1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích sự biến động của giá vàng việt nam trong thời gian qua

97 1,7K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích sự biến động của giá vàng việt nam trong thời gian qua
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 886 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2.1 Chế độ đồng bản vị hai bản vị vàng – bạc Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơnhẳn các kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng đã đáp ứn

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU 3

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG .6

1 GIỚI THIỆU VỀ KIM LOẠI VÀNG 6

1.1 Giới thiệu về kim loại vàng 6

1.2 Ứng dụng của vàng 7

2 VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ 10

2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ 10

2.1.1 Các tính chất để vàng trở thành phương tiện lưu thông tiền tệ .10 2.1.2 các tính chất của vàng để làm một loại tiền tệ 11

2.2 Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ 11

2.2.1 Chế độ đồng bản vị (hai bản vị vàng – bạc) 11

2.2.1.1 Chế độ bản vị song song 12

2.2.1.2 Chế độ bản vị kép 13

2.2.1 Chế độ bản vị vàng 15

2.2.2.1 chế độ bản vị tiền vàng 15

2.2.2.2 chế độ bản vị vàng thỏi 16

2.2.2.3 Chế độ bản vị hối đoái vàng 17

2.2.3 Chế độ lưu thông tiền giấy 19

3 GIÁ VÀNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG GIÁ VÀNG 24

3.1 Mức cung về Vàng 24

3.1.1 xu hướng chung của mức cung 24

3.1.2 Mức khai thác hầm mỏ của các nước có sản lượng lớn 24

3.1.3 Những giao dịch của các nước có dự trữ chủ lực và các cơ quan quốc tế 26

3.2 Mức cầu về vàng 27

3.2.1 Mức cầu của khu vực kim hoàn 28

3.2.2 Mức cầu của các ngành công nghiệp sử dụng vàng 29

3.2.3 Mức cầu dự trữ của các ngân hàng quốc gia 30

3.2.4 Mức cầu về đầu tư và đầu cơ 30

3.2.5 Tình hình đầu tư và đầu cơ vàng ở các nước 31

3.3 Tổng hợp các yếu tố cơ bản của giá vàng 33

3.4 Một số yếu tố tác động đến giá vàng thế giới 34

3.4.1 Mối quan hệ giữa giá vàng và giá dollar Mỹ 34

3.4.2 Mối quan hệ giữa giá vàng và giá dầu thô 35

3.4.3 Mối quan hệ giữa giá vàng và giá cả của các hàng hóa khác 37

3.4.4 Ảnh hưởng do các chính sách của Nhà nước đối với vàng 38

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ VÀNG VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 43

1 Diễn biến giá vàng Việt Nam trong thời gian qua 43

Trang 2

2 Nguyên nhân biến động giá vàng Việt Nam trong thời gian qua 46

2.1 Do ảnh hưởng của giá vàng thế giới 46

2.1.1 Biến động của giá vàng thế giới 46

2.2.2 Nguyên nhân biến động của giá vàng thế giới 49

2.2.2.1 Mất giá và xu hướng tiếp tục mất giá của đồng USD 49

2.2.2.2 Hành động cắt giảm lãi suất của FED 61

2.2.2.3 Giá dầu tăng cao 64

2.2 Do sự sụt giảm của thị trường chứng khoán Việt Nam 68

2.3 Do lạm phát 72

3 Tác động của sự biến động giá vàng đối với Việt Nam 74

3.1 Thị trường ngoại tệ 75

3.2 Thị trường bất động sản 75

3.3 Thị trường chứng khoán 76

3.4 Việc huy động vốn và cho vay của hệ thống ngân hàng 76

3.5 Hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế 77

CHƯƠNG III DỰ BÁO GIÁ VÀNG TRONG THỜI GIAN TỚI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM 80

1 Dự báo giá vàng trong thời gian tới 80

1.1 cơ sở dự báo 80

1.1.1 Tình hình thế giới 80

1.1.1.1 Triển vọng kinh tế Mỹ 80

1.1.1.2 Xu hướng đồng USD 81

1.1.1.3 Quan hệ cung cầu về vàng 82

1.1.1.4 Giá dầu thế giới 82

1.1.2 Tình hình trong nước 84

1.1.2.1 Kế hoạch xây dựng một sàn giao dịch vàng quốc gia 84

1.1.2.2 Thuế xuất nhập khẩu vàng – kho ngoại quan vàng 86

1.1.2.3 Lạm phát 87

1.2 Dự báo giá vàng VN trong trung và dài hạn 88

2 Một số biện pháp phát triển thị trường vàng Việt Nam 90

2.1 Kiềm chế lạm phát 90

2.2 Phát huy hiệu quả của kho ngoại quan vàng 91

2.3 Phát triển kế hoạch xây dựng sàn giao dịch vàng quốc gia 92

2.4 Phát triển thị trường chứng khoán và bất động sản 93

2.5 Quản lý việc kinh doanh bất hợp pháp vàng qua mạng 94

KẾT LUẬN 96

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, giá vàng diễn biến liên tục theo chiềuhướng gia tăng Đặc biệt từ tháng tư năm 2006, giá vàng trong nước diễnbiến theo chiều hướng đột biến, liên tục gia tăng từ mức 0,98 triệu đồng/chỉvào thời điểm đầu năm 2006 lên đỉnh điểm 1,5 triệu đồng/chỉ vào tháng 5năm 2006 Sau đó duy trì ổn định ở mức 1,3 triệu đồng/chỉ Nhưng từ tháng

9 năm 2007 đến nay, giá vàng thế giới và Việt Nam đột ngột tăng mạnh phá

kỷ lục năm 1980, có lúc đạt mức đỉnh điểm trên 1,9 triệu đồng/chỉ vào giữatháng 3 năm 2008 Việc giá vàng tăng cao đã gây nên hội chứng tâm lý làmnhiều người dân đổ xô đi mua vàng, một số đã rút tiền tiết kiệm để muavàng Tuy nhiên, trước sự trồi sụt thất thường của giá vàng thế giới đã khiếnkhông ít người dân bị thua thiệt nghiêm trọng do đầu tư theo “phong trào” –giá lên thì đổ xô đi mua, giá hạ thì ào ạt bán Đây cũng là một nguyên nhân

kỳ vọng tác động đẩy giá vàng trong nước tăng cao ngoài nguyên nhân chính

là do giá vàng thế giới biến động Giá vàng thế giới liên tục trong xu hướngtăng mạnh, có lúc tăng đột biến gây tâm lý bất ổn cho một bộ phận khôngnhỏ tầng lớp dân chúng Vậy đâu là nguyên nhân của những sự biến độngnày, tác động và giải pháp ra sao đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của rấtnhiều người Xuất phát từ tình hình và yêu cầu thực tế đó, em quyết định

chọn “Phân tích sự biến động của giá vàng Việt Nam trong thời gian qua”

làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 4

Mục đích của khóa luận nhằm tìm ra quy luật biến động của giá vàng trongmối quan hệ mật thiết với với hai yếu tố: giá trị của đồng USD và giá dầuthô thế giới, cũng như các yếu tố khác ảnh hưởng đến giá vàng như tình hìnhcung cầu về vàng, tình hình lạm phát, sự phát triển của thị trường chứngkhoán, bất động sản… Từ đó giải thích sự biến động mang tính chất đột biếncủa giá vàng trong thời gian qua, đồng thời đưa ra dự đoán trung và dài hạncho giá vàng trên cơ sở sự phân tích các yếu tố ảnh hưởng đó.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự biến động của giá vàng, mối quan hệgiữa giá vàng, giá dầu và USD và các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng Phạm

vi nghiên cứu là giá vàng Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 đến tháng 5năm 2008

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống và hiệnđại: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic, phương pháp sosánh, tổng hợp, thống kê từ các bảng biểu, báo cáo thường niên của các bộ,

cơ quan ban ngành và các tổ chức quốc tế

5 Nội dung của khóa luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận tốtnghiệp được chia làm ba chương

Chương I: Tổng quan về vàng và thị trường vàng.

Chương II: Phân tích sự biến động của giá vàng Việt Nam trong thời gian

qua

Trang 5

Chương III: Dự báo giá vàng trong thời gian tới và một số biện pháp phát

triển thị trường vàng Việt Nam

Nội dung của đề tài khóa luận tốt nghiệp hướng tới là rất rộng và phức tạp.Mặc dù đã có nhiều cố gắng nỗ lực nhưng do những hạn chế về thời gian, tàiliệu và khả năng của bản thân, nên khóa luận không tránh khỏi có nhữngthiết sót Vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy côgiáo và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trường đại học NgoạiThương đã trang bị cho em các kiến thức quý báu trong thời gian học tập ởtrường Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Th.S Đào Thị Thu Giang, người

đã hết lòng hưỡng dẫn, tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình làm khóaluận Em xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo công ty vàng bạc đá quý SàiGòn SJC, cô Phạm Thị Tuyết – phòng kinh doanh công ty vàng bạc đá quýSài Gòn SJC – đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp số liệu, tạo điều kiện để emhoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2008

Tác giả

Ngô Trí Nam

Trang 6

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG

1 GIỚI THIỆU VỀ KIM LOẠI VÀNG

1.1 Giới thiệu về kim loại vàng

Vàng là một nguyên tố hóa học với ký hiệu Au (từ La tinh aurum nghĩa làtỏa sáng) có số hiệu nguyên tử trong bàng tuần hoàn hóa học là 79 Là kimloại chuyển tiếp (hoá trị 3 và 1)

Tính chất vật lý và hóa học.

- Mềm, dễ uốn dát nhất được biết Thực tế, 1 g vàng có thể được dập thànhtấm 1 m², hoặc 1 ounce thành 300 feet² Là kim loại mềm, vàng thường tạohợp kim với các kim loại khác để làm cho nó cứng thêm

- màu vàng và chiếu sáng, có màu vàng khi thành khối, nhưng có thể có màuđen, hồng ngọc hay tía khi được cắt nhuyễn

- vàng không phản ứng với hầu hết các hoá chất

- Vàng được dùng làm một tiêu chuẩn tiền tệ ở nhiều nước và cũng được sửdụng trong các ngành trang sức, nha khoa và điện tử Mã tiền tệ ISO của nó

là XAU

- Vàng có tính dẫn nhiệt và điện tốt, không bị tác động bởi không khí vàphần lớn hoá chất (chỉ có bạc và đồng là những chất dẫn điện tốt hơn) Nókhông bị ảnh hưởng về mặt hoá học bởi nhiệt, độ ẩm, ôxy và hầu hết chất ăn

Trang 7

mòn; vì vậy nó thích hợp để tạo tiền kim loại và trang sức Các halogen cótác dụng hoá học với vàng, còn nước cường toan thì hoà tan nó.

