Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạtầng kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệpđầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, ch
Trang 1Lời mở đầu
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, vốn đầu t cho phát triển làmột trong những yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của mỗiquốc gia Đối với Việt Nam, mục tiêu đặt ra là thực hiện thành công quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nớc, phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nớc côngnghiệp, do đó nguồn vốn đầu t lại càng là yếu tố đặc biệt quan trọng
Ngày nay bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và tự do hoá thơngmại diễn ra hết sức mạnh mẽ, chính đặc điểm này của nền kinh tế thế giới đã
và đang làm cho các nớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam, gặp không ítkhó khăn trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, nhất là vềvấn đề vốn đầu t
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu t bao gồm nguồn vốn đầu
t trong nớc và nguồn vốn đầu t nớc ngoài Đối với Việt Nam, trên cơ sở xác
định rõ vốn trong nớc là quyết định , vốn nớc ngoài là quan trọng, để thúc đẩykinh tế phát triển nhanh và bền vững, nhằm mục tiêu công nghiệp hóa và hiện
đại hóa, Nhà nớc rất coi trọng việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồnvốn trong và ngoài nớc để đầu t phát triển sản xuất, tạo thêm công ăn việclàm, cải thiện đời sống nhân dân Chính vì lí do đó, cùng với thực trạng mốiquan hệ giữa hai nguồn vốn đầu t trên ở Việt Nam hiện nay, nhóm em xin
trình bày đề tài thảo luận : “ Thực trạng mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
đầu t : nguồn vốn đầu t trong nớc và nguồn vốn đầu t nớc ngoài”.
Thông qua kiến thức đã tiếp thu trên lớp cùng với việc tham khảo một sốtài liệu, nhóm em xin trình bày nội dung đề tài này nh sau:
Chơng I: Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước
và nước ngoài - những vấn đề lý luận chung
Chơng II: Mối quan hệ giữa hai nguụn vốn- Thực trạng ở Việt Nam
Trang 2Ch¬ng III: Một số khuyến nghị để tăng cường mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài
Trang 3Chương I.Mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước
và nước ngoài - những vấn đề lý luận chung
I.Khái niêm,bản chất và phân loại nguồn vốn đầu tư
1.Khái niệm
Nguồn vốn đầu tư là các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư pháttriển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội
2.Bản chất của nguồn vốn đầu tư
Xét về bản chất,nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm haytích lũy mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sảnxuất xã hội.Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác-
Lê nin, và kinh tế học hiện đại chứng minh
Trong tác phẩm”Của cải của các dân tộc”(1776),Adamsmith.một đại diệnđiển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định:”Tiết kiệm lànguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy choquá trình tiết kiệm.Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa,nhưng không cótiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệgiữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề lien quan trực tiếp tớitích lũy, Các Mac đã chứng minh rằng: Trong nền kinh tế với hai khu vực,khuvực I sản xuất tư liệu sản xuất,khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dung.Cơ cấutổng giá trị của từng khu vựcđều bao gồm (c+v+m),trong đó c là phần tiêuhao vật chất,(v+m) là phần mới sáng tạo ra.Khi đó,điều kiện để đảm bảo táisản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo:
(v+m)I > cII
Hay nói cách khác: (c+v+m)I > (cII+cI)
Trang 4Điều đó có nghĩa là tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồihoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế mà còn phải dư thừa để làmtăng quy mơt liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo: (c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)II
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị tạo racủa khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế mới có thểdành một phần thu nhậpđể tái sản xuất mở rộng Từ đó quy mô vốn đầu tư sẽtăng
Như vậy theo Mac- Lênin,thì nguồn lực cho đầu tư tái sản xuất mở rộng chỉ
có thể được đáp ứng do sự gia tăng sản xuất và tích lũy cho nền kinh tế
Quan điểm về bản chất của nguồn vốn đầu tư lại tiếp tục được các nhà kinh
tế học hiện đại chứng minh Trong tác phẩm nổi tiếng “ Lý thuyết tổng quát
về việc làm, lãi suất và tiền tệ” của mình, John Maynard Keynes đã chứngminh được rằng:đầu tư chính bằng phần thu nhập không chuyển vào tiêudung.Đồng thời ông cũng chỉ ra rằng,tiết kiệm chính là phần dôi ra của thunhập so với tiêu dùng.Tức là: thu nhập = tiêu dùng + đầu tư
Tiết kiệm = thu nhập – tiêu dùng
Từ đó suy ra: tiết kiệm = đầu tư
Tuy nhiên,điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tếđóng.Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết liệm của khu vực
tư nhân và chính phủ Điều cần lưu ý là tiết kiệm và đầu tư xem xét tên góc
độ toàn nền kinh tế khhong nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhânhoặc doanh nghiệp nào đó Có thể có những cá nhân hoặc doanh nghiệp tạimột thời điểm nào đó có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư.Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa
Trang 5tích lũy đủ Khi đó thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề này bằng việcđiều tiết khoản vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người
3.Phân loại nuồn vốn đầu tư
Trên góc toàn bộ nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tưtrong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài
3.1.Nguồn vốn đầu tư trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế baogồm tiết kiệm của khu vực tư nhân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp vàtiết kiệm của chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội.Biểu hiện cụ thể của vốn đầu tư trong nước gồm vốn đầu tư của nhà nước vàvốn đầu tư của dân cư và tư nhân
3.1.1.Nguồn vốn nhà nước
Trang 6Nguồn vốn đầu tư của nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhànước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn đầu tưphát triển của doanh nghiệp nhà nước.
a.Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Đó chính làmột nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hộicủa quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạtầng kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệpđầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập vàthực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnhthổ, quy hoạch xây dựng đô thị, nông thôn
b/ Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độchuyển tư phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đốivới các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Với cơ chế tín dụng, các đơn
vị sử dụng vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư làngười vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết kiệm hơn Vốntín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từphương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các
dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
Bên cạnh đó, vốn tín dụng phát triển của nhà nước còn phục vụ công tácquản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô.Thông qua nguồn vốn tín dụng, nhà nướckhuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực rheo hướngchiến lược của mình
c/ Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
Trang 7Được xác định là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế,các doanh nghiệpnhà nước vẫn giữ một khối lượng vốn khá lớn.Mặc dù vẫn còn một số hạnchế,nhưng khu vực kinh tế nhà nước với sự tham gia của doanh nghiệp nhànước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần,hiệu quảcủa khu vực này ngày càng được khẳng định, tích lũy của khu vực này ngàycàng tăng.
