1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân biệt hàng hóa sức lao động với hàng hóa thông thường

7 426 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân biệt hàng hóa sức lao động với hàng hóa thông thường
Chuyên ngành Chủ nghĩa Mác-Lênin
Thể loại Bài giảng
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ nhất, khái niêêm dân tôêc dùng để chỉ côêng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hêê chăêt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của côêng đồng v

Trang 1

Câu 1:

Phân biêêt hàng hóa sức lao đôêng với hàng hóa thông thường

1 Hàng hoá sức lao động

Sức lao động:

Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể con người đang sống và được người đó sử dụng vào sản xuất hàng hóa

Trong mọi xã hôêi, sức lao động đều là yếu tố của sản xuất nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hoá với hai điều kiện sau:

Người lao động được tự do về thân thể, tức là có quyền tự chủ về sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định,

Người lao động ko có TLSX, ko có khả năng bán cái gì ngoài sức lao đôêng

Hàng hoá sức lao đôêng:

-Hàng hoá slđ là một hàng hoá đặc biệt, nó tồn tại trong con người và người ta chỉ có thể bán nó trong một khoản thời gian nhất định Vì thế giá trị và giá trị sử dụng của nó khác với hàng hoá thông thường

-Giá trị của hàng hoá slđ cũng do lượng lao động xh cần thiết để sx và tái sx ra slđ quyết định Cho nên giá trị của hàng hoá sức lao đôêng được xác định gián tiếp qua giá trị những hàng hoá tiêu dùng mà người lao động dùng để tái sản xuất slđ để nuôi sống gia đình và chi phí học tập

- Mặc khác lượng giá trị hàng hoá sức lao đôêng bao gồm cả yếu tố tinh thần, vật chất và phụ thuộc vào điều kiêên lịch sử, điều kiêên sản xuất của mỗi quốc gia Giá trị slđ ko cố định : tăng lên khi nhu cầu trung bình về hàng hoá, dịch vụ của con người tăng và yêu cầu kỷ thuật lao động tăng; Giảm khi năng suất lao động xh tăng làm giảm giá trị hàng hoá tiêu dùng

- Giá trị sử dụng của hàng hoá slđ là khả năng thực hiện môêt loại lao động cụ thể nào đó và được thể hiện ra trong quá trình lao động Giá trị sử dụng của slđ phải phù hợp với yêu cầu của người sử dụng slđ Vì thế việc nâng cao trình độ nghiệp

vụ chuyên môn là điều mà người lao động phải thường xuyên quan tâm đến nếu

ko muốn bị đào thải, thất nghiệp

- Trong quá trình lao động, slđ đã chuyển hoá toàn bộ những lao động quá khứ của TLSX và lao động mới của nó sang sản phẩm mới, vì thế nó tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của nó Đây chính là giá trị sử dụng đặc biệt của hàng hoá sức lao đôêng tăng giá trị trong quá trình sản xuất, nguồn gốc của sự giàu có, nguồn gốc của GTTD

2 So sánh hàng hoá sức lao đô ông với hàng hoá thông thường.

+ Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính GT và GTSD

Trang 2

+ Khác nhau:

Hàng hoá slđ Hàng hoá thông thường

Người mua có quyền sử dụng, không có quyền sở hữu, người bán phải phục tùng người mua

Người mua và người bán hoàn toàn độc lập với nhau

Mua bán có thời hạn Mua đứt, bán đứt

Giá cả nhỏ hơn giá trị Giá cả có thể tương đương với GT

Giá trị: cả yếu tố tinh thần, vật chất và lịch sử Chỉ thuần tuý là yếu tố vật chất

GTSD đặc biệt : tạo ra giá trị mới lớn hơn GT của bản thân nó, đó chính là GTTD GTSD thông thường

Là nguồn gốc của GTTD Biểu hiện của của cải

Câu 2:

1.Quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lenin về vấn đề dân tôêc

“Dân tôêc” thường được dùng với hai nghĩa Thứ nhất, khái niêêm dân tôêc dùng để chỉ côêng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hêê chăêt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của côêng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đăêc thù so với những côêng đồng khác, xuất hiêên sau côêng đồng bôê lạc, có sự kế thừa và phát triển hơn những nhân tố tôêc người ở côêng đồng bôê lạc, bôê tôêc và thể hiêên thành ý thức tự giác của những thành viên trong côêng đồng đó