- Màu của vàng rắn cũng như của dung dịch keo từ vàng (có màu đậm,thường tía) được tạo ra bởi tần số plasmon của nguyên tố này nằm trongkhoảng thấy được, tạo ra ánh sáng vàng và đỏ khi phản xạ và ánh sáng xanhkhi hấp thụ Vàng nguyên thuỷ có chứa khoảng 8 đến 10% bạc, nhưngthường nhiều hơn thế Hợp kim tự nhiên với thành phần bạc cao (hơn 20%)được gọi là electrum Khi lượng bạc tăng, màu trở nên trắng hơn và trọnglượng riêng giảm

- Vàng tạo hợp kim với nhiều kim loại khác; hợp kim với đồng cho màu đỏhơn, hợp kim với sắt màu xanh lá, hợp kim với nhôm cho màu tía, với bạchkim cho màu trắng, bismuth tự nhiên với hợp kim bạc cho màu đen Đồtrang sức được làm bằng các kết hợp vàng nhiều màu được bán cho dukhách ở miền Tây nước Mĩ được gọi là "vàng Black Hills"

- Trạng thái ôxi hoá thường gặp của vàng gồm +1 (vàng(I) hay hợp chấtaurous) và +3 (vàng(III) hay hợp chất auric) Ion vàng trong dung dịch sẵnsàng được khử và kết tủa thành vàng kim loại nếu thêm hầu như bất cứ kimloại nào khác làm tác nhân khử Kim loại thêm vào được ôxi hoá và hoà tancho phép vàng có thể được lấy khỏi dung dịch và được khôi phục ở dạng kếttủa rắn

1.2 Ứng dụng của vàng.

Vàng nguyên chất quá mềm không thể dùng cho việc thông thường nênchúng thường được làm cứng bằng cách tạo hợp kim với bạc, đồng và cáckim loại khác Vàng và hợp kim của nó thường được dùng nhiều nhất trong

Trang 8

ngành trang sức, tiền kim loại và là một chuẩn cho trao đổi tiền tệ ở nhiềunước

Vì tính dẫn điện tuyệt vời, tính kháng ăn mòn và các kết hợp lí tính và hóatính mong muốn khác, vàng nổi bật vào cuối thế kỉ 20 như là một kim loạicông nghiệp thiết yếu

Các ứng dụng khác:

• Vàng có thể được làm thành sợi và dùng trong ngành thêu

• Vàng thực hiện các chức năng quan trọng trong máy tính, thiết bịthông tin liên lạc, đầu máy máy bay phản lực, tàu không gian và nhiềusản phẩm khác

• Tính dẫn điện cao và đề kháng với ôxi hoá của vàng khiến nó được sửdụng rộng rãi để mạ bề mặt các đầu nối điện, bảo đảm tiếp xúc tốt vàtrở kháng thấp

• Vàng được dùng trong nha khoa phục hồi, đặc biệt trong phục hồirăng như thân răng và cầu răng giả

• Vàng keo (hạt nano vàng) là dung dịch đậm màu hiện đang đượcnghiên cứu trong nhiều phòng thí nghiệm y học, sinh học, v.v Nócũng là dạng được dùng làm nước sơn vàng lên ceramic trước khinung

• Chlorauric acid được dùng trong chụp ảnh để xử lí ảnh bạc

• Disodium aurothiomalate dùng để điều trị viêm khớp dạng thấp

• Đồng vị vàng Au-198, (bán huỷ: 2,7 ngày) được dùng điều trị một sốung thư và một số bệnh khác

Trang 9

• Vàng được dùng để tạo lớp áo phủ, giúp cho các vật chất sinh học cóthể xem được dưới kính hiển vi điện tử quét.

1 Đơn vị đo lường và Cách qui đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước

- Các đơn vị đo lường của Vàng: Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khốilượng của vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ.Một cây vàng nặng 37,50 gram Một chỉ bằng 1/10 cây vàng Trên thị trườngthế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là ounce hay troy ounce 1ounce tương đương 31.103476 gram

- Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat) MộtKarat tương đương 1/24 vàng nguyên chất Vàng 9999 tương đương với24K Khi người ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượngvàng trong mẫu xấp xỉ 75% Vàng dung trong ngành trang sức thôngthường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K

• Thị trường vàng thế giới

oĐơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce

o1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng

o1lượng = 1.20556 ounce

• Thị trường vàng trong nước

oĐơn vị yết giá: VND/lượng

oCông thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàng trongnước (TN):

TN = (TG + phí vận chuyển) * 1.20556 * (1+thuế NK)* tỉ giá USD/VND + phí gia công

Trang 10

2 VAI TRÒ CỦA VÀNG TRONG NỀN KINH TẾ

2.1 Vàng với vai trò là một loại tiền tệ

2.1.1 Các tính chất để vàng trở thành phương tiện lưu thông tiền tệ

Để có thể thực hiện được các chức năng của tiền, vàng có các tính chất cơbản sau đây:

- Tính được chấp nhận rộng rãi: đây là tính chất quan trong nhất của tiền tệ,người dân phải sẵn sàng chấp nhận tiền trong lưu thông, nếu khác đi nó sẽkhông được coi là tiền nữa Kể cả một tờ giấy bạc do ngân hàng trung ươngphát hành cũng sẽ mất đi bản chất của nó khi mà trong thời kỳ siêu lạm phát,người ta không chấp nhận nó như là một phương tiện trao đổi

- Tính dễ nhận biết: Muốn dễ được chấp nhận thì tiền tệ phải dễ nhận biết,người ta có thể nhận ra nó trong lưu thông một cách dễ dàng Người ta cóthể dùng lửa để nhận biết được vàng có thật hay không

- Tính có thể chia nhỏ được: tiền tệ phải có các loại mênh giá khác nhau saocho người bán được nhận đúng số tiền bán hàng còn người mua khi thanhtoán bằng một loại tiền có mệnh giá lớn thì phải được nhận tiền trả lại Tínhchất này giúp cho tiền tệ khắc phục được sự bất tiện của phương thức hàngđổi hàng: nếu một người mang một con bò đi đổi gạo thì anh ta phải nhận về

số gạo nhiều hơn mức anh ta cần trong khi lại không có được những thứkhác cũng cần thiết không kém

- Tính lâu bền: tiền tệ phải lâu bền thì mới thực hiện được chức năng cất trữgiá trị cũng như mới có ích trong trao đổi Một vật mau hỏng không thểdùng để làm tiền, chính vì vậy những tờ giấy bạc được in trên chất liệu cóchất lượng cao còn tiền xu thì được làm bằng kim loại bền chắc

Trang 11

- Tính dễ vận chuyển: để thuận tiện cho con người trong việc cất trữ, mangtheo, tiền tệ phải dễ vận chuyển Đó là lý do vì sao những tờ giấy bạc vànhững đồng xu có kích thước, trọng lượng rất vừa phải chứ tiền giấy khôngđược in khổ rộng ví dụ như khổ A4.

- Tính khan hiếm: Để dễ được chấp nhận, tiền tệ phải có tính chất khan hiếm

vì nếu có thể kiếm được nó một cách dễ dàng thì nó sẽ không còn ý nghĩatrong việc cất trữ giá trị và không được chấp nhận trong lưu thông nữa Vìthế trong lịch sử những kim loại hiếm như vàng, bạc được dùng làm tiền tệ

và ngày nay ngân hàng trung ương chỉ phát hành một lượng giới hạn tiềngiấy và tiền xu

- Tính đồng nhất: tiền tệ phải có giá trị như nhau nếu chúng giống hệt nhaukhông phân biệt người ta tạo ra nó lúc nào, một đồng xu 5.000 VND đượclàm ra cách đây 2 năm cũng có giá trị như một đồng xu như thế vừa mớiđược đưa vào lưu thông Có như vậy tiền tệ mới thực hiện chức năng là đơn

vị tính toán một cách dễ dàng và thuận tiện trong trao đổi

2.1.2 các tính chất của vàng để làm một loại tiền tệ

2.2 Vai trò của vàng trong các chế độ tiền tệ.

Để đánh dấu sự phát triển của các hình thái tiền tệ trong quá khức, người tathường nhắc tới các chế độ bản vị tiền tệ Đó là những tiêu chuẩn để mộtquốc gia xây dựng nên thể chế tiền tệ của mình Hay hiểu một cách đơn giảnhơn, bản vị có nghĩa là quốc gia sử dụng hàng hóa đúc tiền theo thể chế nhưthế nào

2.2.1 Chế độ đồng bản vị (hai bản vị vàng – bạc)

Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơnhẳn các kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng đã đáp ứng được

Trang 12

nhiều nhất những gì mà một đồng tiền hàng hóa (commodity money) cần có:

sự khan hiếm, tính bến, có thể chuyên chở, dễ chia nhỏ, đồng chất, và chấtlượng được duy trì lâu bền Sự chấp nhận vàng và bạc như tiền còn đượccủng cố từ một thực tế là các kim loại này được thừa nhận rộng rãi là có giátrị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức Hơn nữagiá trị của vàng và bạc được ổn định tương đối so với các hàng hóa khác;ngoài ra, chất lượng của chúng có thể kiểm tra một cách chính xác và đượccác chuyên gia (thợ vàng) chứng nhận

Chế độ đồng bản vị là chế độ tiền tệ đầu tiên được thừa nhận chính thứctrong lịch sử loài người Nguyên nhân hình thành chế độ đồng bản vị là sựtăng của sản xuất xã hội làm cho khối lượng trao đổi ngày càng lớn, dẫn đếnviệc đồng tiền bạc được sử dụng trước đó trở nên không còn phù hợp nữa.Lúc này người ta bắt đầu sử dụng thêm vàng như kim loại thứ hai để đúctiền tệ Vì vậy bạc và vàng đồng thời được coi là bản vị Cả vàng và bạc đềuđược tự do đúc thành tiền và cùng có giá trị trong thanh toán và trao đổi.Trong chế độ đồng bản vị này có hai cách quy đổi giữa giá trị đồng tiền vàng

và giá trị đồng tiền bạc nên cũng có hai chế độ đồng bản vị

2.2.1.1 Chế độ bản vị song song

Ở dạng tinh khiết, bản vị vàng hàng hóa kim loại hoạt động trên cơ sở giá trịđầy đủ của các đồng xu (full-bodied coins), tức giá trị tiền tệ của chúng cũngchính là giá trị kim loại của đồng xu Điều này hàm ý, khi giá vàng thay đổi

so với giá bạc, sẽ làm cho tỷ lệ trao đổi giữa các đồng xu vàng và bạc thayđổi theo Mặc dù tiền xu được đúc mang theo nhãn hiệu riêng của từng quốcgia làm bằng chứng bảo đảm về nội dung và chất lượng kim loại, nhưngtrong thực tế các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng hỗn hợp kim loại

là vàng và bạc hay với các kim loại khác có giá trị thấp hơn Các quốc gia

Trang 13

ngày càng thường xuyên giảm tỷ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồngxu; hành động này được gọi là “bào mòn giá trị thực tế của tiền xu –debasement” “Bào mòn giá trị thực tế tiền xu” làm cho các đồng xu mất giátrị dần trong lưu thông, cho nên hành động này được xem như là tiền thâncủa hành động phá giá trong thời hiện đại.