Nguồn vốn này chủ yếu bao gồm từ khấu hao tài sản cố định và thu nhậpgiữ lại tại doanh nghiệp nhà nước,thong thường chiếm 14-15% tổng vốn đầu
tư xã hội
3.1.2.Nguồn vốn của dân cư và tư nhân
Nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dâncư,phần tích lũy của doanh nghiệp dân doanh,các hợp tác xã
Đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn,mở mangngành nghề,phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…
Nguồn vốn trong dân cư là một nguồn vốn quan trọng, nếu có những biệnpháp thích hợp,chúng ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kểcho sự phát triển kinh tế Các loại hình doanh nghiệp tư nhân ngày càng pháttriển,phần tích lũy của các doanh nghiệp này sẽ góp phần đáng kể vào tổngquy mô nguồn vốn của toàn xã hội,nó được coi như những tế bào có khả năngtái tạo các nguồn tài chính
3.2.Nguồn vốn đầu tư nước ngoài
Nguồn vốn của doanh nghiệp nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũycủa cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài
có thể huy động được vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại
Trang 8Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó làdòng lưu chuyển vốn quốc tế Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế
là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa cácquốc gia trên thế giới.Theo tính chất của dòng luân chuyển vốn, có thể phânloại các nguồn vốn nước ngoài chính thức như sau:
- Nguồn viện trợ phát triển chính thức( ODA)
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế
- Nguồn tín dụng từ các ngân hang thương mại quốc tế
3.2.1 Nguồn vốn ODA.
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế, các chínhphủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển Sovới các nguồn tài trợ khác, ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn ODF nàokhác Bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặctín dụng ưu đãi của các chính phủ,các tổ chức liên hợp quốc…Vốn ODAđược các chính phủ tài trợ là để thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo
ở các nước đang phát triển như xây dựng cơ sở hạ tầng,đầu tư nghiên cứu các yếu tố không hoàn lại của vốn vay ODA ít nhất 25%, thời gian cho vaydài, khối lượng cho vay lớn, thời gian ân hạn dài Bên cạnh đó, ODA cònmang tính chất ràng buộc với nước tiếp nhận vốn và là nguồn vốn vay có khảnăng gây nợ Vì vậy, chính phủ các nước phải quản lý nguồn vốn vay để sửdụng có hiệu quả
3.2.2 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển không chỉ đối với nước
nghèo mà cả đối với các nước công nghệ phát triển Nguồn vốn đầu tư nướcngoài có đặc điểm khác với các nguồn vốn khác là việc tiếp nhận nguồn vốn
Trang 9này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận đầu tư Thay vì nhận lãi trên vốnđầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án hoạtđộng có hiệu quả Đầu tư nước ngoài đem theo toàn bộ tì nguyên kinh doanhvào nước nhận vốn nên có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt lànhững ngành nghề đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay nhiều vốn Vì thế,nguồn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng nhanh của nước tiếp nhận đầu tư.
3.2.3 Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế
Điều kiện ưu đãi dành cho loại nguồn vốn này không dễ dàng như đối với
nguồn vốn ODA Tuy nhiên, bù lại có ưu điểm rõ rang là không gắn với cácrang buộc chính trị, xã hội Mặc dù vậy, thủ tục vay đối với nguồn vốn này làtương đối khắt khe, thời gian trả nnghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trởngại không nhỏ đối với những nước nghèo
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọngtrong kinh doanh ngân hang, nguồn vốn tín dụng của các ngân hang thươngmại thường được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu vàthường là ngắn hạn.Một bộ phận nguồn vốn này có thể dung để đầu tư pháttriển
3.2.4 Thị trường vốn quốc tế
Với xu hướng toàn cầu , mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốnquốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồnvốn cho mỗi quốc gia và làm tăng lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàncầu
Thị trường vốn quốc tế được biểu hiện bằng sự phát triển của thị trườngchứng khoán, dòng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán của các nước đangphát triển ngày càng mạnh mẽ Chính phủ của các nước đang phát triển có thể
Trang 10phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế để huy động nguồn vốn lớn,tập trung cho phát triển kinh tế.
II.Mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn nước ngoài là hai bộ phậnkhông thể thiếu trong cơ cấu nguồn vốn của một nước Trong đó nguồn vốnnước ngoài đóng vai trò quan trọng, nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyếtđịnh
1 Sự cần thiết phải có cả nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong cơ cấu nguồn vốn của các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
1.1 Nghiên cứu về “cái vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển”, những vấn đề đặt ra
Các nước đang phát triển là các nước có nền nông nghiệp lạc hậu, hoặc cácnước nông-công nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiến lên con đường công nghiệphoá.Ví dụ: Việt Nam,Braxin, Cam Pu Chia, Lào Đa số các nước này đều lànhững nước mới dành đựơc độc lập Nhóm các nước này có các đặc trưngnhư sau:
(1) Mức sống thấp: Ở các nước đang phát triển, mức sống nói chung đềurất thấp đối với đại đa số dân chúng Mức sống thấp biểu thị cả về lượng và
về chất dưới dạng thu nhập thấp, thiếu nhà ở, sức khoẻ kém, ít được học hành,
tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh cao, tuổi thọ thấp
Bảng một số chỉ tiêu phản ánh nhu cầu cơ bản của con người
Trang 11Tên nước GDP(tỷ đô
la)
Tốc độ tăngGDP đầungười
(2004-2005)
Tuổi thọ bìnhquân
(Nam/nữ)(2004)
Tỷ lệ tửvong củatrẻ em dưới
5 tuổi trên1000
ca(2004)
Tỷ lệngườilớn biếtchữ
Trang 12-CH Trung
Phi
Nguồn: WB, Báo cáo phát triển thế giới 2007
Qua bảng, nhìn chung các nước phát triển như Mỹ, Nhật đã đạt được các chỉtiêu phát triển xã hội rất tốt, trong khi đó những chỉ tiêu này ở các nước cómức thu nhập thấp như : CH Trung Phi, Bangladet, Lào, Campuchia lại khôngđược khả quan
Mức thu nhập thấp được thể hiện rõ nhất ở mức thu nhập bình quân đầungười(GNP/ Người) Các nhà kinh tế trên thế giới thường lấy mức 2000USD/người làm mốc phản ánh được khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản củacon người, đạt được mức này phản ánh sự biến đổi về chất trong hoạt độngkinh tế và đời sống xã hội Hiện nay còn khoảng 100 nước đang phát triển cómức thu nhập bình quân dưới 2000USD/ người, trong đó có khoảng 40 nước
có mức thu nhập bình quân dưới 600USD/ người Điều này phản ánh khảnăng hạn chế của các nước đang phát triển trong việc giải quyết các nhu cầu
cơ bản của con người
Ngoài việc phải vật lộn với mức thu nhập thấp, nhiều người dân ở cácnước đang phát triển còn phải thường xuyên chiến đấu chống lại nạn suy dinhdưỡng, bện tật và sức khoẻ kém Trong số 40 nước có thu nhập thấp nhất thếgiới thì tuổi thọ trung bình vào khoảng 50, so với 58 ở các nước đang pháttriển khác và 75 tuổi ở các nước công nghiệp phát triển Tỷ lệ tử vong ở trẻ sơsinh dưới 1 tuổi trong số 1000 trẻ em được sinh ra ở các nước kém phát triểnnhất vào khoảng 118 so với 73 ở các nước đang phát triển khác và 12 ở cácnước phát triển
Cơ hội được học hành ở các nước đang phát triển cũng hạn chế Việc cốgắng tạo ra cơ hội giáo dục ở cấp tiểu học là nỗ lực lớn nhất ở các nước này
Trang 13Tuy vậy, mặc dù có bước tiến đáng kể về động viê học sinh đến trường,nhưng tỷ lệ biết chữ vẫn rất thấp Trong số những nước kém phát triển nhấtthì tỷ lệ này là 34% so với 65% ở các nước đang phát triển khác và 99% ở cácnước phát triển.
