Tuy nhiên, các quy định của pháp luật sởhữu trí tuệ mới chỉ dừng lại điều chỉnh đối với các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các hành vi hạn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÙI THỊ HẰNG NGA
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
PHÁP LUẬT CẠNH TRANH
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số chuyên ngành: 62.38.01.07
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế - Luật
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Anh Sơn
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện trung tâm ĐHQG TP.HCM
- Thư viện Khoa học Tổng hợp TP.HCM
- Thư viện trường Đại học Kinh tế - Luật
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Với các lợi thế cạnh tranh có được từ độc quyền sở hữu trí tuệ, các chủ thểnắm giữ quyền sở hữu trí tuệ có thể ngăn cản việc tiếp cận khoa học công nghệthông qua các ràng buộc mang tính hạn chế cạnh tranh nhằm ngăn cản sự gianhập thị trường của các doanh nghiệp khác, thậm chí là từ chối chuyển giao dẫnđến ngăn cản sự tiếp cận khoa học công nghệ, phát minh sáng tạo của người tiêudùng Tất cả những điều đó, nếu xảy ra, không chỉ ảnh hưởng đến sự cạnh tranhlành mạnh giữa các doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế vàphúc lợi cho cộng đồng Điều đó đòi hỏi hệ thống pháp luật các quốc gia ngoàicác quy định đảm bảo quyền độc quyền cho chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ,cũng như cơ chế đảm bảo cho họ thực hiện các quyền năng của mình một cáchthuận lợi, hiệu quả thì cũng cần có các quy định ngăn cản hành
vi lạm dụng quyền năng đó của họ gây ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi hợppháp của các chủ thể khác, cũng như những yêu cầu chính đáng cho sự pháttriển chung của cộng đồng
Tại Việt Nam, tầm quan trọng của việc điều chỉnh pháp luật cạnh tranhđối với thực thi quyền sở hữu trí tuệ bước đầu đã được đề cập trong các quyđịnh của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Tuy nhiên, các quy định của pháp luật sởhữu trí tuệ mới chỉ dừng lại điều chỉnh đối với các hành vi cạnh tranh khônglành mạnh liên quan đến thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các hành vi hạn chếcạnh tranh được dẫn chiếu sang các quy định của pháp luật cạnh tranh Trongkhi đó, Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Cạnh tranh 2018 hướng đến điều chỉnhcác hành vi hạn chế cạnh tranh nói chung chứ không có các quy định giànhriêng cho các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
Do đó, các đặc trưng của quyền sở hữu hữu trí tuệ không được tính đến khiếncho rất nhiều các hành vi trên thực tế được xem là quyền hợp pháp của chủ sởhữu theo quy định của luật sở hữu trí tuệ lại trở thành hành vi vi phạm phápluật cạnh tranh
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách tổng thể mối quan hệ giữa quyền sởhữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh nhằm xây dựng cácnguyên tắc và phạm vi điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt độngthực thi quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ cân bằng lợi ích giữa quyềnđộc quyền của chủ sở hữu và môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng làviệc làm cần thiết nhằm xây dựng cơ chế pháp lý thúc đẩy hoạt động đầu tư,nghiên cứu sáng tạo gắn liền với phát triển kinh tế quốc gia, đảm bảo lợi ích
cộng đồng, phúc lợi xã hội Do vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài Quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh làm luận án tiến sĩ là việc
làm hết sức cần thiết nhằm đảm bảo sự thống nhất của các quy định phápluật, bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tại Việt Nam
1
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ giữaquyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh Từ đó chỉ ra sự cần thiết phảiđiều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật cạnh tranh
- Dựa trên quy định của pháp luật các quốc gia phát triển, có kinhnghiệm, áp dụng hiệu quả pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đểxác định được các nguyên tắc, giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đốivới quyền sở hữu trí tuệ Cụ thể là hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ
- Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh đốivới hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong mối tương quan với phápluật cạnh tranh, chỉ ra các nội dung chưa được pháp luật giải quyết hoặc cònhạn chế nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong nội dung luận án, tác giả chỉ phân tích, đánh giá điều chỉnh củapháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ cụ thể làđối với sáng chế trong quá trình thực hiện chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thông qua nội dung trình bày, luận án đã tổng quan được tình hình nghiêncứu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnhtranh Nêu ra được các lý thuyết nghiên cứu làm cơ sở cho việc đánh giá tác độngcủa quyền sở hữu trí tuệ đối với môi trường cạnh tranh từ đó xác định giới hạnđiều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trítuệ nhằm đảm bảo hài hòa, cân bằng lợi ích của chủ sở hữu tài sản sở hữu trí tuệvới mối trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, công bằng
Đồng thời, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật có liên quan,luận án đã đánh giá cụ thể về thực trạng điều chỉnh của pháp luật cạnh tranhđối với quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam từ đó đưa ra các giải pháp có tínhkhả thi trong việc điều chỉnh pháp luật cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữutrí tuệ tại Việt Nam trong thời gian sắp tới
5 Những điểm mới khoa học của luận án
Thông qua nội dung được trình bày, luận án đã làm sáng tỏ các nội dungsau:
Phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đánh giá tác động tiêu cực của việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ đối với môi trường cạnh tranh
Xác định nhu cầu và giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranhđối với hoạt động thực hiện quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo cân bằng lợiích của các bên liên quan
Phân tích mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trítuệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm chỉ ra các hạn chế còn tồn tại trongviệc điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền
2
Trang 5sở hữu trí tuệ, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện cho quá trình xây dựng
và áp dụng các quy định pháp luật có liên quan
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh
a Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh là vấn
đề phức tạp và được xem xét từ nhiều năm nay tại các diễn đàn pháp lý vàkinh tế Trên thế giới, có khá nhiều các công trình nghiên cứu thể hiện dướicác ấn phẩm là sách chuyên khảo, sách hướng dẫn, các bài báo khoa học đềcập đến vấn đề nêu trên
(1) Đầu tiên phải kể đến ấn phẩm của OECD (Organisation for
Economic Co-operation and Development), Competition Policy and Intellectual Property Rights, công bố năm 1997.
(2) Research Handbook On Intellectual Property And Competition Law, Edited by Jodef Drexl Published by Edward Elgar 2008
(3) Dr Ioannis Lianos, New Challenges In The Intersection Of Intellectual Property Rights With Competttion Law – A View From Europe And The United States, Centre for Law, Economics and Society CLES
Faculty of Laws- UCL, CLES Working Paper Series 4/2013
(4) The interface between intellectual rights anh competition policy
Edited by Steven d Anderman (2007), Cambridge University Press
(5) R Ian McEwin, Intellectual property, Competition Law and Economics in Asias, Published by Hart Publishing, 2011
(6) Hillary Greene, International issuse relating to a pro-innovation patent systerm and Competition Law tổ chức tại Đại Học Nagoya – Nhật Bản
tháng 9/2013
(7) Atul Patel, Aurobinda Panda, Deo, Siddhartha Khettry And Sujith Philip Mathew, Intellectual property law and competition law, Journal of
international commercial law and technology vol 6, issue 2 (2011)
b Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam thì đã có một số tác giả quan tâm và bắt đầu nghiên cứu
về vấn đề này dù không nhiều Do đó, đây vẫn là vấn đề nghiên cứu khá mới
mẻ, còn nhiều khó khăn để nghiên cứu, khai thác nhằm làm rõ các khía cạnhliên quan
(1) Đầu tiên phải kể đến sách Pháp luật cạnh tranh và chuyển giao
công nghệ và hiệp định Trips, kinh nghiệm cho Việt Nam của tác giả Nguyễn
Thanh Tú, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2010
3
Trang 6(2) Luận văn thạc sĩ luật học: So sánh pháp luật về điều khoản hạn
chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến sở hữu trí tuệ của Liên Minh Châu Âu và Việt Nam của tác giả Cù Hồng Anh thực hiện năm 2013.
(3) Th.S Nguyễn Như Quỳnh (2009), Xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học
(4) Nguyễn Thanh Tâm (2006), Thực trạng Pháp Luật Việt Nam về
chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền liên quan tới quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt động thương mại, Tạp chí Luật học.