Quá trình đồng tiền được định giá cao loại đồng tiền bị định giá thấp ra khỏilưu thông được thể hiện bằng thành ngữ quen thuộc với tên gọi là Quy luậtGresham: “đồng tiền xáu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out goodmoney) Quy luật này được Thomas Gresham áp dụng để giải thích tại saophương tiện lưu thông tiền tệ của nước Anh lại giảm xuống, và trong thực tếchỉ còn các đồng tiền bị bào mòn giá trị là tồn tại trong lưu thông Điều này

đã thuyết phục được Nữ Hoàng Anh đi đến quyết định thay thế toàn bộ cácđồng tiền đã bị bào mòn giá trị bằng cách đúc các đồng tiền mới có giá trịđầy đủ

Nhược điểm của chế độ tiền tệ này cũng bắt nguồn từ chính sự thay đổitương quan liên tục giữa vàng và bạc Người nắm giữ tiền sẽ không thểquyết định được việc nắm giữ tiền nào là có lợi cho mình, do đó thường cótâm lý lựa chọn một loại tiền được sử dụng phổ biến hơn

2.2.1.2 Chế độ bản vị kép

Khác với chế độ bản vị song song, chế độ bản vị kép lại quy định một tỉ lệ

cố định giữa giá trị của đồng tiền vàng và bạc, không phụ thuộc vào giá trịthực tế của hai kim loại này Nước Mỹ đã trải qua thời kỳ đồng bản vị từnăm 1792 đến 1861 Luật đúc tiền năm 1792 đã thông qua đồng đôla là đơn

vị tiền tệ của Mỹ có giá cố định với vàng và bạc Như vậy, ở Mỹ đã chínhthức hình thành chế độ đồng bản vị Giá trị của đôla được ấn định bằng24,75 grains vàng (1grain = 0,0648 gam) hay 371,25 grains bạc Điều này

Trang 14

nghĩa là tỷ lệ trao đổi giữa vàng và bạc là cố định “1 USD = 274 grains vàng

= 371,25 grains bạc” Như vậy, cùng một khối lượng như nhau thì vàng luôn

có giá gấp 15 lần bạc (371,25 : 24,75 = 15), và tỷ lệ 15:1 này là tương đươngvới giá vàng bạc trên thị trường tự do lúc bây giờ; tuy nhiên, càng về cuốithế kỷ 18 thì giá bạc trên thị trường đã bắt đầu giảm Ngoài ra, các nướckhác, ví dụ như Pháp, đã hình thành chế độ đồng bản vị với tỷ lệ “bạc:vàng

là 15,5:1” Kết quả là so với nước Mỹ thì ở các nước khác vàng đã có giá trịhơn bạc Nếu bỏ qua chi phí giao dịch và vận chuyển thì lãi ròng thu đượckhi đem 15 ounce bạc để đổi lấy 1 ounce vàng ở Mỹ rồi bán số vàng này ởnước ngoài là 0,5 ounce bạc Điều này đã kích thích kích thích luồng bạcchạy vào và luồng vàng chạy ra khỏi nước Mỹ Kết quả là với vai trò làphương tiện lưu thông thì ở Mỹ vàng đã bị định giá thấp và bạc đã được địnhgiá cao, vàng từ từ biến khỏi lưu thông ở nước Mỹ; do đó, xét về mặt danhnghĩa thì Mỹ vẫn áp dụng chế độ đồng bản vị kim loại, nhưng trên thực tếchế độ này đã chấm dứt để nhừng chỗ cho chế độ đơn bản vị của bạc

Chế độ đơn bản vị bạc tồn tại cho tới năm 1834, khi Quốc hội Mỹ quyếtđịnh tăng giá vàng từ $19,394/ounce lên $20,76/ounce, trong khi đó giá bạcvẫn giữ nguyên nhằm khôi phục lại chế độ đồng bản vị kim loại Như vậy tỷ

lệ bạc : vàng là 16, trong khi trên thế giới vẫn là 15,5 Mộ lần nữa trong thực

tế nước Mỹ lại chỉ còn chế độ đơn bản vị kim loại là Vàng

Năm 1879, Mỹ quyết định chuyển đổi trở lại USD ra vàng mà không chuyểnđổi ra bạc, đây là một bước quan trọng trong việc hình thành chế độ đơn bản

vị vàng (bản vị vàng) ở Mỹ Tuy nhiên chế độ này vẫn không được chínhthức phê chuẩn cho tới khi có Đạo luật Bản vị vàng vào năm 1990

Trang 15

2.2.1 Chế độ bản vị vàng

Mặc dù nước Anh hoạt động dưới chế độ bản vị vàng trong hầu hết thể ký

19, nhưng nhìn chung chế độ này vẫn chưa được áp dụng một cách phổ biếncho tới những năm 1870 Hầu hết các nước châu âu, mà dẫn đầu là Đức, đãchuyển sang chế độ bản vị vàng trong thấp niên 1870, và tiếp sau à Mỹ vàonăm 1879 Năm 1880, bản vị vàng từ một ít quốc gia đã phát triển thành Hệthống tiền tệ quốc tế với hầu hết các nước áp dụng Khi bùng nổ chiến tranhThế giới Thứ nhất 1914, bản vị vàng bị bỏ rơi; và trong hơn 30 năm từ 1880đến 1914 hệ thống bản vị vàng quốc tế đã thống trị hầu khắp các nước, nó đãliên kết chặt chẽ các quốc gia lớn với nhau cũng như giữa các nước thống trị

và các nước thuộc đại trong suốt thời gian này

Trong chế độ bản vị vàng, vàng là kim loại duy nhất được sử dụng để đúctiền Chế độ này phát triển theo ba giai đoạn khác nhau

2.2.2.1 chế độ bản vị tiền vàng

Đây là chế độ tiền tệ thông thoáng và ổn định nhất trong lịch sử, vì theo nhưquy định của chế độ này vàng được tự do đúc thành tiền, các loại tiền phụ,giấy bạc ngân hàng cũng như tiền tín dụng được tự do đổi thành vàng nếumuốn, và bên cạnh đó pháp luật cũng cho phép tự do xuất nhập khẩu vàng.Theo cách quy định này, vàng luôn được phản ánh trung thực giá trị củamình, do đó sẽ khó có khả năng xảy ra hiện tượng lạm phát

Những đặc điểm cơ bản trong hoạt động của chế độ bản vị vàng có thể mô tảthông qua 3 quy tắc cơ bản:

Thứ nhất, Các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng,

và sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quy định

Trang 16

Thứ hai, Việc xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự dohoạt động.

Thứ ba, Ngân hàng trung ương luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữtrong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành Số vàng dự trữ này chophép NHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặpbất cứ một trở ngại nào, tiền được tự do chuyển đổi ra vàng không hạn chế.Quy tắc bảo đảm bằng vàng buộc NHTW khi mở rộng cung ứng tiền chonền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật “chỉ phát hành tiền khi có luồng vàng từcông chúng chảy vào NHTW” Kết quả là, khả năng thay đổi cung ứng tiềnchính là sự thay đổi lượng vàng có sẵn trong tay những người cư trú Lượngvangf có sẵn được xác định bằng khối lượng vàng được sản xuất ra Vai tròcủa NHTW trong chế độ bản vị vàng là mua vàng từ người cư trú và thôngqua đó phát hành tiền ra lưu thông

Đây là chế độ tiền tệ thông thoáng và ổn định nhất trong lịch sử, vì theo nhưquy định, vàng luôn được phản ánh trung thực giá trị của mình, do đó sẽ khó

có khả năng xảy ra hiện tượng lạm phát

Nhược điểm của chế độ tiền tệ này là đồng tiền vàng vẫn là hàng hóa, do đóvới nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, việc sản xuất vàng không thể theokịp để đáp ứng Them vào đó giá trị thực của đồng tiền trong lưu thông càngngày càng kém đi so với lượng giá trị mà nó đại diện

2.2.2.2 chế độ bản vị vàng thỏi

Người ta gọi là chế độ bản vị vàng thỏi vì vàng không còn tồn tại dưới dạngtiền nữa mà được đúc thành thỏi Trong chế độ bản vị vàng thỏi, vàng khôngcòn được tự do đúc thành tiền để đưa vào lưu thông nữa, lúc này tiền tronglưu thông phải được quy định chặt chẽ về hàm lượng vàng Bên cạnh đó, các

Trang 17

loại giấy bạc ngan hàng không được đổi ra vàng một cách tự do mà phải đạtmột tiêu chuẩn nhất định do Nhà nước đề ra thì mới có thể đổi ra vàng Hoạtđộng xuất nhập khẩu vàng cũng bị kiểm soát chặt chẽ và có lúc bị cấm.

2.2.2.3 Chế độ bản vị hối đoái vàng

Chế độ bản vị hối đoái vàng cùng được áp dụng trong một quãng thời giantương tự như chế độ bản vị vàng thỏi Cũng có những quy định tương tự nhưchế độ bản vị vàng thỏi, điểm khác biệt là các loại tiền ngân hàng trong chế

độ này sẽ không được chuyển ra vàng mà chuyển ra ngoại tệ của nước thựchiện chế độ bản vị vàng thỏi Việc chuyển đổi này cũng không được thựchiện tự do mà phải thực hiện với một số lượng đủ lớn

Năm 1914, đại chiến Thế giới thứ nhất nổ ra buộc các nước chấm dứtchuyển đổi các đồng tiền của mình ra vàng Hệ thống tỷ giá cố định đã hoạtđộng trong suốt 35 năm phải nhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi Nước

Mỹ vẫn duy trì chuyển đổi đôla ra vàng, nhưng bởi vì các đồng tiền khác đãkhông còn được tự do chuyển đổi ra đôla, do đó đôla thực chất cũng đượcthả nổi với các đồng tiền còn lại

Trong thời gian xảy ra đại chiến Thế giới lần thứ nhất, do các chính phủ thayđổi chính sách tiền tệ nhằm tài trợ cho chiến tranh đã làm cho lạm phát bùng

nổ Do Mỹ tham gia cuộc chiến muộn hơn (1917) và trung tâm tàn phá củacuộc chiến là châu Âu, nên lạm phát ở chấu Âu cao hơn ở Mỹ Kết quả làsức cạnh tranh thương mại quốc tế của Mỹ tăng lên nhanh chóng Hơn nữa,

do đôla được chuyển đổi ra vàng, trong khi các đồng tiền khác thì không, đãlàm tăng sự hấp dẫn đầu tư vào các tài sản ghi bằng đôla Đôla ngày càng trởthành đồng tiền có vị thế trong các giao dịch quốc tế Tất cả những nhân tốnày đều làm tăng cầu về đôla; và kết quả là làm tăng luồng vàng ròng chảyvào Mỹ làm cho dự trữ bằng vàng của Mỹ tăng lên nhanh chóng

Trang 18

Sau cuộc chiến, các nước châu Âu tiếp tục thả nổi đồng tiền và hầu hết cácđồng tiền đã bị phát giá đáng kể so với đôla Thả nổi đồng tiền chỉ được xemnhư biện pháp tình thế tạm thời Vấn đề chính trong thời gian này là: nên ấnđịnh bản vị vàng của đồng tiền quốc gia ở mức nào Nhiều cuộc tranh luận

nổ ra xung quanh vấn đề có nên chọn mức bản vị vàng trước khi chiến tranhxảy ra hay không Nhiều nhà kinh tế, mà đứng đầu là Gustay Cassel, đã ápdụng học thuyết ngang giá sức mua (PPP) để chứng minh cho sự cần thiếtphải ấn định giá vàng cao hơn so với thời kỳ trước chiến tranh Họ lý luậnrằng, để duy trì tương quan giữa giá vàng và giá hàng hóa giống như trướcchiến tranh thì phải tiến hành một cuộc giảm phát nặng nề Thay vì phải chịuđựng giảm phát, các quốc gia có thể lựa chọn phương án ấn định lại mức bản

vị vàng cho đồng tiền nước mình Như vậy, thay vì phải chịu đựng thiểuphát thì chỉ cần ấn định bản vị vàng ở mức cao hơn phù hợp với tỷ lệ lạmphát của hàng hóa

Sự trở lại của chế độ bản vị vàng trong những năm 1920 đã không kéo dàiđược lâu Cuộc Đại suy thoái kinh tế vào năm 1929 đã làm sụp đổ hệ thốngngân hàng trên thế giới và làm tan biến mọi lòng tin vào vàng Gánh anựng

đã đè lên nước Anh và một cuộc hỗn loạn đã xảy ra vào ngày 21/9/1931,buộc nước Anh cùng các nước khác phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việcchuyển đổi đồng tiền nước mình ra vàng, tiếp theo sau là Mỹ vào năm 1933

Hệ thống tiền tệ quốc tế bước vào giai đoạn các khối tiền tệ không liên kếtvới nhau, như: Khối bảng Anh, khối đôla Mỹ, và khối các đồng tiền tiếp tụcgắn với vàng Ngoài ra, các biện pháp kiểm soát ngoại hối, thuế quan, và cáchạn chế thương mại khác được áp dụng phổ biến Kết quả là: sự sụp đổ của

hệ thống tài chính và thương mại quốc tế

Trang 19

2.2.3 Chế độ lưu thông tiền giấy

Trong chế độ này tiền giấy thay thế cho vàng thực hiện chức năng của tiền

tệ, nhưng tiền giấy gần như không có giá trị mà nó chỉ là loại tiền mang dấuhiệu giá trị mà thôi Sở dĩ tiền giấy được thừa nhận chung là do nó được Nhànước công nhận, bảo đảm và bắt buộc mọi người phải tuân thủ Một lý dokhác không kém phần quan trọng là lòng tin của người dân đối với đồng tiềngiấy Một khi lòng tin này mất đi thì người dân sẽ lựa chọn không nắm giữđồng tiền giấy nữa và thay vào đó nẵm giữ vàng hoặc những vật dụng có giákhác

Hệ thống tiền tệ Bretton Woods (BWS)

Động cơ tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới là để tránh sự tan rã của cácmối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế như đã từng xuất hiện vào nhữngnăm 1930 Vào những năm 1920, nước Đức dã từng chứng kiến những cuộclạm phát phi mã và vào năm 1929 nước Mỹ phải đứng nhìn sự sụp đổ của thịtrường chứng khoán, đây là tín hiệu báo trước một cuộc đại suy thoái sẽ diễn

ra trên quy mô toàn thế giới Trong những năm 1930 được đánh dấu bằng sựmất cân đối nghiêm trọng trong thương mại quốc tế, khiến cho hầu hết cácnước buộc phải áp dụng các chính sách như: bảo hộ mậu dịch, thiểu phát,phá giá tiền tệ, và thay đổi bản vị vàng Năm 1944, trong một bản báo cáo cósức thuyết phục trước Liên đoàn các dân tộc (League of Nations), RagnarNurke lý luận rằng những gì đã trải qua cho thấy chế độ tỷ giá thả nổi khôngkhuyến khích mà trái lại nó luôn kìm hãm phát triển thương mại quốc tế, làmcho phân bố các nguồn lực trở nên không hiệu quả, và nhìn chung đây là chế

độ không có tính ổn định do các hoạt đông của đầu cơ tư nhân

Những đặc điểm của Bretton Woods

- Hệ thống chế độ tỷ giá là cố định nhưng có thể điều chỉnh

Trang 20

- Hình thành hai tổ chức quốc tế mới là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (InternationalMonetary Fund – IMF) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế(International Bank for Recostruction and Development – IBRD) và thườngđược gọi tắt là Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB).

Nhiệm vụ của IMF là theo dõi và giám sát BWS, còn nhiệm vụ ban đầu của

WB là trợ giúp công cuộc tái thiiết những nền kinh tế châu Âu bị chiến tranhtàn phá Trong thực tế, WB được bao gồm hai tổ chức là IBRD và Hiệp hộiPhát triển Quốc tế (International Development Association – IDA); Hiệp hội

có vai trò là huy động vốn từ nước giàu để cho vay lại các nước nghèo kémphát triển (Less Developed Countries – LDCs) với những điều kiện ưu đãi

về lãi suất Một tổ chức thứ ba là Công ty Tài chính Quốc tế (InternationalFinance Corporation – IFC); IFC được gắn với WB và cung cấp các dịch vụ

về đánh giá rủi ro trong đầu tư cho các thành phần kinh tế tư nhân của cácnước LDCs

BWS hình thành hệ thống chế độ tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh.Theo thỏa ước về IMF, mỗi đồng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giátrung tâm với USD và được phép dao động trong biên độ +/- 1% Tỷ giáđồng USD tự nó được cố định với giá vàng là $35/ounce

Ý tưởng cố định tỷ giá USD vào giá vàng là để cho BWS có được sự tin cậytuyệt đối Vào năm 1945, chính phủ Mỹ nắm giữ gần 70% lượng vàng dự trữcủa thế giới Do đó, thật là có lý do để các NHTW nước ngoài tin tưởng vàsẵn sàng nắm giữ USD làm dự trữ của mình, bởi vì chính phủ Mỹ cam kếtduy trì chuyển đổi USD ra vàng không hạn chế tại mức giá cố định là

$35/ounce; do đó các NHTW biết rằng mỗi USD trong dự trữ đều được đảmbảo đổi ra vàng tại mức giá đã cho Trong thực tế, cam kết của chính phủ

Trang 21

Mỹ chuyển đổi USD ra vàng là sự bảo đảm duy trì sức mua củ USD ngangvới sức mua của vàng.

Mỗi quốc gia được yêu cầu duy trì tỷ giá trung tâm của đồng bản tệ vớiUSD, nhưng trong những trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bị mất cânđối cơ bản (mất cân đối trong cán cân vãng lai) thì có thể tiến hành phá giáhay nâng giá đồng tiền Trong trường hợp tỷ giá thay đổi nhỏ hơn 10%, thìIMF không có ý kiến can thiệp, nhưng nếu thay đổi ở mức cao hơn thì phải

có sự chấp thuận của IMF Khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm là giải phápcuối cùng nhằm giúp cân bằng cán cân thanh toán và đây được xem như mộttrong những đặc điểm cơ bản của BWS

Khi hệ thống tỷ giá cố định được đưa vào vận hành tháng 3 năm 1947, thìnhìn chung các đồng tiền chưa được tự do chuyển đổi và lượng USD là rấthạn chế để mua bán trên thị trường ngoại hối; trong khi đó hầu hết cácNHTW đều cảm thấy thiếu hụt dự trữ càng làm cho cầu về USD tăng lênmạnh mẽ Trong những năm đầu sau chiến tranh Thế giới II, nước Mỹ luônbội thu cán cân vàng lai trong khi các nước châu Âu thì bị thâm hụt nặng.Điều này xẩy ra vì sau chiến tranh năng lực xuất khẩu của châu Âu bị tànphá, mặt khác nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất vàitài thiết đất nước lại tăng lên Năm 1949, Mỹ tuyên bố trợ cấp một khoảntrọn gói cho các nền kinh tế châu Âu (trợ cấp Marshall) Sự ra đời của “Tổchức hợp tác kinh tế châu Âu – OEEC” (sau trở thành “Tổ chức hợp tác vàphát triển kinh tế - OECD”) đã giúp giải quyết được vấn đề thiếu hụt USD,góp phần thúc đẩy và phát triển quá trình tự do hóa thương mại làm chothương mại châu Âu phát triển mạnh mẽ

Trang 22

Tuy nhiên, trong quá trình tích lũy USD, nhiều NHTW nước ngoài đã tiếnhành chuyển đổi USD ra vàng dẫn đến một dòng vàng chảy ra khỏi nước

