Khái niệm phân tích tài chính: Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụ theomột hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán cũng như
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Quản trị tài chính 1
ĐỀ TÀI:
Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần
Đầu tư Thế Giới Di Động (MWG) trong giai đoạn từ
2018-2020.
Nhóm thực hiện: Nhóm 11
Giảng viên: Nguyễn Ngọc Khánh Linh
Lớp học phần: 2157FMGM0411
Trang 2Hà Nội, ngày 07 tháng 11 năm 2021
Trang 3em đã có thêm tri thức, thêm nhiều hiểu biết hơn về những vấn đề trong cuộc sống Côcũng chính là người hướng dẫn chúng em làm bài sao cho đầy đủ và hoàn chỉnh nhất.Mặc dù còn nhiều bỡ ngỡ trong việc làm việc nhóm và làm bài thảo luận này nhưngnhờ sự hướng dẫn chi tiết của cô mà bài thảo luận này của chúng em cũng phần nàotrở nên tốt hơn Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn sự tận tình giúp đỡ, sựhướng dẫn nhiệt tình của cô Bài thảo luận này đã được các thành viên trong nhómđóng góp ý kiến tuy nhiên bước đầu áp dụng vào thực tế của chúng em còn nhiều hạnchế do vậy không tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được những lờigóp ý của cô và các bạn để bài thảo luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Danh sách nhóm 11
STT HỌ VÀ TÊN CHÚC DANH NHIỆM VỤ
98 Nguyễn Văn Tài Trí Nhóm trưởng Thuyết trình
99 Phạm Quốc Triệu Thành viên Cơ sở lí thuyết
100 Nguyễn Quốc Trung Thành viên Nhận xét
chung tình hình tăng trưởng; làm ppt
101 Nguyễn Huy Trường Thành viên Lập bảng báo
cáo tài chính kinh doanh và lưu chuyển tiềntệ 3 năm 2018-2020
102 Nguyễn Lam Trường Thành viên Lập bảng
nhóm chỉ số tàichính, làm word
103 Nguyễn Quốc Phi Tùng Thành viên Tìm sự kiện, thị
trường, giải thích biến động tài chính 2020
104 Nguyễn Xuân Tùng Thành viên Lập bảng tình
hình tài chính
105 Nguyễn Thị Tuyết Thư kí Tìm sự kiện, thị
trường, giải thích biến động tài chính 2019; tổng hợpcác phân tích tài chính công ty; làm biên bản cuộc họp
106 Quàng Thị Tuyết Thành viên Mở đầu, kết
luận; tìm sự kiện, thị
trường, giải thích biến động tài chính 2018
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
PHẦN NỘI DUNG 6
A LÝ THUYẾT 6
I CƠ SỞ LÝ LUẬN: 6
II PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH: 8
B PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THẾ GIỚI DI ĐỘNG (MWG) 21
I Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động (MWG) 21
II Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động (MWG) 24
1 Tình hình kinh tế - xã hội và công ty trong giai đoạn 2018 - 2019 24
2 Phân tích tình hình tài chính công ty MWG 25
III Nhận xét, đánh giá chung tình hình tăng trưởng của CTCP Đầu Tư Thế Giới Di Động (MWG) trong giai đoạn 2018 – 2020 42
PHẦN KẾT LUẬN 44
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới Các doanhnghiệp Việt Nam muốn hội nhập với nền kinh tế quốc tế, cần phải có một chiếnlược kinh doanh hợp lý để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắthiện nay Đặc biệt, doanh nghiệp phải nắm bắt tình hình tài chính của mình thôngqua báo cáo tài chính
Phân tích báo cáo tài chính nhằm mục đích cung cấp thông tin về tình hìnhthực trạng kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụngvốn trở thành công cụ hết sức quan trọng trong quản lý kinh tế Phân tích tìnhhình tài chính cung cấp cho nhà quản lý cái nhìn tổng quát về thực trạng củadoanh nghiệp hiện tại, dự báo các vấn đề tài chính trong tương lai, cung cấp chocác nhà đầu tư tình hình phát triển và hiệu quả hoạt động, giúp các nhà hoạchđịnh chính sách đưa ra biện pháp quản lý hữu hiệu Từ những chi tiết phân tích sẽcho biết bức tranh về hoạt động của doanh nghiệp, giúp tìm ra hướng đi đúngđắn, có các chiến lược và quyết định kịp thời nhằm đạt được hiệu quả kinh doanhcao nhất
Với bất kỳ một doanh nghiệp nào khi hoạt động đều muốn có hiệu quả vàthu về lợi nhuận cao nhất Công ty Thế Giới Di Động cũng vậy, để làm được điều
đó đòi hỏi cần có nhiều yếu tố cấu thành nên Một trong những việc cần làm làphân tích tình hình tài chính của công ty Thế Giới Di Động
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
A LÝ THUYẾT
I CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1 Khái niệm phân tích tài chính:
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp, công cụ theomột hệ thống nhất định cho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán cũng như cácthông tin khác trong quản lý doanh nghiệp, giúp nhà quản lý kiểm soát tình hình kinhdoanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như dự đoán trướcnhững rủi ro có thể xảy ra trong tương lai để đưa các quyết định xử lý phù hợp tùytheo mục đích theo đuổi
1.2 Đối tượng của phân tích tài chính:
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có hoạt độngtrao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vật chất.Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tàichính đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó có thể chia thành các nhóm chủyếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước Quan hệ này biểu
hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữangân sách Nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức:
- Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định
- Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp hoặc tham gia với tư cáchngười góp vốn (Trong các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp)
Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ
chức tài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắnhạn cho nhu cầu kinh doanh:
- Trên thị trường tiền tệ đề cập đến việc doanh nghiệp quan hệ với các ngân hàng,vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc khi đến hạn
- Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạn bằngcách phát hành các loại chứng khoán cũng như việc trả các khoản lãi, hoặcdoanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng hay mua chứng khoáncủa các doanh nghiệp khác
Thứ ba: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác huy động
các yếu tố đầu vào (Thị trường hàng hóa, dịch vụ lao động…) và các quan hệ để thựchiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (Với các đại lý, các cơ quan xuất nhập khẩu,thương mại…)
Trang 8Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là các khia
cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính củadoanh nghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổphần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp Trong mối quan hệ quản lý hiện nay,hoạt động tài chính của các Doanh nghiệp nhà nước có quan hệ chặt chẽ với hoạt độngtài chính của cơ quan chủ quản là Tổng công ty Mối quan hệ đó được biểu hiện trongcác quy định về tài chính như:
- Doanh nghiệp nhận và có trách nhiệm bảo toàn vốn của Nhà nước do Tổngcông ty giao
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp một phần quỹ khấu hao cơ bản và tríchmột phần lợi nhận sau thuế vào quỹ tập trung của Tông Công Ty theo quy chếtài chính của Tổng Công Ty và với những điều kiện nhất định
- Doanh nghiệp cho Tổng công ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự điều hòavốn trong Tổng công ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của Tổng côngty
Như vậy, đối tượng của phân tích tài chính, về thực chất là các mối quan hệ kinh tếphát sinh trong qua trình hình thành, phát triển và biến đổi vốn dưới các hình thức cóliên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3 Mục đích, ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính:
Có nhiều đối tược quan tâm đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chủ
doanh nghiệp, nhà tài trợ, nhà cung cấp, khách hàng…Mỗi đối tượng quan tâm với cácmục đích khác nhau nhưng thường liên quan với nhau
Đối với chủ doanh nghiêp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâm hàngđầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Ngoài ra, các nhà quản trị doanhnghiệp còn quan tâm đến mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượngsản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí…Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiệncác mục tiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ Một doanh nghiệp
bị lỗ liên tục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa, còn nếu doanhnghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả cũng buộc phải ngừnghoạt động
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của họhướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy họ đặc biệt chú ý đến sốlượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số
nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp, bên cạnh đó
họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó là khoản bảo hiểm cho họtrong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro
Trang 9Đối với các nhà đầu tư, họ quan tâm đến lợi nhuận bình quân vốn của công ty,vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp…Từ đó ảnh hưởng tới các quyếtđịnh tiếp tục đầu tư và Công ty trong tương lai.
Bên cạnh những nhóm người trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhàcung cấp, người lao động…cũng rất quan tâm đến bức tranh tài chính của doanhnghiệp với những mục tiêu cơ bản giống như các chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp vànhà đầu tư
Tất cả những cá nhân, tổ chức quan tâm nói trên đều có thể tìm thấy và thỏamãn nhu cầu về thong tin của mình thong qua hệ thống chỉ tiêu do phân tích báo cáotài chính cung cấp
1.4 Tổ chức công tác phân tích tài chính:
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tùy theo loại hình
tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầuthông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định công tác tổchức phân tích phải làm sao thỏa mãn cao nhất cho nhu cầu thông tin của từng loạihình quản trị khác nhau
Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biêt đặt dướiquyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theohình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nôi dung của hoạt độngkinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạo trongdoanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin qua phân tích được truyền từ trên xuốngdưới theo chức năng quản lý và quá trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh,chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đếncác phòng ban
Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo cácchức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thỏa mãn thông tin cho các bộ phậncủa quản lý được phân quyền, cụ thể:
Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộphận này sẽ tổ chức thực hiện thu thập thông tin và tiến hành phân tích tình hình biếnđộng chi phí, giữ thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệch chi phí cả vềhai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra giải pháp
Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu(Thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh daonh riêng biệt theo địa điểmhoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phận cấp dưới
là bộ phận chi phí, ứng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinh doanh, hoặcgiám đốc kinh doanh tùy theo doanh nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thu thập thôngtin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí – khối lượng –
Trang 10lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nộibộ.
II PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH:
1.2.1 Phương pháp so sánh
Khi áp dụng phương pháp so sánh cần chú ý những yếu tố sau:
Thứ nhất: điều kiện so sánh
- Phải tồn tại ít nhất 2 đại lượng (2 chỉ tiêu)
- Các đại lượng (các chỉ tiêu) phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sựthống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thốngnhất về thời gian và đơn vị đo lường
Thứ hai: xác định gốc để so sánh Kỳ gốc so sánh phụ thuộc vào mục đích của phântích Cụ thể:
- Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc sosánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳtrước (năm trước) Lúc này sẽ so sánh chỉ tiêu giữa kỳ này với kỳ trước, nămnay với năm trước hoặc hàng loạt kỳ trước
- Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh là trị
số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích Khi đó, tiến hành so sánh giữa thực tế với kếhoạch của chỉ tiêu
- Khi xác định vị trí của doanh nghiệp thì gốc so sánh được xác định là giá trịtrung bình của nghành hay chỉ tiêu phân tích của đối thủ cạnh tranh
Thứ 3: kỹ thuật so sánh Kỹ thuật so sánh thường được sử dụng là so sánh bằng sốtuyệt đối, so sánh bằng số tương đối
- So sánh bằng số tuyệt đối để thấy sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phântích
- So sánh bằng số tương đối để thấy thực tế so với kỳ gốc chỉ tiêu tăng hay giảmbao nhiêu phần trăm
Nguồn tài liệu sử dụng: bao gồm các báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là những
báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp sô liệu từ các sổ sách kế toán,theo chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định Các báocáo tài chính phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại những thờiđiểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn trong những thời kỳ nhấtđịnh Đồng thời được giải trình giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính
Trang 11nhận biết được thực trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị để đưa racác quyết định phù hợp Trong nền kinh tế thị trường đối tượng sử thông tin tài chínhrất rộng rãi: các nhà quản lý nhà nước quản lý doanh nghiệp, cổ đông chủ đầu tư, chủtài trợ…vì vậy, các báo cáo tài chính phải đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ, số liệuphản ánh trung thực, chính xác, phục vụ đầy đủ kịp thời.
Hệ thống báo cáo tài chính bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Thuyết minh báo cáo tài chính
1.2.1.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát giá trị tàisản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhấtđịnh (cuối ngày, cuối quý, cuối năm) Do đó, các số liệu phản ánh trên bảng cân đối kếtoán được sử dụng làm tài liệu chủ yếu khi phân tích tổng tài sản, nguồn vốn và kếtcấu tài sản, nguồn vốn Kết cấu của bảng cân đối kế toán gồm 2 phần chính: phần tàisản và phần nguồn vốn
Cả 2 phần tài sản và nguồn vốn đều bao gồm hệ thống các chỉ tiêu tài chính phátsinh phản ánh từng nội dung tài sản và nguồn vốn Các chỉ tiêu được sắp xếp thànhtừng mục, khoản theo trình tự logic, khoa học phù hợp với yêu cầu quản lý và phântích tài chính của doanh nghiệp
Bảng cân đối kế toán
Mô tả tại một thời điểm nhất định Tài sản và Nguồn vốn của doanh nghiệp
Trang 12hữu của doanh nghiệp và các loại tài sản đi thuê được sử dụng lâu dài, trị giá cáckhoản nhận ký quỹ, ký cược…
Căn cứ vào tính chu chuyển của tài sản, bảng cân đối kế toán (phần tài sản) chiathành 2 loại a và b
- Loại a: tài sản ngắn hạn
- Loại b: tài sản dài hạn
Trong mỗi loại a và b lại được chia thành các mục, khoản (còn gọi là các chỉ tiêucủa bảng cân đối kế toán) Số liệu của các khoản, mục so với tổng tài sản phản ánh kếtcấu tài sản của doanh nghiệp Thông qua số liệu này để nhận biết việc bố trí cơ cấuvốn hợp lý hay bất hợp lý đồng thời biết được sự tăng hay giảm của từng khoản vốngiữa các thời điểm khác nhau
Phần nguồn vốn phản ánh nguồn hình thành nên các loại tài sản của doanh nghiệp.Nguồn vốn cũng được chia thành 2 loại a và b
Loại a: nợ phải trả
Loại b: vốn chủ sở hữu
Trong mỗi loại a và b của phần nguồn vốn cũng bao gồm các mục, khoản (còn gọi
là các chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán) Số liệu của các khoản, mục thể hiện Tráchnhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với các loại tài sản đang quản lý và sử dụng tạidoanh nghiệp Thông qua số liệu này để nhận biết mức độ độc lập hay phụ thuộc vềmặt tài chính của doanh nghiệp, đồng thời thấy được chính sách sử dụng nguồn tài trợ
ở doanh nghiệp như thế nào
Nguyên tắc cân bằng tài chính: Sự cân bằng về mặt tài chính của doanh nghiệp cầnđảm bảo cả về giá trị và thời gian
Về giá trị: tổng nguồn vốn = tổng tài sản
Về thời gian: tài sản được tài trợ trong một thời gian không thấp hơn thờigian chuyển hóa tài sản ấy, hoặc thời gian của nguồn vốn tài trợ phải khôngthấp hơn tuổi thọ của tài sản được tài trợ
Trang 13phương pháp tỷ lệ yêu cầu phải xác định các ngưỡng, các định mức, để nhận xét, đánhgiá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp vớigiá trị các tỷ lệ tham chiếu
Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ số tài chính được phân thành cácnhóm chỉ tiêu đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích củadoanh nghiệp Nhìn chung có 4 nhóm sau:
- Nhóm chỉ số về khả năng thanh toán
- Nhóm chỉ số về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
- Nhóm chỉ số về hoạt động
- Nhóm chỉ số khả năng sinh lời
Mỗi nhóm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản ánh riêng lẻ, từng bộ phận của hoạtđộng tài chính trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phântích lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình.Chọn đúng các tỷ số và tiến hành phân tích chúng, chắc chắn ta sẽ phát hiện đượctình hình tài chính Phân tích tỷ số cho phép phân tích đầy đủ khuynh hướng vì một sốdấu hiệu có thể được kết luận thông qua quan sát số lớn các hiện tượng nghiên cứuriêng rẽ
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
a) Hệ số thanh toán tổng quát
Hệ số thanh toán tổng quát (h1) = Tổngtài sản Tổng nợ
Hệ số thanh toán tổng quát: cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được baonhiêu lần nợ phải trả bằng toàn bộ tài sản của mình (hệ số này phải lớn hơn 1)
- Nếu h1 > 1 : chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp đủ để thanh toán cáckhoản nợ hiện tại của doanh nghiệp Tuy nhiên không phải tài sản nào hiện cócũng sẵn sàng được dùng để trả nợ và không phải khoản nợ nào cũng phải trảngay
- Nếu h1 < 1 : báo hiệu sự phá sản của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu bị mất toàn
bộ, tổng tài sản hiện có không đủ để trả số nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán
Hệ số thanh toán chung:
Trang 14- Hệ số thanh toán chung (h2): cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được baonhiêu lần nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của mình ( tài sản có khả năngchuyển đổi thành tiền trong 1 năm hoặc trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh)
Hệ số thanh toán chung (h2) = Tổng nợ ngắn hạn Tài sản lưu động
