1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang

94 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Công Tác Đầu Tư Xây Dựng Cơ Bản Bằng Nguồn Vốn Nhà Nước Trên Địa Bàn Huyện Hòa Vang
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Quản Lý Kinh Tế
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hòa Vang là huyện ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng, với cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương, tình hình đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đang được khởi sắc. Đặc biệt là từ khi chia chia tách huyện năm 2005 và đồng thời Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai, có thể nói hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật được cải thiện đáng kể góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và thúc đẩy kinh tế xã hội huyện phát triển.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là động lực của tăng trưởng, phát triểnkinh tế và tạo ra các tác động có lợi cho chính trị - xã hội Một nền kinh tế sẽ khôngthể tồn tại và phát triển nếu thiếu hoạt động đầu tư Trong quá trình chuyển đổi từnền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường thì đầu tư xây dựng cơ bản lại cóvai trò đặc biệt quan trọng, góp phần tạo ra khối lượng lớn cơ sở vật chất và kỹthuật cho nền kinh tế Chính vì vậy, việc sử dụng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bảnnhư thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất, tránh tình trạng lãng phí, thất thoát vốn làvấn đề được quan tâm hàng đầu

Hòa Vang là huyện ngoại thành duy nhất của thành phố Đà Nẵng, với cơ cấukinh tế chủ yếu là nông nghiệp Trong những năm qua, được sự quan tâm của cáccấp, ngành từ Trung ương đến địa phương, tình hình đầu tư xây dựng cơ bản bằngnguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đang được khởi sắc Đặc biệt là

từ khi chia chia tách huyện năm 2005 và đồng thời Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng nông thôn mới được triển khai, có thể nói hệ thống cơ sở vật chất hạtầng kỹ thuật được cải thiện đáng kể góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa nhân dân và thúc đẩy kinh tế - xã hội huyện phát triển

Mặc dù vậy, hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhànước còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế trong thời kỳmới, đặc biệt trong bối cảnh huyện Hòa Vang đang đẩy nhanh tiến độ xây dựngnông thôn mới Tình trạng lãng phí nguồn vốn, ngân sách nhà nước vẫn còn xảy ra

Do đó, việc phát huy hiệu quả nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng ngân sáchnhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện giai đoạn 2009 – 2020

là nhu cầu cấp thiết có ý nghĩa thực tiễn cao Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đềtài:

Trang 2

“ Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng ” để làm đề tài

nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

- xã hội trên địa bàn huyện Hòa Vang đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu công tác đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trên địa bànhuyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 và định hướng hoàn thiện ở các năm tiếptheo giai đoạn 2014 – 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, phương pháp

dự báo, phương pháp suy luận lôgic…để đánh giá các vấn đề nghiên cứu của đề tài.

5 Nội dung của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được kết cấu thành 3chương:

Chương 1: Lý luận chung về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Chương 2: Thực trạng về công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2009 – 2013.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang – Thành phố

Đà Nẵng.

Trang 3

Trong quá trình hoàn thành khóa luận, em đã nhận được sự giúp đỡ và hướngdẫn nhiệt tình của cô để em có thể hoàn thành tốt bài viết này.Mặc dù vậy, do thời gian không nhiều, kỹ năng của bản thân còn yếu kém nên bàilàm không tránh khỏi những sai sót và khuyết điểm Em rất mong nhận được đónggóp ý kiến của các thầy cô cũng như các anh chị để bài khóa luận được hoàn thiệnhơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Quy Nhơn, ngày tháng năm

Sinh viên thực hiện

Trang 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Một số khái niệm về đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước (NSNN)

*/ Đầu tư

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạtđộng nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồnlực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó

Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức laođộng, trí tuệ và tài sản vật chất khác Biểu hiện của tất cả nguồn lực bỏ ra nói trênđược gọi chung là vốn đầu tư (VĐT)

Những kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiềnvốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học…) và nguồn nhânlực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xãhội

*/ Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản

Xây dựng cơ bản (XDCB) là các hoạt động cụ thể để tạo ra tài sản cố định(TSCĐ) như khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt…Kết quả của hoạt động XDCB làcác TSCĐ, có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định Như vậy, XDCB là nộtquá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng, có kế hoạch về các TSCĐ của nền kinh tếquốc dân trong các ngành sản xuất vật chất cũng như không sản xuất vật chất Nó làquá trình xây dựng cơ sở vật chất cho một quốc gia

Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình theo mục đíchcủa người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các TSCĐ và tạo ra cơ sở vậtchất kỹ thuật cho xã hội Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế

Trang 5

Như vậy, XDCB và đầu tư XDCB là những hoạt động với chức năng tạo raTSCĐ cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đạihóa hoặc khôi phục các tài sản cố định.

*/ Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Nguồn vốn của ngân sách nhà nước (NSNN) là một bộ phận vốn đầu tưXDCB, được nhà nước tập trung vào NSNN dùng để đầu tư xây dựng công trìnhtheo mục tiêu phát triển kinh tế của nhà nước cho đầu tư XDCB Trong mỗi thời kỳ,tùy vào điều kiện lịch sử cụ thể và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

mà nguồn vốn NSNN bố trí cho đầu tư XDCB với tỷ lệ khác nhau

Dưới giác độ là một nguồn vốn đầu tư nói chung, vốn đầu tư XDCB từNSNN cũng như các nguồn vốn khác – đó là biểu hiện bằng tiền của giá trị đầu tư,bao gồm các chi phí tiêu hao nguồn lực phục vụ cho hoạt động đầu tư, nghĩa là baogồm toàn bộ chi phí đầu tư

Dưới giác độ một nguồn lực tài chính quốc gia, vốn đầu tư XDCB từ NSNN

là một bộ phận của quỹ NSNN trong tổng chi đầu tư của NSNN hàng năm được bốtrí cho đầu tư vào các công trình, dự án XDCB của Nhà nước

Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng một phầnvốn tiền tệ đã tập trung được dưới hình thức: Thuế, phí, lệ phí…để đầu tư cho xâydựng cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa xã hội Các khoản chi này có tác dụng thúc đẩynền kinh tế tăng trưởng và phát triển Với ý nghĩa đó người ta coi khoản chi này làchi cho tích lũy

Như vậy, đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư chủ yếu từ nguồn vốn NSNN.Chi đầu tư XDCB của NSNN là quá trình sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tậptrung vào NSNN nhằm thực hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, từngbước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, văn hóa, xãhội, an ninh, quốc phòng, các công trình không có khả năng thu hồi vốn

1.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN

1.2.1 Đặc điểm của đầu tư XDCB

Là một bộ phận của đầu tư phát triển nên hoạt động đầu tư XDCB mangnhững đặc điểm chủ yếu của đầu tư phát triển sau đây:

Trang 6

- Hoạt động đầu tư XDCB đòi hỏi một số vốn lớn và vốn này nằm khê đọngtrong suốt quá trình thực hiện đầu tư Vì thế, nhà đầu tư cần phải nghiên cứu đểquyết định xem sẽ bỏ vốn đầu tư vào đâu, phương thức huy động vốn như thế nào,quản lý hoạt động đầu tư như thế nào

- Hoạt động đầu tư thường kéo dài trong nhiều năm, huy động nhiều nguồnlực kinh tế - xã hội nên nó thường mang tính rủi ro cao Do đó, để đảm bảo cho mọicông cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tácchuẩn bị Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư Đốivới các dự án dài hạn thì đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng và dự tính được kết quảxảy ra trong tương lai

- Vì một trong các đặc trưng của hoạt động đầu tư là tính hiệu quả nên đòihỏi các kết quả thu được phải đảm bảo bù đắp được các chi phí đã bỏ ra và có lãi.Muốn như vậy thì trước một hoạt động đầu tư, chúng ta phải chuẩn bị một cáchkhoa học đầy đủ, chính xác để nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư Việc chuẩn bị đóđược thể hiện thông qua quá trình lập các dự án đầu tư

- Trong quá trình thực hiện đầu tư phải chịu tác động của rất nhiều yếu tố (tựnhiên, pháp lý, yếu tố kinh tế,…) nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả đầu ra, đầu vào của

dự án Do vậy kết quả và hiệu quả của hoạt đông đầu tư XDCB cũng theo đó màchịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố không ổn định theo thời gian Chính vì vậy,cần phải xem xét, tính toán đầy đủ các vấn đề có liên quan đến dự án đầu tư trướckhi đầu tư Từ đó, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đảm bảo cho dự án đầu tư cóhiệu quả Đây chính là quá trình lập dự án đầu tư

- Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB sẽ được hoạt động, vận hành vàkhai thác ngay tại nơi chúng tạo nên, do vậy quan hệ trực tiếp đến vấn đề địa hình,địa chất bởi nó liên quan đến quá trình thực hiện đầu tư và quá trình vận hành dự ánđầu tư

- Các thành quả của hoạt động đầu tư XDCB có giá trị lâu dài: Có thể hàngtrăm năm hoặc hơn nữa Vì vậy để đảm bảo cho công cuộc đầu tư phát triển đạtđược hiệu quả kinh tế - xã hội cao thì phải làm tốt giai đoạn chuẩn bị đầu tư và quátrình thực hiện đầu tư

Trang 7

1.2.2 Đặc điểm của đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN

Đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN là một bộ phận của đầu tư XDCB nênmang những đặc điểm cụ thể của đầu tư XDCB như đã nêu trên

Một cách tổng quát, có thể thấy đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN có hainhóm đặc điểm đặc trưng là: Gắn với hoạt động đầu tư XDCB và gắn với NSNN

- Gắn với hoạt động đầu tư XDCB: Hoạt động đầu tư này để đầu tư phát triểntài sản cố định trong nền kinh tế Khác với các loại đầu tư như đầu tư chuyển dịch,đầu tư cho dự phòng, đầu tư mua sắm công v.v…, đầu tư XDCB là hoạt động đầu tưvào công tác xây dựng và lắp đặt, mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, kết cấu hạtầng…Đây là hoạt động của đầu tư phát triển, mang những đặc điểm cơ bản của đầu

tư phát triển và chủ yếu có tính dài hạn

- Gắn với hoạt động NSNN: Khác với hoạt động đầu tư kinh doanh củadoanh nghiệp (là hoạt động sử dụng vốn với mục đích sinh lợi, và tất cả vì mục tiêulợi nhuận), đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN về cơ bản không vì mục tiêu lợinhuận mà được sử dụng vì mục đích chung của đông đảo mọi người, lợi ích lâu dàicho một ngành, địa phương và cả ngành kinh tế Vốn đầu tư XDCB từ NSNN đượcquản lý và sử dụng đúng luật, theo các quy trình rất chặt chẽ Đầu tư từ NSNN chủyếu nhằm tạo lập môi trường, điều kiện cho nền kinh tế, trong nhiều trường hợpkhông mang tính sinh lãi trực tiếp

Từ hai đặc điểm đặc trưng đó, có thể đi sâu phân tích một số đặc điểm cụ thểcủa hoạt động đầu tư XDCB từ NSNN như sau:

Thứ nhất, đầu tư XDCB từ NSNN gắn với hoạt động NSNN nói chung và

hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn theo phân cấp vềchi NSNN cho đầu tư phát triển Do đó, việc hình thành, phân phối, sử dụng vàthanh quyết nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ, theo luật định, được Quốc hộiphê chuẩn và các cấp chính quyền (chủ yếu là Hội đồng Nhân dân huyện) phê duyệthằng năm

