Đến nay đã cơ bản thống kê, phân loại các làng nghề trên địa bàn tỉnh theo Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng chưa được phân loại theo Th
Trang 1UBND TỈNH HÀ TĨNH
SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: /STNMT-CCMT
V/v báo cáo công tác bảo vệ
môi trường làng nghề nông thôn
Hà Tĩnh, ngày tháng 5 năm 2020
Kính gửi: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Tài nguyên và Môi trường nhận được Văn bản số 790/SNN-PTNT ngày 28/4/2020 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc báo cáo kết quả thực hiện phát triển ngành nghề nông thôn và bảo tồn, phát triển làng nghề, Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo một số nội dung liên quan đến lĩnh vực ngành phụ trách như sau:
I Công tác điều hành chỉ đạo
1 Về ban hành và triển khai thực hiện các văn bản pháp luật về BVMT tại các làng nghề
- Về ban hành văn bản quy phạm pháp luật về BVMT làng nghề:
Tỉnh Hà Tĩnh không ban hành văn bản chuyên biệt quy định về BVMT làng nghề mà nội dung về BVMT làng nghề được quy định tại Điều 7 Quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh ban hành kèm theo Quyết định số 11/2018/QĐ-UBND ngày 11/4/2018 của UBND tỉnh Hà Tĩnh
Bên cạnh đó, tại các Quyết định số 59/2012/QĐ-UBND ngày 19/10/2012 của UBND tỉnh Ban hành quy định trình tự, thủ tục xét công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống; Quyết định số 93/2014/QĐ-UBND ngày 25/12/2014 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 59/2012/QĐ-UBND ngày 19/10/2012; Quyết định số 47/2019/QĐ-UBND ngày 30/8/2019 ban hành quy định công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đều đưa tiêu chí BVMT là một trong các tiêu chí để công nhận làng nghề, làng nghề truyền thống
- Về triển khai thực hiện các văn bản về BVMT làng nghề
Thực hiện các văn bản pháp luật về BVMT làng nghề như Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể BVMT làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và Thông tư 31/2016/TT-BTNMT ngày 14/10/2016 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường trong CCN, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung, làng nghề và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ … UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có văn bản số 2391/UBND-NL1 ngày 10/7/2013 chỉ đạo
Trang 2việc triển khai thực hiện Đề án tổng thể BVMT làng nghề; Sở Tài nguyên và Môi trường đã có nhiều văn bản chỉ đạo các địa phương thực hiện việc thống kê, phân loại các cơ sở trong làng nghề theo loại hình sản xuất và tiềm năng gây ô nhiễm môi trường Đến nay đã cơ bản thống kê, phân loại các làng nghề trên địa bàn tỉnh theo Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT ngày 26/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhưng chưa được phân loại theo Thông tư 31/2016/TT-BTNMT; nhiều cơ sở sản xuất tại các làng nghề đã thực hiện thủ tục môi trường theo quy định Tuy nhiên, nhìn chung, phần lớn các cơ sở sản xuất làng nghề hiện nay vẫn
là quy mô sản xuất nhỏ đang nằm xen kẽ trong khu dân cư, chưa thực hiện di dời
và chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục và công trình BVMT theo quy định
2 Về công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về BVMT tại các làng nghề
Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về BVMT đối với làng nghề mới được thực hiện tại một số cơ sở sản xuất nằm trong CCN làng nghề Trung Lương (thị xã Hồng Lĩnh), CCN làng nghề Thái Yên, CCN làng nghề Trường Sơn (huyện Đức Thọ) và làng nghề Cẩm Nhượng Còn tại các địa phương khác,