Thứ hai, khái niêêm dân tôêc dùng để chỉ môêt côêng đồng người ổn định, bền vững hợp thành nhân dân của môêt quốc gia, có lãnh thổ chung, có nền kinh tế thống

nhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chung

trong quá trình dựng nước và giữ nước

Như vâêy, nếu theo nghĩa thứ nhất, dân tôêc là môêt bôê phâên của quốc gia, là côêng đồng

xã hôêi theo nghĩa là các tô ôc người, còn theo nghĩa thứ hai, thì dân tôêc là toàn bôê nhân

dân môêt nước, là quốc gia-dân tôêc Với nghĩa như vâêy cho thấy: khái niêêm dân tôêc và khái niêêm quốc gia có sự gắn bó chăêt chẽ với nhau, dân tôêc bao giờ cũng ra đời trong môêt quốc gia nhất định và thực tiễn lịch sử chứng minh rằng những nhân tố hình thành dân tôêc chín muồi thường không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia Đây là những nhân tố bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triển

Nghiên cứu về dân tôêc và phong trào dân tôêc trong chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin

đã phân tích và chỉ ra hai xu hướng phát triển có tính khách quan của nó như sau:

Xu hướng thứ nhất: Do sự chín muồi của ý thức dân tôêc, sự thức tỉnh về quyền sống

của mình, các côêng đồng dân cư muốn tách ra để thành lâêp các quốc gia dân tôêc đôêc lâêp Thực tế này đã diễn ra ở những quốc gia, khu vực nơi có nhiều côêng đồng dân cư với nguồn gốc tôêc người khác nhau trong chủ nghĩa tư bản Xu hướng đó biểu hiêên thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tôêc để tiến tới thành lâêp các quốc gia dân tôêc đôêc lâêp và có tác đôêng nổi bâêt trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản Trong xu hướng đó, nhiều côêng đồng dân tôêc đôêc lâêp họ mới có quyền quyết định con đường phát triển của dân tôêc mình

Trang 3

Xu hướng thứ hai: Các dân tôêc ở từng quốc gia, kể cả các dân tôêc ở nhiều quốc gia

muốn liên hiêêp lại với nhau Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của giao lưu kinh tế, văn hóa trong chủ nghĩa tư bản đã tạo nên mối liên hêê quốc gia và quốc tế mở rôêng giữa các dân tôêc, xóa bỏ sự biêêt lâêp, khép kín, thúc đẩy các dân tôêc xích lại gân nhau Trong điều kiêên chủ nghĩa đế quốc, sự vâên đôêng của hai xu hướng trên găêp rất nhiều khó khăn, trở ngại Xu hướng các dân tôêc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyêên và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhâên, thay vào đó là những khối liên hiêêp với sự áp đăêt, thống trị của chủ nghĩa đế quốc nhằm áp bức, bóc lôêt các dân tôêc còn nghèo nàn lạc hâêu

Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga, môêt thời đại mới đã xuất hiêên – thời đại quá đôê từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hôêi Đây cũng là sự quá đôê lên môêt xã hôêi trong đó các quyền tự do, bình đẳng và mối quan hêê đoàn kết, hữu nghị giữa người với người được thực hiêên Giai cấp công nhân hiêên đại với sứ mêênh lịch sử của mình, cùng với nhân dân lao đôêng sẽ sáng tạo ra xã hôêi đó

Khi nghiên cứu về dân tôêc, quan hêê dân tôêc và những xu hướng phát triển của nó, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định rằng, chỉ trong điều kiêên chủ nghĩa xã hôêi, khi tình trạng áp bức giai cấp, tình trạng người bóc lôêt người bị thủ tiêu thì tình trạng áp bức dân tôêc cũng bị xóa bỏ

Với thắng lợi của cách mạng vô sản, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm quyền tạo tiền đề cho tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hôêi, đồng thời cũng mở ra quá trình hình thành và phát triển của dân tôêc xã hôêi chủ nghĩa

Tuy nhiên, dân tôêc xã hôêi chủ nghĩa chỉ xuất hiêên khi sự cải tạo, xây dựng từng bước côêng đồng dân tôêc và các mối quan hêê xã hôêi, quan hêê dân tôêc theo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hôêi khoa học Đồng thời, dân tôêc xã hôêi chủ nghĩa cũng chỉ có thể ra đời từ kết quả toàn diêên trên mọi lĩnh vực của công cuôêc xây dựng chủ nghĩa xã hôêi từ kinh

tế, chính trị, xã hôêi và văn hóa- tư tưởng

Dân tôêc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hôêi có sự vâên đôêng mới theo hướng ngày càng tiến bôê, văn minh Trong đó, hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tôêc sẽ phát huy tác dụng cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tôêc, trong cả côêng đồng quốc gia Quan hêê dân tôêc sẽ là biểu hiêên sinh đôêng của hai xu hướng đó trong điều kiêên của công cuôêc xây dựng xã hôêi mới- xã hôêi chủ nghĩa Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hôêi đã tạo ra những điều kiêên thuâên lợi để xây dựng quan hêê dân tôêc bình đẳng, hợp tác giúp đỡ nhau cùng tiến bôê giữa các dân tôêc Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyêên và bình đẳng sẽ là nhân tố quan trọng cho từng dân tôêc nhanh chóng đi tới phồn vinh, hạnh phúc Mỗi dân tôêc không có những điều kiêên khai thác tối đa tiềm năng của dân tôêc mình để phát triển mà còn nhâên được sự giúp đỡ, dựa vào tiềm năng của dân tôêc anh em để phát triển nhanh chóng

Sự xích lại gần nhau giữa các dân hôêc trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hôêi trong môêt quốc gia sẽ làm cho những giá trị, tinh hoa của các dân tôêc hòa nhâêp vào nhau, bổ sung cho nhau làm phong phú thêm giá trị chung của quốc gia- dân tôêc Những giá trị chung đó sẽ lại là cơ sở liên kết các dân tôêc chăêt chẽ, bền vững hơn

Tóm lại, dân tôêc và quan hêê dân tôêc trong tiến trình xây dựng xã hôêi chủ nghĩa là môêt

nôêi dung quan trọng trong toàn bôê nôêi dung của sự nghiêêp xây dựng xã hôêi mới Xã hôêi mới từng bước tạo ra những điều kiêên để xây dựng quan hêê hợp tác giữa các dân tôêc gắn với sự phát triển của cả côêng đồng các dân tôêc Sự tăng cường tính thống nhất các dân tôêc trở thành môêt quá trình hợp quy luâêt Tuy nhiên, tính côêng đồng chung, tính thống nhất vẫn trên cơ sở giữ gìn và phát huy tinh hoa, bản sắc từng dân tôêc

Từ đó chủ nghĩa Mác-Lenin nêu ra những nguyên tắc cơ bảo trong viêêc giải quyết vấn

đề dân tôêc

Cùng với vấn đề giai cấp, vấn đề dân tôêc luôn là môêt nôêi dung quan trọng có ý nghĩa chiến lược của cách mạng xã hôêi chủ nghĩa Giải quyết vấn đề dân tôêc là môêt trong

Trang 4

những vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định, phát triển hay khủng hoảng, tan rã của môêt quốc gia dân tôêc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin, vấn đề dân tôêc là môêt bôê phâên của những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản Do đó, giải quyết vấn đề dân tôêc phải gắn với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác-Lenin cũng nhấn mạnh rằng, khi xem xét và giải quyết vấn đê dân tôêc phải đứng vững trên lâêp trường giai cấp công nhân Điều đó cũng có nghĩa là viêêc xem xét và giải quyết vấn đề dân tôêc phải trên cơ sở vì lợi ích cơ bản, lâu dài của dân tôêc Trên cơ sở tư tưởng của Mac và Awngghen về vấn đê dân tôêc và giai cấp, cùng với

sự phân tích hai xu hướng của vấn đề dân tôêc, Lenin đã nêu ra “Cương lĩnh dân tôêc” với ba nôêi dung cơ bản: các dân tôêc hoàn toàn bình đẳng, các dân tôêc được quyền tự quyết, liên hiêêp công nhân tất cả các dân tôêc Đây được coi là cương lĩnh dân tôêc của chủ nghĩa Mac-Lenin

Cương lĩnh dân tôêc của chủ nghĩa Mac-Lenin là môêt bôê phâên không thể tách rời trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân, là tuyên ngôn về vấn đề dân tôêc của Đảng Côêng sản trong sự nghiêêp đấu tranh giải phóng dân tôêc, giải phóng giai cấp và giải quyết đúng đắn mối quan hêê dân tôêc Cương lĩnh đã trở thành cơ sở lý luâên cho chủ trương, đường lối và chính sách dân tôêc của đảng côêng sản và nhà nước xã hôêi chủ nghĩa

Các dân tô ôc hoàn toàn bình đẳng

Quyền bình đẳng giữa các dân tôêc là quyền thiêng liêng của các dân tôêc Tất cả các dân tôêc, dù đông người hay ít người, có trình đôê phát triển cao hay thấp đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có đăêc quyền đăêc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ cho bất cứ dân tôêc nào

Trong môêt quốc gia có nhiều dân tôêc, quyền bình đẳng giữa các dân tôêc phải được pháp luâêt bảo vêê và phải được thực hiêên trong thực tế, trong đó viêêc khắc phục sự chênh lêêch về trình đôê phát triển kinh tế, văn hóa giữa các dân tôêc do lịch sử để lại có ý nghĩa cơ bản

Trong quan hêê giữa các quốc gia-dân tôêc, quyền bình đẳng dân tôêc gắn liền với cuôêc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biêêt chủng tôêc, chủ nghĩa bá quyền nước lớn, chống

sự áp bức bóc lôêt của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạc hâêu, châêm phát triển về kinh tế Mọi quốc gia đều bình đằng trong quan hêê quốc tế

Các dân tô ôc được quyền tự quyết

Quyền dân tôêc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tôêc, quyền tự quyết định con

đường phát triển kinh tế, chính trị xã hôêi của dân tôêc mình Quyền dân tôêc tự quyết bao gồm quyền tự do phân lâêp thành côêng đồng quốc gia dân tôêc đôêc lâêp ( vì lợi ích các dân tôêc, không phải vì mưu đồ và lợi ích của môêt nhóm người nào) và quyền tự nguyêên liên hiêêp lại với các dân tôêc khác trên cơ sở bình đẳng

Khi xem xét giải quyết quyền tự quyết của dân tôêc cần đứng vững trên lâêp trường của giai cấp công nhân: ủng hôê các phong trào dân tôêc tiến bôê, kiên quyết đấu tranh chống lại những âm mưu toan lợi dụng quyền dân tôêc tự quyết làm chiêu bài để can thiêêp vào công viêêc nôêi bôê các nước, đòi ly khai chia rẽ dân tôêc

Liên hiê ôp công nhân tất cả các dân tô ôc

Đây là tư tưởng, nôêi dung cơ bản trong cương lĩnh dân tôêc của Lenin Tư tưởng này là

sự thể hiêên bản chất quốc tế của giai cấp công nhân, phong trào công nhân và phản ánh tính thống nhất giữa sự nghiêêp giải phóng dân tôêc với giải phóng giai cấp

Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tôêc có ý nghĩa lớn lao đối với sự nghiêêp giải phóng dân tôêc Nó có vai trò quyết định đến viêêc xem xét, thực hiêên quyền bình đẳng dân tôêc và quyền dân tôêc tự quyết Đồng thời, đây là yếu tố tạo nên sức mạnh bảo đảm cho thắng lợi của giai cấp công nhân và các dân tôêc bị áp bức trong cuôêc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc

Trang 5

2 Đảng và nhà nước ta đã làm gì để tăng cường củng cố khối đại đoàn kết dân tôêc Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã lật nhào chính quyền tay sai của phát-xít, thực dân, phong kiến, giành chính quyền cách mạng trên cả nước, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám

1945 là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lịch sử của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Ðảng Ðó là thắng lợi rực rỡ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở một nước thuộc địa nửa phong kiến Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới cho Việt Nam: Kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mở đầu thời đại Hồ Chí Minh, mở đường cho hàng loạt thắng lợi vẻ vang của dân tộc hơn