(5) Các tài liệu liên quan đến quá trình sửa đổi Luật Cạnh tranh 2018
(bao gồm Dự thảo, Tờ trình Chính phủ, Báo cáo thẩm tra dự án Luật Cạnhtranh, Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Cạnh tranh)
1.1.2 Đánh giá chung về các công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ
Mặc dù, pháp luật của các quốc gia có những ưu tiên và cách tiếp cậnkhác nhau Tuy nhiên, thông qua các công trình nghiên cứu đã được công bốthì các nhà nghiên cứu đã thừa nhận một số vấn đề sau:
- Một là, Xuất phát từ mục tiêu dài hạn thì giữa luật cạnh tranh và luật
sở hữu trí tuệ có mối quan hệ, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau trong quátrình thực thi quyền sở hữu trí tuệ
- Hai là, việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ nếu vượt qua những giới hạn
được đặt ra bởi pháp luật thì cần được loại bỏ ra khỏi môi trường kinh doanh
- Ba là, hoạt động thực hiện quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu có
khả năng tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh dưới hai khía cạnh: (1)Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và (2) lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độcquyền có được từ quyền sở hữu trí tuệ
- Bốn là, hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ có thể được thể hiện
dưới dạng là hành vi đơn phương của chủ thể nhưng cũng có thể được thểhiện dưới dạng các điều khoản trong hợp đồng mà ở đó với thế mạnh độcquyền của mình chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã tước bỏ khả năng thỏathuận của chủ thể còn lại
- Năm là, các hành vi hạn chế cạnh tranh khi thực hiện quyền sở hữu
trí tuệ thường gắn liền với việc chuyển giao sáng chế
- Sáu là, tại Việt Nam, mặc dù không có nhiều công trình nghiên cứu có
liên quan nhưng bước đầu, các công trình nghiên cứu đó đã bước đầu chỉ rađược sự bất cập của việc áp dụng Luật Cạnh tranh để điều chỉnh việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế
1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến các hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ cụ thể theo quy định của pháp luật cạnh tranh
Liên quan đến điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với việc thực thiquyền sở hữu trí tuệ, các nhà nghiên cứu pháp luật của các quốc gia trên thế
4
Trang 7giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu tương ứng với việc thực hiện các quyền cụ thể của chủ sở hữu Có thể chia thành hai nhóm:
- Các công trình liên quan đến các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ
- Các công trình liên quan đến hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ Trong khi đó, mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ và thực thi quyền
sở hữu trí tuệ với pháp luật cạnh tranh là một vấn đề còn khá mới mẻ tại ViệtNam Vậy nên, hiện nay không có công trình nghiên cứu nào tại Việt Namnghiên cứu về các khía cạnh điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với cáchành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ cụ thể của chủ sở hữu
1.1.4 Đánh giá về các công trình nghiên cứu liên quan đến điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ
Khi nghiên cứu về quá trình thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo quyđịnh của pháp luật cạnh tranh, các công trình nghiên cứu đều thừa nhận rằng:
- Liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật trao cho chủ sở hữu quyềnđộc quyền nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc pháp luật cho phép họ đượclạm dụng thế mạnh đó để chèn ép đối tác, gây hạn chế cạnh tranh
- Điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh chỉ xuất hiện khi chủ sở hữu có dấuhiệu lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ thông qua các hành vi lạm dụng vị trí thốnglĩnh, vị trí độc quyền hoặc thông qua các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh
-Quyền sở hữu trí tuệ không mặc nhiên mang lại sức mạnh thị trườngcho chủ sở hữu Do đó, để xem xét xem hành vi của chủ sở hữu trí tuệ có viphạm pháp luật cạnh tranh hay không thì việc đầu tiên, các cơ quan có liênquan phải xác định xem chủ thể đó có sức mạnh thị trường hay không