do hoạt động sản xuất của các làng nghề chủ yếu phân tán, quy mô nhỏ trong các
hộ gia đình, mức độ tác động đến môi trường không đáng kể và số lượng cán bộ quản lý môi trường ở địa phương còn hạn chế nên công tác thanh tra, kiểm tra chưa được chú trọng
II Thực trạng và diễn biến môi trường làng nghề trên địa bàn
Toàn tỉnh hiện có 19 làng nghề, trong đó, tập trung vào 03 nhóm chính: + Làng nghề thủ công mỹ nghệ bao gồm các nghề mộc, đan lát, sản xuất chiếu cói, nón, bông đệm,…: loại hình này gồm 11 làng nghề trong đó riêng nghề mộc có 4 làng nghề; còn lại là các làng nghề (ghề nón, chăn ga gối đệm, chổi đót, làm hương, mây tre đan, chiếu cói)
+ Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm: gồm 7 làng nghề trong đó có 3 làng nghề chế biến hải sản; 2 làng nghề nấu rượu; 1 làng nghề sản xuất bún bánh
và 1 làng nghề làm bánh
+ Làng nghề gia công cơ khí: chỉ có 1 làng nghề rèn đúc Trung Lương
1 Các vấn đề môi trường chính tại các làng nghề
Mỗi làng nghề phát sinh vấn đề môi trường khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng loại hình sản xuất của từng làng nghề
- Đối với các làng nghề chế biến, sản xuất đồ gỗ (Thái Yên, Trường Sơn, Xuân Phổ, Tràng Đình – Yên Lộc): ô nhiễm bụi và tiếng ồn là vấn đề môi trường chính Nguồn gây bụi chủ yếu phát sinh từ các công đoạn cắt xẻ (máy cưa), pha
gỗ nguyên liệu (máy vanh, bào, khoan), và công đoạn đánh bóng gia công bề mặt (máy chà, máy đánh nền, máy đánh giấy ráp) Trong đó, bụi từ các máy cưa xẻ,
Trang 3pha gỗ thường có kích thước lớn, dễ lắng, còn bụi từ các máy chà, máy đánh giấy ráp có kích thước nhỏ, dễ phát tán trong không khí gây ô nhiễm môi trường khu vực sản xuất và khu dân cư
Thực tế triển khai tại các làng nghề chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh, nhiều cơ
sở sản xuất đã có những biện pháp hạn chế bụi, bố trí vị trí làm việc của các máy cưa, máy chà, máy đánh bóng ở những khu vực riêng, ít người qua lại Tuy nhiên,
do diện tích nhà xưởng chật hẹp, không có vách ngăn nên biện pháp này hầu như không có hiệu quả đối với các loại bụi nhỏ Trong khi đó, bảo hộ lao động duy nhất của người thợ nghề là khẩu trang Ngoài ra, đối với các hộ sản xuất sản phẩm hoàn thiện, người lao động còn thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với hơi dung môi hữu cơ trong các loại keo cồn, sơn, vecni Tại khu vực sản xuất, tiếng
ồn do các máy móc hoạt động tương đối lớn, đặc biệt là máy cưa CD, máy vanh, máy bào và khoan Mức độ ồn cao chủ yếu vào ban ngày với mức âm dao động từ
60 - 75 dBA, trên dưới tiêu chuẩn cho phép Hiện nay, hầu hết các hộ sản xuất chưa có biện pháp để hạn chế tiếng ồn
Ngoài ra, các tại các làng nghề sản xuất đồ gỗ còn phát sinh các loại chất thải rắn: lọ đựng keo cồn, hộp sơn, vecni, giấy ráp, giẻ lau dính dầu, sơn, vecni Lượng chất thải này đối với từng hộ sản xuất là không lớn, tuy nhiên đây là loại chất thải có tính nguy hại, hiện nay đang được thải chung với chất thải sinh hoạt nên nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao
- Đối với các làng nghề chế biến thủy, hải sản (Kỳ Ninh, Cẩm Nhượng, Thạch Kim) và các làng nghề sản xuất bún, bánh: đối với loại hình sản xuất này nước thải là dạng ô nhiễm đáng kể nhất do đặc thù sản xuất chế biến sử dụng nhiều nước, hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải cao, dễ phân hủy Lưu lượng nước thải ở các loại hình chế biến khác nhau sẽ khác nhau Thành phần và nồng độ ô nhiễm trong nước thải phụ thuộc vào loại nguyên liệu, sản phẩm và công nghệ chế biến Nước thải từ các làng nghề này thường có mùi hôi do sự phân huỷ chất hữu cơ hoặc các chất lẫn trong nước thải Mùi đặc trưng của nước thải ổn định hoặc đã phân hủy là mùi khí H2S-hydro sulfur Trong khi đó, do quy
mô sản xuất ở làng nghề đa số là quy mô nhỏ, manh mún, diện tích sản xuất chập hẹp, nằm xen kẽ trong khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật về BVMT tại các làng nghề rất hạn chế Hầu hết các hộ sản xuất đều xả thải trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm môi trường khu vực, ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động tại các làng nghề và cuộc sống của người dân sinh sống xung quanh
- Đối với làng nghề gia công cơ khí (làng nghề Trung Lương): Ô nhiễm môi trường không khí, tiếng ồn là vấn đề cần quan tâm tại các làng nghề gia công
cơ khí Các thành phần khí ô nhiễm chủ yếu là: CO, CO2, SO2, NOx, nhiệt, hơi axit, bụi kim loại Đây là nguồn gây ô nhiễm đáng kể trong làng nghề và ảnh
Trang 4hưởng trực tiếp đến người dân Do đặc trưng hoạt động của các làng nghề với mức độ cơ khí hóa còn thấp, trang bị bảo hộ lao động còn hạn chế, người lao động thường xuyên tiếp xúc với các loại bụi, khí thải, tiếng ồn, nhiệt trong quá trình sản xuất Do đó loại hình hoạt động này thường ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người lao động
Theo kết quả điều tra tại làng nghề Trung Lương cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tại làng nghề tương đối lớn, bao gồm: xỉ than, kim loại vụn, xỉ lò nung, phế thải từ khâu sơ chế nguyên liệu Lượng chất thải này hiện nay chưa có biện pháp xử lý phù hợp Việc thải bỏ chất thải rắn không theo quy hoạch và không được quản lý gây nguy cơ ảnh hưởng tới chất lượng đất của làng nghề và gây mất mỹ quan khu vực
2 Diễn biến các thành phần môi trường làng nghề
Hiện tại, tỉnh chưa có chương trình quan trắc chất lượng môi trường tại các làng nghề mà chỉ có một số điểm trong mạng lưới quan trắc của tỉnh nằm gần khu vực làng nghề Theo kết quả quan trắc chất lượng không khí xung quanh trong những năm gần đây tại các gần khu vực làng nghề như Trung Lương (thị xã Hồng Lĩnh), Thái Yên (huyện Đức Thọ), Cẩm Nhượng (huyện Cẩm Xuyên), Thạch Kim (huyện Lộc Hà), Kỳ Ninh (thị xã Kỳ Anh) cho thấy chất lượng môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn tại các khu vực này hiện vẫn đang nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh và QCVN 26:2010/BTNMT- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn
Đối với các thành phần môi trường khác hiện nay tỉnh chưa thực hiện quan trắc, do đó chưa đánh giá được hiện trạng và diễn biến môi trường của các thành phần như nước thải, nước dưới đất, khí thải tại các làng nghề trên địa bàn
3 Những tồn tại, hạn chế
- Các cơ sở, hộ sản xuất trong các làng nghề phần lớn đều là sản xuất quy
mô nhỏ, hoạt động như nghề phụ kiêm làm nông nghiệp; người lao động phần lớn
là nông dân; ý thức BVMT của các cơ sở, hộ sản xuất nhìn chung còn thấp, chưa chú trọng đầu tư công trình bảo vệ môi trường theo quy định
- Các cơ sở sản xuất ở các làng nghề bố trí chủ yếu quy mô nhỏ, manh mún, diện tích sản xuất chập hẹp, nằm xen kẽ trong khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật
về BVMT tại các làng nghề rất hạn chế
- Nguồn kinh phí đầu tư kết cấu hạ tầng về BVMT tại các làng nghề chưa đảm bảo, do đó nhiều hạng mục công trình BVMT như hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung, khu tập kết chất thải rắn, kho chứa chất thải nguy hại, khu phun sơn PU tập trung (đối với sản xuất đồ mộc) chưa được đầu tư xây dựng
Trang 5theo kế hoạch dẫn đến các doanh nghiệp, hộ sản xuất hoạt động trong các làng nghề gặp nhiều khó khăn khi thực hiện công tác BVMT
- Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về BVMT chưa đáp ứng, thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng; chưa bố trí cán bộ chuyên trách quản
lý về bảo vệ môi trường làng nghề
III Phương hướng nhiệm vụ, giải pháp BVMT làng nghề trong giai đoạn 2021-2025 và định hướng đến năm 2030
Để đẩy mạnh thực hiện công tác BVMT làng nghề, thời gian tới cần triển khai một số giải pháp sau:
- Đánh giá, phân loại các làng nghề trên địa bàn tỉnh theo mức độ ô nhiễm môi trường theo Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT
- Nghiên cứu, đề xuất một số cơ chế, chính sách về BVMT phù hợp với đặc thù của làng nghề, năng lực của các cơ sở sản xuất trong làng nghề; hướng dẫn kỹ thuật áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn và xử lý chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn) cho các cơ sở sản xuất trong làng nghề
- Có chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ trong khu dân cư di dời vào hoạt động tại các làng nghề, cụm công nghiệp
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BVMT tại các làng nghề; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về BVMT đối với các cơ sở sản xuất trong làng nghề, đặc biệt tập trung vào các cơ sở thuộc loại hình sản xuất hoặc có công đoạn sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao và các làng nghề chưa được công nhận
- Huy động các nguồn kinh phí để đầu tư xây dựng các hạng mục công trình về BVMT tại các làng nghề (như hệ thống thu gom, xử lý nước thải, khu tập kết chất thải rắn, kho chứa chất thải nguy hại, khu phun sơn PU tập trung ), tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất kinh doanh phát triển sản xuất gắn với BVMT
(Chi tiết có phụ biểu kèm theo)
Với nội dung nêu trên, Sở Tài nguyên và Môi trường gửi Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn biết để tổng hợp, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn./
Nơi nhận:
- Như trên;
- GĐ, các PGĐ;
- Lưu: VT, CCMT, TTT
Gửi bản điện tử.
KT GIÁM ĐỐC PHÓ GIÁM ĐỐC
Phan Lam Sơn
Ký bởi Sở Tài nguyên và Môi trường (M) Tỉnh Hà Tĩnh
Giờ ký: 2020-05-13T07:31:33.2235541+07:00
Trang 6Phụ biểu TỔNG HỢP NHU CẦU VỐN ĐẦU TƯ HỆ THỐNG XỬ LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG
NGHỀ GIAI ĐOẠN 2021-2030
(Ban hành kèm theo Văn bản số /STNMT-CCMT ngày /5/2020 của Sở Tài nguyên và
Môi trường)
Ghi chú Khối
lượng
Vốn đầu tư (tỷ đồng)
Khối lượng
Vốn đầu tư (tỷ đồng)
Tổng
Nguồn khác
Tổng
Nguồn khác
1 Xây dựng hạ tầng bảo vệ môi trường tại
các làng nghề chế biến hải sản (nước
mắm Tam Hải (xã Kỳ Ninh – huyện Kỳ
Anh; hải sản Thạch Kim – huyện Lộc
Hà; hải sản Cẩm Nhượng – huyện Cẩm
Xuyên)
Công
2 Xây dựng hạ tầng bảo vệ môi trường tại
các làng nghề thủ công mỹ nghệ (Làng
mộc Thái Yên (xã Thái Yên – huyện
Đức Thọ), làng mộc Tràng Đình (xã Yên
Lộc – huyện Can Lộc),
Công