60 năm qua

Thời cơ lớn để Tổng khởi nghĩa là lúc phát-xít Nhật thua trận Thời cơ đó đã được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp tại Khuổi Nậm (Cao Bằng) năm 1941, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ và đã xác định những công việc lớn cần xúc tiến như phát triển lực lượng chính trị, lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các căn cứ địa Không có chuẩn bị, không có lực lượng thì không nắm được thời cơ thuận lợi

Nhiều nước ở châu Á năm 1945 cùng đứng trước thời cơ lịch sử này nhưng không nổi dậy được Rõ ràng nội lực là yếu tố quyết định thắng lợi Dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 8 (1941), Hội nghị Thường vụ Trung ương mở rộng họp ở Ðình Bảng, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trường-Chinh ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp, đã ra chỉ thị "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta!" Chỉ thị ngày 12/3/1945 đã nói rõ: "Dù sao ta không thể đem việc quân Ðồng Minh đổ bộ vào Ðông Dương làm điều kiện tất yếu cho Tổng khởi nghĩa của ta, vì như thế là ỷ lại vào người và tự bó tay trong khi tình thế biến chuyển thuận tiện Nếu giặc Nhật mất nước, như Pháp năm 1940 và quân viễn chinh Nhật mất tinh thần, thì khi ấy, dù quân Ðồng Minh chưa đổ bộ, cuộc Tổng khởi nghĩa của ta vẫn có thể bùng nổ và thắng lợi"

Ngày 20/7/1945, tỉnh Quảng Yên; ngày 15/8/1945, tỉnh Quảng Ngãi đã khởi nghĩa thắng lợi

Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng bộ Việt Minh thành lập ra "Quân lệnh

số 1", hạ lệnh cho quốc dân đồng bào cả nước đứng lên Tổng khởi nghĩa Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào gồm 60 đại biểu bắc, trung, nam và đại biểu kiều bào

ở nước ngoài, đại diện các đảng phái, đoàn thể nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, đoàn thể nhân dân, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của

Trang 6

Tổng bộ Việt Minh.

Ngày 19/8/1945, Hà Nội khởi nghĩa thắng lợi; đến ngày 25/8/1945, Sài Gòn khởi nghĩa thắng lợi Như vậy là, dưới sự lãnh đạo của Ðảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta từ bắc chí nam, hầu như đã đồng loạt vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi vẻ vang, tái sinh ra sức mạnh thống nhất của cả nước, của các dân tộc anh em trên dải đất Việt Nam

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo thống nhất của một Ðảng duy nhất Việt Nam là một nước trên một dải đất dài, có 54 dân tộc anh em, lại bị thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, những thủ đoạn lừa bịp về độc lập giả hiệu, khối đại đoàn kết Ðông Á của phát-xít Nhật mê hoặc, đi đôi với sự đàn áp tàn bạo những người yêu nước, cho nên phải có một Ðảng thống nhất lãnh đạo, vừa kiên cường vượt qua mọi thử thách, vừa thể hiện tập trung ý chí và tầm cao trí tuệ của dân tộc, mới giành được thắng lợi nhanh gọn khi có thời cơ thuận lợi Ðảng có cơ sở tổ chức trên toàn quốc làm nòng cốt lãnh đạo các địa phương vùng lên kịp thời, chớp được thời cơ "ngàn năm có một" đã giành được chính quyền cách mạng trên cả nước

Tổng khởi nghĩa Tháng Tám-1945 là sự vùng lên của hàng chục triệu nhân dân cả nước, cả ở rừng núi, nông thôn và thành thị, đập tan chính quyền phản động, mà đòn quyết định cuối cùng là ở các thành thị lớn Lực lượng cách mạng của quần chúng đã áp đảo lực lượng phản động, làm nổi bật sức mạnh "xoay trời chuyển đất" chưa từng có của khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ bắc đến nam Lực lượng

vũ trang cách mạng tuy còn nhỏ nhưng đã là những đội quân xung kích, đã từng đánh Pháp, đánh Nhật với những trận nổi tiếng như Phai Khắt - Nà Ngần, Tam Ðảo, Sơn Dương, Thái Nguyên, Quảng Ngãi, Quảng Yên

Các đội vũ trang cách mạng đã hỗ trợ, bảo vệ quần chúng biểu tình, tuần hành thị

uy, tiến công các đồn bốt, các trại bảo an, trấn áp bọn Việt gian, bọn phản động, chiếm các công sở, phá các nhà tù, kho súng Không có lực lượng vũ trang cách mạng, chính quyền tay sai Nhật không tan rã nhanh chóng, không hạn chế được

sự chống đối của kẻ thù cầm súng Không có lực lượng vũ trang cách mạng không thể làm tăng thêm sức mạnh tiến công của lực lượng chính trị của quần chúng, đưa cuộc Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh gọn Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là cuộc khởi nghĩa vũ trang, song lực lượng chính trị của quần chúng có sức mạnh quyết định

Cách mạng Tháng Tám đã thể hiện nổi bật sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc mới xuất hiện, sau một thời gian dài hàng trăm năm bị phân tán, chia rẽ, xói mòn Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh đã mở ra bước ngoặt trong việc tập hợp lực lượng toàn dân tộc ở nước ta Ngày 20-11-1941, Mặt trận Việt Minh đã nêu rõ mục tiêu là làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với tiến bộ xã hội Ðánh đuổi được Nhật, Pháp, nước ta xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, thực hiện phổ thông đầu phiếu, ban bố các quyền tự do dân chủ, nam nữ bình đẳng, các dân tộc thiểu số có quyền tự quyết, thực hiện giảm tô, chia lại công điền, thực hiện ngày làm 8 giờ, phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, khuyến khích trí thức phát triển

y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ, thể dục - thể thao

Mặt trận Việt Minh tập họp mọi lực lượng yêu nước, các đoàn thể cứu quốc, trên

Trang 7

nền tảng liên minh công nông và lao động trí óc, đoàn kết với mọi tầng lớp, không phân biệt ngành nghề, sắc tộc, tôn giáo, mọi nhân sĩ, không thành kiến với quá khứ, cùng hợp tác vì mục tiêu cao nhất là độc lập, thống nhất cho đất nước Quốc dân Ðại hội họp ở Tân Trào là một hình ảnh tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc Trong cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội, tại Bắc Bộ Phủ, ta bắt được Ngô Ðình Diệm, muốn ông ta cùng phấn đấu cho nước nhà độc lập, nhưng Diệm từ chối và ta đã trả tự do cho ông ta

Chính phủ lâm thời nước ta lập nên sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, gồm những nhà cách mạng từng trải và các nhân sĩ, trí thức, cả những người từng tham gia chính phủ Trần Trọng Kim theo Nhật Thực hiện được đại đoàn kết dân tộc là do Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có chính sách đúng, vừa coi trọng củng cố nền tảng vững chắc là công nông liên minh, vừa ra sức mở rộng Mặt trận, xác định đúng quyền lợi và nghĩa vụ với mọi tầng lớp, phát huy mọi khả năng phục vụ Tổ quốc, không thành kiến, hẹp hòi, lắng nghe các ý kiến khác nhau - coi đó là lẽ thường tình, chỉ trừ những kẻ chống đối, có ý kiến và hành động chống lại nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc

Mặt trận Việt Minh, Quốc dân Ðại hội, Chính phủ lâm thời là biểu hiện thành công của sự tập hợp mọi lực lượng có thể hợp tác vì sự nghiệp tối cao của dân tộc, của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Ðó là sự phát triển mới về sức mạnh chính trị của dân tộc Việt Nam, thể hiện Ðảng đã hòa với dân tộc, trở thành dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám

Ðoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công! Khẩu hiệu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra và thực hiện một cách tuyệt vời trong lãnh đạo cách mạng

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã mở đường cho những thắng lợi vẻ vang của nước ta trong sự nghiệp kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp đổi mới ngày nay

Thành công của Cách mạng Tháng Tám đã xác định nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi là sự lãnh đạo của Ðảng, đồng thời xây dựng các nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Ðó là:

- Sự lãnh đạo của một Ðảng duy nhất - lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động

Một Nhà nước của dân, do dân, vì dân

Một Mặt trận đại đoàn kết dân tộc

Một quân đội cách mạng kiên cường chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Mối quan hệ quốc tế gắn liền Việt Nam với thời đại, tiến kịp với thời đại Tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đồng thời ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội của các nước

Ngày đăng: 17/02/2014, 13:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w