1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện

124 7 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 10,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện(Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện

Trang 1

CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

8

1.1 Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng

theo pháp luật Việt Nam

8

1.1.1.1 Khái niệm tài sản chung của vợ chồng 10 1.1.1.2 Nguồn gốc tài sản chung của vợ chồng 11

1.1.2.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng 16 1.1.2.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định pháp luật về chia tài

Trang 2

luật Việt Nam hiện hành

1.2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 29 1.2.1.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ

1.2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng

trong thời kỳ hôn nhân

34

1.2.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36 1.2.2.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36 1.2.2.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 36 1.2.2.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng

HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

43

2.1 Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân

43

2.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về điều kiện chia tài sản

chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

44

2.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản

chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

52

2.1.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về hậu quả pháp lý của việc

chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

53

2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ

chồng khi ly hôn

61

Trang 3

2.2.1 Thực tiễn áp dụng quy định về xác định tài sản chung của

vợ chồng khi ly hôn

64

2.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản

chung của vợ chồng khi ly hôn

80

2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định chia tài sản chung của vợ

chồng khi vợ hoặc chồng chết

86

2.3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về xác định tài sản chung

của vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết

87

2.3.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về nguyên tắc chia tài sản

chung vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết

88

2.3.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về hậu quả pháp lý của việc

chia tài sản chung vợ chồng khi vợ hoặc chồng chết

90

LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

93

3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về

chia tài sản chung của vợ chồng

93

3.1.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân

93

3.1.1.1 Giới hạn quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để

thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

93

3.1.1.2 Quy định cụ thể về lý do chính đáng 95 3.1.1.3 Quy định quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng

cho người thứ ba (người có quyền)

97

3.1.1.4 Quy định cụ thể trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án chia

tài sản chung và nguyên tắc chia tài sản chung tại Tòa án

98

3.1.1.5 Quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung phải công

chứng hoặc được Tòa án công nhận

100

3.1.1.6 Bổ sung thêm quy định về hậu quả pháp lý của chế định

chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

101

3.1.1.7 Quy định cụ thể về thuế, lệ phí liên quan đến tài sản được 103

Trang 4

chia khi vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

3.1.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ

chồng khi ly hôn

103

3.1.2.1 Hướng dẫn cụ thể về hình thức nhập tài sản riêng vào tài sản

chung theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

về chia tài sản chung của vợ chồng

107

3.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ việc liên quan

tới chia tài sản chung của vợ chồng

107

3.2.2 Có cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển các tổ chức

hành nghề công chứng

108

3.2.3 Triển khai đồng bộ, nghiêm túc quy định pháp luật về đăng

ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng

109

3.2.4 Tuyên truyền, phổ biến sâu, rộng pháp luật Hôn nhân và gia

đình đặc biệt là các quy định về tài sản chung của vợ chồng

110

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật Dân sự DLBK : Bộ Dân luật Bắc Kỳ DLGYNK : Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ DLTK : Hoàng việt Trung Kỳ hộ luật HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình

TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Phòng

công chứng số 4 thành phố Hà Nội

70

2.2 Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ

chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Văn

phòng công chứng Hà Nội

70

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử phát triển xã hội loài người cho thấy, đối với mỗi hình thái kinh tế xã hội có những hình thái gia đình tương ứng phù hợp với nó Các hình thái gia đình này rất đa dạng, khác nhau không chỉ về tính chất mà còn

cả về kết cấu của nó Tuy nhiên, dù ở hình thái nào, các chức năng cơ bản của gia đình vẫn không thay đổi đó là chức năng sinh đẻ, chức năng giáo dục và chức năng kinh tế Chức năng kinh tế sẽ là nền tảng, là một trong những cơ sở đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt chức năng sinh đẻ và giáo dục Trong xã hội hiện đại, chức năng kinh tế của gia đình ngày càng được chú trọng và phát huy vai trò to lớn đối với sự phát triển của mỗi gia đình nói riêng và toàn xã hội nói chung Bởi vậy, bên cạnh việc điều chỉnh quan hệ nhân thân, pháp luật

đã dành nhiều quy định điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa gia đình và các chủ thể khác trong xã hội, giữa các thành viên trong gia đình và đặc biệt là giữa vợ chồng - những thành viên "hạt nhân" của gia đình Những quy định pháp luật về tài sản của vợ chồng cũng thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh

Tuy nhiên thực tiễn phát triển nhanh, đa dạng của đời sống kinh tế - xã hội đã và đang làm bộc lộ nhiều điểm chưa hợp lý của pháp luật hiện hành Trong đó, chia tài sản chung của vợ chồng nổi lên như là vấn đề bức thiết bởi những năm gần đây, các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng, đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gia tăng nhanh chóng Hơn nữa, những tranh chấp này thường là những tranh chấp phức tạp và kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia đình

và sự ổn định của xã hội Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên một phần do tính chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ tài sản của vợ chồng Mặt khác, tình trạng gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng cũng cho thấy

Trang 8

những bất cập, điểm khuyết của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc gây khó khăn thậm chí lúng túng trong quá trình áp dụng pháp luật của các đương sự cũng như của tòa

án khi giải quyết các vấn đề liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng Thực trạng trên cho thấy, có một công trình nghiên cứu sâu về chế định chia tài sản chung của vợ chồng nhằm nhận dạng những khuyết thiếu của pháp luật dưới góc độ thực tiễn áp dụng là hết sức cần thiết Đây chính là lý do để tác giả

lựa chọn đề tài "Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" để làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Chế định pháp luật liên quan đến tài sản chung của vợ chồng nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng luôn là vấn đề dành được nhiều sự quan tâm của xã hội cũng như giới nghiên cứu Bởi vậy, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến chế định chia tài sản chung của vợ chồng Có thể tạm phân loại các công trình nghiên cứu này thành ba nhóm lớn như sau:

Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình nghiên cứu tiêu biểu

trong nhóm này có: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Văn Cừ, luận án tiến sĩ Luật học, 2005); "Xác định chế độ tài sản của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" (Nguyễn Hồng Hải, luận văn thạc sĩ, 2002); Một số vấn đề về tài sản vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, (Trần Đức Hoài, 2006, luận văn thạc sĩ)… Tuy

nhiên, các công trình này hoặc có phạm vi nghiên cứu rộng, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau trong vấn đề tài sản vợ chồng, hoặc chỉ giải quyết một khía cạnh nhỏ trong chế định chia tài sản chung của vợ chồng mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể chế định chia tài sản chung vợ chồng Vì vậy, các công trình nói trên chưa có điều kiện phân tích một cách sâu sắc và toàn diện tất cả các khía cạnh của chế định chia tài sản chung của

vợ chồng

Trang 9

Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: Trong nhóm này có thể kể

đến một số công trình tiêu biểu như Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, 2002, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Nguyễn Ngọc Điện, 2002, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh); Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Đinh Thị Mai

Phương chủ biên, 2004, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội) Ngoài ra, còn có các sách giáo trình và sách bình luận Luật Hôn nhân và gia đình của nhiều tác giả khác Tuyệt đại đa số các cuốn sách trên đều là những công trình thiên về việc bình luận, giải thích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, trong bối cảnh đó, chế định chia tài sản chung của vợ chồng thường chỉ được phân tích một cách chung chung, có tính chất tổng quát, chứ không phân tích một cách chuyên sâu và cụ thể

Nhóm các bài viết trên các báo, tạp chí: Chia tài sản chung của vợ

chồng là chủ đề của nhiều bài viết nghiên cứu của nhiều tác giả trên các báo,

tạp chí chuyên ngành luật, có thể kể đến một số bài như Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành (Nguyễn Hồng Hải, 2003, Tạp chí Luật học, số 5); Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Nguyễn Phương Lan 2002,Tạp chí Luật học, số 6), Về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi phá sản doanh nghiệp tư nhân (Phạm Văn Thiệu, 2003, Tạp chí Tòa án

nhân dân (TAND), số 11) v.v… Các bài viết này thường phân tích rất sâu một vấn đề trong chế định chia tài sản chung vợ chồng, nhưng do tính chất của một bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ thể liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng mà không thể phân tích toàn diện các khía cạnh của chế định này

Một điểm chung của cả ba nhóm công trình nghiên cứu kể trên, đó là phần lớn các tác giả thường thiên về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng mà chưa soi chiếu sự phản ánh của toàn