- Trong mối tương quan với độc quyền sở hữu trí tuệ thì các hành vihạn chế cạnh tranh khi thực hiện quyền sở hữu trí tuệ cần phải được đánh giátheo nguyên tắc lập luận hợp lý thay vì nguyên tắc vi phạm mặc nhiên
1.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết về đòn bẩy
Với các đặc trưng của mình, quyền sở hữu trí tuệ được xem như làmột đòn bẩy hiệu quả để chủ sở hữu đạt được sức mạnh thị trường Do đó,dưới góc độ của pháp luật cạnh tranh lý thuyết về đòn bẩy được sử dụng để lýgiải cho các trường hợp doanh nghiệp lạm dụng sức mạnh thị trường (độcquyền) có được từ quyền sở hữu trí tuệ để gây hạn chế cạnh tranh thông quahành vi bán kèm, chuyển giao cả gói
1.2.2 Học thuyết điều kiện thiết yếu (The essential facility doctrine) Học
thuyết điều kiện (cơ sở) thiết yếu được phát triển dựa trên Lý thuyếtđòn bẩy nhưng với phân tích vào đối tượng cụ thể Theo đó, việc một doanhnghiệp có sức mạnh thị trường khi sở hữu một điều kiện thiết yếu như cơ sở vậtchất hay các quyền sở hữu trí tuệ được xem là tiền đề để gia nhập thị trường sẽ cókhuynh hướng ngăn cản các đối thủ cạnh tranh gia nhập thị trường bằng
5
Trang 8cách không chuyển giao hoặc không cho phép tiếp cận Điều đó sẽ tạo ra ràocản gia nhập thị trường cho các đối thủ tiềm năng, gây hạn chế cạnh tranh.Học thuyết điều kiện thiết yếu được xây dựng để loại bỏ nguy cơ này, theo
đó, trong một số trường hợp, pháp luật sẽ buộc các doanh nghiệp sở hữu điềukiện được xem là cơ bản, thiết yếu phải cung cấp quyền tiếp cận cho các chủthể có nhu cầu với một mức giá hợp lý nhằm loại bỏ sự độc quyền có thể gâyhại đến cạnh tranh của chủ sở hữu
1.2.3 Học thuyết lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ (A misuse doctrine)
Học thuyết lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ được đề cập đến như mộtcách thức bảo vệ các bên bị cáo buộc có hành vi vi phạm độc quyền sáng chếkhi họ chứng minh được chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ đã cố gắng mở rộngtính độc quyền của quyền sở hữu trí tuệ của mình vượt quá giới hạn cho phépcủa pháp luật gây hạn chế cạnh tranh Theo đó, khi một chủ thể bị khởi kiện(bị đơn) có hành vi vi phạm độc quyền đối với bằng sáng chế từ chủ sở hữusáng chế đó (nguyên đơn) và không muốn phải gánh chịu các chế tài (chấmdứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn) thì bị đơn có thểchứng minh rằng nguyên đơn đã có hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ.Điều đó chỉ được thừa nhận nếu bị đơn chứng minh được rằng nguyên đơn đã
(1) thực hiện quyền sở hữu trí tuệ vượt quá phạm vi cho phép của pháp luật
sở hữu trí tuệ (2) tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh.
1.2.4 Nguyên tắc vi phạm mặc nhiên (per ser) và nguyên tắc lập luận hợp lý (rule of reason)
Vi phạm mặc nhiên là nguyên tắc coi một số hành vi là mặc nhiên viphạm pháp luật cạnh tranh Nguyên tắc này được áp dụng để quy định cấmtuyệt đối đối với những hành vi, thỏa thuận điển hình có bản chất hạn chếcạnh tranh nghiêm trọng
Trái ngược lại với nguyên tắc vi phạm mặc nhiên là nguyên tắc lập luậnhợp lý (rule of reason) Đây là nguyên tắc đánh giá các khía cạnh kinh tế cũngnhư những tác động tích cực của các hành vi hạn chế cạnh tranh bên cạnh tácđộng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh để cân nhắc thừa nhận hay không đối với các hành vi, thỏa thuận đó
1.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án hướng đến nghiên cứu những tác động của quyền sở hữu trí tuệđối với môi trường cạnh tranh từ đó đặt ra nhu cầu cũng như giới hạn điều chỉnhcủa pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ của chủthể trên thực tế nhằm cân bằng hợp lý giữa quyền năng của chủ sở hữu quyền sởhữu trí tuệ với việc đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, bìnhđẳng, minh bạch hay nói cách khác luận án hướng đến trả lời cho câu hỏi đặttrong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh quyền sở hữu trí tuệ
được thực hiện như thế nào?
