nghiệp lớn, duy trì sở hữu nhànước; 14000 DNNN cỡ lớn và vừa còn lại được cơ cấu lại thông qua đadạng hóa sở hữu, sáp nhập và giải thể; khoảng 90000 DNNN cỡ nhỏchuyển sang khu vực ngoài quốc doanh thông qua việc giao, bán doanhnghiệp Song song với việc giao quyền tự chủ trong quản lý sản xuất kinhdoanh cho doanh nghiệp, Chính phủ Trung Quốc thực hiện chính sách giảmdần đi đến chấm dứt việc bao cấp tài chính và ngân sách cho doanh nghiệp.Đồng thời với việc cơ cấu lại DNNN, tổ chức của Chính phủ từ Trungương đến địa phương cũng tái cơ cấu lại để giảm sự can thiệp trực tiếp củachính phủ vào nền kinh tế và củng cố khả năng quản lý kinh tế vĩ mô
Công cuộc cải cách DNNN ở Trung Quốc đã mang lại những kết quảnhất định, song nó đang gặp phải một thách thức lớn vì DNNN của TrungQuốc chịu gánh nặng xã hội rất lớn Vì các doanh nghiệp này liên quan đếnkhoảng 40% việc làm và 3/4 số hộ gia đình ở thành thị, 57% quỹ hưu trícũng như số lượng đáng kể các cơ sở y tế và trường học Vì vậy tiến trìnhcải cách DNNN ở Trung Quốc phụ thuộc khá lớn vào cải cách phúc lợi xãhội
4 Bài học kinh nghiệm đối với quá trình chuyển đổi sở hữu doanh nghiêp nhà nước ỏ Việt Nam
Trong quá trình chuyển đổi phải quán triệt sâu sắc quan điểm củaĐảng vai trò chủ đạo của KTNN DNNN là lực lượng nòng cốt của KTNN,giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, là công cụ vật chất quan trọng để Nhànước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế DNNN phải không ngừngđược kiện toàn, phát triển, nâng cao hiệu quả, DNNN gắn liền với việc giữvững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển và ổn định kinh tế, xãhội của đất nước
Trang 32Kiên quyết điều chỉnh cơ cấu DNNN theo hướng: tập trung vào nhữngngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng; DNNN phải được tổ chứcmạnh và vươn lên cạnh tranh chiếm thị phần lớn đối với các sản phẩm vàdịch vụ chủ yếu, làm tăng sức mạnh chi phối của DNNN trên tổng thể;không nhất thiết DNNN phải chiếm tỷ trọng lớn và phải tổ chức sản xuấtkinh doanh ở tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế Đại bộ phậnDNNN phải có quy mô vừa và lớn, có đủ vốn hoạt động, đội ngũ lao động
có tay nghề cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc
tế Củng cố và phát triển có hiệu quả những DNNN có quy mô nhỏ kinhdoanh những sản phẩm, dịch vụ thiết yếu cho sản xuất và đời sống củanhân dân, nhất là những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Nângcao hiệu quả DNNN hoạt động công ích đáp ứng sản phẩm, dịch vụ côngích thiết yếu cho xã hội và nhu cầu quốc phòng, an ninh
Phải chuyển các DNNN hoạt động kinh doanh sang thực sự kinhdoanh theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cạnh tranh vàhợp tác với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác trên cơ sởpháp luật chung Nhà nước thực hiện bảo hộ cần thiết và có điều kiện đốivới những ngành, lĩnh vực, sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, phù hợpvới lộ trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Độc quyền nhà nước trongnhững lĩnh vực cần thiết, nhưng không biến độc quyền nhà nước thành độcquyền doanh nghiệp Kiên quyết xoá bỏ bao cấp, đồng thời có chính sáchđầu tư đứng đắn và hỗ trợ phù hợp đối với những ngành, lĩnh vực, sảnphẩm cần ưu tiên phát triển Phân biệt rõ chức năng của cơ quan thực hiệnquyền chủ sở hữu của Nhà nước với quyền sử dụng vốn và chức năng quản
lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giao quyền quyết định nhiều hơn
và đòi hỏi trách nhiệm cao hơn đối với đại diện trực tiếp chủ sở hữu củadoanh nghiệp