(2) Tỷ lệ tích luỹ thấp: Điều hiển nhiên là để có nguồn vốn tích luỹ cầnphải hy sinh tiêu dùng Nhưng khó khăn là ở chỗ, đối với các nước đang pháttriển, nhất là những nước có thu nhập thấp, đã gần như chỉ có mức sống tốithiểu, vì vậy việc giảm tiêu dùng là rất khó khăn Ở những nước phát triểnthường để dành từ 20% đến hơn 30% thu nhập để tích luỹ Trong khi đó, ởcác nước nông nghiệpc chỉ có khả năng tiết kiệm trên 10% thu nhập; nhưngphần lớn số tiết kiệm này lại dùng để cung cấp nhà ở và trang thiết bị cần thiếtkhác cho số dân đang tăng lên Do vậy, càng hạn chế quy mô tiết kiệm chotích luỹ phát triển kinh tế
(3) Trình độ kĩ thuật của sản xuất thấp: Ở các nước đang phát triển,hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sở sản xuất nhỏ, nông nghiệp chiếm tỷtrọng lớn, kỹ thuật sản xuất thủ công lạc hậu Lịch sử phát triển kinh tế chothấy rằng, nền kinh tế không thể chuyển động đi lên nếu không có côngnghiệp phát triển Sự ra đời của các phương thức sản xuất mới luôn đi đôi vớicách mạng công nghiệp Các nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tếcao đều có nguồn gốc từ tốc độ tăng của ngành công nghiệp Trải qua các giaiđoạn phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu, các nước đang phát triển tuy
đã có ngành công nghiệp mới, nhưng phần lớn vẫn là những ngành sản xuấtvới kỹ thuật cổ truyền, trình độ kĩ thuật thấp, sản xuất sản phẩm thường ởdạng thô, sơ chế hoặc chế biến với chất lượng thấp Trong khi các nước cónền kinh tế phát triển đã đạt đến trình độ công nghệ tiên tiến với kĩ thuật sảnxuất hiện đại, trình độ quản lý thành thạo, vượt xa trình độ công nghệ của cácnứơc đang phát triển từ 3 – 6 thập kỷ, khoảng cách công nghệ quá lớn cũng
Trang 14làm cho các nước đang phát triển khó tận dụng được lợi thế của các nước đisau do quá trình phân công lao động quốc tế mới đưa lại.
(4) Năng suất lao động thấp: các nước đang phát triển còn phải đối đầuvới một thách thức nữa trong quá trình phát triển đó là áp lực về dân số vàviệc làm Dân số ở các nước đang phát triển vốn dĩ đã đông, sự bùng nổ vềdân số ở những quốc gia này đã tạo ra một hạn chế lớn cho phát triển kinh tế
Tỷ lệ gia tăng dân số thường ở mức cao hơn tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã làmcho mức sống của nhân dân ngày càng giảm Thu nhập giảm tất yếu dẫn đếnlàm giảm sức mua và tỷ lệ tiết kiệm, sự mất cân đối giữa tích luỹ và đầu tư đãlàm kìm hãm sản xuất, trong khi dân số vẫn tiếp tục gia tăng, tạo áp lực vềviệc làm, làm cho năng suất lao động không tăng lên
Những đặc trưng trên đây chính là những trở ngại đối với sự phát triển,chúng có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo ra vòng luẩn quẩn của sự nghèokhổ, làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển ngàycàng gia tăng
Trang 15
Sơ đồ : Cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ
Đứng trước tình hình này đòi hỏi các nước đang phát triển phải có biệnpháp để phá vỡ vòng luẩn quẩn Trong khi tìm kiếm con đường phát triển đãdẫn đến những xu hướng khác nhau Có những nước vẫn tiếp tục rơi vào tìnhtrạng trì trệ, thậm chí phát triển thụt lùi, xã hội rối ren, như một số nước châuPhi cận Sahara, hay một số nứơc Nam Á Có những nước đã đạt được tốc độtăng trưởng khá, đưa đất nước ra khỏi vòng luẩn quẩn, nhưng rồi lại rơi vàonhững cuộc khủng hoảng với những vòng luẩn quẩn mới như Philippin Bêncạnh đó có những nước đã tạo được tốc độ phát triển nhanh, rút ngắn khoảngcách thậm chí đuổi kịp các nước phát triển, đó là các nước NICs Châu Á:Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, và Hàn Quốc Gần đây, các nước Thái Lan,Malaixia và Trung Quốc cũng đã chứng minh sự đúng đắn trong việc lựachọn đường lối phát triển
Nhà kinh tế học hiện đại Samuelson đã nghiên cứu rất tỷ mỷ về cái vòngluẩn quẩn của các nước đang phát triển và đưa ra một cách đã được rất nhiềucác nước này áp dụng đó là dựa vào nguồn lực bên ngoài Ông đưa vào họcthuyết mình với tên :” cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài” “Cúhuých từ bên ngoài” ở đây được hiểu là nguồn vốn đầu tư của nước ngoài
Thu nhập thấp
Trình độ kĩ thuật thấp
Trang 16Với khả năng tích luỹ nội bộ thấp như vậy, các nước đang phát triển khôngthể tự tạo ra cho mình nguồn vốn đầu tư để phát triển được mà phải nhờ tớinguồn vốn nước ngoài (mà chủ yếu là vốn của các nước phát triển) Nguồnvốn nước ngoài sẽ khắc phục cho khả năng tích luỹ thấp bằng cách sử dụngnguồn tích luỹ từ các nước khác chuyển sang Chúng sẽ được sử dụng nhằm
hỗ trợ nguồn lực trong nước vào đầu tư phát triển, tạo ra công ăn việc làm, thunhập cho nước tiếp nhận, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất lao động Từ
đó, tạo điều kiện cất cánh cho nền kinh tế, giúp thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn
1.2 Thời đại ngày nay không có một dân tộc nào, không một nên kinh tế nào có thể phát triển trong sự tồn tại riêng lẻ Sự hợp tác nhiều mặt, nhiều chiều,tuỳ thuộc lẫn nhau trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi đã trở thành xu thế tất yếu đối với mọi nước, mọi nền kinh tế.