Trang 8

Thứ hai, đầu tư XDCB từ NSNN được sử dụng chủ yếu để đầu tư cho các

công trình, dự án không có khả năng thu hồi vốn và công trình hạ tầng theo đốitượng sử dụng theo quy định của Luật NSNN và các luật khác Do đó, việc đánh giáhiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả vềkinh tế, xã hội và môi trường

Thứ ba, đầu tư XDCB từ NSNN gắn với các quy định đầu tư và dự án,

chương trình đầu tư rất chặt chẽ từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án đến khâukết thúc đầu tư, nghiệm thu dự án và đưa vào sử dụng Việc sử dụng nguồn vốnNSNN này gắn với quá trình thực hiện và quản lý dự án đầu tư với các khâu liênhoàn với nhau từ khâu quy hoạch, khảo sát thiết kế, chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự

án, kết thúc dự án Các dự án này có thể được hình thành dưới nhiều hình thức như:

- Các dự án về điều tra, khảo sát để lập kế hoạch như các dự án quy hoạchtổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng, lãnh thổ, ngành, quy hoạch xây dựng đô thị

và nông thôn, quy hoạch ngành được Chính phủ cho phép

- Dự án đầu tư xây dựng các công trình thiết kế kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội đường giao thông, mạng lưới điện, hệ thống cấp nước v.v…

- Dự án cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển một số ngành nghề, lĩnhvực hay sản phẩm

- Dự án hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần có sự tham gia củaNhà nước theo quy định của pháp luật

Thứ tư, vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng Căn cứ tính chất, nội dung,

đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình đầu tư XDCB mà người ta phân thànhcác loại vốn như: Vốn để thực hiện các dự án quy hoạch, vốn để chuẩn bị đầu tư,vốn thực hiện đầu tư Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có thể được sử dụng cho đầu tưxây dựng mới hoặc sửa chữa lớn; xây dựng và lắp đặt kết cấu hạ tầng hoặc mua sắmmáy móc thiết bị…

Thứ năm, nguồn hình thành vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm cả nguồn

bên trong quốc gia và bên ngoài quốc gia Các nguồn bên trong quốc gia chủ yếu từthuế, phí, lệ phí và các nguồn thu khác của Nhà nước như bán tài nguyên, cho thuêtài sản quốc gia, thu từ các hoạt động kinh doanh khác Nguồn bên ngoài chủ yếu từ

Trang 9

nguồn vay nước ngoài, hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn viện trợ phiChính phủ và một số nguồn khác.

Thứ sáu, chủ thể sử dụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN rất đa dạng, bao gồm

cả các cơ quan nhà nước và các tổ chức ngoài nhà nước, nhưng trong đó đối tượng

sử dụng vốn này chủ yếu vẫn có tổ chức nhà nước

1.3 Nội dung của đầu tư XDCB

Nội dung của đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động đầu tư gắn liền với côngtác XDCB, nội dung này bao gồm:

Đầu tư xây lắp: Là hoạt động đầu tư dành cho công tác xây dựng và lắp

đặt thiết bị, máy móc gồm:

- Đầu tư vào hoạt động chuẩn bị xây dựng và chuẩn bị mặt bằng

- Đầu tư vào hoạt động xây dựng công trình, hạng mục công trình, nhàxưởng, văn phòng làm việc, nhà kho, bến bãi,…

- Đầu tư vào công tác lắp đặt máy móc, thiết bị, trang thiết bị vào công trình

và hạng mục công trình

- Đầu tư để hoàn thiện công trình

Đầu tư máy móc thiết bị: Đó là toàn bộ khoản đầu tư cho công tác mua

sắm và vận chuyển bốc dỡ máy móc thiết bị được lắp vào công trình Đầu tư muasắm máy móc thiết bị được tính bao gồm: Giá trị máy móc thiết bị, chi phí vậnchuyển, bảo quản bốc dỡ, gia công, kiểm tra trước khi giao lắp các công cụ, dụngcụ

Đầu tư kiến thiết cơ bản khác: Là khoản đầu tư đảm bảo điều kiện cho

quá trình xây dựng, lắp đặt và đưa dự án đi vào sử dụng Nó bao gồm:

- Các khoản đầu tư kiến thiết cơ bản được tính vào giá trị công trình như chiphí cho vốn đầu tư, đền bù, chi phí cho quản lý dự án, bảo hiểm, dự phòng, thẩmđịnh,…

- Các khoản đầu tư kiến thiết tính vào tài sản lưu động bao gồm chi phí chomua sắm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố địnhhoặc chi phí cho đào tạo

Trang 10

- Các khoản đầu tư kiến thiết cơ bản khác được nhà nước cho phép khôngtính vào giá trị công trình (do ảnh hưởng của thiên tai, những nguyên nhân bất khảkháng).

1.4 Vai trò của đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN

Với những đặc điểm như vậy, đầu tư XDCB là điều kiện trước tiên và cầnthiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hưởng vai trò riêng đối với nền kinh

tế và với từng cơ sở sản xuất Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau:

Một là, đầu tư XDCB có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế bởi vì

nó tạo ra các TSCĐ Đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư để sản xuất ra của cải vậtchất, đặc biệt là tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xã hội Tất cả các ngànhkinh tế chỉ tăng nhanh khi có đầu tư XDCB, đổi mới công nghệ, xây dựng mới đểtăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Đầu tư XDCB nhằm xây dựng kếtcấu hạ tầng kinh tế cho đất nước nói chung và trên địa bàn huyện nói riêng Ở cấphuyện, việc đầu tư XDCB bằng NSNN chủ yếu ở các công trình như giao thông,thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế…Ngoài ra, nó còn có vai trò tạo điều kiện chocác tổ chức cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thúcđẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Đầu tưXDCB sẽ tạo điều kiện để phát triển mới, đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất ở cácdoanh nghiệp

Hai là, đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trong nền kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa với xuất phát điểm thấp như nước ta hiện nay có mộtvai trò hết sức quan trọng, bởi vì vốn dành cho đầu tư XDCB bằng NSNN chiếmmột tỷ lệ lớn trong tổng vốn đầu tư XDCB của toàn xã hội Đầu tư XDCB bằngNSNN góp phần khắc phục những thất bại của thị trường, tạo cân bằng trong cơ cấuđầu tư, giải quyết các vấn đề xã hội Mặt khác, đầu tư XDCB bằng NSNN được tậptrung vào những công trình quan trọng, sử dụng nguồn vốn lớn, có khả năng tácđộng mạnh đến đời sống kinh tế – xã hội Bên cạnh đó cũng cần phải thấy rằng, nếukhông được quản lý một cách hợp lý thì đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN sẽ gây

ra thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả hơn là đầu tư XDCB từ các nguồn vốn khác

Trang 11

Ba là, đầu tư XDCB góp phần thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, tạo

việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động Thực tế như chúng ta đã biết, trongkhâu thực hiện đầu tư, thì số lao động phục vụ cần rất nhiều đối với những dự ánsản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành phải cần không ítcông nhân, cán bộ cho vận hành, khi đó tay nghề của người lao động nâng cao,đồng thời những cán bộ học hỏi được kinh nghiệm trong quản lý, đặc biệt khi cócác dự án đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, đầu tư XDCB giúp phát triển cở sở hạtầng, cải thiện điều kiện sống ở các địa phương nghèo, vùng sâu và vùng xa, pháttriển nguồn nhân lực, xây dựng các cơ sở sản xuất và dịch vụ, tạo ra các tác độngtích cực cho vùng nghèo, người nghèo, hộ nghèo khai thác các tiềm năng của vùng

để vươn lên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo Từ đó đảm bảo tỷ lệ cân đốivùng miền, ngành nghề, khu vực và phân bổ hợp lý sức sản xuất, tận dụng lợi thế sosánh Chính vì vậy, đầu tư XDCB sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực, cải thiện

cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo, phát triển y tế, văn hóa và các mặt xã hộikhác

Bốn là, đầu tư XDCB bằng NSNN tác động đến sự phát triển của khoa học –

công nghệ Với xu hướng quốc tế hóa đời sống như hiện nay, chúng ta nên tranh thủhợp tác phát triển khoa học công nghệ với nước ngoài để tăng tiềm lực khoa họccông nghệ của đất nước thông qua nhiều hình thức hợp tác nghiên cứu, khuyếnkhích đầu tư chuyển giao công nghệ Về cơ bản vốn đầu tư của khu vực tư nhân tậptrung chủ yếu vào các lĩnh vực khoa học công nghệ ứng dụng; còn vốn đầu tư từNSNN chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản Vì vậy vốnđầu tư cho khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện nền tảng, tiền đề cho sự phát triểntheo hướng CNH – HĐH đất nước

1.5 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN

1.5.1 Chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu tư

Khối lượng vốn đầu tư thực hiện

- Là tổng số tiền đã chi ra để tiến hành hoạt động của các công cuộc đầu tưbao gồm: Chi cho công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng nhà cửa cấu trúc hạ tầng, mua

Trang 12

sắm thiết bị máy móc để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và chi phí kháctheo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án đầu tư được duyệt.

- Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện bao gồm:

+ Đối với công tác đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện ngắn thì số vốnđầu tư được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn bộ công việc của quátrình thực hiện đầu tư kết thúc

+ Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì vốnđầu tư được tính cho từng giai đoạn, từng hoạt động của một công cuộc đầu tư đãhoàn thành

+ Đối với công cuộc đầu tư do ngân sách tài trợ để tính số vốn đã chi đểđược tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình thựchiện đầu tư phải đạt tiêu chuẩn

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thực hiện vốn đầu tư của từng dự án.

Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

- Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tượngxây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hóa, hoặctiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội được ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúcquá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng có thể đưavào hoạt động được ngay

- Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sảnphẩm phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động để sản xuất sản phẩm hoặctiến hành các hoạt động dịch vụ khác được ghi trong dự án đầu tư

Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng hạng mục xâydựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập thì được áp dụng hình thức huy động

bộ phận sau khi từng đối tượng hạng mục đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm,lắp đặt Còn đối với công cuộc đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện ngắn thì ápdụng hình thức huy động toàn bộ khi tất cả đối tượng, hạng mục công trình đã kếtthúc quá trình xây dựng, mua sắm và lắp đặt

Trang 13

Các tài sản cố định được huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

là kết quả đạt được trực tiếp của quá trình thi công xây dựng công trình, chúng cóthể được biểu hiện bằng hiện vật hoặc bằng giá trị

Chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật là số lượng các tài sản cố định được huyđộng như số lượng nhà ở, bệnh viện, cửa hàng, trường học, nhà máy…; chỉ tiêubiểu hiện bằng giá trị là giá trị tài sản cố định được huy động, chúng được tính theogiá dự toán hoặc giá trị thực tế

Như vậy, để đánh giá toàn diện của hoạt động đầu tư XDCB chúng ta khôngnhững dùng chỉ tiêu kết quả mà thông qua đó để đánh giá được đóng góp của hoạtđộng đầu tư XDCB đến tăng trưởng và phát triển kinh tế chung của địa phương đó.Ngoài ra, chúng ta phải sử dụng chỉ tiêu hiệu quả hoạt động đầu tư XDCB

1.5.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư

Đối với đầu tư XDCB bằng NSNN thì hiệu quả đầu tư được xem xét chủ yếu

là hiệu quả kinh tế - xã hội Hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư chính làlợi ích kinh tế - xã hội mà hoạt động đầu tư đem lại, thực chất là chênh lệch giữacác lợi ích nền kinh tế xã hội thu được so với các chi phí mà xã hội phải bỏ ra khithực hiện đầu tư

1.5.2.1 Hiệu quả kinh tế

Mức tăng của giá trị sản xuất so với toàn bộ vốn đầu tư trong kỳ ( ký hiệu HIv(GO) )

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng của giá trị sảnxuất với toàn bộ vốn đầu tư trong kỳ của ngành, địa phương, vùng và của toàn bộnền kinh tế Công thức:

( )

IV GO

V

GO H

I

=

Trong đó:

∆GO: Giá trị sản xuất tăng thêm trong kỳ nghiên cứu của ngành, địa

phương, vùng và của toàn bộ nền kinh tế

I v : Vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu của ngành, địa phương, vùng và toàn bộ

nền kinh tế

Trang 14

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này được sử dụng để tính hiệu quả đầu tư ở các ngành, địa

phương, vùng và của toàn bộ nền kinh tế Nó cho biết 1 đồng vốn đầu tư trong kỳnghiên cứu làm tăng bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu cho cácngành, địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế

Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt vì nó chính là dấu hiệu cho thấy nền kinh tếtăng trưởng hay giá trị sản xuất tăng lên mà hoạt động đầu tư đóng góp lớn vào sựtăng thêm đó

Mức tăng thu ngân sách so với vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu

Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng thu ngân sách

so với toàn bộ vốn đầu tư trong kỳ của ngành, địa phương, vùng và của toàn bộ nềnkinh tế

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn đầu tư trong kỳ nghiên cứu đã làm

tăng bao nhiêu đồng mức thu ngân sách trong kỳ nghiên cứu cho các ngành, địaphương, vùng và toàn bộ nền kinh tế

Hiệu suất đầu tư cần thiết để làm tăng thêm 1 đơn vị tổng sản phẩm quốc nội (tính cho từng địa phương, vùng hay toàn bộ nền kinh tế) (kí hiệu ICOR)

Công thức:

V

I ICOR

∆GDP: Tổng sản phẩm quốc nội tăng thêm trong kỳ nghiên cứu của địa

phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong thời kỳ cụ thể, muốn tăng thêm 1 đồng

GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư Hệ số này càng thấp thì hiệu quả vốn đầu

tư càng cao Nếu hệ số ICOR không thay đổi thì tỷ lệ giữa vốn đầu tư so với GDP

sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 15

1.5.2.2 Hiệu quả xã hội

Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hôi như: Số lao động có việc làm dođầu tư và số lao động có việc làm tính trên một đơn vị vốn đầu tư trong kỳ nghiêncứu Các tác động như: Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, cảithiện chất lượng hàng tiêu dùng và cơ cấu hàng tiêu dùng của xã hội, cải thiện điềukiện làm việc, cải thiện môi trường sinh thái, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa vàsức khỏe…

1.6 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN

1.6.1 Điều kiện tự nhiên

Hoạt động XDCB thường được tiến hành ở ngoài trời Hơn nữa, đầu tưXDCB thường có khối lượng vốn lớn nằm khê đọng trong suốt quá trình đầu tư vàcác thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình thường phát huy tác dụng ởngay tại nơi nó được xây dựng, do đó, quá trình đầu tư cũng như thời kỳ vận hànhcác kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên Các nhân tố tựnhiên đó bao gồm: Điều kiện khí hậu, sông ngòi, đất đai, bão, lũ lụt, hạn hán Ởmỗi vùng, mỗi lãnh thổ sẽ có điều kiện tự nhiên khác nhau, từ đó mà nó cho phépkhai thác xây dựng các công trình sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, vừa tậndụng được lợi thế tự nhiên của vùng vừa tránh được những tác động xấu của thiêntai

1.6.2 Cơ chế phân bổ và sử dụng vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN

Chi đầu tư XDCB là khoản chi chủ yếu và lớn nhất trong chi đầu tư pháttriển của NSNN Hằng năm, NSNN phải dành một khoản vốn lớn để thực hiện đầu

tư xây dựng những công trình, dự án theo kế hoạch đầu tư được duyệt của Nhànước Sự vận động của vốn đầu tư XDCB chịu ảnh hưởng của đặc điểm XDCB vàcông tác XDCB Cụ thể:

- Sản phẩm của các công trình XDCB được tạo ra trong thời gian dài, giá trịcông trình lớn, người sử dụng không thể xây dựng được công trình một lúc mà phảixây dựng từng phần (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành có thể đưavào sử dụng) Vì vậy, việc cấp phát vốn đầu tư XDCB phải phù hợp với đặc điểm

Trang 16

này để đảm bảo vốn được cấp phát đúng thời điểm, một cách liên tục và việc sửdụng vốn đúng mục đích, hiệu quả.

- Sản phẩm XDCB mang tính chất riêng lẻ, giá cả công trình XDCB khôngthể xác định đơn giản mà phải xây dựng giá dự toán riêng cho từng công trình với

sự cấu thành của nhiều yếu tố phức tạp tùy theo từng kết cấu công trình và theotừng khu vực địa phương Do vậy, vốn đầu tư phải được cấp sát với khối lượng thực

tế hoàn thành và đúng giá dự toán

- Sản phẩm XDCB tiêu thụ không thông qua thị trường, nó chỉ được kiểmnhận bàn giao giữa chủ đầu tư và các đơn vị xây lắp (đơn vị nhận thầu) Đặc điểmnày đòi hỏi khi cấp vốn để thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành phải theo đúngthiết kế công trình để đảm bảo chất lượng và tránh lãng phí vốn của Nhà nước

- Trong XDCB, nơi sản xuất cũng là nơi xây dựng Điều đó ảnh hưởng đến tổchức quản lý Những vấn đề trên đòi hỏi phải có sự quản lý cấp phát vốn phù hợpnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

1.6.3 Công tác quy hoạch và kế hoạch đề ra

Muốn khai thác tốt nhất các nhân tố cung về vốn để thỏa mãn nhu cầu về vốncũng như quản lý tốt việc sử dụng vốn đầu tư XDCB trong nền kinh tế, cần xâydựng các phương án sử dụng vốn đúng mục đích và có kế hoạch, tránh thất thoátlãng phí

Công tác quy hoạch và kế hoạch hóa hoạt động đầu tư (gọi tắt là kế hoạchhóa đầu tư) vừa là nội dung vừa là công cụ quản lý hoạt động đầu tư Mục đích đầu

tư cuối cùng của hoạt động đầu tư XDCB là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mởrộng các cơ sở kỹ thuật cho nền sản xuất xã hội Do đó, nhu cầu của nền kinh tế làxuất phát điểm cho việc lập quy hoạch và công tác kế hoạch hóa, mặt khác phải dựavào định hướng lâu dài của Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật Kếhoạch đầu tư phải dựa trên khả năng huy động của nguồn lực trong và ngoài nướcđảm bảo tính vững chắc và có mục tiêu rõ rệt Công tác quy hoạch và kế hoạch phảiđảm bảo tính khoa học, tính đồng bộ và tính liên tục Có như vậy thì hiệu quả sửdụng vốn đầu tư XDCB mới được nâng cao, ngược lại công tác quy hoạch, công tác

kế hoạch tính khoa học không cao, không xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế,

Trang 17

không có mục đích rõ rệt, không có tính bền vững thì dễ gây nên lãng phí, thất thoátvốn đầu tư XDCB.

Có thể thấy quy hoạch ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến hiệu quả của hoạtđộng đầu tư XDCB Quy hoạch là cụ thể hóa mục tiêu, giải pháp và nhiệm vụ đểthực hiện chiến lược đó Do vậy, nếu quy hoạch sai thì sẽ dẫn đến những sai lầm màđất nước phải gánh chịu, đặc biệt phải hạn chế tối đa những quy hoạch sai mà nhiềunăm không khắc phục được hoặc khắc phục được thì lại quá tốn kém Nếu quyhoạch tốt, thì sẽ bố trí hợp lý, bền vững về các công trình, hiệu quả phù hợp vớiđiều kiện của đất nước, địa phương và ngành Ngược lại, nếu quy hoạch không tốt,thiếu sự thực hiện đồng bộ giữa quy hoạch ngành, quy hoạch phát triển địa phương,quy hoạch tổng thể cộng thêm sự phát triển cục bộ, thực hiện chồng chéo sẽ dẫn đến

sự lãng phí rất lớn, không đem lại được hiệu quả của VĐT

Thực tế đầu tư XDCB trong những năm qua cho thấy, nếu quy hoạch yếu thìtình trạng các công trình không đưa vào sử dụng được hoặc thua lỗ kéo dài phải phásản như nhà máy đường, cảng cá, chợ đầu mối…Quy hoạch dàn trải sẽ làm cho việcđầu tư XDCB manh nhún không hiệu quả Nhưng nếu không có quy hoạch thì hậuquả lại càng nặng nề hơn Vì vậy khi đã có quy hoạch cần phải công khai quy hoạch

để người dân có quyền được biết Trên cơ sở quy hoạch, về đầu tư XDCB Nhànước, Nhà nước cần phải đưa vào đầu tư, khuyến khích các khu vực vốn khác thamgia đầu tư để tránh tình trạng quy hoạch “treo”

1.6.4 Chính sách bồi thường, đền bù, giải phóng mặt bằng khi quy hoạch

Dự án đầu tư XDCB phải diễn ra ở một địa điểm nhất định với quy mô sửdụng đất nhất định Đối với những dự án đã có sẵn mặt bằng “sạch” thì không đặt ravấn đề bồi thường, giải phóng mặt bằng, công cuộc đầu tư về cơ bản là thuận lợi,không bị vướng mắc liên quan đến đất đai Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các dự ánđầu tư nói chung và dự án đầu tư XDCB bằng NSNN nói riêng đều gặp vướng mắttrong việc đền bù, giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch để triển khai thực hiện dự

án và thường kéo dài trong nhiều năm

Trang 18

Do chính sách bồi thường, đền bù, di dời chưa thực sự rõ ràng, không đảmbảo được một cách hài hoà quyền lợi, lợi ích của các bên có liên quan dẫn đến kéodài thời gian, làm chậm tiến độ triển khai thực hiện dự án gây thiệt hại lớn về tài sản

và tiền bạc cho nhà đầu tư do bị ứ đọng vốn đầu tư từ đó làm giảm hiệu quả đầu tư

1.6.5 Công tác kiểm tra, giám sát và quản lý sử dụng vốn đầu tư XDCB

từ NSNN

Công tác kiểm tra, giám sát có vai trò và tác dụng tích cực trong quản lý sửdụng vốn đầu tư XDCB từ NSNN Đây là một chức năng quan trọng trong quản lýNhà nước, là một nội dung của công tác quản lý Đồng thời là phương pháp bảođảm việc tuân thủ theo pháp luật của các chủ thể và các bên liên quan Tác động cơbản là phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các vi phạm pháp luật Qua các cuộc thanhtra, khả năng cũng sẽ phát hiện những sai sót, kẻ hở của cơ chế chính sách góp phầnhoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách

Hệ thống này chủ yếu các nội dung kiểm tra, kiểm toán, giám sát Kiểm tra

là xem xét đánh giá, chủ thể rộng, mục đích là uốn nắn, chấn chỉnh đối tượng cóthứ bậc Thanh tra là xem xét việc làm tại chỗ của cơ quan, địa phương nhân danhquyền lực Nhà nước Nhằm phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn và xử lý các vi phạmpháp luật Kiểm toán là đánh giá nhận xét tính đúng đắn trung thực của báo cáo tàichính, quyết toán, đánh giá tuân thủ pháp luật, hiệu quả hiệu lực trong quản lý sửdụng tài chính Giám sát là theo dõi một hoạt động và buộc đối tượng phải làm theomột tiêu chuẩn, nguyên tắc nhất định

Về mặt quản lý vốn đầu tư XDCB nguồn NSNN có nhiều lợi ích đan xen,ràng buộc, được coi là mảnh đất nhiều tiêu cực vì nhiều tổ chức, nhiều người canthiệp làm cho nguồn lực dễ bị chi phối, thất thoát, lãng phí, xem thường các quyđịnh của pháp luật, cơ chế chính sách, phát sinh nhiều cách lách luật và vận dụngcục bộ gây thương hại đến lợi ích Nhà nước Đây là một lĩnh vực rất cần có vai tròcủa kiểm tra, giám sát mới có thể quản lý, sử dụng vốn tốt Trong các kênh củathông tin để nắm bắt đối tượng quản lý: Kiểm tra, báo cáo, thanh tra, khiếu nại tốcáo, giám sát xã hội thì kênh thanh tra có độ tin cậy cao nhất, dễ phát hiện tiêu cực

Trang 19

(nhất là kiểm tra đột xuất) Tuy nhiên, muốn nâng cao kết quả công tác này phải hếtsức coi trọng nguyên tắc: Khách quan chính xác, trung thực; công khai minh bạch

và phải tuân theo pháp luật

Tổ chức quản lý vốn đầu tư XDCB là một lĩnh vực rộng bao gồm nhiều nộidung nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phù hợp với chiến lược pháttriển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ nhất định để chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng CNH – HĐH đất nước Sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn VĐT

do Nhà nước quản lý, chống thất thoát lãng phí, bảo đảm dự án được xây dựngđúng quy hoạch, mỹ quan, bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái, môi trườngcạnh tranh lành mạnh trong đầu tư XDCB, áp dụng công nghệ tiên tiến với chi phíhợp lý, tổ chức quản lý chặt chẽ theo đúng trình tự XDCB đối với dự án thuộcnguồn vốn NSNN Chất lượng của công tác quản lý đầu tư sẽ tạo điều kiện cho việctiết kiệm và thất thoát, lãng phí VĐT, cũng như tạo điều kiện cho các kết quả đầu tưmang lại nhiều hay ít các lợi ích kinh tế – xã hội khi khai thác sử dụng có kết quảđầu tư

1.6.6 Nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho công tác đầu tư XDCB

Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến công tác XDCB, hoạt động đầu tư rấtphức tạp và đa dạng, vừa liên quan đến nhiếu ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực lạivừa diễn ra trong thời gian dài, giá trị công trình lớn, người sử dụng không thể xâydựng được công trình một lúc mà phải xây dựng từng phần (từng hạng mục hay bộphận công trình hoàn thành có thể đưa vào sử dụng) Vì vậy, đội ngũ cán bộ của cácnhà thầu, những người kỹ sư, giám sát công trình cũng như công nhân lao động…lànhững người phục vụ, tác động trực tiếp trong XDCB cần phải có năng lực, đượcđào tạo kỹ, làm việc đúng chuyên môn, bộ phận và có tinh thần trách nhiệm cao, cólương tâm nghề nghiệp để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao

1.6.7 Cơ chế, chính sách liên quan đến quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN

Các chính sách kinh tế là nhóm nhân tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động đầu

tư Các chính sách này gồm chính sách định hướng phát triển kinh tế như: Chínhsách công nghiệp, chính sách thương mại, chính sách đầu tư và các chính sách

Trang 20

làm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô và vi mô Các chính sách kinh tế tác động đếnviệc quản lý vốn đầu tư góp phần tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý hay không hợp

lý, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực,vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả cao hay thấp

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA VANG – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Phía Bắc giáp các huyện Nam Đông và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên - Huế

- Phía Nam giáp hai huyện Điện Bàn, Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam;

- Phía Đông giáp quận Cẩm Lệ, Liên Chiểu;

- Phía Tây giáp huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam;

Hệ thống đường giao thông đối ngoại và nội vùng trên địa bàn huyện tươngđối thuận tiện Quốc lộ 1A là đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam chạy từ Cầu

Đỏ qua các xã Hoà Châu và Hoà Phước; quốc lộ 14B chạy qua các xã Hoà Khương,Hoà Phong, Hoà Nhơn nối Quảng Nam với Đà Nẵng; tuyến đường tránh Nam HảiVân đi qua các xã Hoà Liên, Hoà Sơn, Hoà Nhơn; các tuyến đường ĐT 601, 602,

604, 605 do thành phố quản lý và hệ thống các tuyến đường giao thông liên huyện

và liên xã Vị trí địa lý, điều kiện giao thông thuận lợi là một điều kiện quan trọng

để Hoà Vang khai thác tốt hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân lực cho pháttriển kinh tế - xã hội trong ngắn hạn cũng như lâu dài

Trang 21

Trong số 11 xã của huyện có 4 xã vùng núi (Hoà Bắc, Hoà Ninh, Hoà Phú vàHoà Liên), 4 xã trung du (Hoà Phong, Hoà Khương, Hoà Sơn, Hoà Nhơn) và 3 xãđồng bằng (Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước).

2.1.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình, đất đai

Hoà Vang có 3 loại địa hình là miền núi, trung du và đồng bằng:

* Vùng đồi nú i : Phân bố ở phía Tây, có diện tích khoảng 56.476,7 ha, bằng

79,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Bốn xã miền núi, bao gồm Hoà Bắc,Hoà Ninh, Hoà Phú và Hoà Liên, có độ cao khoảng từ 400 – 500m, cao nhất là đỉnhnúi Bà Nà (1.487m), độ dốc lớn >400, là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn có ýnghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố Đà Nẵng Đất đai có nguồn gốcchủ yếu đá biến chất, đất đỏ vàng, phát triển trên các đá mẹ như mắc-ma, gra-phit…Địa hình đất đai của vùng này thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, nôngnghiệp và du lịch

* Vùng trung du: Chủ yếu là đồi núi thấp có độ cao trung bình từ 50 đến 100

m, xen kẽ là những cánh đồng hẹp, bao gồm các xã Hoà Phong, Hoà Khương, HoàSơn, Hoà Nhơn với diện tích 11.170 ha, chiếm 15,74 % diện tích toàn huyện; phầnlớn đất đai bị bạc màu, xói mòn trơ sỏi đá, chỉ có rất ít đất phù sa bồi tụ hàng nămven khe suối Địa hình và đất đai ở vùng này phù hợp cho việc trồng các cây cạn, cónhu cầu nước ít, chịu được hạn

* Vùng đồng bằng : Bao gồm ba xã Hoà Châu, Hoà Tiến, Hoà Phước vớí tổng

diện tích là 3.087 ha, chiếm 4,37% diện tích tự nhiên Đây là vùng nằm ở độ caothấp 2-10 m, hẹp nhưng tương đối bằng phẳng Đất phù sa ven sông và đất cát là hailoại đất đặc trưng của vùng, thích hợp cho việc trồng rau, lúa màu Tuy nhiên, cóyếu tố không thuận lợi là do địa hình thấp, khu vực này thường bị ngập lụt trongnhững ngày mưa lũ lớn

Địa hình đa dạng của Hoà Vang cùng với kết cấu đất vững chắc thuận lợi cho

bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật, tạo cho huyện tiềm năng phát triển một nềnkinh tế với thế mạnh về nông lâm nghiệp và du lịch nhưng đồng thời cũng có nhiềukhó khăn, thách thức như hạn hán, lũ lụt… cần phải giải quyết Cần phải có quy

Trang 22

hoạch sử dụng đất hợp lý và phải tính đến những tác động tích cực cũng như tiêucực của quá trình khai thác sử dụng nhằm đảm bảo trạng thái cân bằng về địa hình,bảo vệ môi trường sinh thái.

Khí hậu, thủy văn

Hoà Vang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao

và ít biến động Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: M ùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng

12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông

nhưng không đậm và không kéo dài

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,80C cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, vớinhiệt độ trung bình 28-30°C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình 18-23°C.Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500 m, nhiệt độ trung bình khoảng20°C

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, cao nhất vào các tháng 10,

11, trung bình khoảng 85- 87%; thấp nhất vào các tháng 6, 7, trung bình khoảng 77%

76-Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 mm, mưa lớn thường tậptrung vào hai tháng 10 và 11 gây lũ lụt, ngập úng cho vùng đất thấp Tuy nhiên, cónhững năm lượng mưa thấp, như năm 2003 đạt 1.375,1 mm gây thiếu nước cho sảnxuất nông nghiệp và đời sống Các hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc từtháng 11 đến tháng 2; gió mùa Đông Nam và Tây Nam vào tháng 5 đến tháng 7.Huyện thường xuyên bị chịu ảnh hưởng của bão, trung bình hàng năm có 1-2 cơnbão đi qua, hai năm thường có một cơn bão lớn

Số giờ nắng bình quân hàng năm là 2.076,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6,trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; lớn nhất là vào tháng 12 và tháng 1 trung bình

từ 58 đến 122 giờ/tháng

Hệ thống sông ngòi của Hòa Vang bao gồm các sông chính là sông Cu Đê,sông Yên, sông Túy Loan, sông Vĩnh Điện; một số sông nhỏ là sông Tây Tịnh, QuáGiáng,…và hệ thống nhiều ao hồ tự nhiên Nhìn chung, chất lượng nước các sôngđều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương, trừ sông Cẩm Lệ vàsông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô từ tháng 5 đến tháng 6

Trang 23

Về nước ngầm: Theo đánh giá sơ bộ, Hoà Vang có trữ lượng nước ngầm lớn,mực nước ngầm cao Trong tương lai có thể sử dụng nguồn nước ngầm phục vụ sảnxuất nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Tại Phước Nhơn (xã Hoà Khương) cónguồn nước khoáng nóng nhưng hiện tại chưa được khai thác với quy mô côngnghiệp.