Mỹ

Vào năm 1954, thị trường vàng ở London được mở cửa trở lại cho các nhàbuôn tư nhân Trong năm 1961, do có đầu cơ xung quanh vấn đề USD phágiá so với vàng, làm cho vàng chịu sức ép lên giá liên tục Mục đích củathỏa hiệp này là tăng cung ứng vàng trên thị trường tư nhân khi nhu cầuvàng tăng nhằm duy trì giá vàng chính thức ổn định ở mức $35/ounce Vàonăm 1965, tổng thống Pháp De Gaulle đã đọc bài diễn văn ca ngợi những ưuđiểm của vàng trên cơ sở so sánh với USD; sau bài diễn văn này cả nướcPháp bắt đầu chuyển đổi USD thành vàng tại các NHTW Mỹ Vào năm

1967, người ta phát hiện ra rằng tài snr nợ của Mỹ bằng USD đã vượt quá sốvàng dự trữ hiện có; do đó, nếu các NHTW nước ngoài tiếp tục đổi USD dựtrữ của mình ra vàng thì đồng nghĩa với sự sụp đổ của BWS Để tránh choBWS khỏi sụp đổ, các NHTW đã thỏa thuận với nhau răng sẽ không tiếp tụcchuyển đổi USD dự trữ ra vàng nữa Ngoài ra, các NHTW cũng quyết định

từ bỏ can thiệp lên giá vàng trên thị trường tư nhân Như vậy, từ đây đã hìnhthành hai loại giá vàng: giá vàng chính thức vẫn duy trì $35/ounce và giávàng tự do được thả nổi theo cung cầu trên thị trường

Trong những năm đầu 1960, cán cân thanh tóan của Mỹ tương đối ổn định,nhưng vào giữa những năm 1960 cùng với sự dính líu vào cuộc chiến tranhViệt Nam làm cho cán cân thanh toán trở nên ngày một xấu đi Người ta bắtđầu có cảm nhận rằng USD và một số đồng tiền khác đã được định giá quácao; trong khi đó một số đồng tiền còn lại đang được định giá quá thấp.Những toan tính đầu cơ được nhen nhóm và trở thành hiện thực khi vào năm

1967, một loạt các đồng tiền của các nước phải điểu chỉnh tỷ giá

Trang 23

Cho dù một số đồng tiền đã lên giá, song những nhà đầu cơ vẫn cho là chưa

đủ liều lượng Hơn nữa giá vàng trên thị trường tự do cao hơn giá vàngchính thức làm cho các nhà đầu cơ tin tưởng rằng một cộc phá giá USD làkhông tránh khỏi Một làn sóng đầu cơ khốc liệt tấn công vào USD bằngcách bán ồ ạt USD để mua đồng Mác Đức và Yên Nhật Trước áp lực củađầu cơ ngày càng tăng, buộc tổng thống Nixon vào ngày 15 tháng 8 năm

1971 phải chính thức tuyên bố “đồng USD không tiếp tục được chuyển ravàng nữa”

Trong một nỗ lực nhằm khắc phục chế đột tỷ giá cố định, các nước G-10 đã

cố gắng giải quyết vấn đề đồng USD được định giá quá cao bằng cách phágiá USD đối với vàng từ $35/ounce xuống $38/ounce và nâng giá các đồngtiền khác trung bình 8% so với USD, ngoài ra còn cho phép mở rộng biên độdao động của các đồng tiền so với USD từ +/- 1% lên +/- 2,5% Dù G-10 đã

cố gắng duy trì sự ổn định trở lại của BWS nhưng phá giá và thả nổi đồngtiền lại trở nên hiện thực sau đó, đặc biệt là chênh lệch trong tỷ lệ lạm phátgiữa các nước công nghiệp ngày càng lớn

Việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi được coi là chế độ tỷ giá ngược với BWS.Như vậy đã không có bất cự một thỏa thuận chung nào được áp dụng chochế độ tỷ giá thả nổi và cũng không có thỏa thuận nào về những quy tắc ápdụng đối với chính sách tỷ giá trong tương lai dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàncủa hệ thống Bretton Woods

Trang 24

3 GIÁ VÀNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG GIÁ VÀNG

Giá vàng tại một thời điểm nào đó, ở một địa điểm cụ thể nào đó thường làkết quả tổng hợp của tình hình tài chính – tiền tệ, mức độ tin tưởng lạc quanhay bi quan của công chúng về nền kinh tế, về các biến cố chính trị, quân sựtại thời điểm đó Nhưng trước hết, về cơ bản, giá vàng được cân bằng giữahai lực lượng chủ yếu: số cung và số cầu về vàng

3.1 Mức cung về Vàng

Mức cung về vàng của thế giới bao gồm các nguồn chính: sản lượng của cácnước ngoài khối XHCN, số lượng bán của các nước XHCN, số lượng giaodịch về vàng của các nước có dự trữ mạnh, sự tuần hoàn của các ngành côngnghiệp có sử dụng vàng

3.1.1 xu hướng chung của mức cung

- Từ 1970 – 1987, mức cung đã tăng từ 1.034 tấn/năm lên 1.606 tấn/năm,tăng 55% Nhìn chung, mức phát triển của các hầm mỏ không đều: gia tăngmạnh vào đầu thời kỳ và sau đó dừng lại ở mức ổn định 1.200 tấn/năm Cácnguồn cung khác cũng biến động ít nhiều qua các năm với nhiều nguyênnhân khác nhau

- Chi phí khai thác vàng của các hầm mỏ quan trọng là nhân tố chủ yếu củagiá vàng thế giới Nam Phi khai thác được khoảng 40-50% sản lượng vànghầm mỏ với giá thành khoảng 200USD/oz Còn 95% sản lượng vàng hầm

mỏ của toàn thế giới năm 1996 có giá thành bình quân khoảng 300USD/oz

3.1.2 Mức khai thác hầm mỏ của các nước có sản lượng lớn

- Nam Phi khai thác vàng nhiều nhất thế giới từ năm 1905, đạt xấp xỉ 50% sản lượng vàng khai thác hàng năm của thé giới Hiện nay, 40 mỏ ởNam Phi đang được sáu nhóm tài chính Anh – Mỹ (dưới hình thức tập đoàn)

Trang 25

40-tham gia khai thác chéo bằng cách hoạt động hỗ trợ nhau Nam Phi có mỏWitwatersrand là mỏ vàng lớn nhất thế giới, với trữ lượng hàng trăm nghìntấn, được phát hiện từ năm 1884 và được khai thác liên tục từ đó đến nay.Sản lượng khai thác trung bình mỗi năm lên đến 350 tấn.

- Canada, nước khai thác vàng đứng thứ hai sau Nam Phi Năm 1987 đãcung ứng cho thị trường 120 tấn Suốt thập niên 70, mức thuế không ổn định

đã ảnh hượng mạnh đến tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài và làm chosản lượng khai thác hàng năm giảm liên tục, chỉ khoảng 50 tấn/năm

Từ năm 1980, nhờ giá vàng thế giới biến động mạnh, Canada đã có hơn 150

dự án phục hồi và khai thác mới, đưa sản lượng khai thác hàng năm củanước này đạt khoảng 130 tấn/năm

- Mỹ - nước đứng thứ ba trong công nghiệp khai thác vàng từ năm 1985 trở

về trước Gần đây, sản lượng vàng của Mỹ cung ứng cho thị trường đã vượtqua Canada Sự phát triển trong ngành khai thác vàng ở Mỹ cũng tương tựnhư ở Canada Cuộc biến động tăng giá vàng năm 1980 đã kích thích sảnxuất, nâng sản lượng khai thác của Mỹ lên năm lần Cũng trong thời kỳ tăngtrưởng này, một số mỏ mới được phát hiện – nhất là ở vùng California – và

là những mỏ lộ thiên nên giá thành khai thác đạt thấp (từ 140 – 200 USD/oznăm 1996)

- Úc – sau hai cơn sốt vàng vào năm 1850 và 1890, Úc đã là một nước sảnxuất vàng quan trọng trên thế giới, cung cấp khoảng 70 tấn/năm Trữ lượng

ở các mỏ cũ này cũng cạn dần đã làm giá thành khai thác ngày càng cao, nênsản lượng khai thác của Úc đã giảm mạnh qua các năm Chỉ từ năm 1980,hoạt động khai thác vàng ở vùng này mới nhộn nhịp trở lại Việc thăm dòkhai thác và mua bán quyền khai thác diễn ra mất trật tự, nhưng nhờ vậy mà

Trang 26

trong vòng 8 năm (1980 – 1987), sản lượng khai thác đã tăng gấp sáu lần,đạt mức 108 tấn/năm.

- Brazil là nước khai thác vàng mới đây đã đứng vào danh sách năm nướcsản xuất vàng lớn trên thế giới, nhưng lại có nhiều khả năng vươn lên hàngđầu trong những thập niên tới Vào những năm 1970, Brazil chỉ đạt sảnlượng khiêm tốn 9 tấn/năm, từ 1976 nâng sản lượng lên 35 tấn/năm Sức sảnxuất của Brazil tăng đều đến năm 1996 đạt 80 tấn/năm

Brazil được đặc biệt chú ý là do tiềm năng trữ lượng vàng của nước nàyđược đánh giá vào khoảng 30.000 tấn, lớn hơn trữ lượng đã biết của NamPhi Đây là yếu tố quyết định cho tương lai thị trường vàng thế giới

- Đối với những nước khai thác vàng khác, đều có những nét chung nhất:chưa đánh giá đầy đủ tiềm năng trữ lượng, phương pháp khai thác rất thô sợhoặc bằng thủ công, sản lượng và năng suất chưa cao Một số nước có sảnlượng cao nhưng việc khai thác lại do các nhà sản xuất nhỏ đảm nhận, họthường thiếu vốn đề mua kỹ thuật nước ngoài cần thiết cho việc khai thác

mỏ với quy mô công nghiệp Trong khi đó, các công ty lớn, chuyên ngànhkhai thác mở vàng ở nước ngoài lại tỏ ra thận trọng khi quyết định đầu tưvào các nước thuộc thế giới thứ ba, vì tình hình chính trị khôn ổn định vàcác chính sách thuế khóa, tài chính luôn thay đổi

3.1.3 Những giao dịch của các nước có dự trữ chủ lực và các cơ quan

quốc tế.

Qua thực tế, chung ta thấy có nhưng năm các quỹ dự trữ có số dư âm, phảinhập khẩu nhiều hơn sản xuất, và ngược lại, những năm khác khi có số dưdương thì cần xuất nhiều hơn nhập để cho quỹ dự trữ ở một mức hợp lý.Hiện nay, các chính sách giao dịch về vàng từ quỹ dự trữ của các ngân hàngTrung ương và của các cơ quan tiền tệ quốc tế được chia làm ba loại:

Trang 27

- Các cơ quan tiền tệ và ngân hàng Trung ương mua số vàng từ nguồn khaithác và sản xuất ngay trong nước (như các nước thuộc châu Phi và châu Mỹ

La Tinh) Lý do là vàng sản xuất trongnước thường có giá thấp hơn giá vàngthế giới lại được trả bằng bản tệ Sự gia tăng các quỹ dự trữ này chủ yếunhằm cải thiện khả năng giải quyết các món nợ nước ngoài

- Những nước không sản xuất vàng nhập vàng từ nước ngoài với một tỉ lệnhất định nào đó trong tổng quỹ dự trữ (cân đối cùng với các ngoại tệ khác)nhằm hạn chế những rủi ro do đã quá lệ thuộc vào một đồng tiềnnào đó(chẳng hạn USD) hoặc để thực hiện một chính sách kinh tế đối ngoại nào đóvới các nước bạn hàgn Ví dụ như mua hàng để giảm mức thặng dư ngoại tệtrong cán cân thương mại giữa một số nước khác so với Mỹ Tiêu biểu chonhóm này gồm có Ả Rập Xêut, Đài Loan

- Những nước bán đứt hoặc mua bán theo phương thức “Gold Swap” nhằm

có nguồn ngoại tệ thanh toán nợ nước ngoài Tuy nhiên, khó có thể thanhtoán nợ nước ngoài bằng cách bán vàng dự trữ để rồi sau đó, lại vội vàngmua vàng trở lại khi điều kiện kinh tế cho phép

3.2 Mức cầu về vàng

Cần phân biệt vàng nguyên liệu dùng để chế biến ra sản phẩm hàng hóa vàvàng tiền tệ dùng như một phương tiện đầu tư, dự trữ Ngoài ra, có một sốlớn vàng vừa là nguyên liệu (như vàng trong công nghiệp kim hoàn) vừamang tính chất dự trữ Dạng vàng này thường tập trung ở Trung Đông, ViễnĐông và Ấn Độ Mặt khác, các khu vực công nghiệp có nhu cầu sử dụngvàng nguyên liệu còn có thể tự cung ứng lại theo quy trình hoàn toàn (táichế) Đối với vàng tiền tệ, mức cầu thuần túy đáp ứng dữ trữ cũng rất khóxác định vì nó bị chi phối bới mức độ tăng giảm dự trữ tùy theo sự thay đổigiá vàng tính bằng bản tệ và tình hình hối đoái

Trang 28

3.2.1 Mức cầu của khu vực kim hoàn

- Khu vực kim hoàn là nguồn tiêu thu chủ yếu trên thị trường vàng, hàngnăm tiêu thụ từ ½ đến ¾ sản lượng vàng khai thác từ các hầm mỏ Mức cầuhàng năm của khu vực này đã tăng dần trong những năm gần đây Mức cầuthuần túy của khu vực kim hoàn cũng rất biến động tùy thuộc sự biến độngcủa giá vàng tính bằng bản tệ của nước tiêu thụ Trong những năm vàng có

xu hướng tăng giá, phong trào đúc lại nữ trang phát triển mạnh Ngược lại,việc sản xuất nữ trang tại các nước phát triển được ổn định hơn Từ đó chothấy việc mua sắm nữ trang ở mỗi nước có một ý nghĩa khác nhau Tại châu

Âu, vật trang sức nói lên vị trí xã hội Tại Trung và Viễn Đông, nhu cầu vậttrang sức bao hàm cả ba yếu tố: thẩm mỹ, tái sản tích lũy được bảo tồn giátrị, và yêu cầu của phong tục tập quán mang tính văn hóa xã hội (ví dụ: theotục lệ cưới hỏi “đòi hỏi” nhiều hoặc ít nữ trang) Cũng chính từ sự khác biệtnày mà nữ trang được chế biến rất khác nhau giữa các nước Chẳng hạn, tạicác nước phương Tây, các món nữ trang có hàm lượng vàng thấp, chi phícho nguyên liệu vàng chỉ chiếm 20-30% tổng giá thành, người ta sẵn sàngtrả tiền công cho thợ cao đẻ có những mầu mã mới, đẹp, độc đáo, kỹ thuậttinh vi Ngược lại, tại các nước phương Đông, người ta thường sử dụngnhững món nữ trang có hàm lượng vàng rất cao để có gia bán lại khia cầngần bằng với giá đã mua Các yêu cầu về mỹ thuật cũng có nhưng không đặtnặng Như tại thị trường Hongkong, 82% nữ trang bán ra là vàng 24K Giớithượng lưu ở HongKong, Nhật Bản… ngày nay cũng có nhu cầu về đồ dùng,các vật trang trí bằng vàng như các vua chúa khi xưa

- Ngoài giá cả, người ta nhận định còn có nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến mức cầu của khu vựa kim hoàn như:

+ Sự thay đổi trong thu nhập thực tế của các gia đình

Trang 29

+ Tốc độ gia tăng dân số

+ Những tập quán thói quen về thẩm mỹ, ví dụ như sự phục hồi các mẫu mã

nữ trang cổ truyền

+ Những quan điểm thay đổi về thời trang (đối với giới trẻ), chẳng hạn, namgiới cũng có nhưng yêu cầu mẫu mã “nam trang”, như nữ trang cho giới nữ.+ Tình hình an ninh trật tự và sự ổn định chính trị

+ Mức độ mở rộng các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, du lịch làm tăngnhu cầu vè các sản phẩm mỹ nghệ, lưu niệm, huy hiệu, huy chương…bằngvàng

Ở mỗi nước, nhu cầu về vàng cho khu vực kim hoàn còn có thể tăng giảm dohoạt động xuát khẩu các sản phẩm kim hoàn sang các nước khác

3.2.2 Mức cầu của các ngành công nghiệp sử dụng vàng

Nhờ vào tính chất vật lý và nhu cầu thẩm mỹ của vàng, một số ngành côngnghiệp đã sử dụng nguyên liệu vàng ngày càng nhiều hơn, với tổng mức tiêuthu khoảng 200 – 300 tấn/năm trong hai ngành chủ yếu:

- Ngành công nghiệp điện tử: Ngành công nghiệp này tập trung ở vài nước

hàng đầu như Mỹ, Nhật Hai nước này tiêu thụ 70% số vàng nguyên liệu sửdụng cho ngành điện tử trên thế giới, từ 70-90 tấn/năm Nhịp độ tiêu thụvàng cho ngành công nghiệp này vẫn không ngừng tăng lên, mức cầu daođộng ở khoảng 100 – 300 tấn/năm

- Ngành nha khoa: Mức cầu về vàng trong nha khoa có các đặc điểm:

+ Phụ thuộc vào tình hình thu nhập thực tế của từng người và chế độ phúclợi xã hội – y tế của mỗi nước

+ Phụ thuộc vào khái cạnh thẩm mỹ và sở thích của người sử dụng

Trang 30

+ Phụ thuộc vào tiến bộ kỹ thuật trong việc tìm những hợp kim thay thế vớigiá rẻ hơn.

Vì thế, từ năm 1980 – 1987, mức cầu về vàng trong nha khoa đã giảm (năm1980: 64,3 tấn, năm 1987: 48 tấn) Riêng ở Nhật Bản, nhu cầu này lại tănglên ( 1980: 6,4 tấn, năm 1987: 11,9 tấn)

Ngoài hai ngành nêu trên, một số ngành công nghiệp, thủ công nghiệp kháccũng sử dụng vàng làm nguyên liệu

3.2.3 Mức cầu dự trữ của các ngân hàng quốc gia

Đặc biệt các nước công nghiệp mới, các nước có nền kinh tế cất cánh, cóthặng dư ngoại tệ như Đài Loan, Ấn Độ… thường cất trữ bằng vàng

3.2.4 Mức cầu về đầu tư và đầu cơ

Một số lượng vàng dùng để giao dịch trên thị trường không cần đến côngnghiệp chế tác Nó được giữ ở dạng nguyên chất và được đúc thành thỏi, nén

để đáp ứng nhu cầu tích trữ của từng đối tượng

- Phân loại đối tượng mua vàng:

Khi nghiên cứu về khía cạnh giá vàng trên thị trường, chúgn ta cần lưu ýphân biệt động cơ mua vàng và những phản ứng của họ đối với giá vàng.Các đối tượng này là những tác nhân quan trọng can dự vào sự hình thànhgiá vàng trên thị trường khiến cho giá cả có thể tách rất xa với giá trị thựccủa vàng Thường có ba loại đối tượng:

1/ Những người tích trữ: Đây là những người giữ vàng chủ yếu nhằm đề

phòng những mối nguy cơ về chính trị hay đứng trước bối cảnh đen tối củanền kinh tế PHần tài sản bằng vàng này là một hợp đồng bảo vệ chắc chắncho họ “trốn nạn lạm phát” tại chỗ, hoặc dễ dàng có điều kiện sinh sống khithay đổi nơi cư trú Họ có ba đặc điểm: giữ vàng như một tài sản chìm tại

Trang 31

nơi chắc chắn, giữ trong thời gian dài không cần nhắc tới yếu tố lợi nhuậnkhi quyết định mua hay bán vàng, và họ cũng không tâm đến tác động lênxuống của giá cả.