6
Trang 9Để làm sáng tỏ vấn đề nêu trên, luận án hướng đến giải quyết các câuhỏi nghiên cứu sau đây:
Câu hỏi nghiên cứu 1: tại sao hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ
cần phải được điều chỉnh bằng cả pháp luật cạnh tranh bên cạnh các quy địnhcủa luật sở hữu trí tuệ
Giả thuyết nghiên cứu:
Với các đặc trưng của mình, hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ cónguy cơ gây ra các tác động tiêu cực đến cạnh tranh đặc biệt là trong trườnghợp chủ sở hữu lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ để mở rộng lợi thế cạnh tranh,độc quyền của mình trên thị trường Đó chính là lý do quan trọng khiến choviệc thực thi quyền sở hữu trí tuệ cần được điều chỉnh bằng cả pháp luật cạnhtranh bên cạnh luật sở hữu trí tuệ
Câu hỏi nghiên cứu số 2: giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh
đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế cần được xác địnhnhư thế nào
Giả thuyết nghiên cứu:
Nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu quyền sở hữu trí
tuệ, trong mối quan hệ với pháp luật sở hữu trí tuệ,“các quy định của pháp luật cạnh tranh chính là kết quả của việc đặt ra những giới hạn cho việc tự
do thực hiện những quyền liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đã được cho phép và bảo vệ bởi luật sở hữu trí tuệ”.
Câu hỏi nghiên cứu số 3: pháp luật Việt Nam cần được xây dựng như
thế nào nhằm đảm bảo cân bằng quyền lợi của chủ sở hữu quyền sở hữu trítuệ trong mối tương quan với pháp luật cạnh tranh
Giả thuyết nghiên cứu:
Để đảm bảo quyền hợp pháp của chủ sở hữu khi thực hiện quyền củachủ thể đối với tài sản thuộc sở hữu của mình thì điều chỉnh của pháp luậtcạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ phải đặt trong mốitương quan song song với pháp luật sở hữu trí tuệ Do đó, hệ thống pháp cầnphải có các quy định riêng để điều chỉnh đối với các hành vi vi phạm phápluật cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được trình bày dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lenin
về nhà nước và pháp luật với phương pháp nghiên cứu nền tảng là phương phápduy vật biện chứng Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng các phương pháp cụ thểnhư: phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phương pháp so sánh luật học,phương pháp nghiên cứu tình huống và phương pháp phân tích luật viết
Trang 10Chương 2: Quyền sở hữu trí tuệ và tác động của quyền sở hữu trí tuệđối với môi trường cạnh tranh
Chương 3: Điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi lạmdụng quyền sở hữu trí tuệ
Chương 4: Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến thực thi quyền
sở hữu trí tuệ trong mối quan hệ với pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam
CHƯƠNG 2: QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA QUYỀN
SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH
2.1 Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của tài sản sở hữu trí tuệ
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung, cả WIPO lẫn
IPOS đều nhấn mạnh tài sản trí tuệ là các sản phẩm do hoạt động sáng tạo trí
óc tạo ra và chủ thể được hưởng các độc quyền đối với các sản phẩm đó.
Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy tài sản trí tuệ có những đặc trưngriêng biệt so với các loại tài sản thông thường
Một là, tài sản trí tuệ là loại tài sản vô hình
Hai là, tài sản trí tuệ không thể nắm giữ về mặt cơ học nên rất khó quản
lý
Ba là, tài sản trí tuệ là loại tài sản rất khó thay thế
Bốn là, tài sản sở hữu trí tuệ là nền tảng cho việc phát triển bền vững
2.1.2 Khái niệm, đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ
Quyền sở hữu trí tuệ hiểu một cách đơn giản là quyền sở hữu đối vớitài sản trí tuệ hay nói cách khác đó là các quyền được trao cho chủ thể với cácsáng tạo trí óc của họ nó bao gồm hai phần chính là quyền tác giả, các quyềnliên quan đến quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp
Nhìn chung, do xuất phát từ đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là các tàisản trí tuệ có những đặc trưng riêng nên quyền sở hữu trí tuệ cũng có những điểmkhác biệt nhất định so với quyền sở hữu các tài sản thông thường:
Thứ nhất, độc quyền của quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn bởi thời gian
2.1.3 Ảnh hưởng của quyền sở hữu trí tuệ đối với môi trường cạnh tranh
Xuất phát từ bản chất đặc trưng cũng như lợi thế mà quyền sở hữu trí tuệmang lại cho chủ sở hữu cho nên trong quá trình thực hiện quyền năng
8
Trang 11được pháp luật thừa nhận, trong mối tương quan với cấu trúc thị trường, tínhcạnh tranh của nền kinh tế thì hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ ngoàitác động tích cực còn có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh.Tác động tiêu cực của quyền sở hữu trí tuệ có thể xuất phát từ chính(1) các quy định của pháp luật liên quan đến việc thừa nhận và bảo vệ sự độcquyền của nó (2) hoặc có thể gây ra bởi hành vi lạm dụng của chủ sở hữu.
2.2 Lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ và hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
Nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh khi thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên thực tế
là có thực bởi chính những đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, hành vicủa chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chỉ bị xem là vi phạm pháp luật cạnh tranhchỉ khi đó là kết quả của việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, nghĩa là chủ sở hữu
đã cố gắng mở rộng tính độc quyền của quyền sở hữu trí tuệ vượt quá giới hạncho phép của pháp luật và gây hạn chế cạnh tranh
2.2.1 Xác định hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ
Việc xem xét nhằm chứng minh rằng hành vi của chủ thể là kết quả củalạm dụng quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện dựa trên Học thuyết lạm dụngquyền sở hữu trí tuệ (A misuse doctrine)
Theo đó, một hành vi của một chủ thể bị xem là lạm dụng quyền sở hữutrí tuệ khi:
(i) Thực hiện quyền sở hữu trí tuệ vượt quá phạm vi cho phép của pháp luật sở hữu trí tuệ (chủ thể đã có hành vi lạm quyền)
(ii) Tác động tiêu cực tới cạnh tranh
2.2.2 Tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ
Về nguyên tắc, yếu tố đủ để đánh giá một hành vi cụ thể của chủ sởhữu quyền sở hữu trí tuệ là hành vi lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ chính là tácđộng hạn chế cạnh tranh của hành vi đó Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng hành
vi cụ thể của chủ thể mà tác động hạn chế cạnh tranh của hành vi lạm dụngquyền sở hữu trí tuệ sẽ được thể hiện khác nhau trên thực tế Cụ thể, tác độnghạn chế cạnh tranh có thể được thể hiện thông qua các khía cạnh sau:
- Lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ tạo ra rào cản gia nhập thị trường
- Lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ ngăn cản quyền tự do giao kết hợp đồng
- Lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ dẫn đến hậu quả loại bỏ đối thủ cạnh
tranh
- Lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng
2.3 Nhu cầu điều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật cạnh tranh
2.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật cạnh tranh đối với
hoạt động thực thi quyền sở hữu trí
tuệ 9
Trang 12Mục tiêu chính của sở hữu trí tuệ là khuyến khích đổi mới bằng các biệnpháp bảo vệ quyền lợi cho các nhà phát minh Trong khi đó, mục tiêu của chínhsách cạnh tranh nói chung và pháp luật cạnh tranh nói riêng là tăng cường khảnăng tiếp cận thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệquyền lợi người tiêu dùng bằng cách sửa chữa những thất bại của thị trường Tuyvậy, cả chính sách sở hữu trí tuệ và cạnh tranh đều có chung mục tiêu cuối cùng
là tăng cường tăng trưởng kinh tế và phúc lợi tiêu dùng
Do đó, trong mối tương quan với hoạt động thực thi quyền sở hữu trítuệ của chủ sở hữu, pháp luật cạnh tranh có vai trò quan trọng thể hiện quacác khía cạnh:
(1) Đảm bảo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng, minh bạch (2) Bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ
(3) Nâng cao khả năng tiếp cận công nghệ, xóa bỏ rào cản gia nhập thị trường
(4) Thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong kinh doanh.