Nhìn chung, các điều kiện khí hậu và thuỷ văn của huyện Hoà Vang có nhiềuthuận lợi, song cũng có nhiều khó khăn như hạn hán, lũ lụt gây ảnh hưởng khôngnhỏ đối với sản xuất, đời sống của nhân dân; gây hư hại các công trình kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội

Tài nguyên đất

Theo số liệu thống kê năm 2007, tổng diện tích đất huyện Hoà Vang là73.691 ha Hai nhóm đất có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp lànhóm đất phù sa ở khu vực đồng bằng thích hợp với thâm canh lúa, trồng rau, hoaquả và nhóm đất đỏ vàng ở vùng đồi núi thích hợp với cây công nghiệp dài ngày,cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi đại gia súc Trong đó, đất nông lâm nghiệp61.923,8 ha, chiếm 84,0% diện tích tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 6.201,1 hachiếm 8,4% và đất chưa sử dụng 5.566,1 ha chiếm 7,6% Diện tích đất đã được sửdụng của huyện chiếm 93,3% cho các mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôitrồng thuỷ sản và cho các mục đích phi nông nghiệp khác

Tài nguyên rừng

Huyện Hòa Vang có nguồn tài nguyên rừng phong phú, đây là một trong cácthế mạnh của huyện Diện tích đất lâm nghiệp hiện có là 53.306,1 ha, chiếm 89,3%.Trong đó, đất rừng sản xuất là 29.794,6 ha (42,1% diện tích đất tự nhiên), tập trungchủ yếu ở Hòa Bắc, Hòa Ninh và Hòa Phú, đất rừng phòng hộ là 12.658,7 ha (chiếm

tỷ trọng 1,9% diện tích tự nhiên), đất rừng đặc dụng là 10.852 ha (15,3% diện tích

tự nhiên) thuộc địa bàn các xã Hòa Ninh và Hòa Bắc Tỷ lệ che phủ rừng năm 2007đạt khoảng 75%

Rừng đặc dụng nằm trong địa phận xã Hòa Ninh và Hòa Bắc, thuộc vùngđệm của khu bảo tồn thiên nhiên Bạch Mã, là khu bảo tồn được thành lập với mục

Trang 24

đích bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng độ chephủ của rừng, phát huy tác dụng phòng hộ môi trường của rừng

Rừng và tài nguyên rừng của huyện Hòa Vang có vai trò quan trọng đối vớiđời sống kinh tế - xã hội của nhân dân trong huyện Ngoài vai trò phòng hộ chohuyện và thành phố Đà Nẵng, rừng còn là thế mạnh có tiềm năng trong việc pháttriển các ngành kinh tế mũi nhọn như khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ du lịch…

Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản đã được phát hiện ở Hòa Vang chủ yếu là các loạikhoáng sản làm vật liệu xây dựng, bao gồm: Đá ốp lát, đá phục vụ xây dựng, đá mỹnghệ, tập trung chủ yếu ở các xã trung du và miền núi Hòa Nhơn, Hòa Sơn, HòaNinh và Hòa Phú Các mỏ cát xây dựng ở dọc sông Cẩm Lệ, Túy Loan, Quá Giáng.Đất sét với trữ lượng lớn để sản xuất gạch ngói có ở hầu hết các xã đồng bằng vàtrung du Ngoài ra, đã phát hiện quặng Volfram ở Na Hòa (Hòa Ninh), quặng thiếc ởĐồng Nghệ (Hòa Khương) nhưng trữ lượng không lớn

Tài nguyên nước

Trữ lượng nước ngọt lớn trên các sông Yên, sông Túy Loan, sông Cu Đê…lànguồn cung cấp chính cho các nhà máy nước của thành phố Đà Nẵng và một phầncho huyện Hòa Vang

Trữ năng thủy điện của các sông trên địa bàn huyện hiện đang được Công ty

Cổ phần thủy điện GERUCO Sông Côn khảo sát nghiên cứu Trước mắt Công tynày đang triển khai đầu tư cụm dự án thủy điện sông Hương – Luông Đông tại xãHoà Phú với tổng công suất dự kiến 4.300 KW (tổng vốn đầu tư khoảng 67 tỷ đồng)

và cụm dự án thuỷ điện sông Nam - sông Bắc tại xã Hoà Bắc với tổng công suất dựkiến 12 MW (tổng vốn đầu tư khoảng 877 tỷ đồng)

Tài nguyên du lịch

Huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch đadạng: Du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở khu vực Bà Nà - Núi Chúa, Đồng Nghệ,Ngầm Đôi (Hoà Phú), du lịch trên sông (dọc sông Cu Đê), du lịch đồng quê, vườnđồi (thuận lợi cho khách từ thành phố Đà Nẵng đi nghỉ cuối tuần) Nhiều hồ, đầm tựnhiên như Bàu An Ngãi Tây ở Hòa sơn, Hồ Hóc Khế ở Hoà Phong có thể cải tạo

Trang 25

thành các công viên du lịch mặt nước Nếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khách sạn, nhàhàng, điểm vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển được đầu tư xây dựng tốt sẽthu hút rất nhiều khách du lịch đến và sẽ tạo nên thu nhập rất lớn cho huyện và cảthành phố Đà Nẵng Việc huy động các nguồn vốn của các thành phần kinh tế cũngnhư tìm các giải pháp tối ưu để khai thác các tiềm năng du lịch là một trong cácnhiệm vụ quan trọng của huyện trong thời gian tới.

2.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013

Trong những năm qua, việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốcgia về xây dựng nông thôn mới đã góp phần thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn củahuyện Với đường lối đúng đắn của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả củathành phố, sự phối hợp của các Sở, Ban, Ngành, sự đồng thuận nhất trí cao trongtoàn thể nhân dân trên địa bàn huyện đã góp phần đẩy nhanh tiến độ triển khai xâydựng nông thôn mới Phấn đấu đến cuối năm 2015, huyện Hòa Vang có 8 xã hoànthành 19 tiêu chí trong Chương trình nông thôn mới

Nhìn chung, trong giai đoạn này kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấukinh tế chuyển dịch đúng theo hướng tăng dần tỷ trọng Công nghiệp – Xây dựng vàDịch vụ, giảm tỷ trọng Nông nghiệp Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hộitiếp tục được quan tâm đầu tư xây dựng đồng bộ, bộ mặt nông thôn đổi thay đáng

kể, phát triển theo hướng CNH – HĐH Ngành Công nghiệp – Xây dựng và Dịch vụ

có tốc độ tăng trưởng ổn định, trong đó, ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng mạnh,

cụ thể xu hướng chuyển dịch cơ cấu GDP: Nông nghiệp giảm từ 28,7% năm 2009xuống còn 19,6% năm 2013, Dịch vụ tăng từ 23,8% năm 2009 lên 30,3% năm

2013, Công nghiệp – Xây dựng tăng từ 47,1% năm 2009 lên 50,1% năm 2013 Tuynhiên, 02 năm trở lại đây thì tỷ lệ tăng giảm các ngành không rõ ràng, do tác độngcủa khủng hoảng kinh tế đã tác động đến nền kinh tế của huyện không tăng trưởngnhiều

Tổng giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) tăng bình quân 9% Trong đó, giá trịsản xuất ngành Công nghiệp – Xây dựng tăng bình quân 8,3%, ngành Dịch vụ tăngbình quân 12,4%, ngành Nông nghiệp tăng bình quân 3,8% Mặc dù giá trị sản xuấtngành Công nghiệp – Xây dựng trên địa bàn huyện năm 2013 đạt đến 2.230 tỷ đồng

Trang 26

nhưng tình hình kinh tế khủng hoảng đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các doanhnghiệp xây dựng phần lớn bị trì trệ, không có công trình; doanh nghiệp thương mại

có doanh thu bán hàng giảm trong khi chi phí nhân công tăng, dẫn đến nhiều doanhnghiệp tạm ngừng hoạt động Riêng doanh nghiệp hoạt động sản xuất bê tông, gạchngói và khai thác đất đá, may mặc theo đơn đặt hàng nên hoạt động tương đối ổnđịnh Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn huyện là 417 đơn vị; tổng

số lao động đang làm việc có xu hướng tăng, từ 62.245 người năm 2009 đến năm

2013 khoảng 68.482 người, tăng 10,02%

Với điều kiện khó khăn chung của nền kinh tế, trong giai đoạn này, do tìnhhình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp bị trì trệ, sự đóng băng của thị trườngbất động sản, cũng như thực hiện Nghị quyết 02 về tháo gỡ khó khăn cho doanhnghiệp đã tác động mạnh đến nguồn thu ngân sách huyện Công tác thu được cácngành, địa phương của huyện xác định là nhiệm vụ hàng đầu nhưng thu ngân sáchvẫn không đạt kế hoạch đề ra Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện năm

2009 đạt 93,27 tỷ đồng, năm 2013 đạt 80% dự toán giao đầu năm (đạt khoảng 143,31tỷ) Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hàng năm 10%/năm

Bên cạnh đó, tổng chi ngân sách huyện tăng bình quân 22%/năm Trên lĩnhvực chi ngân sách thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của các ngành, góp phần thựchiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phương Thực hiện đầy đủ chế

độ chính sách theo qui định, thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đảm bảonhiệm vụ chi cho các hoạt động địa phương Công tác kiểm soát chi ngân sách,quản lý điều hành, thanh toán vốn đầu tư kịp thời, đúng quy định

Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 21,8 triệu đồng/người Giải quyếtviệc làm bình quân hằng năm 2.300 lao động Xóa 78,66% hộ nghèo theo tiêuchuẩn cũ Tỷ suất sinh thô bình quân hằng năm tăng 1,89%; tỷ lệ trẻ em suy dinhdưỡng dưới 5 tuổi xuống còn 9,8% Đến cuối năm 2013, trên địa bàn huyện có 2 xãđạt chuẩn nông thôn mới ( xã Hòa Châu, xã Hòa Tiến)

Tóm lại, giai đoạn 2009 – 2013, huyện Hòa Vang có kinh tế tăng trưởng khá,

cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng đúng đắn đưa Công nghiệp – Xây

Trang 27

dựng thành ngành chủ chốt của huyện Kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư xâydựng; quá trình đô thị hóa diễn ra trên địa bàn huyện ngày càng rộng hơn, nhiềucông trình quan trọng do Trung ương, thành phố và các nhà đầu tư triển khai trênđịa bàn huyện đã mang lại nhiều sự đổi thay tích cực, bộ mặt nông thôn khôngngừng đổi mới; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân không ngừng cải thiện Tuy nhiên, công tác thu ngânsách không đủ đáp ứng nhu cầu chi, tình trạng thất nghiệp vẫn còn diễn ra, một sốvùng xã miền núi người dân còn nhiều khó khăn.