Thế giới ngày nay là một thể thống nhất, trong đó các quốc gia lànhững đơn vị độc lập, tự chủ nhưng phụ thuộc vào nhau về kinh tế và khoahọc công nghệ Sự phụ thuộc giữa các quốc gia bắt nguồn từ yếu tố kháchquan Nhiều nhà kinh tế học cho rằng đối với bất kỳ quốc gia nào sự pháttriển kinh tế đòi hỏi phải có 16 sản phẩm cơ bản như : Năng lượng, dầu thô,khí đốt, sắt, đồng, chì, kẽm,nhôm, niken, gỗ, lương thực, thiết bị kĩ thuật
Do điều kiện địa lý, do sự phân bố không đồng đều tài nguyên thiên nhiên,không có 1 quốc gia nào có khả năng tự đảm bảo các sản phẩm cơ bản nóitrên Mọi quốc gia đều phụ thuộc vào nước ngoài với mức độ khác nhau vềsản phẩm đó
Lịch sử thế giới đã chứng minh không có 1 quốc gia nào có thể pháttriển nếu không có quan hệ đối ngoại với bất kì nước nào Những nước có tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao đều là do khéo léo tận dụng quan hệ kinh tế đốingoại để phát triển Chính những quan hệ ấy đã tạo ra nhiều hình thức hợp tác
Trang 17trong phát triển, trong đó, đầu tư quốc tế là một trong những mảng chính củaquan hệ kinh tế quốc tế.
Đầu tư quốc tế được thực hiện dưới nhiều nguyên nhân khác nhau trong
đó tổng kết có một số nguyên nhân chính sau:
+Do sự mất cân đối về yếu tố sản xuất giữa các quốc gia nên có sựchênh lệch về giá cả các yếu tố, đầu tư quốc tế thưc hiện nhằm đạt được lợiích từ sự chênh lệch đó (khai thác lợi thế so sánh của mỗi quốc gia)
+Do sự gặp gỡ về lợi ích của các bên tham gia
+Trong nhiều trường hợp đầu tư quốc tế nhằm giải quyết các nhiệm vụđặc biệt như xây dựng công trình có quy mô vượt ra ngoài phạm vi biên giớiquốc gia, đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều quốc gia
1.3 Tăng cường thu hút vốn và công nghệ nước ngoài tạo cơ hội “cất cánh” cho nền kinh tế dựa trên việc tận dụng những nguồn lực trong nước chưa có
Thực tế cho thấy, việc thu hút nguồn vốn nước ngoài có tính hai mặt(cảnhững tác động tích cực và tiêu cực) Đối với nước tiếp nhận thì
-Những tác động tích cực của việc thu hút nguồn vốn nước ngoài :
+Góp phần giải quyết khó khăn do thiếu vốn
+Tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động trong nước
+Học tập kinh nghiệm quảnlí, tác phong làm việc tiên tiến, tiếp nhậncông nghệ hiện đại từ nước chủ đầu tư
+Tạo điều kiện để khai thác các nguồn tài nguyên một cách có hiệu quả+Giúp cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu công nghệ caonhằm hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
+Góp phần khắc phục những khó khăn do thiên tai, hoả hoạn và giảiquyết các vấn đề xã hội
Trang 18- Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những tác động tiêu cực nếu như các nướctiếp nhận không cẩn thận thù sẽ mắc phải và để lại những hậu quả nghiêmtrọng
+Có thể dẫn tới tình trạng khai thác tài nguyên thái quá, gây ô nhiễmmôi trường
+Gây ra sự phân hoá, tăng khoảng cách phát triển giữa các vùng vàgiữa các tầng lớp dân cư
+Có thể làm tăng các vấn đề về tệ nạn xã hội, bệnh tật
+Có thể bị ảnh hưởng hoặc lệ thuộc vào những yêu cầu từ phía chủ đầutư
Trang 192.Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài có tác động qua lại với nhau
2.1 Nguồn vốn trong nước tác động đối với nguồn vốn nước ngoài
2.1.1 Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho nguồn vốn nước ngoài vào hoạt động có hiệu quả
Thông thường để vốn đầu tư nước ngoài phát huy được tác dụng thì cầnphải có một tỷ lệ vốn đối ứng trong nước thích hợp Nghĩa là muốn tiếp nhậnđược vốn đầu tư nước ngoài thì trong nước cũng cần chuẩn bị sẵn một số cơ
sở nhất định tạo điều kiện cho vốn nước ngoài hoạt động có hiệu quả Trong
dự án sử dụng vốn ODA những tổ chức cho vay yêu cầu nước đi vay phải cóvốn đối ứng để chủ động cho việc lập dự án Nước đi vay phải bỏ trước có thể
để chi trả cho đội ngũ thực hiện dự án hoặc chi phí cho hoạt động đi lại, hoạtđộng của phía Việt Nam Sẽ có hai nhóm nhận tiền, một nhóm là do dự án trả,một nhóm khác do Nhà nước trả ( lấy từ nguồn vốn đối ứng) Theo kinhnghiệm của một số nước nhóm NICs thì giai đoạn đầu của quá trình phát triển
tỷ lệ này thường thấp ở mức 1/1.5 nghĩa là 1 đòng vốn nước ngoài cần 1.5đồng vốn trong nước Ở giai đoạn sau khi các chương trình đầu tư nghiêng vềngành công nghiệp chế biến có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao thì tỷ lệ nàythường tăng lên 1 / 2.5
2.1.2 Đóng vai trò định hướng cho dòng đầu tư nước ngoài chảy vào các ngành, các lĩnh vực cần thiết.
Nguồn vốn trong nước đóng vai trò then chốt trong việc định hướng các hoạtđộng đầu tư.Mỗi nền kinh tế phát triển đều phải trải qua những giai đoạn khácnhau và không thể áp dụng dập khuôn 1 chính sách cho cả quá trình pháttriển.Với mỗi giai đoạn phát triển sẽ đặt ra những mục tiêu trọng tâm, ưu tiêncho việc phát triển những ngành kinh tế phù hợp.Muốn xây dựng một đấtnước phát triển về mọi mặt thì các ngành, các vùng của chúng ta đều phải có
Trang 20một sự phát triển nhất định với một cơ cấu hợp lí Việc đầu tư vốn trong nước
để xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin liên lạc, giao thông…vàongành, địa phương nào sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, từ đó có thể thu hútcác nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy việc sử dụng vốn trong nước cho ngànhnào, vùng nào cần phải được cân nhắc kĩ theo sự định hướng đúng đắn củaNhà nước sẽ giúp nền kinh tế phát triển nhanh chóng
2.1.3 Trên cơ sở đầu tư ban đầu tạo cơ sở hạ tầng căn bản chủ động cho việc tiếp nhận nguồn vốn nước ngoài
Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi 1 quốc gia không chỉ phát triểnđơn lẻ mà còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác Chính vì thế,nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thếgiới Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta phát huy được nội lực nguồn vốn trongnước thì sẽ có được thế chủ động trong việc điều hành nền kinh tế và ổn địnhcác chính sách kinh tế
Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được sựphát triển bền vững Để phát triển kinh tế có nhiều con đuờng khác nhau.Nhiều nước đã chọn con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm pháttriển kinh tế đất nước Thực tế đã cho thấy các nước này có thể đạt được mứctăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệ thuộcvào nước cho vay, bởi họ không thấy được cũng như không phát huy đượctính quyết định của nguồn vốn trong nước
Mặt khác, nguồn vốn trong nước chính là cơ sở để thu hút vốn đầu tư nướcngoài Trước tiên, xét về nguồn vốn FDI: Thực tế những năm qua, dòng vốnFDI trên thế giới chủ yếu di chuyển trong nội bộ các nước phát triển, chỉ cókhoảng 25% - 30% di chuyển đến các nước đang và chậm phát triển Điều đóchứng tỏ tài nguyên thiên nhiên dồi dào, lao động rẻ không phải là nhân tốquan trọng hàng đầu trong thu hút FDI Khoảng 90% dòng vốn chảy vào một
Trang 21số ít quốc gia có môi trường đầu tư hấp dẫn Vì vậy cần quan tâm tới vấn đề
sử dụng nguồn vốn trong nước để tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn Do đó,
tự bản thân chúng ta phải xây dựng cho mình một nền tảng kinh tế chính trị
-xã hội vững chắc và ổn định, có cơ sở hạ tầng, giao thông liên lạc tốt, đội ngũnhân công có tay nghề, cán bộ quản lí có chuyên môn Đó mới là yếu tốquyết định tới việc thu hút vồn nước ngoài để phát triển kinh tế Và đảmnhiệm vai trò này chính là nguồn vốn trong nước
Đối với nguồn vốn ODA, tuy có rất nhiều ưu đãi nhưng về bản chất đây vẫn
là 1 khoản vay nên chúng ta vẫn phải trả nợ Nếu khi đó nguồn vốn trongnước không đủ để chi trả thì sẽ dẫn tới tình trạng nợ cho nền kinh tế và nhưvậy thì mục đích tăng trưởng và phát triển kinh tế đã không đạt được
Do đó nguồn vốn trong nước thực sự đóng vai trò quyết định tới việc thu hút vốn nước ngoài và tới tăng trưởng của nền kinh tế.
2.2 Nguồn vốn nước ngoài tác động tới nguồn vốn trong nước
2.2.1 Nguồn vốn nước ngoài có tác động tích cực tới nguồn vốn trong nước
2.2.1.1.Nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ cho những thiếu hụt về vốn trong nước
Vốn là một trong 3 yếu tố quan trọng tác động trực tiếp tăng trưởng bêncạnh lao động và năng suất yếu tố tổng hợp(TPF) Là yếu tố tăng trưởng theochiều rộng Vì vậy mà nó có vai trò hết sức quan trọng Nguồn vốn nước
ngoài hỗ trợ cho những thiếu hụt về vốn trong nước, đặc biệt là trong giai
đoạn đầu của quá trình phát triển, khi mà nguồn vốn trong nước còn rất hạnchế Những nghiên cứu về các nước đang phát triển cho thấy rằng, nhómnước này có mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích luỹ cũng là rấthạn chế Nhưng ở giai đoạn này lại cần một khoản vốn lớn để đầu tư nhằmhoản chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng những công trình làm nền tảng
Trang 22cho sự phát triển kinh tế lâu dài Trong giai đoạn này thường tồn tại khoảngcách lớn giữa đầu tư và tiết kiệm, cần nguồn bù đắp Hơn nữa trong giai đoạnnày do nền công nghiệp của đất nước chưa phát triển nên hàng xuất khẩu nếu
có đa phần là hàng nông sản sơ chế và các nguyên liệu thô có giá trị gia tăngthấp Ngược lại về phía nhập khẩu do nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhậpkhẩu hàng cao cấp, máy móc thiết bị công nghệ có giá trị gia tăng cao Điều
đó dẫn đến cán cân thương mại, cán cân thanh toán luôn nằm trong tình trạngthâm hụt Để giải quyết khó khăn này nhiều nước đã tìm đến nguồn vốn đầu
tư nước ngoài để tài trợ cho những thiếu hụt đó
Thực trạng chung của những nuớc đang phát triển như Việt Nam là kếtcấu hạ tầng còn thiếu, lại quá tải và cũ kĩ, đường,cầu, sân bay, nhà máy điện,tàu biển, cảng, viễn thông, trường học, bệnh viện… đều trong tình trạng yếukém Vì vậy, để duy trì cho tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Namnhất thiết phải đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản và đồng bộ.Trong khi đó ngân sách nhà nước lại vô cùng eo hẹp Chính vì thế, nguồn vốnnước ngoài đóng vai trò vô cùng quan trọng Thực tế cho thấy việc đầu tư vào
cơ sở hạ tầng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng việc thu hồi vốn lại chậm,khả năng sinh lời thấp, nên không hấp dẫn được đầu tư của tư nhân ODA trởthành giải pháp hiệu quả cho việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Không chỉ
ở Việt Nam, ngay cả những nước phát triển cũng đã lựa chọn ODA để đầu tưcho phát triển kết cấu hạ tầng Nguồn vốn ODA cho phép phát triển hệ thốngkết cấu hạ tầng đồng bộ và hiệu quả Với khối lượng vốn lớn, thời hạn vaydài, lãi suất thấp và được cung cấp từ nhiều nhà tài trợ khác nhau, ODA lànguồn vốn cho phép tiến hành đồng thời nhiều dự án trên địa bàn và ở nhiềungành khác nhau Điều này sẽ tạo được sự phát triển mang tính chất đồng bộcủa hệ thống kết cấu hạ tầng, nhờ đó, tạo được năng suất tổng hợp phục vụ
Trang 23hiểu quả đối với hoạt động sản xuất kinh doanhvà sự phát triển chung củatoàn xã hội.