2/ Những nhà đầu tư: Họ cũng tích trữ nhưng “tích cực” hơn người tích trữ

vàng biểu hiện ở đặc điểm: “tinh vi” hơn dưới dạng “vàng tín dụng” gửi tạimột tài khoản ngân hàng, xem vàng như nguồn vốn đầu tư sinh lợi và chỉ giữnguồn vốn dưới dạng bằng vàng khi cần thiết Họ thường thực hiện nhiềulần hành vi mua – bán, hoặc vay và cho vay, qua đó nguồn vốn của họ tănglên Họ quan tấm đến sự biến động giá vàng cả trong ngắn lẫn dài hạn và đặt

nó lên bàn cân lãi suất

3/ Những người đầu cơ: Họ hoạt động tương tự như người đầu tư Nhưng họ

cố dự đoán và khai thác sự biến đông của giá vàng trong thời gian ngắn HỌchấp nhận rủi ro cao hơn để có thể thu được lợi nhuận nhiều hơn bằng sựcảm nhận nhanh chóng và phản ứng linh hoạt, nhạy bén trước những nhân tốtác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá vàng

3.2.5 Tình hình đầu tư và đầu cơ vàng ở các nước

Các nhà đầu tư ở phương Tây hiện nay không còn hcú ý đến vàng như 20năm trước đây Họ đã chuyển một phần vốn quan trọng sang thị trườngchứng khoán, đầu tư ngày càng nhiều vào các cổ phiếu của các công ty đaquốc gia, các công ty tài chính đưa nguồn vốn của họ đến các nước đangphát triển Do đó, tuy giá vàng giảm trong những năm 1985 – 1986 nhưngcũng không gây được những đợt mua vàng lớn Họ đã thực hiện theo lờikhuyên của nhà quản lý chứng khoán: chỉ giữ một phần tài sản khoảng 5% -15% dưới dạng bằng vàng Riêng ở Mỹ vào năm 1986, kho bạc Mỹ pháthành đồng tiền vàng “Con Ó” đã tiêu thụ được ngay 60 tấn vàng Sức hấpdẫn của đồng tiền này đối với công chúng Mỹ nằm ở khía cạnh “tình cảm”

Trang 32

nhiều hơn khía cạnh lợi tức Cùng năm này ở Nhất đã diễn ra tương tự, cóhơn 182 tấn vàng được dùng vào việc đúc tiền kỷ niệm 60 năm trị vì củaNhất hoàng Hirohito được bán ra Giá của những đồng tiền vàng này ngàycàng cao hơn hẳn giá trị của hàm lượng vàng tỏng nó Vì thế, đã có một số

tổ chức bất hợp pháp dùng vàng thất để đúc thêm đồng tiền vàng này

Các trung tâm tích trữ vàng với số lượng lớn hiện nay thuộc khu vực Trung

và Viễn Đông

Tại Trung Đông, nơi mà dân chúng vùng Vịnh có truyền thống ưa thíchvàng, tình hình chính trị luôn sôi động, thiếu vằng các hình thức đầu tưchứng khóan và tín dụng… Vì thế vàng vẫn là phương tiện đầu tư và đầu cơrất thuận lợi Hằng năm họ có thể tiêu thụ hàng chục tấn vàng của thị trườngvàng thế giới dưới dạng vàng thỏi và vàng miềng 1 ounce, đồng thời, họcũng thích mua nhiều nữ trang vàng 24K Tuy nhiên, họ rất nhạy bén với sựbiến động của giá vàng tính bằng đòng tiền của họ và có chiều hướng bánvàng khi giá gia tăng để sau đó giá hạ thị lại mua vào Số cầu của họ còn tùythuộc một nhân tố rất quan trọng là nguồn thu nhập từ dầu mỏ

Vùng Viễn Đông được đánh giá là một trung tâm tiêu thụ lớn số vàng từ cácthị trường vàng phương Tây Thị trường tiêu thụ vàng lớn nhất khu vực này

là HongKong, Singpore và Tokyo Những thị trường này đã nhanh chóngtiếp thu các kỹ thuật hiện đại về vàng của phương Tây và sẵn sàng mở cửa

ch onhững nhà đầu tư vàng thế giới tham gia Tại những nơi này, số lượnggiao dịch bằng vàng thật rất cao (khác với thị trường châu Âu có giao dịchvàng bừng tài khoản cao hơn) do nhu cầu dự trữ và sản xuất nữ trang rất lớn.Nhu cầu vàng châu Á năm 1994 tăng khoảng 6-15% do kinh tế phát triểnnhanh và việc giảm bớt các hạn chế nhập khẩu Châu Á đã trở thành thị

Trang 33

trường vàng lớn nhất thế giới với mức tiêu thụ lên đến 1.400 tấn bằng 75%

số vàng phương Tây khai thác năm 1993

3.3 Tổng hợp các yếu tố cơ bản của giá vàng

Mức cầu về vàng:

- Mức cầu của khu vực kim hoàn khoảng 1.000 tấn (50%)

- Mức cầu của các ngành công nghiệp khoảng 250 tấn (12%)

- Mức cầu của dự trữ dưới dạng tiền đúc khoảgn 200 tấn (10%)

- Mức cầu của dự trữ dưới dạng vàng thỏi, nén của các hoạt động tíchlũy, đầu cơ khoảng 560 tấn (28%)

Trong các nhân tố trên, mức cầu về kim hoàn, về đầu tư và mức cung về táichế (vàng dùng lại) chịu ảnh hưởng của các biến động về giá vàng trongngắn hạn

Khi giá vàng tăng do ảnh hưởng của một nguyên nhân nào đó ngoài thịtrường, tức là ngoài những nhân tố cơ bản (như biến cố quan sự hay sự biếnđộng của giá dầu mỏ chẳng hạn) thì các mức cung cầu trên đây sẽ bị ảnhhưởng theo Những tư nhân đầu tư và đầu cơ sẽ dự báo giá vàng tăng và họ

sẽ gia tăng số lượng mua vào, trong khi các nhà sản xuất, khai thác từ hầm

mỏ cũng sẽ trì hoãn việc giao hàng để hi vọng bán với giá cao hơn trong vàituần tới Sự mất cân đối tạm thời này giữa cung và cầu tạo cho giá vàng cóchiều hướng gia tăng Lúc đó vào mỗi thời điểm, đường biểu diễn của giávàng đều có thể lên, hoặc ngừng hoặc gia tăng và dao động nhẹ hoặc sẽ độtngột giảm xuống… tùy theo những yếu tố ảnh hướng đến mức cung và cầu.Một điều cần lưu ý là khi sự mất cân đối giữa cung và cầu đi trước sự biếnđộng của giá vàng, nó sẽ gây ra nhưng cơn sốt giá rất nặng nề Đây là một sựbiến động do mất cân đối giữa các nhân tố nội tại của thị trường vàng

Trang 34

Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, sự mất cân đối cung, cầu có thể đi trước(và là nguyên nhân) hay theo sau (và là hậu quả) của sự thay đổi giá vàng.Cuối cùng các nhân tố cơ bản của cung, cầu sẽ kiềm giữ hoặc làm thay đổinhững lực lượng đầu cơ quá đáng trên thị trường.

3.4 Một số yếu tố tác động đến giá vàng thế giới

Các yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lại với vàng Chúng không làmthay đổi vè cơ bản mức giá vàng đã xác lập theo những nhân tố nội tại củathị trường vàng (cung và cầu) nhưng lại có thể là nguyên nhân làm giá vàngbiến động Ngược lại, nó cũng chịu ảnh hưởng của giá vàng khi giá vàngbiến động trước

3.4.1 Mối quan hệ giữa giá vàng và giá dollar Mỹ.

Hối suất của USD so với đồng tiền mạnh của châu Á (Yên Nhật) thườngđược xem là những yếu tố làm thay đổi giá vàng

Thông thường, USD lên giá so với các đồng tiền manh khác sẽ đi đôi vớihiện tượng giảm giá vàng và ngược lại Điều này gần như một thông lệ vícác lý do sau:

- Từ năm 1960, vàng vàngới vai trò đặc biệt trong hệ thống tiền tệ quốc tế,được xem là một phương tiện chủ yếu trong việc đầu tư và đầu cơ chống lạiUSD Kể từ đó, mối quan hệ qua lại trong sự phối hợp giữa hai loại tài sảnnày trở thành một nếp suy nghĩ của những người đầu tư: Sự tăng giá ở thịtrường này (vàng hoặc USD) sẽ tự động tạo ra áp lực hạ giá ở thị trường kia.Ngay cả trong giai đoạn vai trò tiền tệ của vàng đã suy giảm (sau 1971 đếnnay), trên thực tế vàng vàngẫn còn là một giá trị ẩn trú khi tài sản là USD cónguy cơ bị mất giá Trong một chừng mực nào đó, người ta dùng hối suất thả

Trang 35

nỗi giữa USD vàngới các đồng tiền mạnh khác như một tỉ số kinh tế để cânnhắc quyết định đầu tư hay đầu cơ vàng.

- Mọi giao dịch mua bán vàng trên các thị trường thế giới đều dùng đơn vịUSD/ounce để tính giá vàng Như vậy, hối suất giữa USD với bản tệ sẽ xácđịnh trực tiếp giá vàng tính bằng tiền của nước đó Hối suất cũng sẽ gây ranhững đợt mua bán vàng trên thị trường vàng thế giới Cụ thể như khi hốisuất USD so với bản tệ tăng, giá vàng trong nước sẽ tăng làm sức mua vànggiảm, dẫn đến sự sụt giảm số cầu về vàng trên thị trường thế giới

Tuy nhiên, khi khảo sát giá vàng và giá USD trên thị trường thế giới từtháng 11/1978 đến tháng 4/1986, người ta đã ghi nhận được:

+ giá vàng và giá USD biến động ngược chiều: 62,5% tổng số trường hợp.+ giá vàng và giá USD biến đổi cùng chiều 37,5 tổng số trường hợp

Như vậy mối quan hệ giữa giá vàng và giá USD không phải lúc nào cũngdiễn biến ra đúng theo thông lệ

Ngoài ra, trong sự biến đổi ngược chiều hoặc cùng chiều, tỷ lệ biến độngtăng giảm giá vàng không cùng thời điểm và cũng không cùng một tỉ lệ biếnđộng của USD Bởi lẽ, tự thân giá vàng hay giá USD còn chịu tác động đồngthời của nhiều yếu tố khác

3.4.2 Mối quan hệ giữa giá vàng và giá dầu thô.

Trung Đông là một khu vực có đặc điểm ưa thích dự trữ tài sản bằng vàng

Vì thế, việc bán dầu của họ cũng gắn với việc mua vàng trên thị trường thếgiới Chính nguồn cung về dầu và nguồn cầu về vàng ở khu vực này đều có

số lượng lớn chi phối giá cả của hai mặt hàng và hình thành mối quan hệ vềgiá Chẳng hạn, tỷ lệ 14 thùng dầu thô/ounce vàng đã giữ ổn định trong suốt

Trang 36

6 năm (1974-1980) nhưng sau đó, giá vàng tăng mạnh trong khi giá dầu thôsụt giảm (1985) đã xác lập một tỷ lệ mới 25-35 thùng/ounce vàng.