2.2 Thực trạng công tác đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn huyện Hòa Vang – Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2009 – 2013

2.2.1 Sự cần thiết trong việc hoàn thiện công tác đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN của huyện Hòa Vang

Hòa Vang là một huyện ngoại thành của thành phố với địa bàn rộng, diện tíchchiếm hơn 2/3 diện tích thành phố, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Nhữngnăm trước đây, huyện với 14 xã, cơ sở hạ tầng giao thông, trường học, trạm y tế đãđược quan tâm đầu tư xây dựng, song chỉ đáp ứng được phần cơ bản nhu cầu pháttriển kinh tế – xã hội của địa phương Đến năm 2005, huyện tiếp tục chia tách một

số xã vùng đồng bằng có điều kiện về kinh tế và cơ sở hạ tầng tương đối ổn định,cũng như bàn giao trụ sở làm việc của cơ quan hành chính các phòng ban chuyênmôn của huyện cho việc hình thành nên quận Cẩm Lệ để tách riêng với huyện Hòa

Trang 28

Vang Trong bối cảnh đó, huyện Hòa Vang lại càng khó khăn hơn vì một phần là doxuất phát điểm là một huyện nông nghiệp, cơ sở hạ tầng còn nghèo nàn, lạc hậu, lạithêm phải độc lập về mọi phương diện cở sở vật chất ban đầu kể từ khi chia táchhuyện, vì vậy, vấn đề khó khăn, thiếu thốn về nguồn ngân sách để phát triển kinh tế

- xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng so với những quận khác của thành phố đã có nềntảng lâu đời và điều kiện để phát triển lại càng trở nên nghiêm trọng Giai đoạn này,

cơ sở vật chất cũng như trụ sở làm việc của cơ quan hành chính cấp huyện nhìnchung còn rất khó khăn và hạn chế về các công trình XDCB, công trình về giáo dục,

y tế, công trình phục vụ cộng đồng trong quá trình phục vụ cho sự nghiệp pháttriển kinh tế của địa phương Những năm sau đó tiếp tục chia tách nhu cầu đô thịhóa được mở rộng về phía Tây và Tây Nam của thành phố, lại đặt ra nhu cầu đầu tư

về hệ thống đường giao thông, khu tái định cư, trường học, công trình văn hóa…gắn với quy hoạch chung Với những đặc điểm như đã nêu trên, công tác đầu tưXDCB hiện nay đang có nhu cầu thực tiễn rất lớn, là vấn để cấp thiết được quantâm chú trọng hàng đầu trên địa bàn huyện

Sau 10 năm đầu tư xây dựng và phát triển theo định hướng phát triển quyhoạch của thành phố, yêu cầu phát triển KTXH của địa phương trong thời kỳ mới,

cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng trên địa bàn huyện có những phát triển vượt bậc, vốnđầu tư cho các công trình trên địa bàn không ngừng gia tăng Gần như trên tất cảcác lĩnh vực đều được quan tâm đầu tư xây dựng, phát triển tạo nên một diện mạomới cho nông thôn Hòa Vang Tuy nhiên, nhìn chung thì công tác đầu tư XDCB vẫncòn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tiễn Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi mànhu cầu về XDCB ngày càng tăng cao để đẩy nhanh tiến độ hoàn thành xây dựngnông thôn mới, nhằm thu hẹp khoảng cách nông thôn và thành thị, hoàn thiện cơ sởvật chất cho khu trung tâm hành chính của huyện…thì nhu cầu vốn xây dựng lạicàng nhiều hơn Trên thực tế là nhu cầu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN để phát triểnkết cấu hạ tầng của huyện Hòa Vang vẫn còn rất nhiều như đầu tư chuẩn hoá các cơ

sở giáo dục, y tế, mạng lưới giao thông theo hướng đô thị đến các trung tâm, cụmkinh tế của huyện, nâng cấp các chợ nông thôn lên chợ loại 2, cung cấp nước sạchcho nhân dân, điện chiếu sáng cho các tuyến đường chính ở các thôn, các trung tâm

Trang 29

văn hoá thể thao xã, khu dân cư di dân vùng sạt lỡ, kè ven sông, hạ tầng cho cácvùng sản xuất, thuỷ lợi

Từ thực trạng trên cho thấy, bên cạnh sự nổ lực của huyện, rất cần sự quantâm của thành phố, Trung ương cũng như các tổ chức, cá nhân đầu tư để công tácđầu tư XDCB được hoàn thiện hơn, đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư XDCB trên địabàn huyện hiện nay Phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật của huyện theophương hướng chung là quy mô công trình đảm bảo thời hạn sử dụng phát huy hiệuquả trong thời gian nhất định, chú trọng đến quy hoạch chung, kiến trúc mang tínhhiện đại kết hợp truyền thống Có thể nói đây là nhiệm vụ chung, cần thiết và cấpbách trong giai đoạn hiện nay, sao cho hầu hết công trình trên địa bàn huyện đảmbảo hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng và phát huy hiệu quả, phù hợp tương xứngvới kết cấu hạ tầng chung của thành phố, phục vụ cho nhu cầu của nhân dân, phấnđấu đến năm 2020 hoàn thành xây dựng nông thôn mới cho huyện Hòa Vang

2.2.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Hòa Vang thời gian qua

Giai đoạn 2009 – 2013, huyện Hòa Vang đã cơ bản hoàn thành các quyhoạch từ tổng thể đến quy hoạch một số chuyên ngành làm cơ sở định hướng pháttriển cho những năm tiếp theo Nguồn vốn đầu tư trên địa bàn có bước đột phá, vớigần 400 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 2005 – 2009, nhiều dự án đượctriển khai, trong đó có nhiều dự án với quy mô đầu tư lớn, nhờ đó mà huyện khôngnhững hoàn thành hầu hết các công trình Nghị quyết đề ra, mà còn hoàn thành nhiềucông trình phát sinh, như Trung tâm hành chính huyện, các tuyến đường giao thôngcụm xã, hệ thống các cầu: sông Yên, Diêu Phong, cầu Trường Định, Đồng Tràm,

Tà Lang , từng bước hiện đại hoá hệ thống hạ tầng nông thôn, phục vụ ngày càngtốt nhu cầu phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, làm cho bộ mặt nông thônthay đổi theo hướng tích cực trên mọi mặt

Công tác quy hoạch tổng thể: Quy hoạch tổng thể gắn phát triển kinh tế

với giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói, giảm nghèo; bảo vệ môi trường và tàinguyên thiên nhiên Tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện vàmôi trường cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Chuẩn bị cơ sở hạ tầng cho các

Trang 30

trung tâm đô thị mới của huyện Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướngtăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp, tăng nhanh giá trị gia tăng/ha gieo trồng.Phát triển nông nghiệp theo hướng phục vụ đô thị, công nghiêp và du lịch Bố tríhợp lý giữa trồng trọt và chăn nuôi Từng bước chuyển nền nông nghiệp sản xuấtnhỏ sang sản xuất hàng hóa với tỷ suất hàng hóa ngày càng cao Để làm được điều

đó, trong những năm qua huyện tập trung công tác quy hoạch đầu tư vào một số dự

án phát triển đô thị tổng thể, cụ thể:

- Đầu tư xây dựng hoàn thiện Trung tâm huyện để sớm ổn định các cơ quanhành chính của huyện

- Quy hoạch và đầu tư xây dựng Trung tâm y tế của huyện

- Quy hoạch chi tiết đô thị 3 xã Hòa Phước, Hòa Châu và Hòa Tiến để kêugọi đầu tư phát triển theo hướng xã hội đô thị Thực hiện quy hoạch các cụm Trungtâm khu vực, các thị tứ sau:

+ Trung tâm cụm kinh tế - kỹ thuật: Hòa Phước, Hòa Châu với tâm điểm làMiếu Bông

+ Trung tâm cụm kinh tế - kỹ thuật: Lệ Trạch - Hòa Tiến phục vụ cho HòaTiến, một phần Hòa Châu, Hòa Khương và gắn với Điện Hòa - Điện Tiến với tâmđiểm là khu phố chợ Lệ Trạch

+ Trung tâm cụm kinh tế - kỹ thuật: Hòa Ninh, Hòa Sơn, Hòa Bắc, Hòa Liênvới tâm điểm là khu vực An Ngãi Đông - An Ngãi Tây - Hưởng Phước

+ Trung tâm cụm kinh tế - kỹ thuật: Góc Kha - Phú Sơn (dọc Quốc lộ 14 B)

và đường 409 Phát triển khu công nghiệp Hòa Khương và khu du lịch nghỉ dưỡngĐồng Nghệ - Phước Nhơn

- Phát triển khu đô thị Thủy Tú (Hòa Liên), khu dân cư Phong Nam 1,2 HòaChâu và các khu tái định cư khác trên địa bàn

- Đầu tư xây dựng khu Trung tâm văn hóa - thể dục thể thao cấp huyện tại xãHòa Phong, mở rộng sân vận động An Phước

Ngoài ra, công tác quy hoạch xây dựng cũng nhằm tạo động lực phát triểnkinh tế - xã hội ở nông thôn, miền núi, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cần phải đitrước một bước gắn với việc xây dựng các cụm trung tâm kinh tế - kỹ thuật và xây

Trang 31

dựng 2 khu du lịch Bà Nà và Đồng Nghệ - Phước Sơn Hoàn thành kiên cố hóa hệthống thủy nông (kênh chính và kênh cấp I), tiếp tục kiên cố hóa kênh mương vàgiao thông nội đồng, thủy lợi hóa các vùng chuyên canh; sớm khởi công xây hồchứa nước Trung An (Lỗ Trào) Xây dựng trạm bơm điện Miếu Ông – thôn Cẩm Nê– Hòa Tiến; Trạm bơm điện Thạch Nham Tây – Hòa Nhơn; Trạm Bơm Túy Loan.Xây dựng mới đập Cây Sanh, thôn Đông Sơn – Hòa Ninh và nâng cấp 2 đập: HộiYên và Hố Mít xã Hòa Bắc.

Tình hình quy hoạch, kế hoạch đầu tư XDCB cụ thể từng năm như sau:

Năm 2010: Phối hợp với Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội thành

phố lập kế hoạch triển khai quy hoạch ngành văn hoá thông tin và ngành nôngnghiệp đến năm 2020 Phối hợp với viện quy hoạch và đơn vị tư vấn triển khai quyhoạch mở rộng Trung tâm hành chính huyện, quy hoạch Nghĩa trang liệt sĩ xã HoàPhong; phối hợp với Viện quy hoạch xây dựng thành phố thực hiện quy hoạch cácđiểm dân cư nông thôn mới Thành phố đã có chủ trương tạm dừng quy hoạchTrung tâm Thị trấn Tuý Loan, quy hoạch khu dân cư Trung tâm hành chính huyện

Phối hợp với các ngành chọn địa điểm xây dựng trường Mẫu giáo HoàPhước, Trường mẫu giáo thôn La Bông, nhà họp thôn Bàu Cầu, thôn An Sơn, 02nhà họp cồng đồng dân cư, đang trình thành phố phê duyệt tổng mặt bằng

Kế hoạch vốn đầu tư XDCB do huyện làm chủ đầu tư kiêm điều hành dự án

là 110,5 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN là 92,3 tỷ đồng Tiến độ thi công các côngtrình trong năm 2010 được đẩy nhanh, nhiều công trình hoàn thành đưa vào sử dụngnhư Nhà đa năng trường THCS Nguyễn Phú Hường, Trụ sở phòng Giáo dục – Đàotạo, trường mầm non Hoà Khương, giao thông kiệt xóm…

Đối với các công trình được bố trí vốn từ Ngân sách Trung ương: Đã hoànthành các hạng mục thuộc dự án di dân Nam Mỹ xã Hoà Bắc; hoàn thành việc didời NTLS huyện Hoà Vang giai đoạn 1, tiếp tục đề nghị bố trí vốn để triển khai giaiđoạn 2 và dự kiến hoàn thành trong năm 2010

Năm 2011: UBND thành phố đã có chủ trương tạm dừng quy hoạch Mở

rộng Trung tâm hành chính huyện; huyện đã hoàn thành quy hoạch ngành văn hoáthông tin và ngành nông nghiệp đến năm 2020; đã hoàn thành Đề án xây dựng

Trang 32

đường giao thông nông thôn theo hướng đô thị đến năm 2015, đang trình thành phốphê duyệt; đang trình thành phố quy hoạch Khu tái định cư các hộ đồng bào KơTuthôn Tà Lang và Giàn Bí xã Hòa Bắc.