Hơn nữa, ODA cũng làm tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để
mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển.Như đã biết,
để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vàomột lĩnh vực nào đó, các quốc gia phải đảm bảo cho họ có được môi trườngđầu tư tốt ( cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổnđịnh ), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao.Muốn vậy, đầu tư của Nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp, cảithiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng Nguồnvốn để Nhà nước có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồnvốn ODA giúp bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước Mộtkhi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ tăng sức hút dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước tăng, dẫn đến sự phát triển bền vữngcủa nền kinh tế.Thực trạng chung của những nuớc đang phát triển như ViệtNam là kết cấu hạ tầng còn thiếu, lại quá tải và cũ kĩ: đường, cầu, sân bay,nhà máy điện, tàu biển, cảng, viễn thông, trường học, bệnh viện… đều trongtình trạng yếu kém Vì vậy, để duy trì cho tăng trưởng và phát triển bền vững,Việt Nam nhất thiết phải đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản vàđồng bộ Trong khi đó ngân sách nhà nước lại vô cùng eo hẹp Chính vì thế,nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò vô cùng quan trọng Thực tế cho thấy việcđầu tư vào cơ sở hạ tầng thường đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng việc thu hồivốn lại chậm, khả năng sinh lời thấp, nên không hấp dẫn được đầu tư của tưnhân ODA trở thành giải pháp hiệu quả cho việc đầu tư phát triển kết cấu hạtầng Không chỉ ở Việt Nam, ngay cả những nước phát triển cũng đã lựa chọnODA để đầu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng
Trang 24Nguồn vốn ODA cho phép phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ vàhiệu quả Với khối lượng vốn lớn, thời hạn vay dài, lãi suất thấp và được cungcấp từ nhiều nhà tài trợ khác nhau, ODA là nguồn vốn cho phép tiến hànhđồng thời nhiều dự án trên địa bàn và ở nhiều ngành khác nhau Điều này sẽtạo được sự phát triển mang tính chất đồng bộ của hệ thống kết cấu hạ tầng,nhờ đó, tạo được năng suất tổng hợp phục vụ hiểu quả đối với hoạt động sảnxuất kinh doanhvà sự phát triển chung của toàn xã hội.
Hơn nữa, ODA cũng làm tăng khả năng thu hút vốn FDI và tạo điều kiện để
mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang phát triển.Như đã biết,
để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài bỏ vốn đầu tư vàomột lĩnh vực nào đó, các quốc gia phải đảm bảo cho họ có được môi trườngđầu tư tốt ( cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổnđịnh ), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao.Muốn vậy, đầu tư của Nhà nước phải được tập trung vào việc nâng cấp, cảithiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng Nguồnvốn để Nhà nước có thể giải quyết những đầu tư này là phải dựa vào nguồnvốn ODA giúp bổ sung cho vốn đầu tư hạn hẹp từ ngân sách Nhà nước Mộtkhi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ tăng sức hút dòng vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước tăng, dẫn đến sự phát triển bền vữngcủa nền kinh tế
Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạtầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào cáccông trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận
Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức, ngoài việc bản thân nó là nguồnvốn bổ sung quan trọng cho các nước dang phát triển, còn có tác dụng tăngkhả năng thu hút vốn từ nguồn đầu tư trực tiếp và tạo điều kiện để mở rộngđầu tư phát triển trong nước cho các nước này
Trang 252.2.1.2 Là nguồn cung ứng ngoại tệ cho hoạt động mua sắm máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ, phân công lao động xã hội, tạo điều kiện cho tăng năng suất lao động, gia tăng sản lượng của nền kinh tế.
Để tạo ra sự “cất cánh cho nền kinh tế phải tìm cách tạo ra mức sảnlượng, mức thu nhập ngày càng ra tăng Muốn vậy cần phải có vốn đầu tư và
kỹ thuật tiên tiến Và trong lúc nền kinh tế còn đang trong trạng thái tự đảmbảo một cách khó khăn cho sự sinh tồn của mình, không thể hoàn toàn trôngđợi vào con đường “thắt lưng buộc bụng” tích luỹ nội bộ Mà không phát triểnnhanh thì nước đó luôn rơi vào tình trạng rượt đuổi do tụt hậu phát triển Mặtkhác, kỹ thuật trong nước lại quá lạc hậu, thậm chí đi sau vài chục năm so vớicác nước phát triển, việc nhập khẩu công nghệ bên ngoài là một tất yếu.Trong mỗi công nghệ, bên nhận Nhưng chuyển giao công nghệ lại cần mộtnguồn ngoại tệ lớn trong khi cán cân thương mại của chúng ta lại liên tụcthâm hụt do phải nhập khẩu hàng hoá cao cấp, máy móc thiết bị công nghệ
có giá trị gia tăng cao trong khi cơ cấu hàng xuất khẩu chủ yếu là hàng nôngsản sơ chế, nguyên liệu thô có giá trị gia tăng thấp Nguồn vốn đầu tư nướcngoài lúc này chính là nguồn cung ứng ngoại tệ để có thể tiếp cận công nghệbên ngoài Trong quá trình chuyển giao, bên nhận nhận được những kiến thức
kỹ thuật mà không phải chi phí tốn kém và mất thời gian cho hoạt độngnghiên cứu và triển khai Ưu điểm rõ ràng nhất đối với bên nhận công nghệ làtạo ra được sự tiến bộ kỹ thuật và thương mại từ sự tiếp nhận công nghệ Sựcung cấp tài liệu và huấn luyện đầy đủ để nâng cao kiến thức của bên nhậntrong lĩnh vực cụ thể của khoa học ứng dụng và do đó làm tăng khả năng sảnxuất của các sản phẩm công nghiệp của bên nhận hoặc áp dụng các quy trìnhcông nghệ để sản xuất một cách thành công Đôi khi sự giúp đỡ thêm về tàichính, tìm thị trường và tiêu thụ sản phẩm của bên cung cấp còn mở ra một
Trang 26khả năng thương mại cho bên nhận Khi công nghệ đựơc chuyển giao, năngsuất lao động sẽ tăng do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hàng hoá bên nhận sẽ
có chất lượng cao hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu trong nước cũng như xuấtkhẩu
2.2.1.3 Làm gia tăng nguồn vốn trong nước thông qua
Tạo công ăn việc làm cho nguồn lao động dư thừa, giải quyết thất
nghiệp, tăng thu nhập cho công nhân, từ đó tăng tiêu dùng, tăng tích luỹ, tăngnguồn vốn trong nước
Từ khi mở cửa hội nhập, tiếp nhận luồng vốn đầu tư nước ngoài, số lượngdoanh nghiệp trong nước tăng lên đáng kể Bằng cách tuyển dụng lao độngđịa phương vào trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trực tiếptạo việc làm cho người lao động hoặc gián tiếp tạo việc làm thông qua việchình thành các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho cácdoanh nghiệp này và khi các doanh nghiệp vệ tinh này được hình thành vàphát triển sẽ tạo việc làm trong phạm vi toàn xã hội Ngoài ra điều kiện laođộng và chăm sóc về mặt sức khoẻ, y tế đối với người lao động tại các nướctiếp nhận đầu tư tốt hơn so với các doanh nghiệp địa phương.Với nguồn thunhập ngày càng được cải thiện thì chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao.Thu nhập cao hơn, người lao động sẽ tiêu dùng nhiều hơn, làm gia tăng cầucủa nền kinh tế, kích thích sản xuất phát triển Điều đó cũng thúc đẩy sản xuấttrong nước phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng cộng vơi sự vơibớt đi nỗi lo về đầu ra cho sản phẩm Từ đó doanh nghiệp trong nước sẽ tíchcực sản xuất, nghiên cứu để cải tiến công nghệ nhằm gia tăng năng suất laođộng và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu Từ do doanh thu từ bán hàng vàcung ứng dịch vụ của các công ty sẽ tăng, lợi nhuận tăng, làm gia tăng tíchluỹ nội bộ nền kinh tế Bên cạnh đó, khi thu nhập của người lao động tăng, họcũng tăng tích luỹ, tạo thành nguồn vốn lớn trong nước