Hệ số thanh toán chung lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có vốn lưu chuyển(tài sản ngắn hạn > nợ ngắn hạn) tức là doanh nghiệp đã dùng 1 phần nguồn vốn dàihạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn Do đó, tình hình tài chính của doanh nghiệp lànhmạnh, an toàn, ổn định Ngược lại, nếu khả năng thanh toán chung nhỏ hơn 1, chứng
tỏ doanh nghiệp ko có vốn lưu chuyển Tình hình tài chính của doanh nghiệp không ổnđịnh, không an toàn
A Hệ số thanh toán nhanh
Hệ số thanh toán nhanh: cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được baonhiêu lần nợ ngắn hạn bằng tiền và các khoản tương đương tiền của mình
Hệ số thanh toán nhanh (h3) = (Tài sản lưu động – Hàng tồn kho)
(Tổng nợ ngắn hạn)
Nếu h3=1 tức là doanh nghiệp đang duy trì được khả năng thanh toán nhanhNếu h3<1 tức là doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc thanh toán nợNếu h3>1 tức là doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn, vòng quay vốn chậm làmgiảm hiệu quả sử dụng vốn
B Hệ số thanh toán tức thời
Hệ số thanh toán tức thời: cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn,quá hạn của doanh nghiệp và đánh giá việc chấp hành kỷ luật thanh toán của doanhnghiệp với chủ nợ
Hệ số thanh tức thời (h4) =Tổng nợ ngắn hạn Tiềnmặt
Chỉ số này đặc biệt quan trọng đối với các bạn hàng mà hoạt động khan hiếmtiền mặt (quay vòng vốn nhanh), các doanh nghiệp này cần phải được thanh toánnhanh chóng để hoạt động được bình thường Thực tế, hệ số này 0,5 thì tình hìnhthanh toán tương đối khả quan còn nếu < 0,5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăntrong việc thanh toán Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại phản ánh một tình hìnhkhông tốt là vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng
Trang 15C Hệ số thanh toán lãi vay
Lãi vay phải trả là một khoản chi phí cố định, nguồn để trả lãi vay là lãi thuầntrước thuế So sánh giữa nguồn để trả lãi vay với lãi vay phải trả sẽ cho chúng ta biếtdoanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay ở mức độ nào
Hệ số thanh toán lãi vay (h5) = LãithuầnTT + Lãi vay phải trả Lãi vay phảitrả
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn để đảmbảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biết được
số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức độ nào và đem lại một khoản lợi nhuận là baonhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư
Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khảnăng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp Chúng được dùng để đo lường phần vốn gópcủa các chủ sở hữu doanh nghiệp so với phần tài trợ của các chủ nợ đối với Doanhnghiệp Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại vốn này xác định khả năng thanh toán dàihạn của doanh nghiệp ở một mức độ đáng chú ý
Trang 16Tỷ suất tự tài trợ càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, có tìnhđộc lập cao với các chủ nợ, do đó không bị ràng buộc hoặc bị sức ép từ các khoản nợvay
c Tỷ suất đầu tư
Tỷ suất đầu tư là tỷ lệ giữa tài sản cố định (giá trị còn lại) với tổng tài sản củadoanh nghiệp
Tỉ suất đầu tư = (Giá trị còn lại của TSCĐ Tổng tài sản )x 100 %
Tỷ suất này càng lớn càng thể hiện mức độ quan trọng của tài sản cố định trongtổng số tài sản của doanh nghiệp, phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật,năng lực sản xuất và xu hướng phát triển lâu dài cũng như khả năng cạnh tranh trên thịtrường của doanh nghiệp Tuy nhiên để kết luận tỷ suất này tốt hay xấu còn tuỳ thuộcvào ngành kinh doanh của từng doanh nghiệp trong thời kỳ cụ thể
d Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn
Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn cho thấy trong số tài hạn dài hạn của doanhnghiệp, bao nhiêu phần được trang bị bởi vốn chủ sở hữu, nó phản ánh mối quan hệgiữa vốn chủ sở hữu với giá trị tài sản dài hạn
Tỉ suất tự tài trợ tài sản dài hạn = (Vốn chủ sở hữu Tài sản dàihạn)x 100 %
Nếu tỷ suât này lớn hơn 1 chứng tỏ khả năng doanh nghiệp có thể dùng nguồnvốn chủ sở hữu tự trang bị tài sản dài hạn cho doanh nghiệp mình Nếu tỷ suất tự tàitrợ tài sản dài hạn nhỏ hơn 1 nghĩa là 1 bộ phận tài sản dài hạn của doanh nghiệp đượctài trợ bằng vốn vay và đặc biệt mạo hiểm là vốn vay ngắn hạn
1.2.2.3 Nhóm chỉ tiêu hoạt động
Khi giao tiền vốn cho người khác sử dụng, các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp,người cho vay Thường băn khoăn trước câu hỏi: tài sản của mình được sử dụng ởmức hiệu quả nào? Các chỉ tiêu về hoạt động sẽ đáp ứng câu hỏi này Đây là nhóm chỉtiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp Các chỉ tiêunày được sử dụng để đánh giá tác động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.Nguồn vốn của doanh nghiệp được dùng để đầu tư cho tài sản cố định và tài sản lưuđộng Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng
Trang 17tổng số nguồn vốn mà còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thànhnguồn vốn của doanh nghiệp.
a Kỳ thu tiền trung bình
Trong quá trình hoạt động, việc phát sinh các khoản phải thu, phải trả là điều tấtyếu Khi các khoản phải thu càng lớn, chứng tỏ vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụngcàng nhiều (ứ đọng trong khâu thanh toán) Nhanh chóng giải phóng vốn bị ứ đọngtrong khâu thanh toán là một bộ phận quan trọng của công tác tài chính Vì vây, cácnhà phân tích tài chính rất quan tâm tới thời gian thu hồi các khoản phải thu và chỉ tiêu
kỳ thu tiền trung bình được sử dụng để đánh giá khả năng thu hồi vốn trong thanh toántrên cơ sở các khoản phải thu và doanh thu tiêu thụ bình quân ngày Chỉ tiêu này đượcxác định như sau:
Kì thu tiền trung bình= Các khoản phải thux 360 Doanhthuthuần
Tuy nhiên kỳ thu tiền trung bình cao hay thấp trong nhiều trường hợp chưa thểkết luận chắc chắn mà còn phải xem xét lại các mục tiêu và chính sách của doanhnghiệp như : mục tiêu mở rộng thị trường, chính sách tín dụng doanh nghiệp
b Vòng quay hàng tồn kho
Hàng tồn kho là một loại tài sản dự trữ với mục đích nhằm đảm bảo cho sảnxuất được tiến hành một các bình thường, liên tục, và đáp ứng được nhu cầu của thịtrường Mức độ tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: loại hìnhkinh doanh, chế độ cung cấp mức độ đầu vào, mức độ tiêu thụ sản phẩm, thời vụ trongnăm Để đảm bảo sản xuất được tiến hành liên tục, đồng thời đáp ứng đủ cho nhu cầucủa khách hàng, mỗi doanh nghiệp cần có một mức dự trữ tồn kho hợp lý, chỉ tiêu nàyđược xác định bằng tỷ lệ doanh thu tiêu thụ trong năm và hàng tồn kho Số vòng quayhàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ
Vòng quay hàng tồn kho = Doanhthuthuần Hàngtồn kho
Đây là chỉ số phản ánh trình độ quản lý dự trữ của doanh nghiệp, thể hiện mốiquan hệ giữa hàng hoá đã bán và vật tư hàng hoá của doanh nghiệp Số vòng quayhàng tồn kho càng cao thì thời gian luân chuyển một vòng càng ngắn chứng tỏ doanhnghiệp có nhiều khả năng giải phóng hàng tồn kho, tăng khả năng thanh toán
c Vòng quay các khoản phải thu
Trang 18Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thuthành tiền mặt của doanh nghiệp, nó cho biết trong kỳ doanh nghiệp có bao nhiêu lầnthu được các khoản phải thu và được xác định: Vòng quay các khoản phải thu = Doanhthu thuần / Các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho biết mức độ hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quảcủa việc thu hồi công nợ Vòng quay càng lớn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phảithu nhanh là tốt, vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều các khoản phải thu Tuynhiên số vòng luân chuyển các khoản phải thu nếu quá cao sẽ không tốt vì có thể ảnhhưởng đến khối lượng hàng tiêu dùng do phương thức thanh toán quá chặt chẽ
d Vòng quay vốn lưu động
Vòng quay vốn lưu động cho biết một đồng vốn lưu động bình quân tham giavào quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Vòng quay vố lưu động bình quân = Vốnlưu động bình quân Doanhthuthuần
Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao Muốn làmđược điều này cần rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ hànghoá
e Hiệu suất sử dụng TSCĐ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định nhằm đo lường việc
sử dụng TSCĐ đạt hiệu quả như thế nào
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanhthuthuần Tài sản cố định
Điều này có ý nghĩa là cứ đầu tư trung bình 1 đồng vào tscđ thì tham gia tạo baonhiêu đồng doanh thu
f Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng ts là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử tổng ts, trong đó nóphản ánh một đồng tổng ts được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh đemlại bao nhiêu đồng doanh thu Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Hiệu suất sử dụng TTS = Doanhthuthuần Tổng tài sản
Chỉ tiêu này làm rõ khả năng tận dụng toàn bộ tài sản vào sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp Việc cải thiện chỉ số này sẽ làm tăng lợi nhuận đồng thời làm tăngkhả năng cạnh tranh, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 191.2.2.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời
Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuậncàng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị trí và sự tồn tại của mình trong nền kinh
tế thị trường Nhưng nếu chỉ thông qua số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trongthời kỳ cao hay thấp để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là tốt hayxấu thì có thể đưa chúng ta tới những kết luận sai lầm Bởi lẽ số lợi nhuận này khôngtương xứng với lượng chi phí đã bỏ ra, với khối lượng tài sản mà doanh nghiệp đã sửdụng Để khắc phục nhược điểm này, các nhà phân tích thường bổ xung thêm nhữngchỉ tiêu tương đối bằng cách đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu đạt đượctrong kỳ với tổng số vốn mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh Phântích mức độ sinh lời của hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua tính và phântích các chỉ tiêu sau:
a Doanh lợi tiêu thụ
Để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh thịnh vượng hay suy thoái, ngoàiviệc xem xét chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ đạt được trong kỳ, các nhà phân tích còn xácđịnh trong 100 đồng doanh thu đó có bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này được xácđịnh bằng cách chia lợi nhuận sau thuế cho doanh thutiêu thụ
Doanh lợi tiêu thụ = (Doanhthutiêu thụ LNST )x 100 %
Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, nó chịu ảnh hưởng của sự thay đổi sản lượng,giá bán, chi phí
b Doanh lợi tổng vốn
Tổng vốn hiện nay doanh nghiệp đang quản lý và sử dụng chủ yếu được hìnhthành từ hai nguồn: nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi vay Vì vậy, kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh cũng phải chia làm hai phần Trước tiên, phải hoàn trả phầnlãi vay và phần còn lại sẽ mang lại cho chủ doanh nghiệp một khoản thu nhập nhấtđịnh Mối quan hệ giữa thu nhập của chủ sở hữu và người cho vay từ kết quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với tổng tài sản được đưa vào sử dụng gọi
là doanh lợi
Doanh lợi tổng vốn = [Lợi nhuận+Lãi vay Tổng vốn ]x 100 %
Bằng việc cộng trở lại “tiền lãi phải trả” vào lợi nhuận, chúng ta sẽ có được kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh trước khi phân chia cho chủ sở hữu và cho người
Trang 20vay Sở dĩ phải làm như vậy vì mẫu số bao gồm tài sản được hình thành do cả ngườicho vay và chủ sở hữu cung cấp cho nên tử số cũng phải bao gồm số hoàn vốn cho cảhai Đây là chỉ số tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của mộtđồng vốn đầu tư Chỉ số này cho biết 100 đồng vốn tạo ra được bao nhiêu đồng lợinhuận
c Hệ số lãi gộp
Hệ số này cho biết 1 đồng doanh thu thuần mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ
có mấy đồng lợi nhuận
Hệ số lãi gộp = Doanhthuthuần LNTT
d Suất sinh lời của tài sản (ROA)
Chỉ số này cho ta biết khả năng sinh lời của tổng tài sản, 1 đồng bỏ vào tài sảnthì thu về được bao nhiêu đồng ln sau thuế
Suất sinh lời của TS = Tổng doanhthu LNST
Lợi nhuận sau thuế trong báo cáo kết quả kinh doanh phần lỗ lãi, còn giá trịtổng tài sản là giá trị tài sản trong bảng cân đối kế toán tại các điểm của kỳ phân tích
e Suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận ròng cho các chủ nhâncủa doanh nghiệp đó Doanh lợi vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiệncủa mục tiêu này
Suất sinh lời vốn CSH = V ố n ch ủ s ở h ữu LNST
Điều này có ý nghĩa là: 1 đồng vốn chủ sở hữu bỏ vào kinh doanh mang lại baonhiêu đồng lợi nhuận Mặt khác, doanh lợi vốn chủ sở hữu lớn hơn doanh lợi tổng vốnđiều đó chứng tỏ việc sử dụng vốn vay rất có hiệu quả
1.2.3 Phương pháp phân tích tài chính dupont
Với phương pháp này, các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyên nhân dẫnđến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phươngpháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi của doanh nghiệp như thunhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) thành tích sốcủa chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh
Trang 21hưởng của các tỷ số đối với các tỷ số tổng hợp Phương pháp phân tích dupont có ưuđiểm lớn là giúp nhà phân tích phát hiện và tập trung vào các yếu điểm của doanhnghiệp Nếu doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp thấp hơn các doanh nghiệpkhác trong cùng ngành thì nhà phân tích có thể dựa vào hệ thống các chỉ tiêu theophương pháp phân tích dupont Để tìm ra nguyên nhân chính xác
Ngoài việc được sử dụng để so sánh với các doanh nghiệp khác trong cùngngành, các chỉ tiêu đó có thể được dùng để xác định xu hướng hoạt động của doanhnghiệp trong một thời kỳ, từ đó phát hiện ra những khó khăn doanh nghiệp có thể sẽgặp phải Nhà phân tích nếu biết kết hợp phương pháp phân tích tỷ lệ và phương phápphân tích dupont sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân tích tài chính doanh nghiệp.Ngoài các phương pháp phân tích chủ yếu trên, người ta còn sử dụng một số phươngpháp khác: phương pháp đồ thị, phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài chính,
Kể cả phương pháp phân tích các tình huống giả định Trong quá trình phân tích tổngthể thì việc áp dụng linh hoạt, xen kẽ các phương pháp sẽ đem lại kết quả cao hơn khiphân tích đơn thuần, vì trong phân tích tài chính kết quả mà mỗi chỉ tiêu đem lại chỉthực sự có ý nghĩa khi xem xét nó trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác Do vậy,phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đến các phầnchi tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tài chính trên một bìnhdiện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các chỉ số tổng quát về tình hình tài chính
và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng của doanh nghiệp, sosánh với những năm trước đó, đồng thời so sánh với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được
xu hướng biến động cũng như khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với mức trungbình ngành ra sao
1.2.3.1 Phân tích tổng hợp tình hình tài chính bằng phương trình dupont
- Trước hết doanh nghiệp cần xem xét mối quan hệ giữa tỷ số lợi nhuận sauthuế trên doanh thu và tỷ số vòng quay tổng tài sản thông qua ROA tỷ suất lợi nhuậntrên tổng vốn)
ROA = Lợi nhuận sauthuế tổng tài sản =(Lợi nhuận sau thuế
doanh thu )x (
Doanhthu Tổng tài sản)
Đẳng thức trên cho thấy tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) phụthuộc vào hai yếu tố là tỷ suất doanh lợi doanh thu và vòng quay tổng tài sản.Phân tích đẳng thức này cho phép doanh nghiệp xác định được chính xác nguồngốc làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Để tăng ROA có thể dựa vào tăng tỷ suất doanh lợi doanh thu, tăng vòng quaytổng tài sản, hoặc tăng cả hai Để tăng tỷ suất doanh lợi doanh thu ta có thể dựa
Trang 22vào việc tăng lợi nhuận sau thuế nhiều hơn tăng doanh thu (ví dụ doanh thutăng 10% thì lợi nhuận sau thuế phải tăng > 10% mới đảm bảo được việc tăng
tỷ số này)
Để tăng vòng quay tổng vốn ta có thể dựa vào tăng doanh thu và giữ nguyêntổng tài sản (nhưng khi tăng tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ để tăng ROE lạiphải tăng tổng tài sản, nên ta có thể đảm bảo việc tăng tỷ số này bằng cách tăngdoanh thu nhiều hơn tăng tổng tài sản (ví dụ doanh thu tăng 10% thì tổng tài sảnphải tăng < 10%)
- Doanh nghiệp cũng cần tính tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = ROA x Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
B PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ THẾ GIỚI DI ĐỘNG (MWG)
I Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động (MWG)
1 Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần Thế giới di động (mobile world co.ltd) thành lập vào tháng 3/2004lĩnh vực hoạt động chính của công ty bao gồm: mua bán sửa chữa các thiết bị liên quanđến điện thoại di động, thiết bị kỹ thuật số, và các lĩnh vực liên quan đến thương mạiđiện tử
Bằng trải nghiệm về thị trường điện thoại di động từ đầu những năm 1990, cùngvới việc nghiên cứu kỹ tập quán mua hàng của khách hàng VN, thế giới di động đãxây dựng một phương thức kinh doanh chia từng có ở VN trước đây Công ty đã xâydựng được phong cách bán hàng tư vấn đặc biệt nhờ vào một đội ngũ nhân viênchuyên nghiệp và trang web www.thegioididong.com hỗ trợ như là một cẩm nang vềđiện thoại di động hàng đầu tại VN
2 Quá trình phát triển