Thành phố đã phê duyệt tổng mặt bằng chi tiết tỷ lệ 1/500 các công trìnhtrường THCS Nguyễn Văn Linh, trường mẫu giáo Hòa Phước, Trường THCSNguyễn Hồng Ánh, UBND xã Hòa Ninh, trường Mẫu giáo La Bông, Khu dân cư bốđất ở cho nhân dân vùng sạt lở ở xã Hòa Khương; riêng Công viên tại NTLS HòaPhong (cũ) đã được phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật hạng mục san nền Chọn địađiểm mới xây dựng trường Tiểu học số 2 Hòa Châu, nhà họp cộng đồng liên tổ dânđang trình thành phố xem xét

UBND thành phố đã đồng ý địa điểm xây dựng chợ Đông Hòa tại khu B giaiđoạn 2 – KDC Nam cầu Cẩm Lệ với quy mô 5.914 m2, sở Xây dựng đang hoànchỉnh hồ sơ trình thành phố phê duyệt

Kế hoạch vốn đầu tư XDCB do huyện làm chủ đầu là 78,94 tỷ đồng Trong

đó nguồn vốn NSNN là 70,5 tỷ đồng Hầu hết các công trình đã được triển khai thicông, tiến độ đảm bảo theo kế hoạch, trong đó có các công trình lớn như tuyếnđường Hòa Thọ Tây đi trung tâm xã Hòa Nhơn, trường Mẫu Giáo Hòa Sơn khu vựcchính Riêng công trình Nhà họp thôn Bầu Cầu đã được ghi vốn và đã được phêduyệt các quyết định để triển khai thi công nhưng đến nay vẫn chưa có đất thực tế,trường THCS Nguyễn Văn Linh phải chọn địa điểm mới nên chưa thi công Ngoài

ra, do vướng mắc trong công tác bàn giao mặt bằng công trình chợ Miếu Bông,trường Mẫu giáo Hoà Sơn, 01 tuyến đường thuộc dự án Đường đến Trung tâm xãnên tiến độ thi công chậm

Nguồn vốn NS huyện là 19,18 tỷ đồng, trong đó vốn Ngân sách tập trung11,69 tỷ đồng, vốn giao thông công chính và kiến thiết thị chính 5,18 tỷ đồng,nguồn khác 2,31 tỷ đồng Huyện tập trung đầu tư vào các công trình đường dânsinh, điện chiếu sáng, nhà tiếp nhận hồ sơ tại UBND các xã và đề án CNH – HĐHnông nghiệp, nông thôn Đến nay nhiều công trình đã triển khai hoàn thành đưa vào

sử dụng

Trang 33

Năm 2012: Thực hiện hoàn thành quy hoạch Khu tái định cư các hộ đồng

bào KơTu thôn Tà Lang và Giàn Bí xã Hòa Bắc, vùng di dân sạt lở Hòa Khương.Đang phối hợp với sở Tài nguyên - Môi trường thành phố lập quy hoạch sử dụngđất đến năm 2020 Đã xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số18-CT/TU của Thành ủy về phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ thành phố Đà Nẵngđến năm 2020

Kế hoạch vốn đầu tư XDCB do huyện làm chủ đầu và điều hành dự án là110,9 tỷ đồng Trong đó NSTW là 49,91 tỷ đồng, NSTP là 29,94 tỷ đồng, NS huyện

là 27 tỷ đồng, vốn tài trợ là 4,05 tỷ đồng

Ngoài nguồn vốn Trung ương, thành phố và huyện, huy động nguồn lựcđóng góp từ nhân dân và các tổ chức cùng tham gia đầu tư xây dựng nông thôn mới,như hiến đất, vật kiến trúc, hoa màu, tham gia nhân công, nguyên vật liệu với kinhphí tương ứng trên 12 tỷ đồng, đầu tư 22 km đường giao thông kiệt xóm, 18 nhà vănhóa thôn, 01 trường học

Về cơ bản đã hoàn thành trên 80% khối lượng các công trình, một số côngtrình trường học đã hoàn thành đưa vào sử dụng trước khai giảng năm học như mẫugiáo Hòa Sơn, Mẫu giáo Cẩm Nam, Tiểu học Hòa Khương; đến nay đã thực hiệnthanh toán trên 35,6 tỷ đồng; riêng công trình sân thể thao Hòa Vang, nhà họp thônCồn Mong, Bồ Bản không triển khai nên thành phố điều chuyển vốn

Năm 2013: Hoàn thành quy hoạch sử dụng đất huyện đến năm 2020, quy

hoạch hệ thống giao thông huyện đến năm 2030, phê duyệt quy hoạch tổng thể xây

dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2025, quy hoạch nghĩa trang huyện (quy mô

200 ha tại An Châu, Hòa Phú), quy hoạch mở rộng diện tích các trường đảm bảo đạt chuẩn

Kế hoạch vốn đầu tư XDCB của huyện là 116,14 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN

là 102,85 tỷ đồng

Công tác GTĐB, bố trí tái định cư đạt nhiều kết quả, đã rà soát và kiến nghị

thành phố hủy bỏ, điều chỉnh 12 dự án quy hoạch (8 dự án hủy, 4 dự án điều chỉnh),

phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành bàn giao mốc giới 60 dự án, nâng tổng

số dự án đang triển khai trên địa bàn huyện là 162 dự án, tổ chức hội nghị rà soát,

Trang 34

đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác giải tỏa đền bù, GPMB, tái định cư, phối hợpvới thành phố, các Ban giải tỏa đền bù giải quyết kịp thời các vướng mắc trongcông tác GTĐB, TĐC nhiều dự án trọng điểm: Khu Công nghệ cao, Khu Công nghệthông tin, dự án Nhà máy nước Hòa Liên, đường Hoàng Văn Thái,…đôn đốc cácđơn vị thực hiện chi trả tiền hỗ trợ đất nông nghiệp không sản xuất được do ảnhhưởng các dự án trên địa bàn, rà soát kiến nghị thành phố thực hiện bố trí tái định cưthực tế cho các hộ giải tỏa tăng cường kiểm tra, xử lý, chống xây dựng trái phép tạicác khu vực đã công bố quy hoạch, xử lý vi phạm lĩnh vực quản lý trật tự đô thị 40trường hợp, 98 triệu đồng , tổ chức Hội nghị chuyên đề triển khai Đề án quản lý xâydựng tư nhân, chống xây dựng trái phép, xác nhận 3.500 hồ sơ quy hoạch, công nhậnquyền sở hữu nhà ở, tài sản gắn liền với đất ở 100 trường hợp, cấp phép xây dựng nhà

tư XDCB trên địa bàn huyện Hòa Vang khá sôi động và phát triển mạnh mẽ, phạm

vi đầu tư rộng khắp ở tất cả các xã từ đồng bằng đến các xã miền núi xa xôi

Những năm qua, được UBND thành phố quan tâm đầu tư từ nguồn vốn củaTrung ương, thành phố, được UBND thành phố cho cơ chế được sử dụng nguồn thu

từ tiền sử dụng đất trong những năm 2002 đến 2005, huy động nguồn lực từ các tổchức viện trợ trong và ngoài nước và nguồn đóng góp của nhân dân theo chươngtrình nhà nước và nhân dân cùng làm, bước đầu đã thực hiện theo hình thức xã hộihóa một số hạn mục công trình trên lĩnh vực văn hóa thể thao…, nên quy mô vốnđầu tư XDCB trên địa bàn huyện tăng mạnh qua các năm Nguồn vốn đầu tư XDCBbao gồm từ các nguồn:

- Vốn NSNN: Gồm vốn từ NSTW, NSTP, NS huyện

Trang 35

-Vốn khác: Gồm vốn do nhân dân đóng góp, vốn viện trợ từ các tổ chức phiChính phủ, từ tập đoàn dầu khí Việt Nam…

Bảng 2.1: Tổng vốn đầu tư XDCB huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013

2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013 1.Tổng VĐT XDCB

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hòa Vang)

Qua bảng 2.1, nhìn chung, quy mô vốn đầu tư XDCB huyện Hòa Vang cácnăm 2009 – 2013 có xu hướng tăng và tương đối ổn định, đặc biệt là vốn NSNN.Khối lượng VĐT năm 2010 tăng 90,9% so với năm 2009, đây là mức tăng vốn đáng

kể, trong năm, huyện đã kêu gọi các tổ chức trong và ngoài nước viện trợ, hỗ trợgần 18 tỷ đồng đầu tư trên các lĩnh vực như: Đầu tư xây dựng nhà tránh lũ, trườnghọc, nhà truyền thống xã, các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp Tuy năm

2011 vốn đầu tư XDCB giảm 34,2% so với năm 2010 nhưng điều đáng mừng lànăm 2012 lại tăng mạnh trở lại, tăng 41,65% so với năm 2011, ngoài nguồn vốn từTrung ương, thành phố và huyện, đã huy động nguồn lực đóng góp từ nhân dân vàcác tổ chức cùng tham gia đầu tư xây dựng nông thôn mới, như hiến đất, vật kiếntrúc, hoa màu, tham gia nhân công, nguyên vật liệu với kinh phí tương ứng trên 12

tỷ đồng, đầu tư 22 km đường giao thông kiệt xóm, 18 nhà văn hóa thôn, 01 trường

Trang 36

học Sau đó, 02 năm gần đây 2012 – 2013, nhìn chung khối lượng VĐT có tăngnhưng với tốc độ thấp, không tăng nhiều như 02 năm đầu 2009 – 2010

Trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư XDCB tại huyện Hòa Vang, có thể nói vốnNSNN là chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất cao so với các nguồn vốn khác như vốn việntrợ, vốn tư nhân, vốn từ nhân dân Bởi đây là địa bàn có nền kinh tế nông nghiệp,chưa có đầy đủ điều kiện để thu hút các nguồn vốn khác tham gia vào đầu tư XDCBngoài nguồn vốn NSNN, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn Thêm vào đó,trong thời gian qua các chính sách, chiến lược kinh tế vẫn chưa có giải pháp thựctiễn tốt để huy động các nguồn vốn tư nhân khác một cách hiệu quả nhất Vì vậy,vốn NSNN là nguồn vốn chủ lực và quan trọng trong công tác đầu tư XDCB củahuyện, tình hình cụ thể về đầu tư XDCB bằng vốn NSNN thời gian qua:

Tổng vốn đầu tư XDCB bằng NSNN có xu hướng tăng mạnh, đặc biệt làtrong những năm 2011 – 2013 Nếu như năm 2009 vốn NSNN chỉ đạt 50.034 triệuđồng thì đến năm 2010 đã tăng thêm 40.292 triệu (tăng 80,5% so với 2009) và đạtmức 90.326 triệu đồng Riêng năm 2011, khối lượng VĐT có xu hướng giảmxuống, chỉ còn 62.788 triệu (giảm 30,5% so với 2010) Nguyên nhân là do năm

2011, thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ về các biện pháp kiềm chế lạm phátnên đầu tư XDCB trên địa bàn huyện cũng gặp nhiều khó khăn như công trình sânthể thao huyện đã được ghi vốn và đã được phê duyệt BCKTKT nhưng thành phố

đã có công văn dừng triển khai thi công Việc dừng thanh toán cho các công trình đãtriển khai thi công cũng gây khó khăn trong việc đẩy nhanh tiến độ thi công, kéo dàithời gian thi công, làm tăng giá trị công trình do bù giá nguyên vật liệu, nhân công.Tuy nhiên, đến năm 2012, tổng VĐT bằng NSNN tăng vượt bậc là 93.085 triệuđồng (tăng 30.297 triệu so với 2011), con số này tiếp tục tăng trong năm 2013 vàđạt đến 99.125 triệu Sở dĩ VĐT lại tăng lên như vậy là do thời gian này huyện HòaVang triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới Vì vậy, công tácđầu tư XDCB được chú trọng, lượng VĐT từ các chương trình mục tiêu quốc gia, từNSTP được tăng lên tập trung cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, hoàn thành các tiêuchí nông thôn mới, nhất là về hệ thống Điện – Đường – Trường – Trạm Nhìnchung, gần như trên tất cả các lĩnh vực đều được quan tâm đầu tư xây dựng, nhất là

Trang 37

trong kết cấu hạ tầng nông thôn Điều này đã góp phần tạo nên một diện mạo mớicho nông thôn Hòa Vang.