Việc chuyển đổi sở hữu DNNN phải được tiến hành đồng bộ, khẩntrương, vững chắc, bảo đảm ổn định và phát triển nền kinh tế Cần tiếnhành thường xuyên, kiên trì, có chương trình, kế hoạch cụ thể, có trọngtâm, trọng điểm, vừa làm vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm để có bước đi phù
Trang 33hợp Việc chuyển đổi này phải gắn liền với đổi mới khung pháp lý, chức năngquản lý nhà nước, cải cách hành chính và có tổ chức chỉ đạo tương xứng Phải
có đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi, đáp ứng được yêu cầu
Chuyển đổi sở hữu DNNN là vấn đề hệ trọng, có tính nhạy cảm vềchính trị, có liên quan đến sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đấtnước Do đó, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ở tất cả các cấp, cácngành và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng ở các DNNN, bảođảm quán triệt và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và pháp luậtcủa Nhà nước
Trang 34CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
KẾ HOẠCH CHUYỂN ĐỔI SỞ HỮU DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2001 – 2005
I Mục tiêu chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001 - 2005
1 Chính sách thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Trong giai đoạn đổi mới, các chính sách thực hiện chuyển đổi sở hữulần lượt được ban hành, thay thế và bổ sung cho nhau nhằm hoàn thiện hệthống văn bản pháp luật có liên quan Cụ thể là:
- Quyết định số 202/QĐ-HĐBT của Chính phủ ngày 8 tháng 6 năm
1992 về thí điểm CPH một số DNNN Sau một thời gian thực hiện thí điểmCPH, Nghị định số 28/NĐ-CP tháng 5 năm 1996 được ban hành về việcchuyển một số công ty nhà nước thành công ty cổ phần Năm 1998, vớiNghị quyết số 08/NQ-CP, Chính phủ chính thức quyết định thực hiện thíđiểm ở phạm vi rộng hơn các hình thức giao, bán DNNN có quy mô nhỏ,không có ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển kinh tế - xã hội, khôngthuộc diện Nhà nước phải quản lý Sang năm tiếp theo, Nghị định số103/1999/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về giao, bánDNNN cũng được ban hành Mục tiêu của nghị định là quy định trình tựthủ tục bán, giao doanh nghiệp, xây dựng cơ chế chính sách nhằm khuyếnkhích tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, tận dụng nguồn tài sản đã có sẵn ở cácdoanh nghiệp để tiếp tục duy trì và phát triển sản xuất Nghị định này cũngxác định đối tượng thực hiện giao, bán là những DNNN có quy mô nhỏ(vốn dưới 5 tỷ đồng), không có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triểnkinh tế của đất nước và Nhà nước không nhất thiết phải quản lý chúng VớiNghị định này, Chính phủ chủ trương ưu tiên giao, bán doanh nghiệp chotập thể người lao động trong doanh nghiệp
- Một thời gian sau khi thực hiện Nghị định số 103/1999/NĐ-CP ngày
10 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ thì Nghị định số 49/2002/NĐ-CP ngày
Trang 3524 tháng 4 năm 2002 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều củanghị định 103 về giao và bán doanh nghiệp được ban hành Tháng 6 năm
2002, nghị định số 64/2002/NĐ-CP của Chính phủ đã cụ thể hoá thêmnhững thủ tục, quy định rõ hơn một số nội dung của quá trình CPH DNNN.Trong nội dung của nghị định, một chủ trương quan trọng liên quan tới việcgiao và bán DNNN được tiếp tục khẳng định Đó là những DNNN có vốnNhà nước dưới 5 tỷ đồng không thuộc diện Nhà nước nắm giữ 100% vốnđiều lệ mà không cổ phần hóa được thì sẽ cho bán và giao Như vậy, việctiến hành bán và giao doanh nghiệp sẽ được tiến hành phức tạp hơn, trướctiên phải tổ chức CPH và chỉ rõ không thể CPH được mới có thể thực hiệnchuyển đổi sở hữu bằng giao và bán DNNN
- Để đẩy mạnh hơn nữa công tác đổi mới DNNN đặc biệt là chuyểnđổi sở hữu, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung ươngĐảng khoá IX đã ban hành năm 2004, khẳng định: Rà soát, thu hẹp hơnnữa diện doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn hoặc có cổ phần chiphối, kiên quyết đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi sở hữu DNNN Trên cơ sởnày, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24tháng 8 năm 2004 về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại công ty Nhànước và công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty Nhànước, thay thế Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg Tiếp đó, Chính phủ đã banhành Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 vềchuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thay thế nghị định số64/2002/NĐ-CP nhằm khắc phục một số vướng mắc mới nảy sinh Nghịđịnh số 49/2002/NĐ-CP sau một thời gian đi vào thực tiễn xuất hiện nhiềuđiểm không phù hợp nên Thủ tướng Chính phủ đã có Nghị định số80/2005/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2005 về giao, bán DNNN thay thếNghị định số 49
Trong quá trình thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN, rất nhiều vănbản quy phạm pháp luật đã được ban hành nhằm hướng dẫn quá trìnhchuyển đổi đi theo đúng định hướng Nền kinh tế luôn vận động biến đổikhông ngừng và các DNNN cũng vậy, luôn vận động sao cho hoạt động
Trang 36sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả nhất Do đó không có một văn bản phápluật nào là chuẩn tắc cho mọi thời kỳ hay cơ chế chính sách về chuyển đổi
sở hữu luôn phải được hoàn thiện để thích nghi với thực tiễn cuộc sống
2 Mục tiêu chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2001– 2005
Hàng năm, các Bộ, ngành, địa phương tiến hành phân loại, sắp xếp lạicác DNNN thuộc diện phải tiến hành chuyển đổi sở hữu Từ đó các Bộ,ngành, địa phương xây dựng thành các đề án về sắp xếp, đổi mới DNNN đểtrình lên Chính phủ đề nghị xem xét và xét duyệt Các cơ quan thực hiệnchức năng xét duyệt các đề án chuyển đổi sở hữu bao gồm Bộ Kế hoạch &Đầu tư, Bộ Tài chính và Bộ Lao động thương binh Xã hội Hàng năm, căn
cứ theo yêu cầu và tính cần thiết phải chuyển đổi sở hữu DNNN, các Bộ,ngành, địa phương sẽ trình lên ba cơ quan kể trên xin xét duyệt Ba Bộcùng nhau xem xét và duyệt những đề án khả thi, có phương án sắp xếp laođộng tối ưu và phù hợp với yêu cầu của mục tiêu chuyển đổi sở hữu Sốlượng các đề án được thông qua chính là con số chỉ tiêu kế hoạch của nămtrong việc thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu
Bên cạnh đó, để xác định mục tiêu chuyển đổi sở hữu DNNN, các Bộ,ngành, địa phương cũng phải dựa vào những căn cứ sau:
- Tính chất định tính của khu vực DNNN: Đảng và Nhà nước ta đãkhẳng định trong nền kinh tế, KTNN phải thực hiện tốt vai trò chủ đạo MàDNNN là một bộ phận quan trọng cấu thành nên KTNN do đó, DNNNcũng phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Nhưng DNNN không cầngiữ vai trò chủ đạo ở tất cả các ngành, địa phương mà chỉ chủ đạo ở nhữngngành nào quan trọng, cần thiết Ngay cả trong những ngành mà DNNNđóng vai trò chủ đạo thì cũng không nhất thiết chủ đạo bằng tỷ trọng áp đảo
mà chủ yếu ở hiệu quả tổ chức, hoạt động liên kết…
- Tính chất định lượng của DNNN: bước sang giai đoạn mới sau năm
2000, nhiều yếu tố đã thay đổi như môi trường kinh doanh ngày càng bìnhđẳng, Nhà nước không trợ cấp, không ưu đãi cho DNNN như trước, hộinhập quốc tế ngày càng sâu đòi hỏi phải xoá bỏ từng bước các rào cản cạnhtranh nội địa và quốc tế… Do đó về định lượng, DNNN chắc chắn sẽ chỉtăng về số tuyệt đối còn về số tương đối, sang thời kỳ sau sẽ giữ nguyên và
Trang 37có xu hướng giảm dần Xu hướng giảm tỷ trọng của DNNN là hợp lý vàđiều này không ảnh hưởng đến vai trò, vị trí của KTNN và vai trò quản lý,điều hành nền kinh tế của Nhà nước nói chung.
- Về cơ cấu, DNNN sẽ được cơ cấu theo hướng chỉ còn lại chủ yếunhững doanh nghiệp có quy mô lớn, vừa với tỷ lệ sản xuất GDP trong côngnghiệp là chính, còn các DNNN trong nông nghiệp và thương mại sẽ chỉcòn lại một số chủ yếu hoạt động vì mục đích công ích
Từ đó, trong giai đoạn 2001 – 2005 kế hoạch chuyển đổi sở hữuDNNN được thể hiện ở bảng 2
Bảng 2: Kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
Trang 38Qua bảng kế hoạch trên ta thấy, số lượng các DNNN cần phải thựchiện chuyển đổi có sự khác biệt giữa ngành và địa phương Cụ thể tại cácđịa phương số lượng các doanh nghiệp cần phải chuyển đổi sở hữu nhiềuhơn so với các ngành Mà những doanh nghiệp do địa phương quản lýthường có quy mô vốn nhỏ nên trong giai đoạn 2001 – 2005 kế hoạch chỉtiến hành chuyển đổi các doanh nghiệp nhỏ là chủ yếu.
II Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
1 Đánh giá chung
Giai đoạn 2001 – 2005, giai đoạn cụ thể hoá các nội dung trong Nghịquyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX bằng những hànhđộng thiết thực, quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN ở Việt Nam đã đạtđược những kết quả tích cực, tăng vượt bậc so với 5 năm trước 1996 –2000
Sơ đồ 1: 10 năm thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN ở Việt Nam thời kỳ 1995 –
2004
Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội
Số lượng DNNN thực hiện chuyển đổi sở hữu bắt đầu tăng mạnh từnăm 2001, nguyên nhân là do: Có căn cứ pháp lý (Nghị quyết, Thông tưhướng dẫn) và sức ép chủ quan (dưới hình thức chủ trương của Đảng vàNhà nước); Nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp; Có sự chuẩn bị thích
31 43 46
346
255 250 274 215
607 796
0 200 400 600 800 1000
Trang 39hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến chuyển đổi sở hữu; Cácdoanh nghiệp sau chuyển đổi tiếp tục được hưởng ưu đãi từ phía Nhà nước;Các doanh nghiệp này có lợi thế nhất định đối với các nhà đầu tư (lợi thế
về vị trí địa lý và mặt bằng sản xuất, về khả năng khai thác tài nguyên vàcác nguồn lợi trên địa bàn)
Trong quá trình triển khai thực hiện, các Bộ, ngành, địa phương gặpkhông ít khó khăn, vướng mắc, kết quả là hầu hết các chỉ tiêu của kế hoạchchuyển đổi sở hữu đều không hoàn thành Số lượng DNNN không thựchiện chuyển đổi sở hữu trong năm nay thì dồn sang cho cho năm sau, làmcho nhiệm vụ chuyển đổi sở hữu năm sau nặng nề hơn năm trước
Bảng 3: Kết quả thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN ở Việt Nam
Nguồn: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương
Kết quả trên được thể hiện qua sơ đồ
Trang 40Sơ đồ 2: Kết quả thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước
607
215 274
Nguồn: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương
Qua bảng và sơ đồ ta thấy kế hoạch thực hiện chuyển đổi sở hữuDNNN giai đoạn 2001 – 2005 đã không hoàn thành mục tiêu đặt ra Tỷ lệhoàn thành kế hoạch thấp nhất là 59% năm 2003 và cao nhất là 96% năm
2004 Đối với hai năm 2004 và 2005, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch ở mứctương đối cao trên 90% do trong có nhiều đổi mới về cơ chế và chính sáchliên quan đến chuyển đổi sở hữu DNNN
Tình hình cả nước là vậy song nếu đi sâu phân tích các ngành và địaphương ta thấy: cùng một điều kiện cơ chế chính sách như nhau, cùng đượckhuyến khích và hỗ trợ nhưng có ngành lại hoàn thành tốt kế hoạch đặt ra(điển hình là ngành Công nghiệp) và cũng có ngành không hoàn thành mụctiêu và tỷ lệ hoàn thành thấp (điển hình là ngành Giao thông vận tải)