Trang 27Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là tổng thể mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu
tố cấu thành nền kinh tế Một nước có nền kinh tế phát triển phải có một cơcấu kinh tế hợp lí Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một đất nước thì cầnrất nhiều các yếu tố nguồn lực.Trong đó yếu tố vốn đóng vai trò quyếtđịnh.Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước sẽ không thể đáp ứng được, cóthêm nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch
cơ cấu kinh tế
Nguồn vốn nước ngoài làm thay đổi cơ cấu ngành của nước tiếp nhận đầu tư:chuyển đổi từ ngành sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch
vụ và sau cùng là sang ngành sản xuất dịch vụ; thay đổi cơ cấu bên trong mộtngành sản xuất từ năng suất thấp, công nghệ lạc hậu, lao động nhiều sang sảnxuất có năng suất cao, công nghệ hiện đại, sử dụng lao động ít; Thay đổi cơcấu bên trong của một lĩnh vực sản xuất từ lĩnh vực có hàm lượng công nghệthấp sang ngành sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, có hàm lượng khoa họccông nghệ cao Khi cơ cấu kinh tế đã được chuyển dịch theo hướng ngày càngtiến gần hơn so với thế giới thì sẽ tạo điều kiện cho sản xuất trong nước pháttriển do đã có đựơc những điều kiện sản xuất phát triển ở một mức độ hợp lý
Từ đó cũng góp phần gia tăng tích luỹ nội bộ cho nền kinh tế
Tạo thu cho ngân sách Nhà nước, góp phần tăng tích luỹ nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn nước ngoài khi vào lãnh thổ Việt Nam, sẽ hoạt động theoluật pháp của Việt Nam, và cũng như doanh nghiệp trong nước phải hoànthành nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước Một thực tế mà chúng ta đều thấy,doanh nghiệp nước ngoài thường hoạt động có hiệu quả hơn so với doanhnghiệp trong nước vì vậy, số thuế thu được từ những doanh nghiệp này sẽnhiều hơn, bao gồm nguồn thu từ thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh
Trang 28nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển nhượng, thu nhập từ mua bán tàisản Đó cũng là nguồn bù đắp lớn cho Ngân sách Nhà nước, mà đây cũngchính là nguồn cung ứng vốn lớn ở trong nước
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài cùng với nguồn vốn trong nước hình thành những hình thức hợp tác như công ty liên doanh, công ty cổ phần
Việc liên doanh liên kết này sẽ giảm bớt gánh nặng về vốn, đầu tư đổi mớicông nghệ do được san sẻ giữa các bên Bên cạnh đó tạo điều kiện tốt chophía trong nước có cơ hội học hỏi kỹ năng quản lý chuyên nghiệp từ bênngoài, tác phong làm việc công nghiệp, nâng cao tay nghề cho công nhân.Cộng vào đó sản phẩm đầu ra sẽ có thương hiệu tốt hơn, từ đó tạo ra khả năngcạnh tranh cao hơn, lợi nhuận cao hơn so với việc không liên doanh liên kết
Và như thế, nó đã góp phần gia tăng tích luỹ nội bộ nền kinh tế
Như vậy, nếu sử dụng tốt thì vốn đầu tư nước ngoài về ngắn hạn là đáp ứng vốn đầu tư phát triển, về dài hạn góp phần gia tăng nguồn vốn tích luỹ trong nước.
2.2.2 Những tác động tiêu cực nếu như việc sử dụng và quản lý nguồn vốn nước ngoài không tốt
Đúng như trên chúng ta đã phân tích, những tác động tích cực củanguồn vốn nước ngoài mang lại cho chúng ta là rất lớn, song không phải lúcnào nguồn vốn nước ngoài cũng mang lại hiệu quả như mong muốn mà nócũng luôn tiềm ẩn những nguy cơ cho nước tiếp nhận và tác động tới nguồnvốn trong nước đặc biệt là về khả năng trong tương lai của nguồn vốn này
2.2.2.1 Luôn tiềm ẩn nguy cơ làm gia tăng nợ nước ngoài và gia tăng sự phụ thuộc vào nền kinh tế nước ngoài nhất là đối với nguồn ODA
Trang 29Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận vàlợi ích của nước viện trợ Chính vì vậy, ODA mang yếu tố chính trị Các nướcviện trợ nói chung đều không quên đựơc lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởngchính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nước tiếpnhận Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗtrợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sảnphẩm và thị trường đầu tư Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế Xét
về lâu dài, các nhà viện trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh
tế các nước nghèo phát triển Viện trợ các nước không chỉ đơn thuần là việcgiúp đỡ hữu nghị mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi íchkinh tế và vị thế chính trị cho nước tài trợ Những nước cấp viện trợ đòi hỏinhững nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phất triển cho phù hợp với lợiích của bên tài trợ Khi nhận viện trợ, các nước cần cân nhắc kỹ lưỡng nhữngđiều kiện của các nhà tài trợ, không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất nhữngquyền lợi lâu dài Quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọngtoàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau,bình đẳng cùng có lợi
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ Khi tiếp nhận và sử dụng vốnODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần thường chưa xuất hiện Một
số nước do sử dụng không hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhấtthời, nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năngtrả nợ Sự phức tạp chính là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trựctiếp cho sản xuất, nhất là do xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuấtkhẩu thu ngoại tệ Mặt khác với ODA là nguồn vốn vay lâu dài, do ban đầuchưa phải trả nợ ngay nên ODA hay được sử dụng lãng phí, không hiệu quả
Khi đến kì trả nợ thì người phải trả lại là thế hệ sau, vì vậy, nó còn kìm hãm
khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước Do đó, trong khi
Trang 30hoạch định chính sách sử dụng ODA cần phải phối hợp với các loại nguồnvốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
2.2.2.2 Nguồn vốn nước ngoài di chuyển vào trong nước làm tăng thu nhập của vốn nước ngoài trên thị trường trong nước và làm giảm thu nhập của nguồn vốn trong nước.Về thực chất đây là việc tái phân phối thu
nhập của vốn trong nước cho vốn nước ngoài, do đó có thể gây ra làn sóng
“bài ngoại” của vốn trong nước và hiện tượng xung đột ngấm ngầm, hoặccông khai trong quan hệ giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài
2.2.2.3 Nguồn vốn nước ngoài được đầu tư khá nhiều vào khai thác tài nguyên, dẫn đến làm giảm khả năng phát triển lâu dài của nguồn vốn trong nước
Đặc điểm của tài nguyên thiên nhiên là bắt nguồn từ tính chất quý hiếm
và sự phân bố không đòng đều giữa các vùng trên trái đất Các nước đangphát triển thường có nhiều tài nguyên thiên nhiên hơn các nước phát triển.Một trong những động cơ của các nhà đầu tư nước ngoài là nhằm khai thác tàinguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở những nước tiếp nhận Họ có thể khai thác
để đem về nước sản xuất hoặc sản xuất thành sản phẩm ngay tại nước sở tại
Có một hình thức khai thác khác là khai thác những địa điểm du lịch hấp dẫn
có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng của chúng ta Nhưng nguồn tài nguyên củachúng ta chỉ có hạn, nếu cứ khai thác như vậy thì không biết trong bao lâunữa sẽ cạn kiệt Thế hệ sau sẽ không có nguyên, nhiêu liệu để sản xuất vì vậy
sẽ gặp bất lợi do có thể sẽ phải nhập khẩu nguyên liệu hoặc tốn kém chi phícho nghiên cứu tìm ra nguyên liệu khác thay thế Việc này sẽ làm giảm khảnăng phát triển về lâu dài của nguồn vốn trong nước
2.2.2.4 Tình trạng lũng đoạn thị trường của nhà đầu tư nước ngoài và cạnh tranh không cân sức giữa doanh nghiệp trong nước với và doanh
Trang 31nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể làm phá sản doanh nghiệp trong nước và gây thất nghiệp.
Một thực tế mà tất cả chúng ta đều có thể dễ dàng nhìn thấy, đó làdoanh nghiệp nước ngoài thường làm ăn có hiệu quả hơn với doanh nghiệptrong nước đó là bởi các lý do sau
Thứ nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước đang pháttriển thường rất hạn chế bởi đa số các doanh nghiệp đều có quy mô nhỏ và ítvốn Cộng thêm vào đó là đa số các chủ doanh nghiệp và giám đốc doanhnghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh,quản lý, kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… và kỹ năng quản trị kinhdoanh, nhất là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế Điều đóđược thể hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quyđịnh về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hữucông nghiệp…
Thứ hai, sự lạc hậu về khoa học – công nghệ của các doanh nghiệptrong nước Hiện nay, đa số các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng côngnghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ, trong đó sốmáy móc hiện đại chiếm tuỷ lệ thấp Bên cạnh đó đầu tư để dổi mới côngnghệ lại thường chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 0.2 dên 0.5 % doanh thu
Thứ ba, hạn chế về khâu nguyên vật liệu và sự yếu kém về thương hiệucác doanh nghiệp
Thứ tư, chiến lược phân phối, chiến lược truyền thông và xúc tiếnthương mại của các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế
2.2.2.5 Làm chảy máu chất xám sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp nước ngoài còn cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước tronglĩnh vực thu hút nguồn nhân lực bởi chính sách lương, thưởng và những trợ
Trang 32cấp Thông thường do được hưởng nhiều ưu đãi và môi trường làm việc tốthơn mà đa số những người có trình độ tay nghề thường làm trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc này đã làm giảm đáng kể nhân tàicho khu vực trong nước, góp phần làm giảm khả năng phát triển của khu vựcnày
Trang 33Chương II Mối quan hệ giữa hai nguôn vốn- Thực trạng ở Việt Nam
1 Nguồn vốn trong nước tác động đối với nguồn vốn nước ngoài
1.1 Nguồn vốn trong nước là nguồn vốn đối ứng nhằm tạo cơ sở cho nguồnvốn nước ngoài vào hoạt động có hiệu quả:
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Tổng số
Kinh tế nhà nước
Kinh tế ngoài nhà nước
Khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 34Năm Tổng số Kinh tế nhà
nước
Kinh tế ngoàinhà nước
Khu vực cóvốn đầu tưnước ngoài
Nguồn: trang web của tổng cục thống kê
Từ những số liệu trên cho thấy vốn trong nước luôn chiếm tỷ trọng trên 70%trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội và có xu hướng tăng lên Nguồn vốn trongnước phần lớn là do đóng góp của thành phần ngoài nhà nước, mà vốn đốiứng là do Ngân sách nhà nước chi trả, điều này dẫn đến tình trạng thiếu nguồnvốn đối ứng của Việt nam hiện nay Đó là nguyên nhân làm chậm tiến độ dự
Trang 35án, ông Đinh Đức Thuận, Giám đốc Ban Quản lý dự án phát triển ngành lâmnghiệp (một dự án đã thực hiện được gần 5 năm nhưng chỉ giải ngân được35% tổng số vốn đầu tư), cho biết: “Khi hiệp định ký kết tài trợ có hiệu lực,chúng tôi mới bắt đầu triển khai các hoạt động, xây bộ máy quản lý nên cần
có tiền để nuôi bộ máy này hoạt động Nếu WB chưa ứng tiền, chúng tôikhông thể hoạt động được” Cũng theo ông Thuận, trong năm đầu thực hiện
dự án, Ban quản lý đã phải vay tiền và mượn máy móc, thiết bị của dự ánkhác để hoạt động
Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những lý do dẫn đến việc hấp thụ nguồn vốnODA vào nông nghiệp khó khăn Nhiều phân tích đã chỉ ra rằng việc thiếuvốn đối ứng, cũng như năng lực thực hiện của phía Việt Nam còn yếu lànguyên nhân chủ yếu dẫn đến tiến độ giải ngân bị chậm
Theo nhiều chuyên gia, một nguyên nhân nữa ảnh hưởng đến tiến độ thựchiện chương trình, dự án ODA là năng lực nhà thầu và tư vấn không đáp ứngđược yêu cầu công việc Trong khi đó, tác động của lạm phát trong các năm
2007 - 2008 dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn ODA và vốn đối ứng Cơ chế bốtrí vốn đối ứng giữa trung ương và địa phương chưa phù hợp Trong các hiệpđịnh ký kết, địa phương cam kết tự cân đối vốn đối ứng được thực hiện theocác tỷ lệ khác nhau (100%, 80%, 60%, ) tùy theo từng vùng (Tây Nguyên,ĐBSCL ) trên cơ sở các quyết định của Thủ tướng Chính phủ Tuy nhiên,vốn về địa phương đã chưa được sử dụng đúng mục đích
Thời gian chuẩn bị thực hện các dự án đầu tư bằng vốn ODA thường kéo dài
từ 2 - 3 năm dẫn đến việc dự án phải điều chỉnh và chịu tác động của nhiềuyếu tố, đặc biệt về giải phóng mặt bằng, tái định cư và biến động về giá cả,chi phí làm cho tổng đầu tư tăng lên rất nhiều so với mức ban đầu