Biểu đồ 2.1: Tổng vốn đầu tư XDCB huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013

ĐVT: Triệu đồng

2.2.4 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo nội dung đầu tư

Như đã trình bày ở chương 1, đầu tư XDCB bằng NSNN gồm có 3 nội dung

đó là: Đầu tư xây lắp, đầu tư MMTB và đầu tư KTCB khác Thông qua nội dungcủa hoạt động đầu tư, có thể thấy được nó có vai trò rất quan trọng đối với sựnghiệp phát triển của mỗi địa phương Dưới đây là bảng số liệu cụ thể về nội dungđầu tư XDCB bằng NSNN huyện Hòa Vang thời gian qua:

Trang 38

Bảng 2.2: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo nội dung đầu tư trên địa bàn

huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013

Nội dung

đầu tư

VĐT (Triệu

đồng)

Tỷ trọng (%)

VĐT (Triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

VĐT (Triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

VĐT (Triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

VĐT (Triệu đồng)

Tỷ trọng (%)

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Hòa Vang)

Từ bảng 2.2: Giai đoạn 2009 – 2013, tổng số vốn đầu tư XDCB bằng NSNNtrên địa bàn huyện Hòa Vang là 395.358 triệu đồng, trong đó vốn đầu tư cho xây

dựng và lắp đặt bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất, khối lượng vốn đầu tư xây

lắp giai đoạn này là 380.578 triệu đồng (chiếm 96,26%), tiếp đó đến vốn đầu tư

KTCB khác với 12.582 triệu đồng (chiếm 3,18%) và cuối cùng là vốn đầu tư

MMTB là 2.198 triệu đồng (0,56%) Cụ thể như sau:

- Đầu tư xây lắp: Là hoạt động đầu tư chính trong các nội dung đầu tư, chiếm

gần như toàn bộ khối lượng vốn đầu tư XDCB qua các năm (>90%) Năm 2009,

khối lượng vốn xây lắp là 47.343 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 94,62%) Đến năm

Trang 39

2010, tổng vốn đầu tư XDCB trên địa bàn huyện tăng mạnh kéo theo khối lượngvốn xây lắp cũng tăng cao (tăng 87,15% so với năm 2009), đạt 88.602 triệu đồng.Riêng năm 2011, vốn có xu hướng giảm, điều này là không tránh khỏi vì đây cũng

là tình hình chung của đầu tư XDCB trên địa bàn huyện năm này Năm 2012 –

2013, nhu cầu vốn này lại tăng mạnh theo nhu cầu XDCB, đến năm 2013, con sốnày là 94.267 triệu đồng (tăng 50,92% so với năm 2011) để phục vụ cho nhu cầuxây dựng nông thôn mới

- Đầu tư KTCB khác: Là khoản đầu tư chiếm tỷ trọng thứ hai trong tổng vốn

đầu tư XDCB trong giai đoạn này Tuy nhiên, nhu cầu vốn lại không cao, có xuhướng giảm dần và chỉ có ở các năm 2009, 2010, 2012 và 2013 Năm 2009, khốilượng vốn này là 2.691 triệu đồng (chỉ chiếm 5,38% tổng vốn) Đến năm 2010 lạigiảm xuống chỉ còn 1.692 triệu đồng (chiếm 1,87%) Năm 2011, nhu cầu vốn nàykhông có Nguyên nhân ở đây là do công tác GPMB còn gặp nhiều vướng mắt,nhiều dự án còn chập triển khai, nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụngnhưng công tác quyết toán dự án còn chậm, nhất là dự án thuộc Chương trình mụctiêu của các địa phương Điển hình là công trình chợ Miếu Bông, trường Mẫu giáoHoà Sơn, 01 tuyến đường thuộc dự án Đường đến Trung tâm xã Công tác GPMBcòn chậm trễ ở năm 2010 đến năm 2011 mới bắt đầu triển khai dự án nên tiến độ thicông chậm Năm 2012, 2013, tình trạng này đã phần nào được khắc phục, nhu cầuvốn này lại có, tuy nhiên chiếm tỷ lệ không cao

- Đầu tư thiết bị: Tỷ trọng vốn đầu tư thiết bị là thấp nhất, khối lượng vốn rất

ít và gần như không đáng kể Nhìn chung, giai đoạn này nhu cầu về đầu tư thiết bị

có xu hướng tăng nhẹ, năm sau cao hơn năm trước, đặc biệt là ở 2 năm trở lại đây.Nếu như năm 2010 vốn đầu tư thiết bị chỉ chiếm 0,04% VĐT với 32 triệu đồng thìđến năm 2012 đã tăng lên chiếm 0,89% và năm 2013 là 1,1%, với 1.052 triệu đồng

Sở dĩ như vậy là vì năm 2012, Trung tâm y tế huyện đã bước vào giai đoạn hoànthành nên nhu cầu đầu tư thiết bị tăng cao, đặc biệt công tác hoàn thành kéo dài đếntháng 09/2013 Trung tâm chính thức đi vào hoạt động Ngoài ra nhu cầu VĐT vàocông tác này cũng ngày càng được quan tâm trong lĩnh vực giáo dục, y tế với các

Trang 40

trường học, trạm y tế xã đang ngày càng được đưa vào sử dụng, được đầu tư trang bịMMTB ngày càng hiện đại hơn.

Nhìn chung, cơ cấu vốn XDCB theo nội dung giai đoạn 2009 – 2013 làtương đối hợp lý Đây cũng là nhu cầu tất yếu của huyện khi mà năm 2005, huyệntiếp tục chia tách một số xã vùng đồng bằng có điều kiện về kinh tế và cơ sở hạ tầngtương đối ổn định, cũng như bàn giao trụ sở làm việc của cơ quan hành chính cácphòng ban chuyên môn của huyện để hình thành nên quận Cẩm Lệ Với những đặcđiểm như đã nêu, trong giai đoạn này cơ sở vật chất trên các lĩnh vực của huyện,cũng như trụ sở làm việc của cơ quan hành chính cấp huyện còn rất khó khăn vàhạn chế trong quá trình phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của địa phương.Những năm sau chia tách nhu cầu đô thị hóa được mở rộng về phía Tây và TâyNam của thành phố, lại đặt ra nhu cầu đầu tư về hệ thống đường giao thông, khu táiđịnh cư, trường học, công trình văn hóa…gắn với quy hoạch chung Vì vậy, có thểnói nhu cầu vốn xây lắp là cao và cần thiết hiện nay Tuy nhiên, khối lượng vốn đầu

tư vào thiết bị còn quá ít, chưa hợp lý và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn.Huyện cần chú trọng hơn vào đầu tư vốn thiết bị và vốn KTCB khác Một mặt doChương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai trên địabàn huyện, đến nay thì hầu như các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn đã hoànthiện và đi vào sử dụng nhiều, do đó, nhu cầu mua sắm TB thiết yếu cho các côngtrình này là rất lớn nhằm đẩy nhanh việc hoàn thành và đi vào hoạt động đúng tiến

độ của các công trình Mặt khác, do chủ trương phát triển kinh tế của huyện là theohướng CNH – HĐH nên nhu cầu mua sắm MMTB để cơ giới hóa ngành nôngnghiệp hay phát triển giáo dục, y tế rất cao và cần thiết

Ngày đăng: 07/04/2022, 08:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng 2.1, nhìn chung, quy mô vốn đầu tư XDCB huyện Hòa Vang các năm 2009 – 2013 có xu hướng tăng và tương đối ổn định, đặc biệt là vốn NSNN - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
ua bảng 2.1, nhìn chung, quy mô vốn đầu tư XDCB huyện Hòa Vang các năm 2009 – 2013 có xu hướng tăng và tương đối ổn định, đặc biệt là vốn NSNN (Trang 35)
Bảng 2.2: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo nội dung đầu tư trên địa bàn huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 2.2 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo nội dung đầu tư trên địa bàn huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 (Trang 38)
Bảng 2.4: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo lĩnh vực đầu tư huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo lĩnh vực đầu tư huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 (Trang 47)
Bảng 2.5: Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo các xã của huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 2.5 Cơ cấu vốn đầu tư XDCB bằng NSNN theo các xã của huyện Hòa Vang giai đoạn 2009 – 2013 (Trang 49)
Bảng 2.6: Tỷ lệ VĐT thực hiện so với kế hoạch hằng năm - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 2.6 Tỷ lệ VĐT thực hiện so với kế hoạch hằng năm (Trang 51)
Qua bảng trên ta thấy chỉ tiêu này thay đổi qua các năm. Nếu như năm 2009 chỉ tiêu này đạt 7,52; tức là 1 đồng vốn đầu tư XDCB trong năm đã tạo thêm 7,52 đồng GTSX trong năm này thì đến năm 2010, 2011 chỉ tiêu này biến đổi theo chiều hướng tốt - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
ua bảng trên ta thấy chỉ tiêu này thay đổi qua các năm. Nếu như năm 2009 chỉ tiêu này đạt 7,52; tức là 1 đồng vốn đầu tư XDCB trong năm đã tạo thêm 7,52 đồng GTSX trong năm này thì đến năm 2010, 2011 chỉ tiêu này biến đổi theo chiều hướng tốt (Trang 57)
Bảng 2.9: Hệ số ICOR giai đoạn 2009 – 2013 - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 2.9 Hệ số ICOR giai đoạn 2009 – 2013 (Trang 58)
Bảng 2.10: Chỉ tiêu số LĐ có việc làm/VĐT trong kỳ giai đoạn 2009 – 2013. ĐVT: Triệu đồng - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 2.10 Chỉ tiêu số LĐ có việc làm/VĐT trong kỳ giai đoạn 2009 – 2013. ĐVT: Triệu đồng (Trang 59)
Bảng 3.1: Một số mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2011 – 2020 - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
Bảng 3.1 Một số mục tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2011 – 2020 (Trang 70)
4. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KTX H- QPAN hằng năm - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
4. Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KTX H- QPAN hằng năm (Trang 87)
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU - Hoàn thiện công tác đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn nhà nước trên địa bàn huyện Hòa Vang
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w