Mặt khác, USD lại chính là đơn vị tiền tệ dùng trên các hóa đơn mua bándầu thô, do đó, mối quan hệ giá vàng – giá dầu thô – giá USD lại có xuhướng tác động phức tạp lên nhau Cả vàng và dầu là những hàng hóa có giátrị thực, nhu cầu lớn đối với nền kinh tế thế giới trong khi đồng USD thựcchất chỉ là một dạng dấu hiệu của giá trị, thực ra nó không có giá trị thực Vìvậy khi USD mất giá thì các hàng hóa được định giá bằng đồng tiền này –các hàng hóa có giá trị thực và chiếm tỉ trọng cao trong thương mại quốc tế –như vàng, dầu, lương thực thực phẩm… sẽ đồng loạt lên giá để phản ánhđúng giá trị thực của nó Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của USD lên từngloại hàng hóa không phải bao giờ cũng ngang nhau, nghĩa là không phảiUSD mất giá 20% thì sẽ làm cho cả giá dầu, giá vàng… cùng tăng giá lên20% do USD không chỉ điều chỉnh 2 thị trường vàng và dầu mà nó còn ảnhhưởng tới rất nhiều các thị trường khác và các thị trường này có quan hệ, tácđộng phức tạp lẫn nhau Mặt khác thị trường vàng và dầu cũng không phảichỉ bị chi phối bởi giá trị của đồng USD mà nó còn chịu tác động bởi hàngloạt các yếu tố khác như quan hệ cung cầu, tâm lý của người tích trữ, nhàđầu tư, đầu cơ…

Một cách giải thích khác về mối quan hệ giữa vàng – dầu và USD là: khi giádầu thô giảm, các nước tiêu thụ dầu thô sẽ giảm được số USD cần cho nhucầu này, giúp cho các nước đó giảm tỷ lệ lạm phát, giá trị đồng bản tệ tănglên, tức là hối suất so với USD giảm xuống kéo theo sự sụt giảm giá vàng.Trong khi đó, đối với các nước xuất khẩu dầu như Mỹ, khi nguồn thu về dầuthô giảm sẽ gây ảnh hưởng xấu đến giá USD và ảnh hưởng tốt cho giá vàngtăng lên trên thị trường thế giới Ngược lại, khi giá dầu tăng do tình hình

Trang 37

khủng hoảng quân sự, chính trị tại Trung Đông bùng nổ trở lại thì giá vnàg

sẽ nhạy cảm với cường độ căng thẳng tại vùng này Lúc đó, không phải giávàng tăng theo giá dầu mà là cùng với giá dầu chịu ảnh hưởng của các biến

cố chính trị Vì vậy, chung ta cần khảo sát các nguyên nhân trực tiếp làmtăng giảm giá dầu để đánh giá các mức độ ảnh hưởng khác nhau làm thayđổi giá vàng

3.4.3 Mối quan hệ giữa giá vàng và giá cả của các hàng hóa khác

Sự xói mòn giá trị của đồng tiền được phản ánh qua sự gia tăng chỉ số giátrên hầu hết các loại hàng hóa hay còn gọi là mức độ lạm phát Nếu chỉ sốlạm phát tăng hoặc giảm quá một mức độ nào đó, nó sẽ có tác động đến giávàng Tuy vậy, việc định lượng các yếu tố lạm phát ảnh hưởng trên giá vàng

sẽ không rõ rệt – nhất là ở những nước có mức độ lạm phát hoặc giảm phátkhông cao Mối quan hệ qua lại giữa giá vàng với tốc độ lạm phát hoặc giảmphát có một số đặc điểm:

- Trong thời kỳ giá cả các hànghóa luôn gia tăng, chính phủ không kiểm soátđược tốc độ lạm phát, công chúng sẽ đầu tư vào vàng như một phương thứuc

dự trữ tài sản, một biện pháp bảo toàn vốn có hiệu quả nhất Mức độ lạmphát càng cao, chức năng phương tiện thanh toán thay cho tiền của vàngcàng thể hiện rõ nét hơn, thậm chí các đơn vị trọng lượng của vàng đượcdùng để định giá trị, giá cả các loại hàng hóa khác Vì thế, chỉ số gia tăng giávàng được xem như là chỉ số chủ yếu phản ánh cho sự gia tăng giá cả hànghóa – tức mức độ lạm phát

- Một trong những tác hại của lạm phát là làm gia tăng tính ngẫu nhiên trongphân phối lại thu nhập của cải trong dân chúng Do đó, khi lạm phát diễn ratrong một thời gian tương đối dài, dân chúgn sẽ dùng vàng làm hàng rào đểche chắn lạm phát và che chắn tai họa bị điều tiết thu nhập, của cải dưới

Trang 38

dạng bằng tiền Lúc đó, số cầu về vàng sẽ phát sinh ở mỗi người và ở cả mộtcộng đồng sẽ thường xuyên đẩy số cầu vàng tăng cao, tiếp tục đẩy giá vàngtăng thêm.

- Trên một khía cạnh khác, không phải lúc nào chỉ số gia tăng giá vàng cũngphản ánh mức tăng chỉ số lạm phát – nhất là khi có yếu tố đầu cơ can dựvào Yếu tố này sẽ đẩy giá vàng đột biến tăng cao và đôi khi hiện tượng nàyxảy ra trước mang tính báo động sẽ có lạm phát gia tăng đột biến Nhữngcũng có lúc nó chẳng phải là dấu hiệu của một cơn sốt giá cả các hàng hóakhác mà chỉ đơn thuần là vì người đầu cơ muốn tìm thu nhập cao hơn quadịch vụ cung cấp “hàng rào vàng”

3.4.4 Ảnh hưởng do các chính sách của Nhà nước đối với vàng.

Ngoài các chủ trương chính sách của Nhà nước về kinh tế, chính trị có thểảnh hưởng gián tiếp đến giá vàng, người ta còn nhận định những sự thay đổitrong chủ trương của nhà nước về quyền cất giữ vàng, kinh doanh vàng vàcác chính sách thuế khóa đối với vàng… là các nhân tố ảnh hưởng trực tiếpđến giá vàng

Lịch sử cho thấy ở đa số các nước, Nhà nước luôn tìm cách ngăn chặn ngườidân mua bán và cất trữ vàng vì các lý do kinh tế, chính trị, đạo đức và tôngiáo, nhằm chuyển vàng vào công quỹ Cho đến nay, mọi biện pháp thả lỏnghay thắt chặt đối với vàng đều đã được các nước áp dụng, từ những quy địnhtương đối thoáng, chỉ ở mức độ kiểm soát việc kinh doanh vàng khi xuất –nhập vào lãnh thổ cho đến biện pháp gắt gao như cấm tư nhân cất giữ vàngdưới bất kỳ dạng nào khác ngoài nữ trang, đồ mỹ nghệ và Nhà nước nắm giữ

độ quyền ngoại thương về vàng

Hậu quả của chính sách này đều giống nhau ở khắp mọi nơi: mức cungkhông đủ cho mức cầu về vàng của tư nhân, mức chênh lệch giữa giá vàng

Trang 39

nội địa và giá vàng thế giới đủ sức hấp dẫn cho các hoạt động buôn lậu pháttriển.

Vì thế, hiện nay các nước dù không còn sử dụng các biện pháp cứng rắnnhưng cũng đều đặt vàng trong tầm kiểm soát của Nhà nước với những mức

độ quản lý khác nhau phù hợp với điều kiện kinh tế và quan điểm của chínhquyền Nhìn chung, đa số các nước đều chọn giải pháp cho tư nhân tự do cấttrữ và kinh doanh vàng, nhưng không được xuất nhập khẩu vàng, đồng thờităng cường các biện pháp kiểm soát hối đoái Khi đó, một sự thay đổi nàotrong các biện pháp cụ thể này đều có thể ảnh hưởng kéo theo sự thay đổigiá vàng trong nước

Một khi vàng đã trở về vị trí là một loại hàng hóa, việc kinh doanh vàng đềuphải chịu thuế như kinh doanh những hàng hóa khác

Chính sách thuế ở một số nước cho thấy mức thuế suất trên các giao dịch vềvàng cũng khác biệt nhau Có những nước không danh cho kinh doanh vàngmột sự ưu đãi về thuế như Ý: 35%, Tây Ban Nha: 30% Trái lại,Luxembourg không đánh thuế trên các giao dịch về vàng và nhờ đó họ đãđược khoản lãi đáng kể trong kinh doanh vàng

Tất nhiên, mọi khoản thuế có liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng cuốicùng rồi cũng đưa vào giá bán các sản phẩm của vàng Vì vậy, khi áp dụngchính sách thuế đánh trên vàng sẽ ảnh hưởng đến giá vàng

Khi giá bán có tính thuế, giá vàng trong nước tăng, sẽ dẫn đến mức cầu vềvàng có thể bị giảm nếu thu nhập của công chúng không tăng Lúc đó, cácnhu cầu về nữ trang bằng nguyên liệu vàng được sử dụng thay thế (như cácloại nữ trang bằng nhựa, thủy tinh, bằng kim loại khác… vừa rẻ vừa có mẫu

mà, màu sắc đa dạng, phong phú) Mặt khác, số cầu về vàng dự trữ cũng

Trang 40

giảm đi do các nhà đầu tư, đầu cơ chuyển dịch vốn sang thị trường chứngkhoán, thị trường hối đoái Bởi lẽ, nếu áp dụng thuế suất 30% thì chênh lệchgiữa giá bán và giá mua không thể dưới 30% giá bán, trong khi hiếm khi cóbiến cố gây tăng giảm giá vàng 30% trong ngắn hạn

Tuy nhiên, khi giá vàng trong nước tăng cao so với giá vàng thế giới, sẽ xuấthiện các hoạt động buôn lậu đưa vàng vào thị trường nội địa, hình thành mộtthị trường phi chính thức Các nhà đầu tư, đầu cơ vàng cũng sẽ tiếp tụchướng về vàng vì lúc này họ là người “ăn theo” mức thuế suất cao đánh trênvàng (nhưng Nhà nước không thu được) TÌnh hình sẽ đưa đến sự biến độnggiá vàng rất phức tạp do nhiều mức giá khác nhau trên cùng một địa bàn, tạođiều kiện cho các hoạt động đầu cơ đẩy giá vàng lên xuống bất ngờ

Chú giải:

Giá vàng thế giới

15

1 2 3

7 6 5 14

13

8

9

10 4

16 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới

Ngày đăng: 17/02/2014, 13:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w