(5) Góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
2.3.2 Yêu cầu của việc điều chỉnh hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật cạnh tranh
Xuất phát từ sự tác động của việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối vớimôi trường cạnh tranh thì chúng ta đều thừa nhận rằng: thực thi quyền sở hữutrí tuệ của chủ sở hữu cần phải được đặt trong mối tương quan với pháp luậtcạnh tranh Sự cần thiết đó phát sinh dựa trên các lý do cơ bản sau:
Đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia
Đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể
Tạo sự cân xứng về các lợi ích mà pháp luật bảo vệ
Đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh
Góp phần thực thi các cam kết quốc tế
2.4 Giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt động thực thi quyền sở hữu trí tuệ
Mặc dù mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật sở hữu trí tuệ
và pháp luật cạnh tranh được thể hiện ở các mức độ khác nhau trong hệ thốngpháp luật của các quốc gia khác nhau Tuy nhiên, pháp luật các quốc gia đềuthừa nhận một số nguyên tắc nhất định liên quan đến giới hạn điều chỉnh củapháp luật cạnh tranh đối với quyền sở hữu trí tuệ và việc thực thi chúng Theo
đó, quyền sở hữu trí tuệ không nên xem là yếu tố gây mâu thuẫn, hạn chếcạnh tranh, nếu không, hệ thống pháp luật bảo vệ thành quả của phát minh,sáng tạo sẽ bị khuyết đi một phần
Do đó, giới hạn điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh đối với hoạt độngthực thi quyền sở hữu trí tuệ phải được xác định trong từng vụ việc cụ thể theonguyên tắc lập luận hợp lý thông qua các khía cạnh: (1) đối tượng nào sẽ chịu
10
Trang 13sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh; (2) chủ thể thực hiện là ai; (3) hành vinào của chủ thể bị xem là vi phạm; (4) pháp luật cần kiểm soát điều gì.
CHƯƠNG 3: ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH ĐỐI VỚI HÀNH VI LẠM DỤNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Dựa vào phạm vi nghiên cứu của luận án đã được tác giả xác định thìđiều chỉnh của pháp luật cạnh tranh sẽ được xem xét đối với các hành vi thểhiện ý chí áp đặt của chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ Hay nói cách khác đó
là kết quả của việc lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ như: định giá bất hợp lý, từchối chuyển giao, điều khoản bán kèm, yêu cầu chuyển giao ngược
3.1 Hành vi ấn định giá bán lại độc quyền trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
3.1.1 Khái niệm về ấn định giá
Ấn định giá bán là một thỏa thuận giữa những người tham gia cùng phíatrong một thị trường để mua hoặc bán một sản phẩm, dịch vụ hoặc hàng hóa chỉ ởmột mức giá cố định hoặc duy trì các điều kiện thị trường sao cho giá được duytrì ở một mức nhất định bằng cách kiểm soát nguồn cung và nhu cầu
Ấn định giá bán lại hay còn được gọi là duy trì giá (resale price
maintenance - RPM) được hiểu là hành vi bắt buộc các nhà phân phối, cácnhà bán lẻ phải bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ với một mức giá bắtbuộc hoặc mức giá tối thiểu (hoặc tối đa)
3.1.2 Các hình thức ấn định giá bán lại và tác động của nó đối với môi trường cạnh tranh
Cách thức ấn định giá bán lại hàng hóa- dịch vụ trong thực tế rất đadạng, có thể bao gồm:
- Mức giá cố định (fixing price)
- Mức giá tối thiểu (minimum prices)
- Mức giá tối đa (maximum prices)
3.1.3 Điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi ấn định giá bán trong hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
a Pháp luật Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, hành vi ấn định giá lại được xem xét đánh giá theo nguyêntắc lập luận hợp lý cho dù mức giá ấn định là mức giá tối đa, tối thiểu hay mứcgiá cố định Theo đó, hành vi ấn định giá bán lại của một chủ thể sẽ bị xem là
vi phạm pháp luật khi thỏa mẫn các tiêu chí thể hiện tác động hạn chế cạnh tranh: