Ngoài vai trò to lớn với hoạt động sản xuất vật chất và kinh tế - chính trị, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn tác động đến mọi lĩnh vự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN MÔN TRIẾT HỌC MARX - LENIN
ĐỀ TÀI: Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hãy phân tích tính tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội.
Họ và tên SV: LÊ CÔNG MINH Lớp tín chỉ: Triết học Marx – Lenin 13
Mã SV: 11202538 GVHD: TS NGUYỄN VĂN HẬU
HÀ NỘI, NĂM 2020
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là “chỉa khóa” cho sự phát triển của các quốc gia, các dân tộc Vận dụng đúng quy luật, Việt Nam, trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đã xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Sau 34 năm (kề từ năm 1986) thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, nền kinh tế Việt Nam đã có những kết quả hết sức tích cực Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang phải căng mình chống chịu ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid 19, Việt Nam đang nổi lên như là một trong những nền kinh tế có khả năng thích ứng tốt nhất Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, năm
2020, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 2,4% và cùng với 3 nền kinh tế khác trên thế giới
có được sự tăng trưởng về GDP bình quân đầu người1
Ngoài vai trò to lớn với hoạt động sản xuất vật chất và kinh tế - chính trị, quy luật quan
hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Giải quyết được vấn đề đặt ra ở đề tài là giải quyết một vấn đề mang tính thực tiễn, đồng thời cũng tạo tiền đề lí luận cho các hiện tượng xã hội khác Đó cũng chính là lí
do mà em chọn đề tài: “Vận dụng lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phân tích tính tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.”
2 Mục tiêu của đề tài:
- Thấy được tầm quan trọng của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
- Vận dụng được mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để giải quyết vấn đề: xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế phù hợp với Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
a Đối tượng của đề tài:
- Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
- Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa
xã hội
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Nền kinh tế Việt Nam và thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu và giải quyết đề tài:
- Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết, phân tích số liệu, xem xét các hiện tượng thực tế để giải quyết vấn đề
1 Theo IMF, 4 nền kinh tế có sự tăng trưởng GDP đầu người bao gồm: Việt Nam, Đài Loan, Ai Cập và Trung Quốc.
Trang 4MỤC LỤC
Bài tiểu luận của em gồm 3 phần:
I CƠ SỞ LÍ LUẬN - QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT ……… 3
1 Phương thức sản xuất……… 3
2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 3
II TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ……… 6
1 Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất từ trước đến nay nói chung, tính tất yếu phải bỏ qua chủ nghĩa tư bản để phát triển lên chủ
nghĩa xã hội……… 6
2 Bối cảnh của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam – Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam trước thời kì đổi mới năm 1986… 7
3 Tính tất yếu của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
ở việt nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội……… 9
4 Những thành tựu đạt được của nền kinh tế Việt Nam….……… 14
III KẾT LUẬN………
15
Trang 5Bài tiểu luận không thể tránh khỏi sự thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý từ thầy.
Em xin chân thành cảm ơn!
2
Trang 6NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN - QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT:
1 Phương thức sản xuất:
Sản xuất là hoạt động sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của con người Có thể nói, sản xuất là đặc trưng chỉ có ở con người Xong, ở mỗi một giai đoạn lịch sử, con người lại có những cách để sinh sống, để sản xuất
khác nhau, đó là phương thức sản xuất Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người2 Theo
K.Marx, trong sản xuất, con người có quan hệ “song trùng”: một mặt là quan hệ giữa con người với tự nhiên, biểu hiện ở lực lượng sản xuất; mặt khác là quan hệ giữa con người với con người, biểu hiện ở quan hệ sản xuất Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất hữu cơ giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng
2 Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất:
2.1 Lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất và năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định của con người và xã hội3 Xét về mặt cấu trúc, lực lượng sản xuất gồm 2 mặt căn bản:
mặt kinh tế - kĩ thuật (tư liệu sản xuất) và mặt kinh tế - xã hội (người lao động) Các mặt ấy
thống nhất lại sẽ tạo nên một loại vật chất rất đặc biệt là sức sản xuất – thuộc tính cốt lõi để có
thể sản xuất vật chất Như vậy, lực lượng sản xuất là tổng thể các yếu tố vật chất và tinh thần, cùng mối quan hệ giữa các yếu tố ấy, tạo thành sức mạnh thực tiễn để cải biến giới lại thế giới theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người
1.2.1 Người lao động
Trên bình diện triết học, người lao động là con người có tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng lao động và năng lực sáng tạo nhất định trong quá trình sản xuất của xã hội4 Người lao động là yếu tố quan trọng nhất, mang tính quyết định nhất của lực lượng sản xuất Đó là bởi người lao động là chủ thể của quá trình sản xuất, đổng thời là chủ thể tiêu dùng mọi của cải vật chất xã hội, và là yếu tố duy nhất có khả năng sáng tạo, sử dụng công cụ lao động…
1.2.2 Tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất là điểu kiện vật chất cần thiết để tổ chức sản xuất, bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động5.
2 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 128
32 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 128
4 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 128
5 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 129
Trang 7Đối tượng lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà lao động của con người dùng tư liệu lao động tác động lên, nhằm biến đổi chúng cho phù hợp vời mục đích sử dụng của con người6
Tư liệu lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất mà con người dựa vào đó để tác động lên đối tượng lao động nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người7 Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động.
Trong tư liệu sản xuất, yếu tố nào là yếu tố thường xuyên biến đối, yếu tố nào là yếu tố
“động”, yếu tố cách mạng? Đó chính là công cụ lao động Nguyên nhân xuất phát từ chính con người, do nhu cầu con người không đứng yên một chỗ, nhu cầu con người ngày càng tăng lên theo chiều hướng muốn cái tốt hơn, rẻ hơn, hoàn mĩ hơn,… Để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng lên, ngày càng cao, ngày càng đa dạng phong phú đó, con người phải cách mạng về công
cụ lao động, tức là phải cải tiến nó, phải thay đổi nó, bỏ các thế hệ cũ đi để tiến tới một thế hệ mới, thay thế những cái lạc hậu bằng một dạng công nghệ mới, quy trình mới Khi cách mạng công cụ lao động như vậy thì năng xuất lao động ngày càng tăng, thỏa mãn nhu cầu “muốn nhiều hơn” của con người Cách mạng về công cụ lao động tạo ra chất lượng tốt hơn cho sản phẩm lao động, nhưng đặc biệt nó sẽ giải phóng được sức lao động cơ bắp cho con người Có thể nói công cụ là thước đo trình độ tác động, cải biến tự nhiên của con người và là tiêu chuẩn
để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau
2.2 Quan hệ sản xuất:
Quan hệ sản xuất là tổng hợp các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất8 Quan hệ sản xuất bao gồm:
- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc chiếm hữu, sử
dụng các tư liệu sản xuất xã hội
- Quan hệ vể tổ chức quản lí sản xuất: quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc tổ chức sản
xuất và phân công lao động
- Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động: quan hệ giữa các tập đoàn người trong việc phân
phối sản phẩm lao động xã hội, nói lên cách thức và quy mô của cải vật chất mà các tập đoàn người được hưởng
Trong 3 quan hệ này, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Tập đoàn người nào, giai cấp nào nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì sẽ có khả năng chi phối tất cả các lĩnh vực khác, quyết định quan hệ về tổ chức quản lí sản xuất (sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào, sản xuất cái gì), quyết định quan hệ phân phối sản phẩm lao động;
từ đó, tác động lên chính trị, dân tộc, pháp luật, văn hóa, tinh thần, tư tưởng,…
6 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 129
7 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 129
8 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 130
Trang 8Trong lịch sử, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất tồn tại ở 2 chế độ:
- Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất: Trong chế độ này, quan hệ giữa người với người là bình
đẳng; bình đẳng không chỉ về kinh tế, về vật chất mà còn bình đằng về các lĩnh vực khác của đời sống tinh thần Từ đó mới xây dựng được một xã hội công bằng Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất tồn tại trong xã hội cộng sản nguyên thủy (hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên), xã hội cộng sản chủ nghĩa (hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa – một hình thái đã phát triển đến đỉnh cao, chưa xuất hiện trong lịch sử) Đất nước Việt Nam ta đang ở trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
- Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất (chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất): Quan hệ giữa
người với người là bất bình đẳng Con người bất bình đẳng ngay từ trong quan hệ kinh tế - vật chất, bởi trong chế độ tư hữu, tư liệu sản xuất do cá nhân, tập đoàn người, giai cấp nắm giữ Từ đó, sự bất bình đẳng sẽ xuất hiện trong mọi lĩnh vực khác: tổ chức quản lí, phân phối, đời sống tinh thần, đời sống xã hội,… Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất có trong xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến
và xã hội tư bản chủ nghĩa
Quan hệ sản xuất không thể tự nó xuất hiện mà phải được hình thành một cách khách quan sao cho phù hợp với sự tồn tại của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất cũng chính là quan hệ đầu tiên, cơ bản, chủ yếu quyết định mọi quan hệ xã hội
2.3 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của một phương thức sản xuất có tác động biện chứng, trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, còn quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất9
2.3.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
Trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thì lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản xuất Đó là bởi lực lượng sản xuất là nội dung của quá trình sản xuất còn quan hệ sản xuất là hình thức Lực lượng sản xuất, với vai trò là yếu tố
“động”, yếu tố cách mạng của mình, sẽ thường xuyên vận động và phát triển Khi ấy, quan hệ sản xuất cũng phải thay đổi cho phù hợp với lực lượng sản xuất, hình thức phải trở nên phù hợp với nội dung
2.3.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và có thể tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất Nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Còn nếu không có sự phù hợp này thì quan hệ sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng lượng sản xuất là đòi hỏi khách quan của mọi nên sản xuất Lực lượng sản xuất vận động, phát triển không ngừng
sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của quan hệ sản xuất Quan hệ sản xuất từ chỗ là
“hình thức phù hợp”, “tạo địa bàn” phát triển của lực lượng sản xuất trở thành “xiềng xích” kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất
9 Theo “Giáo trình Triết học Marx – Lenin” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tr 131.
Trang 9Mọi sự “đi sau” hay “vượt trước” của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất đều là không phù hợp Sự không phù hợp được thể hiện cụ thể ở một trong các biểu hiện sau:
- Quan hệ sản xuất lạc hậu hơn lực lượng sản xuất (Điển hình ở chủ nghĩa tư bản, giai cấp công
nhân là nguồn lao động chủ yếu xong lại không thể nắm trong tay tư liệu sản xuất, đồng thời của cải, vật chất làm ra đều rơi vào tay các nhà tư bản Từ đó, mới dẫn đến các mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa, cho nên mới xảy ra các cuộc cách mạng vô sản của giai cấp công nhân)
- Xây dựng quan hệ sản xuất thiếu đồng bộ (quan hệ sản xuất có 3 mặt thì phải thực hiện đủ 3
mặt đó; sự không phù hợp diễn ra khi chỉ có 1 mặt hoặc 2 mặt được chú trọng)
- Dùng ý chí chủ quan, dùng mong muốn, nhu cầu, nguyện vọng của mình để đưa quan hệ sản xuất lên cao, trong khi trình độ của lực lượng sản xuất lại thấp Biểu hiện rõ nhất ở các nước Xã hội
Chủ nghĩa ở Đông Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó có Việt Nam thời kì trước đổi mới (thập kỉ 70 và đầu thập kỉ 80 của thế kỉ trước)
Sự phù hợp ở đây không có nghĩa là đồng nhất tuyệt đối bởi bản thân trong sự phù hợp đã tồn tại cả những sự khác biệt – là mầm mống cho những cái không phù hợp Do đó, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ đi từ phù hợp đến không phù hợp, rồi lại phù hợp… như một đường xoắn ốc vô tận
II TÍNH TẤT YẾU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI:
1 Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất từ trước đến nay nói chung, tính tất yếu phải bỏ qua chủ nghĩa tư bản để phát triển lên chủ nghĩa xã hội
Theo chủ nghĩa Mác-Lenin thì trong lịch sử loài người đã sẽ tuần tự xuất hiện 5 hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao:
- Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy
- Hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ.
- Hình thái kinh tế - xã hội phong kiến.
- Hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa tư bản.
- Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Tuy nhiên, sự “tuần tự” ở đây là không bắt buộc bởi mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có những điều kiện lịch sử - cụ thể khác nhau, do đó các quốc gia, dân tộc ấy có thể phát triển “bỏ qua” một vài hình thái kinh tế xã hội Cụ thể, với Việt Nam là việc phải bỏ qua hình thái kinh tế - xã hội chủ nghĩa tư bản để quá độ lên chủ nghĩa xã hội Sự “bỏ qua” là phù hợp với quy luật phát triển rút ngắn trong lịch sử loài người, giúp Việt Nam không cần phải xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng vẫn tiếp thu, kế thừa được những thành tựu của nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa
Trang 102 Bối cảnh của quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam – Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam trước thời kì đổi mới năm 1986:
2.1 Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
Ở nước ta, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bắt đầu từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước, sau khi lãnh thổ Việt Nam đã hoàn toàn được thống nhất, độc lập
Đi lên xã hội chủ nghĩa, bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa là một quá trình mang tính tất yếu khách quan ở Việt Nam Thực tiễn đã khẳng định chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội đã lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải được thay thế bằng hình thái kinh tế – xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là giai đoạn quá độ lên xã hội chủ nghĩa Cho dù hiện nay, với các cố gắng để thích nghi với tình hình mới, chủ nghĩa tư bản trên thế giới vẫn đang có các thành tựu phát triển nhưng vẫn không vượt ra khỏi các mâu thuẫn cơ bản của nó, những mâu
thuẫn này không dịu đi mà ngày càng phát triển gay gắt và sâu sắc Mâu thuẫn không thể được giải quyết bằng cách dung hòa các mặt đối lập mà phải bằng cách xóa bỏ xung đột giữa các mặt ấy Đó chính là nguyên nhân dẫn đến cách mạng vô sản, xác lập hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa
Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất kỳ một đất nước nào đi lên chủ nghĩa xã hội cũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất phát triển, bởi lẽ, ở các nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao, nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và cần xây dựng quan hệ sản xuất mới, thi công nền văn hoá mới Dĩ nhiên, đối với các nước tư bản phát triển, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể sẽ diễn ra ngắn hơn Đối với nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời kỳ lịch sử mà: “Nhiệm vụ cần thiết nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… Tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp văn minh, có văn hoá và khoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và thi công nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài.10”
Xác lập một nền kinh tế phù hợp để xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật phục vụ cho công cuộc tiến đến chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2.2 Sự vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam trước công cuộc đổi mới toàn diện:
10 Trích “Hồ Chí Minh: Toàn tập”, Nxb Chính trị đất nước, Hà Nội, 1996, t.10, tr 13.