Trang 10

bộ các quy định pháp luật đó vào thực tiễn cuộc sống Một số tác giả, trong các công trình nghiên cứu kể trên, cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng một số quy định pháp luật, tuy nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính chất minh họa cho một số trường hợp cụ thể mà chưa có sự soi chiếu một cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía cạnh của chế định chia tài sản chung

vợ chồng vào thực tiễn

Như vậy, mặc dù đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng nhưng những công trình này chủ yếu nghiên cứu, phân tích chế độ tài sản của vợ chồng dưới góc độ lý luận mà chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về chia tài sản chung của vợ chồng dưới góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật Do vậy, các công trình nghiên cứu trên so với đề tài của luận văn này là hoàn toàn không

có sự trùng lắp về mặt nội dung

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Trên cơ sở tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật, nhận dạng những thuận lợi cũng như những bất cập, hạn chế trong quá trình

áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng, trên cơ sở đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp của luật thực định và của quá trình

áp dụng luật vào thực tiễn Từ đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp

có tính chất khả thi nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đời sống đang ngày càng phát triển đa dạng, phong phú

Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận văn xác định những nhiệm vụ cơ bản sau đây:

Thứ nhất, khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp

luật về chia tài sản chung của vợ chồng;

Trang 11

Thứ hai, rà soát, tổng hợp một cách sơ lược lịch sử phát triển chế định

chia tài sản chung của vợ chồng trong suốt chiều dài lịch sử tiến triển của chế định này trong hệ thống pháp luật Việt Nam;

Thứ ba, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về chia

tài sản chung của vợ chồng;

Thứ tư, phân tích, nhận dạng những bất cập, hạn chế khi áp dụng quy

định pháp luật thực định về chia tài sản chung của vợ chồng vào thực tiễn Việt Nam;

Và thứ năm, trên cơ sở các phân tích kể trên, kiến nghị một số giải

pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

cả dưới góc độ pháp luật lẫn áp dụng pháp luật

sự (BLDS) năm 2005 và một số văn bản pháp luật khác có liên quan

- Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng Trong đó, tập trung vào một số vấn đề khó khăn, vướng mắc, điển hình; các trường hợp áp dụng sai luật…; tìm hiểu và nghiên cứu những ví dụ cụ thể, những bản án thực tế từ đó bình luận và phân tích những nguyên nhân chính làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thực tế

- Một số quy định của pháp luật các nước trên thế giới về chia tài sản chung của vợ chồng như BLDS Pháp, Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan… có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Việt Nam, qua đó tiếp thu

Trang 12

những điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn và pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng

Luận văn không đề cập đến góc độ thủ tục tố tụng khi giải quyết vấn

đề chia tài sản chung vợ chồng Luận văn cũng không xem xét, nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung vợ chồng dưới góc độ tư pháp quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp phân tích luật học, phương pháp phân tích -

so sánh, phương pháp tổng hợp (trên cơ sở phân tích, so sánh và tham khảo pháp luật nước ngoài), phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn Trong quá trình khảo sát thực tiễn, luận văn đã áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu một

số người có liên quan để thu thập những tài liệu mà các tài liệu lưu trữ chính thống còn khuyết thiếu, đồng thời nhằm có thêm tư liệu sinh động từ thực tiễn của người trực tiếp áp dụng pháp luật Các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật biện chứng

và lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật; trên cơ sở quan điểm, đường lối chính trị, kinh tế, xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam

6 Điểm mới của luận văn

- Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng, những điểm đặc trưng của chia tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất so với chia tài sản chung ở các hình thức sở hữu khác

- Luận văn khái quát và phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

- Từ những ví dụ cụ thể về thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn nhận dạng những quy định chưa phù hợp, những điểm còn khiếm khuyết của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng cả dưới góc độ pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật Đồng thời, luận văn đưa ra và phân tích một số

Trang 13

yếu tố khác tác động vào và làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng Trên cơ sở đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp

có tính chất khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và tiến tới hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

7 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện chế định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng,

từ đó nâng cao vai trò và hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với đời sống

xã hội

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và học tập các môn học như Luật dân sự, Luật HN&GĐ tại các

cơ sở đào tạo pháp luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:

Chương 1: Khái quát chung về chia tài sản chung của vợ chồng theo

pháp luật Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện hành về

chia tài sản chung của vợ chồng

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao

hiệu quả áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng

Trang 34

năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986 còn quy định thêm trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Điều 18 Luật HN&GĐ năm

1986 quy định "Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này" [31] Chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại được chia như khi

ly hôn "tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên" [31, Điều 42] Trường hợp vợ, chồng chết, tài sản chung của

vợ chồng có thể được chia (nếu cần) theo nguyên tắc chia đôi mà không cần căn cứ vào công sức đóng góp của các bên

Luật HN&GĐ năm 2000 được Quốc hội khóa X thông qua ngày 9/6/2000, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2001 và hiện nay đang có hiệu lực thi hành, tiếp tục quy định các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng giống như Luật HN&GĐ năm 1986 Đồng thời, các trường hợp chia tài sản chung đã được quy định chi tiết, cụ thể hơn tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, áp dụng pháp luật trên thực tế

1.2 CÁC TRƯỜNG HỢP CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì tài sản chung của vợ chồng có thể được chia trong ba trường hợp đó là khi ly hôn, khi một bên vợ hoặc chồng chết, và trong một số điều kiện mà pháp luật quy định, tài sản chung của vợ chồng cũng có thể được chia ngay cả khi quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại

1.2.1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Do lần đầu tiên được ghi nhận nên các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong Luật HN&GĐ năm 1986 còn sơ lược, chưa tính đến những đặc thù riêng của chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại Đến Luật HN&GĐ năm 2000, trường hợp chia tài sản chung này đã được quy định đầy đủ, chi tiết hơn từ điều kiện chia, phương thức chia, hậu quả

Trang 35

pháp lý…tạo cơ sở pháp lý để vợ chồng tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết khi có nhu cầu chia tài sản chung

1.2.1.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Theo quy định tại Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 thì vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi

vợ chồng đầu tư, kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý

do chính đáng khác; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản Chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận Như vậy, để được coi là hợp pháp, việc chia tài sản chung của vợ chồng phải đồng thời đáp ứng các điều kiện cả về mặt nội dung và về hình thức

* Điều kiện về nội dung

Về nội dung, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải có lý do chia phù hợp với quy định pháp luật và mục đích chia không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản

Lý do chia tài sản chung

Chia tài sản chung để vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng

Khái niệm đầu tư kinh doanh riêng không bị bó hẹp trong các loại hình doanh nghiệp, người đầu tư không nhất thiết phải là thương nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại… Khái niệm đầu tư kinh doanh riêng được nhà làm luật nêu ra ở đây có nội hàm rộng và mở Đó có thể

là vợ, chồng bỏ vốn thành lập công ty riêng, trở thành một thành viên sáng lập của một công ty hay tham gia một dự án đầu tư… Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng đa dạng, phong phú thì nhu cầu đầu tư kinh doanh riêng của

vợ chồng cũng ngày một gia tăng Chia tài sản chung trong trường hợp này sẽ tạo điều kiện cho vợ, chồng được độc lập sử dụng tài sản vào hoạt động kinh doanh một cách chủ động, linh hoạt hơn bởi tài sản chung sau khi chia sẻ trở thành tài sản riêng, việc sử dụng, định đoạt tài sản sẽ áp dụng quy chế đối với tài sản riêng Khi đó, việc sử dụng tài sản được chia không bị chi phối bởi các

Trang 36

quy định hạn chế trong việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng Đồng thời, chia tài sản chung trong trường hợp này cũng đồng thời giúp bảo vệ lợi ích của gia đình, tránh những ảnh hưởng tiêu cực do hoạt động kinh doanh mang lại bởi bản thân hoạt động đầu tư kinh doanh thường chứa đựng nhiều rủi ro

Chia tài sản chung để vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

Nghĩa vụ dân sự riêng là nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện bằng tài sản riêng của vợ hoặc chồng có nghĩa vụ Khi có nghĩa vụ dân sự riêng, về nguyên tắc, người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản riêng của mình mà không thể lấy tài sản chung của vợ chồng để thanh toán Nếu vợ, chồng không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa

vụ thì có thể yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng để lấy tài sản được chia cho mình thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, với những nghĩa vụ xác lập trong tương lai thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hay không? Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điện thì:

Luật không nói rõ nghĩa vụ tài sản riêng là nghĩa vụ hiện hữu hay nghĩa vụ sẽ được xác lập trong tương lai Bởi vậy, việc chia tài sản chung cũng có thể được tiến hành nhằm bảo đảm việc thực hiện một nghĩa vụ mà ở thời điểm tài sản chung được phân chia, chỉ nằm trong dự tính của vợ hoặc chồng [12, tr 171]

Chia tài sản chung khi có lý do chính đáng khác

Ngoài chia tài sản chung của vợ chồng để vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng, pháp luật còn ghi nhận vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung khi có lý do chính

đáng Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định "Khi hôn nhân còn tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân

sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia

tài sản chung" [34] Như vậy, có lý do chính đáng là một trong những điều

kiện để vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Trang 37

Tuy nhiên, đến nay, Luật HN&GĐ năm 2000 và văn bản hướng dẫn chưa giải thích thế nào là lý do chính đáng và những trường hợp nào được coi là có lý

do chính đáng theo quy định tại Điều 29 kể trên

Chia tài sản chung của vợ chồng không nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản

Theo nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự, "bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội" [38, Điều 283] Vì vậy,

nếu vợ chồng chia tài sản chung nhằm mục đích làm giảm sút hoặc mất đi khả năng thực hiện nghĩa vụ về tài sản do giá trị khối tài sản đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã giảm sau khi chia là vợ chồng đã không trung thực và thiếu tinh thần hợp tác…trong quá trình thực hiện nghĩa vụ, tức là vi phạm nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp này, pháp luật quy định những người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng Các nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng bao gồm: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng người khác theo quy định pháp luật; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố tuyên bố phá sản doanh nghiệp; nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; nghĩa vụ trả nợ cho người khác và các nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật (Điều 11 Nghị định 70/2001/NĐ-CP)

* Điều kiện về hình thức

Thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản và có thể được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định pháp luật Trong văn bản chia phải thể hiện rõ các nội dung như lý do chia tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm phát sinh hiệu lực của việc chia tài sản chung…(Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP) Trong trường hợp vợ chồng không tự thỏa thuận được về việc chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án giải quyết, các vấn đề cụ thể về chia tài sản chung được thể hiện trong quyết định của Tòa án Như vậy, chia tài

Trang 38

sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong mọi trường hợp (tự thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết) đều phải lập thành văn bản Văn bản

chia sẽ là "bằng chứng" để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng

khi phát sinh tranh chấp sau khi chia tài sản chung

1.2.1.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xuất phát từ nhu cầu của vợ chồng, do mong muốn của cả hai vợ chồng hoặc một trong hai người Nếu vợ chồng cùng ưng thuận chia tài sản chung, việc phân chia trở nên đơn giản và dễ thực hiện Vợ chồng có quyền quyết định về số lượng (chia toàn bộ hay một phần), chủng loại tài sản chung đem chia, cách thức phân chia…Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên khó khăn khi giữa vợ chồng không đạt được sự nhất trí về các vấn đề chia tài sản chung Khi đó, vợ chồng cần đến sự can thiệp của Tòa án Luật thực định đã ghi nhận quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết của vợ chồng nếu họ không thỏa thuận được với nhau (Khoản 1

Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 và Khoản 3 Điều 6 Nghị định số

70/2001/NĐ-CP) Vậy, hiểu trường hợp "không thỏa thuận được" theo các

quy định kể trên như thế nào? Có thể suy luận việc không thỏa thuận được của vợ chồng về việc chia tài sản chung theo hai hướng sau:

Thứ nhất, không thỏa thuận được là việc vợ chồng không thống nhất

được với nhau về sự cần thiết tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Trong tình huống này, vợ hoặc chồng đề nghị chia tài sản chung nhưng không nhận được sự đồng ý của người còn lại Khi đó, người đề nghị không thể đơn phương tiến hành chia tài sản chung bởi cơ chế quản lý, sử dụng định đoạt tài sản chung của vợ chồng đòi hỏi phải có sự thỏa thuận của hai vợ chồng với tư cách là các đồng sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất Bởi vậy, người

vợ, chồng muốn chia tài sản chung phải trông chờ vào sự can thiệp của Tòa án

Thứ hai, không thỏa thuận được là việc vợ chồng không thống nhất

với nhau về cách chia hoặc khối tài sản chung đem chia Với trường hợp này,

Trang 39

vợ chồng đã thỏa thuận được về sự cần thiết chia tài sản chung, vấn đề cần giải quyết chỉ là chia như thế nào Khi đó, vợ chồng có quyền gửi đơn đến Tòa án yêu cầu chia hay không?

Hiện nay, việc hiểu thuật ngữ không thỏa thuận được theo một hoặc

cả hai hướng trên vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể

Đồng thời, nguyên tắc chia tài sản chung khi Tòa án giải quyết vụ việc theo yêu cầu của vợ chồng cũng không được Luật HN&GĐ năm 2000 quy định Thông thường, những vấn đề còn thiếu sót, chưa cụ thể hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau trong các văn bản luật sẽ được bổ khuyết, hướng dẫn… trong các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư, Nghị quyết… Tuy nhiên, với nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Tòa

án thì cả Luật HN&GĐ năm 2000 và các văn bản hướng dẫn đều "bỏ sót" Vậy,

khi có yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án sẽ giải quyết ra sao; dựa trên cơ sở nào để xác định những tài sản chung cần chia khi vợ chồng không thỏa thuận được những tài sản đem chia và chia những tài sản đó như thế nào? Luật viết hiện hành không có câu trả lời cho các câu hỏi trên

1.2.1.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Hậu quả về mặt nhân thân

Mục tiêu của chế định chia tài sản chung vợ chồng không nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa vợ và chồng mà chỉ là giải pháp tháo gỡ khó khăn về tài chính cho vợ, chồng, tạo điều kiện cho vợ, chồng đầu tư, kinh doanh riêng hoặc nhằm bảo vệ lợi ích chung của gia đình Vì vậy, sau khi chia tài sản chung, về mặt pháp lý, quan hệ nhân thân của vợ chồng không có gì thay đổi

Vợ, chồng vẫn có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ về nhân thân đối với nhau và đối với con cái, gia đình như nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, chăm sóc nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm…

Hậu quả về mặt tài sản

Trang 40

Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo ra những xáo trộn nhất định về tài sản của vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng sẽ giảm sút, thậm chí tạm thời không còn ngay sau khi chia (khi chưa được bổ sung) Trong khi đó, khối tài sản riêng của vợ, chồng sẽ tăng lên tương ứng với số tài sản chung bị giảm đi Tài sản chung của vợ chồng đã chia trở thành tài sản riêng của vợ, chồng Trường hợp vợ chồng chỉ chia một phần tài sản chung thì phần tài sản chung còn lại và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng, chịu sự điều chỉnh bởi chế độ pháp lý dành

cho hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng Tuy nhiên,"thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác" [4, Khoản 2 Điều 8] Như vậy, thu

nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh… trước đây là nguồn đóng góp chủ yếu vào khối tài sản chung của vợ chồng thì sau khi chia tài sản chung, nó không còn là nguồn bổ sung cho khối tài sản này nữa, mọi thu nhập của vợ, chồng đều trở thành tài sản riêng của vợ, chồng Trong khi đó, quan

hệ hôn nhân vẫn tồn tại, vợ chồng vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ với nhau và với con cái Do đó, các nhu cầu thiết yếu của gia đình vẫn cần có nguồn tài sản đảm bảo Trên lý thuyết, nguồn đảm bảo này có thể từ khối tài sản chung còn lại chưa chia và những tài sản tiếp tục được bổ sung vào tài sản chung bằng các nguồn khác nhau hoặc là từ tài sản riêng của vợ, chồng thông qua trách nhiệm đóng góp của mỗi bên Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành thì cả hai phương án trên đều không khả thi vì pháp luật đã quy định nguồn bổ sung chính vào khối tài sản chung của vợ chồng là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh…của mỗi bên sau khi chia tài sản chung

là tài sản riêng của vợ, chồng Đồng thời nhà làm luật lại không quy định trách nhiệm đóng góp của vợ chồng vào việc đảm bảo đời sống chung của gia đình

Vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung không được Luật HN&GĐ năm

2000 dự liệu nhưng Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định khá cụ thể về hình thức, thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung

Ngày đăng: 07/04/2022, 05:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Văn phòng công chứng Hà Nội - (Luận văn thạc sĩ) Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam  Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện
Bảng 2.2 Số lượng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng tại Văn phòng công chứng Hà Nội (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm