Luận án hệ thống hóa được cơ sở khoa học (bao gồm cơ sở lý thuyết và thực tiễn) về bẫy thu nhập trung bình (BTNTB), xác định được các yếu tố khiến các quốc gia rơi vào BTNTB, những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB. Dựa vào các nghiên cứu quốc tế đi trước, luận án đã xác định được các cách để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Trong luận án, NCS đã kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích, tổng hợp so sánh, tới phương pháp định lượng và phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án Luận án đã xây dựng được phương pháp luận đầy đủ để nghiên cứu về BTNTB mà bất cứ quốc gia nào có đặc điểm tương đồng Việt Nam (tức là đang trong giai đoạn TNTB thấp) có thể áp dụng để nghiên cứu cho quốc gia mình, cụ thể như sau: Luận án đã khái quát hóa được những yếu tố chung và đặc trưng khiến các nền kinh tế vượt/mắc BTNTB tại châu Á; đồng thời áp dụng các cách xác định BTNTB, các tiêu chí so sánh và lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Luận án dùng mô hình dữ liệu bảng xác định được các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác Châu Á. Cuối cùng, từ kinh nghiệm BTNTB trong khu vực, thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á, xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, định hướng phát triển kinh tế của chính phủ, luận án đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam để vượt BTNTB thành công bao gồm thúc đẩy tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng thể chế; chính phủ can thiệp linh hoạt vào nền kinh tế; nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư, tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã ngành: 9310106
LÊ PHƯƠNG THẢO QUỲNH
Hà Nội - 2022
Trang 2Luận án được hoàn thành tại: Trường Đại học Ngoại Thương
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp trường họp tại
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2022
Có thể tham khảo luận án tại Thư viện Quốc gia và thư viện Trường
Đại học Ngoại thương
Trang 31
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap - BTNTB) xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo của Gill và Kharas công bố năm 2007 bởi World Bank Theo đó, BTNTB
là tình trạng các quốc gia đã đạt được mức thu nhập trung bình (TNTB) nhưng sau đó mắc kẹt tại mức thu nhập ấy và không thể đạt được mức thu nhập cao do không thể duy trì đà tăng trưởng như trước Nhiều nước Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Phi đã mắc BTNTB như Brazil, Mexico, Iran, Li Băng, Ai Cập, Jordan, Nam Phi… Tại khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng đối mặt với BTNTB như Indonesia, Philipines, Thái Lan… Vì vậy, BTNTB đã trở thành đề tài nóng, thường xuyên được nghiên cứu, phân tích bởi các tổ chức quốc tế như World Bank, IMF, ADB, OECD… và nhận được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu và làm chính sách trên thế giới
Theo tính toán của World Bank dựa trên chỉ số GNI/người, kinh tế Việt Nam đã đạt mức TNTB thấp từ năm 2009 với mức thu nhập bình quân đầu người (TNBQĐN) là 1.120 USD (Beliner và cộng sự, 2013) Với cách phân loại quốc gia theo thu nhập (sử dụng chỉ số GDP BQĐN PPP 1990) từ bộ số liệu Maddison (2010), Felipe và cộng sự (2012) chỉ ra Việt Nam đã đạt mức TNTB từ năm 2002 với 2.023 USD/người Giai đoạn 2002 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP BQĐN đạt 6,1% Việt Nam muốn thoát khỏi BTNTB thấp thì phải đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 4,3% trong giai đoạn 2010 - 2029 Có thể nói, nếu so sánh với chính mình theo trục thời gian, Việt Nam đã đạt được thành công nhất định, nhưng để vươn lên thành quốc gia có kinh tế phát triển và thu nhập cao như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore thì còn nhiều khó khăn Kinh tế Việt Nam những năm gần đây đã đạt được những thành tựu như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với khu vực và thế giới, lạm phát ổn định, cán cân thương mại và cán cân thanh toán có nhiều cải thiện Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ nhiều tồn tại như đầu tư kém hiệu quả, chất lượng lao động thấp, nền kinh tế thâm dụng tài nguyên, thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, hệ thống ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, ô nhiễm môi trường, tham nhũng… Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế chỉ ra Việt Nam hiện đang đối mặt với nguy cơ rơi vào BTNTB, Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định BTNTB là một trong bốn nguy cơ lớn của dân tộc Việt Nam Đại hội XIII của Đảng đề ra
các mục tiêu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, Việt Nam trở thành quốc gia
có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành
lập nước, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao Điều đó cho thấy, vượt BTNTB
để đạt được các mục tiêu kể trên vừa là vấn đề khoa học, vừa là nhiệm vụ chính trị, vừa là trách nhiệm quốc gia
Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi “làm thế nào để vượt BTNTB?” với những phân tích, đánh giá và những bằng chứng cụ thể Tuy nhiên, đặt vấn đề nghiên cứu
so sánh để tìm ra yếu tố quyết định của hai nhóm quốc gia “vượt BTNTB” và “mắc BTNTB”, cùng với những phân tích từ chính năng lực nội tại của kinh tế Việt Nam, để từ đó đề xuất những hàm ý chính sách giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công, là một lựa chọn thuyết phục về mặt học thuật, thích hợp - nhìn từ bối cảnh và điều kiện thực tiễn Chính vì vậy, NCS quyết định chọn đề tài: “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam” Thông qua luận án, NCS đưa ra nghiên cứu sâu hơn về kinh nghiệm vượt/mắc BTNTB của các quốc gia trên thế giới, áp dụng các cách xác định BTNTB và mô hình được đưa ra bởi các nghiên cứu quốc tế để phân tích về BTNTB tại Việt Nam và đưa ra các hàm ý chính sách có ý nghĩa với kinh tế Việt Nam
Trang 42
2 Mục tiêu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm ra điểm khác biệt giữa nhóm nước thoát BTNTB
và mắc BTNTB, các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của các quốc gia trên thế giới, xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Từ đó, đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam, giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công
2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu những đặc điểm giúp Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công Nghiên cứu những yếu tố khiến Philippines, Indonesia rơi vào BTNTB Rút ra những đặc điểm chung và khác biệt giữa các quốc gia này và tìm ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam
Định lượng được ảnh hưởng của các yếu tố trong nền kinh tế tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á bao gồm 13 quốc gia: Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka
và Bhutan giai đoạn 2002 - 2020
Dựa vào các định nghĩa mà những nghiên cứu quốc tế đưa ra và lấy ý kiến chuyên gia
để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Từ đó, đưa ra gợi ý chính sách cho Việt Nam
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu cần trả lời cho những câu hỏi sau: i) Yếu tố nào khác biệt giữa nhóm quốc gia mắc BTNTB và nhóm vượt BTNTB thành công?; (ii) Thực trạng kinh tế Việt nam hiện nay và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam như thế nào?; (iii) Các yếu tố có ảnh hưởng
ra sao tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á?; (iv) Từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng kinh tế Việt Nam, có thể rút ra hàm ý chính sách
để Việt Nam tăng trưởng bền vững và nhanh chóng đuổi kịp các nước TNTB cao và sau đó
là thu nhập cao trên thế giới?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới đối với BTNTB; khả năng vượt BTNTB của Việt Nam; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vượt BTNTB của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu về kinh nghiệm mắc/thoát BTNTB của các quốc gia trên thế giới, đánh giá ước lượng các yếu tố quyết định khả năng thoát BTNTB của nhóm nước có TNTB thấp tại châu Á, xác định thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, từ đó đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam Mặc dù, tồn tại nhiều nguyên nhân và biểu hiện của BTNTB, trong luận án này, NCS tập trung vào biểu hiện của BTNTB thông qua chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và tập trung vào các yếu tố giúp các quốc gia vượt BTNTB thành công
Không gian nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu về BTNTB trên thế giới, tuy nhiên, với mục tiêu tìm ra các hàm ý chính sách giúp Việt Nam vượt BTNTB thành công, luận án lựa chọn tập trung nghiên cứu về BTNTB tại các quốc gia và nền kinh tế tại châu Á như các nước thoát BTNTB (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hong Kong), nước mắc BTNTB tại châu Á (cụ thể là Philippines và Indonesia) và nhóm nước TNTB thấp tại châu Á (bao gồm Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan) Việc lựa chọn tập trung vào các nền kinh
Trang 53
tế châu Á là do các quốc gia này có sự tương đồng về mặt địa lý, văn hóa, lịch sử và kinh
tế so với Việt Nam, như vậy sẽ giảm thiểu độ sai lệch trong kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách đưa ra cho Việt Nam sẽ phù hợp hơn
Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu kinh nghiệm đối với BTNTB trên thế giới
và tại châu Á trong giai đoạn từ năm 1950 tới 2020 Luận án đánh giá ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á trong giai đoạn
từ 2002 tới 2020 Luận án thực hiện phỏng vấn chuyên gia để tìm ra những yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và xây dựng kịch bản cho kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, thời gian thực hiện phỏng vấn là tháng 3/2021 - 6/2021
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trong luận án này, NCS sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
4.1.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được NCS sử dụng trong nghiên cứu định tính bao gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website của World Bank, IMF, Penn World Tables,
Transparency.org, Tổng cục thống kê Việt Nam, Bộ tài chính, trong giai đoạn từ 1950 tới
2020
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu 15 chuyên gia có
kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp từ tháng 3/2021 tới tháng 6/2021
4.1.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh cho dữ liệu thứ cấp với các mục đích sau:
Thứ nhất, tìm hiểu kinh nghiệm các nước châu Á đối với BTNTB (tìm ra những yếu tố giúp nhóm nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công; phân tích các yếu tố khiến Philippines và Indonesia bị mắc BTNTB) Thứ hai, so sánh các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB giữa Việt Nam với nhóm nước rơi vào BTNTB và nhóm nước thoát BTNTB, và so sánh với một số nước cụ thể như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản ), từ đó đánh giá về khả năng vượt BTNTB của Việt Nam
- Phương pháp phân tích xây dựng kịch bản theo ý kiến chuyên gia bằng cách cho điểm:
Trong nghiên cứu này, NCS sử dụng bảng hỏi, tập hợp ý kiến chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng giúp Việt Nam vượt BTNTB từ đó xây dựng kịch bản kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2030 So sánh kết quả của phỏng vấn chuyên gia với phần phân tích tổng hợp so sánh ở trên và phần nghiên cứu định lượng để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam (Cụ thể về phương pháp phỏng vấn chuyên gia xem ở phụ lục 8)
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
4.2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được NCS sử dụng trong nghiên cứu định lượng là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website của World Bank, IMF, Penn World Tables, Tổ chức minh bạch quốc tế
và Maddison (2018) trong giai đoạn từ 1950 tới 2020
4.2.2 Phương pháp phân tích
Phương pháp hồi quy: NCS sử dụng phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng nhằm đánh
giá ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp
ở châu Á (Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan) giai đoạn 2002 - 2020 Kết
Trang 64
quả mô hình là căn cứ đưa ra hàm ý chính sách ở chương 6
Phương pháp dự báo: Dựa trên các khái niệm khác nhau về BTNTB, NCS dùng phương
pháp dự báo theo mô hình ARIMA (Box và Jenkin, 1976) dự báo thu nhập và tăng trưởng của Việt Nam tới năm 2030 để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam NCS cũng
sử dụng phần mềm Eview để đánh giá tính dừng của chuỗi số liệu về thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ, từ đó đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về lý luận
Luận án hệ thống hóa được cơ sở khoa học (bao gồm cơ sở lý thuyết và thực tiễn) về BTNTB, xác định được danh sách các nước vượt/mắc BTNTB, các yếu tố khiến các quốc gia rơi vào BTNTB, những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB Dựa vào các nghiên cứu quốc tế đi trước, luận án đã xác định được các cách để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Trong luận án, NCS đã kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích, tổng hợp so sánh, tới phương pháp định lượng và phương pháp phỏng vấn chuyên gia
5.2 Về thực nghiệm
Luận án đã xây dựng được phương pháp luận đầy đủ để nghiên cứu về BTNTB mà bất
cứ quốc gia nào có đặc điểm tương đồng Việt Nam (tức là đang trong giai đoạn TNTB thấp)
có thể áp dụng để nghiên cứu cho quốc gia mình, cụ thể như sau: Luận án đã khái quát hóa được những yếu tố chung và đặc trưng khiến các quốc gia vượt/mắc BTNTB tại châu Á; đồng thời áp dụng các định nghĩa về BTNTB, các tiêu chí so sánh và lấy ý kiến chuyên gia
để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Luận án dùng mô hình dữ liệu bảng xác định được các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác Châu Á Cuối cùng, từ kinh nghiệm BTNTB trong khu vực, thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á, xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, định hướng phát triển kinh tế của chính phủ, luận án đưa ra hàm ý chính sách co Việt Nam
6 Kết cấu của luận án
Luận án được chia thành sáu chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình
Chương 2: Cơ sở lý luận về bẫy thu nhập trung bình
Chương 3: Kinh nghiệm của các nền kinh tế vượt hoặc mắc bẫy thu nhập trung bình tại châu
Á
Chương 4: Thực trạng kinh tế và khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam
Chương 5: Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình cho Việt Nam và các nước thu nhập trung bình thấp khác tại châu Á
Chương 6: Hàm ý chính sách cho Việt Nam
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU NHẬP
TRUNG BÌNH 1.1 Khái niệm bẫy thu nhập trung bình trong các nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm BTNTB mang tính lý thuyết
Garett (2004) mặc dù không chỉ ra một cách trực tiếp khái niệm BTNTB nhưng tác giả quan sát thấy sự đình trệ trong tăng trưởng của các nước TNTB Ông cho rằng BTNTB xảy
ra khi một quốc gia không có khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế có thu nhập cao (có
Trang 75
nền kinh tế tri thức và thể chế chất lượng cao) và các nước có thu nhập thấp (những nước
có ưu thế trong các công việc đòi hỏi kỹ năng thấp với chi phí thấp nhất có thể)
Theo Gill và Kharas (2007), các quốc gia rơi vào BTNTB tăng trưởng chậm hơn các nước giàu hoặc các nước nghèo, các quốc gia này bị kẹt giữa những nước nghèo có lợi thế
về tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động rẻ và những nước giàu có khoa học công nghệ phát triển
Ohno (2009) có định nghĩa khác về BTNTB khi cho rằng các quốc gia rơi vào BTNTB
là do bị mắc kẹt trong pha thứ hai của quá trình công nghiệp hoá vì không đủ đầu tư cho vốn nhân lực Ohno nhấn mạnh các quốc gia có TNTB cần nâng cao chuỗi giá trị và mô tả các quốc gia rơi vào BTNTB là do quá phụ thuộc vào các chiến lược tăng trưởng dựa trên tài nguyên thiên nhiên hoặc dòng vốn FDI Kharas và Kohli (2011) cũng chỉ ra các quốc gia nằm trong BTNTB khi “không thể chuyển đổi kịp thời từ mô hình tăng trưởng nhờ tài nguyên với vốn và lao động giá rẻ, sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất”
Pruchnik và cộng sự (2017) đề xuất một khuôn khổ để đánh giá khả năng rơi vào BTNTB dựa trên các yếu tố sau: nhân khẩu học không thuận lợi, mức độ đa dạng hóa kinh tế thấp, thị trường tài chính kém hiệu quả, cơ sở hạ tầng không đầy đủ tiên tiến, mức độ đổi mới thấp, thể chế yếu kém, thị trường lao động kém hiệu quả
Điểm chung trong tất cả các cách tiếp cận mô tả là đều thừa nhận ban đầu việc chuyển đổi cơ cấu lực lượng lao động từ nông nghiệp năng suất thấp sang sản xuất năng suất cao hơn và các dịch vụ giúp một quốc gia tăng trưởng tốt nhưng sau đó do thiếu động lực tăng trưởng mới nên quốc gia đó rơi vào BTNTB Những nghiên cứu mô tả này không có tiêu chí rõ ràng để xác định tình trạng mắc hay thoát BTNTB của một quốc gia
1.1.2 Khái niệm BTNTB mang tính thực nghiệm
Một trong những nghiên cứu tiêu biểu về BTNTB sử dụng pháp định lượng là của Eichengreen và cộng sự (2013) Các tác giả đặt câu hỏi liệu các quốc gia có TNTB có nhiều khả năng bị suy giảm tăng trưởng hơn những quốc gia khác hay không Họ kết luận rằng có hai khoảng thu nhập mà ở đó các quốc gia dễ bị tăng trưởng chậm lại: một từ 10.000 đến 11.000 Đô la và một từ 15.000 đến 16.000 Đô la Các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy tiến bộ công nghệ để tránh tăng trưởng chậm lại
Dựa trên nghiên cứu của Spence (2012), Felipe và cộng sự (2014) xác định hai mức TNTB: một trong khoảng từ 2.000 Đô la đến 7.500 Đô la, và khoảng thu nhập từ 7.500 Đô
la đến 11.500 Đô la (1990 PPPs) Nếu một quốc gia ở trong khoảng thu nhập thứ nhất lâu hơn 28 năm hoặc khoảng thu nhập thứ hai lâu hơn 14 năm thì quốc gia đó bị xếp vào BTNTB
Aiyar và cộng sự (2013) sử dụng các kết luận của mô hình tăng trưởng Solow Các tác giả xác định và xem xét 123 giai đoạn suy giảm tăng trưởng kể từ năm 1960 và thấy rằng thực sự các quốc gia TNTB có tần suất tăng trưởng chậm lại lớn hơn so với các quốc gia
có thu nhập thấp hoặc tiên tiến Các tác giả đưa ra một số biến giải thích cho sự tăng trưởng chậm lại ở các nước TNTB như cơ sở hạ tầng kém và hội nhập khu vực hạn chế Bằng chứng này phù hợp với các nghiên cứu trước đây khi cho rằng trong thực tế, vấn đề tăng trưởng chậm lại đặc biệt nghiêm trọng ở các nước có TNTB
Như vậy, các tác giả có cách tiếp cận rất khác nhau về khái niệm BTNTB, tuy nhiên, điểm chung nhất của các nghiên cứu là đều cho rằng vấn đề tăng trưởng có liên quan mật thiết tới BTNTB
1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB
Có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB nhưng tổng hợp lại thì hầu
Trang 86
hết các nghiên cứu đều tập trung vào các biến kiểm soát tăng trưởng hoặc tăng trưởng chậm lại, trong đó chủ yếu tập trung vào yếu tố vốn nhân lực, công nghệ, vốn đầu tư, thể chế và hội nhập Nói cách khác, các yếu tố được lựa chọn là những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn, rất quan trọng cho các nước TNTB duy trì tăng trưởng kinh tế
Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB Yếu tố giúp
các quốc gia
vượt BTNTB
Giải thích Tác giả
Vốn đầu tư Năng suất cận biên của vốn tư bản
giảm dần khiến đầu tư không đạt được hiệu quả cao như giai đoạn
trước và các nước rơi vào BTNTB
Kharas & Kohli (2001); Agenor (2012); Warr (2011), Lembaran
(2018)
Vốn nhân lực Chất lượng giáo dục thấp khiến lực
lượng lao động thiếu kiến thức và kĩ năng - đây là nguyên nhân khiến các quốc gia rơi vào BTNTB
Đầu tư cho giáo dục giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, gây ra hiệu ứng tích cực thúc đẩy công nghệ, thu hút vốn đầu tư… từ đó giúp cá quốc gia vượt BTNTB thành công
Acemoglu và cộng sự (2006); Eichengreen và cộng sự (2011) Stone và Shepherd (2011); Felipe và các cộng sự (2012)
Bozkurt và các cộng sự (2014), Agenor và Canuto (2015)
Stone & Shepherd (2011), Atalay (2015),
Agenor và Canuto (2015), War (2011), Tho (2013), Dinh (2014), Phan Thế Công & Phạm Minh Uyên (2016)…
Công nghệ Thúc đẩy sáng tạo, phát triển công
nghệ giúp tăng năng suất, giúp các quốc gia đạt mức tăng trưởng kinh tế cao hơn và dần thoát khỏi BTNTB
Eichengreen và cộng sự (2012), Agenor và Canuto (2012), Felipe và cộng sự (2012), Aiyar và cộng sự (2013), Nguyễn Minh Phong (2014) Các nước muốn thoát khỏi BTNTB
cần có lợi thế so sánh trong nhiều mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt cần tăng hàm lượng công nghệ của các mặt hàng xuất khẩu
Felipe và cộng sự (2012), Eichengreen
và cộng sự (2013), Lin và Treichel (2012)
Thể chế Các chính sách của chính phủ đóng vai
trò quan trọng khi định hướng và can thiệp vào nền kinh tế, giải quyết các thất bại thị trường Chính sách, thể chế tốt giúp các nước vượt BTNTB
Kharas và Kohli (2011) Kanchoochat (2014) Paus (2014) Barrios và cộng sự (2010), Tho (2013)
Hội nhập Hội nhập giúp mở rộng thị trường, thu
hút vốn FDI, tiếp thu công nghệ, từ đó giúp các nước có cơ hội thoát BTNTB
Nguyễn Minh Phong (2014), Nguyễn Quỳnh Huy (2019), Dinh (2014) Tho (2014)
Võ Trí Hảo (2016)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu, 2021
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Chưa có định nghĩa thống nhất về BTNTB, mỗi nghiên cứu có cách định nghĩa và tiếp cận khác nhau, tuy nhiên có khá nhiều nghiên cứu chỉ ra suy giảm tốc độ tăng năng suất và tăng trưởng chậm lại có mối quan hệ trực tiếp tới BTNTB Ngoài ra, các nghiên cứu có chung kết luận là hầu hết các quốc gia mắc BTNTB nằm tại châu Á và châu Mỹ Latinh Vấn đề BTNTB đang được quan tâm và nghiên cứu bởi nhiều học giả tại Việt Nam, chủ
Trang 9mở cửa và hội nhập nền kinh tế
Hiện chưa có nghiên cứu tổng hợp kinh nghiệm của nhóm nước thoát bẫy và mắc BTNTB tại châu Á dựa theo cách phân loại quốc gia của Felip và cộng sự (2012), chưa có nghiên cứu định lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á (LMICA) (trong đó có Việt Nam), chưa có nghiên cứu kiểm chứng khả năng vượt BTNTB của Việt Nam dựa theo các phương pháp định lượng
Vì vậy, luận án sẽ bổ sung vào các khoảng trống này bằng cách: Thứ nhất, luận án phân tích, tổng hợp kinh nghiệm của nhóm nước thoát bẫy và mắc bẫy tại châu Á, tập trung vào các yếu tố khác biệt giữa hai nhóm nước Thứ hai, luận án dùng các khái niệm về BTNTB xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam (theo phương pháp định tính và định lượng) Luận án cũng sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia và xây dựng kịch bản về tăng trưởng và BTNTB của Việt Nam Đối chiếu kết quả các phương pháp, từ đó, làm rõ khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Thứ ba, luận án dùng mô hình định lượng xác định ảnh hưởng của các yếu tố lên khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á Thứ tư, từ kinh nghiệm quốc tế, thực trạng kinh tế Việt Nam, khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, luận án đưa ra các hàm ý chính sách để Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 2.1 Khái niệm và cách xác định bẫy thu nhập trung bình
2.1.1 Khái niệm về ngưỡng TNTB và BTNTB
Trong phạm vi luận án này, BTNTB được hiểu là hiện tượng các nền kinh tế sau khi đạt được ngưỡng thu nhập trung bình nhờ tăng trưởng dựa vào tài nguyên và chi phí lao động thấp thì tăng trưởng bị chậm lại và kẹt trong ngưỡng TNTB, mất một thời gian dài (hơn 42 năm) mới có thể chuyển lên ngưỡng TN cao Định nghĩa này dựa trên nghiên cứu của Felipe
và cộng sự (2012) và Robertson và Ye (2013)
Vượt BTNTB được hiểu là việc một quốc gia đã từng rơi vào BTNTB sau đó thoát bẫy (như trường hợp của Hi Lạp với thời gian để chuyển từ TNTB thấp lên thu nhập cao là 48 năm) hoặc một quốc gia không rơi vào BTNTB mà tiến thẳng lên mức TN cao (như trường hợp Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore… với thời gian chuyển từ TNTB thấp lên thu nhập cao dưới 40 năm)
Trang 108
2.1.2 Cách xác định BTNTB
Có hai cách xác định BTNTB bao gồm: cách tiếp cận tuyệt đối và cách tiếp cận tương đối
Bảng 2.1: Cách tiếp cận tuyệt đối và tương đối cho BTNTB
Tác giả Định nghĩa TNTB Cơ sở dữ
liệu Thời gian
Felipe và cộng
sự (2012) Nằm trong ngưỡng TNTB quá số năm:
28 năm đối với ngưỡng TNTB thấp (cần tăng trưởng >=4,7% để vượt bẫy)
14 năm đối với ngưỡng TNTB cao (cần tăng trưởng >= 3,5% để vượt bẫy)
2000 USD
- 11.500 USD (GDP BQĐN PPP 1990)
Maddison (2010)
2.2 Luận giải BTNTB theo các lý thuyết tăng trưởng
Có nhiều cách tiếp cận về TNTB và cách phân loại khác nhau về các quốc gia rơi vào BTNTB, đồng thời các nghiên cứu nguyên nhân gây ra BTNTB cũng theo nhiều hướng bao gồm cả mô tả và định lượng Nhưng hầu hết các nghiên cứu đều có chung sự thống nhất, chỉ ra nguyên nhân sâu xa khiến một quốc gia rơi vào BTNTB là liên quan tới vấn đề tăng trưởng của quốc gia đó Dưới đây, NCS dùng các mô hình tăng trưởng để giải thích cho hiện tượng BTNTB
Bảng 2.2: Tóm tắt luận giải về BTNTB về mặt lý thuyết
Tác giả Nguyên nhân rơi vào BTNTB
Solow (1956) Quốc gia đạt tăng trưởng nhờ tích lũy tư bản đã gần đạt hoặc đạt
trạng thái dừng, khiến sản lượng và tiền lương trên mỗi công nhân không tăng lên, do đó rơi vào BTNTB
Lewis (1954) Các nước bước vào TNTB mất đi lợi thế về mức lương thấp đã có
khi chuyển giao từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp trước đó Ohno (2009) Các nước TNTB thất bại trong việc chuyển từ giai đoạn phát triển
công nghiệp sang giai đoạn sáng tạo
Tho (2013) Các nước thất bại trong việc nâng cao chất lượng lao động để
chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn
Eeckhout & Jovanovic
(2007) và Garrett (2004)
Nước có TNTB có ít lợi thế hơn so với nước TN cao và TN thấp trong quá trình toàn cầu hoá
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu, 2021
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới vượt BTNTB
2.3.1 Vốn đầu tư
Trang 119
Trong giai đoạn phát triển kinh tế ban đầu, tỷ lệ đầu tư cao (đặc biệt là của khu vực công) tạo ra lợi ích mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế (Agénor, 2012) Tỷ lệ tích lũy vốn tăng ổn định là một đặc điểm chính trong kinh nghiệm vượt BTNTB thành công của các nước Đông Á sau Chiến tranh thế giới thứ hai (Lee và Hong (2010) Nhưng khi các nền kinh tế phát triển, vốn hình thành phải đổi mặt với quy luật lợi ích giảm dần theo quy mô Đồng thời, theo thời gian, hiệu quả đầu tư (đặc biệt là đầu tư công) bị xói mòn vì tham nhũng hoặc quản lý yếu kém Thêm vào đó, do các yếu tố tương tự, chất lượng của vốn có thể yếu đi, do đó làm giảm lợi ích cận biên cho nền kinh tế Lúc này, muốn duy trì được đóng góp của vốn đầu tư trong tăng trưởng kinh tế giúp các quốc gia vượt BTNTB thành công cần đảm bảo vốn đầu tư được huy động và sử dụng hiệu quả
2.3.2 Vốn nhân lực
Các quốc gia rơi vào BTNTB thường có chất lượng vốn nhân lực kém, gây ra hạn chế khả năng tiếp thu các công nghệ tiên tiến hơn của nước ngoài và mở rộng các hoạt động đổi mới, do đó ngăn cản sự tăng trưởng năng suất và tăng trưởng kinh tế cao Do đó, các quốc gia muốn thoát khỏi BTNTB cần tập trung nâng cao chất lượng vốn nhân lực Mô hình Lucas chỉ rõ tốc độ tăng vốn nhân lực duy trì tăng trưởng sản lượng ở trạng thái ổn định Một lực lượng lao động có tay nghề cao là đặc biệt cần thiết trong quá trình chuyển đổi của một quốc gia từ quốc gia có TNTB sang quốc gia có thu nhập cao Giáo dục, cách chính để tăng vốn con người, cho phép mọi người có được các kỹ năng và kiến thức cần thiết để thành công trong quá trình chuyển đổi từ các nền kinh tế sản xuất sử dụng nhiều lao động sang các nền kinh tế có mức lương cao, giá trị gia tăng cao hơn Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây như của Eichengreen và cộng sự (2013) cũng nêu rõ sau khi đạt được mức TNTB, quốc gia đó thường nhập khẩu công nghệ tiên tiến từ các quốc gia phát triển, bước tiếp theo
là ứng dụng công nghệ nhập khẩu vào điều kiện trong nước và nâng cao hàm lượng công nghệ của hàng xuất khẩu, muốn đạt được những điều này đòi hỏi quốc gia phải có lực lượng lao động chất lượng cao
2.3.3 Công nghệ
Như đã thảo luận trong phần trước, BTNTB có mối liên hệ chặt chẽ với khoảng cách năng suất, do đó công nghệ, đổi mới, sáng tạo là con đường giúp các quốc gia thoát BTNTB thành công Thật vậy, các mô hình tăng trưởng nội sinh đã chỉ ra việc tích lũy R&D là một trong những nguồn chính của tăng trưởng kinh tế dài hạn (Mankiw và cộng sự, 1992; Romer, 1994; Lucas, 2002) Về mặt này, một số nghiên cứu chỉ ra rằng chi tiêu cho R&D đại diện cho động cơ chính của tiến bộ công nghệ và tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, kinh
tế học chính thống xem đổi mới như một yếu tố ngoại sinh, về cơ bản thông qua sự lan tỏa của R&D, có thể ảnh hưởng tích cực đến năng suất và cuối cùng là tăng trưởng kinh tế
2.3.4 Thể chế
Đối với một quốc gia có TNTB, yếu tố thể chế đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, quốc gia muốn thoát BTNTB, vươn lên thành nước có thu nhập cao cần xây dựng cho mình một thể chế tốt, phù hợp cho sự phát triển hiện đại Đó là một thể chế với những đặc trưng như: tính năng động, nhạy cảm và mềm dẻo, luôn thích nghi được với biến động phức tạp do tình hình thế giới và trong nước, luôn đảm bảo sự ổn định của đất nước, khắc phục được những mâu thuẫn và xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển, thể chế đó phải tạo được cho nền kinh tế mở một sự hoạt động có hiệu quả nhằm tranh thủ được vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới, là cơ sở của sự tăng tốc trong quá trình phát triển Đặc biệt quan trọng hơn là phải tạo được sự kích thích mạnh mẽ mọi tiềm lực vật chất trong
Trang 1210
nước hướng vào đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu Các nghiên cứu thực nghiệm như của Kharas và Kohli (2011), Kanchoochat (2014), Paus (2014), Barrios và cộng sự (2010), Tran Van Tho (2013) cũng chỉ rõ thể chế tốt có tác động tích cực giúp các quốc gia vượt BTNTB thành công
2.3.5 Hội nhập
Các nước TNTB khi tham gia hội nhập (thông qua tự do hóa chu chuyển luồng hàng hóa dịch vụ và tự do hóa chu chuyển vốn) sẽ đạt được những lợi ích sau: Thứ nhất, hội nhập cung cấp phương tiện vật chất (tư liệu sản xuất, máy móc, nguyên vật liệu và bán thành phẩm) không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế Thứ hai, hội nhập là phương tiện để phổ biến kiến thức công nghệ, truyền tải ý tưởng, nhập khẩu bí quyết, kỹ năng, tài năng quản lý
và tinh thần kinh doanh Thứ ba, hội nhập là phương tiện cho sự di chuyển vốn quốc tế (ví
dụ như dòng vốn FDI chảy từ các nước phát triển sang các nước kém phát triển hơn) Đặc biệt, hiện nay trong bối cảnh CMCN 4.0 và toàn cầu hóa ngày càng trở nên sâu rộng, các quốc gia TNTB nếu tận dụng tốt những lợi ích từ hội nhập có thể đẩy mạnh tăng trưởng, và vươn lên thành nước TN cao
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM CỦA CÁC NỀN KINH TẾ VƯỢT HOẶC MẮC BẪY
THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI CHÂU Á 3.1 Các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công
Trong phần này NCS tập trung nghiên cứu một số nền kinh tế nổi bật của châu Á chỉ trong khoảng ba thập kỉ đã nhanh chóng chuyển từ thu nhập thấp lên thu nhập cao bao gồm Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong Nghiên cứu của Felipe và cộng sự (2012) trên số liệu Maddison (2010) xác định TNTB thấp tính từ $2000, TNTB cao tính từ
$7.250, TN cao tính từ $11.750 Trong giai đoạn phát triển thần kì, chuyển nhanh từ mức TNTB sang mức TN cao (thoát BTNTB), Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong có chung những đặc điểm sau: Trong giai đoạn đầu phát triển (giai đoạn mới bước vào TNTB thấp), tích luỹ tư bản đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng Những quốc gia này đã thực hiện mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài để có thêm vốn và tăng cường thương mại để thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập Sử dụng vốn hiệu quả (hệ số ICOR thấp) cũng là một đặc điểm chung của các nước Chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và dịch vụ là vấn đề ưu tiên trong suốt quá trình phát triển
Ở giai đoạn kinh tế tăng trưởng nhờ vốn và lao động giá rẻ dần mất lợi thế cạnh tranh, các nước nhanh chóng tập trung phát triển vốn nhân lực và công nghệ thông qua đầu tư cho giáo dục và R&D - đây là những yếu tố quyết định tới việc duy trì tăng trưởng dài hạn Điểm chung của các nước là có TFP đóng góp nhiều vào tăng trưởng Thêm vào đó, để phát triển kinh tế, một thể chế tốt, minh bạch, hoạt động hiệu quả là vô cùng quan trọng vì chính phủ đóng vai trò đưa ra các chính sách kinh tế, định hướng thu hút và phân bổ vốn đầu tư, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển, duy trì công bằng xã hội, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo và từ đó tạo động lực cho kinh tế tăng trưởng Về sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, Việt Nam có thể học hỏi các nước Đông Á chính sách can thiệp có chọn lọc, và xây dựng kinh tế định hướng xuất khẩu Riêng Nhật Bản và Hàn Quốc với diện tích
và quy mô dân số lớn, đã tập trung phát triển công nghiệp nặng thông qua các tập đoàn lớn như mô hình Keiretsu (Nhật) và Chaebol (Hàn Quốc) Singapore, Đài Loan tập trung nhiều vào thế mạnh dịch vụ và công nghệ thông tin Hong Kong xây dựng nền kinh tế tự do, trở thành trung tâm tài chính, du lịch của khu vực và thế giới
Trang 1311
3.2 Các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB
Mở rộng nghiên cứu của Felipe và cộng sự (2012), trong các nền kinh tế đang có TNTB tại Châu Á, có thể khẳng định Indonesia và Philippines hai nền kinh tế đã rơi vào BTNTB Theo cách định nghĩa của Felipe và cộng sự (2012), Philippines trở thành nước TNTB thấp vào năm 1975 với mức thu nhập $2033 (GDP BQĐN PPP 1990) Tới năm 2016, theo số liệu Maddison (2018) thu nhập BQĐN của Philippines chỉ đạt $3950 con số này thấp hơn nhiều ngưỡng TNTB cao mà Felipe và cộng sự (2012) đưa ra là $7250 Như vậy thời gian Philippines ở trong ngưỡng TNTB thấp tới 2016 là 42 năm, có thể khẳng định Philippines rơi vào BTNTB thấp Tương tự như vậy, Indonesia đạt mức TNTB thấp vào năm 1986 ($2051 PPP 1990), 31 năm sau tức là năm 2016, TNTB của Indonesia là $6215, như vậy, Indonesia cũng rơi vào BTNTB thấp
Bảng 3.2: Kinh tế các quốc gia châu Á mắc BTNTB Nền kinh
tế
Sử dụng vốn đầu tư
không hiệu
quả
Vốn nhân lực tăng chậm
Ít đầu tư cho công nghệ,
Hội nhập (FDI) Philippines ICOR 5 - 6 Vốn nhân lực
tăng từ 1,81 lên 2,68, chi tiêu công cho giáo dục rất thấp
Tăng trưởng TFP có xu hướng giảm
Ít đầu tư cho R&D
Khủng hoảng, đảo chính, tham nhũng
FDI chưa đóng vai trò quan trọng đối với kinh tế (1,22% GDP)
Indonesia ICOR 4 - 5 Vốn nhân lực
tăng từ 2,17 lên 3,69
Tăng trưởng TFP có xu hướng giảm
Tham nhũng, bất bình đẳng
FDI đóng góp 1,21% GDP
Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2021
Như vậy, có thể rút ra những nguyên nhân cơ bản khiến thu nhập của Philippines, Indonesia không tăng nhanh trong bốn thập kỉ vừa qua bao gồm chưa sử dụng vốn đầu tư hiệu quả, chưa phát triển tốt vốn nhân lực, chưa duy trì được tăng trưởng TFP, công nghệ
và sáng tạo chưa được đầu tư đúng đắn, chính trị bất ổn, thể chế tham nhũng, bất bình đẳng
xã hội cao và chưa tận dụng hiệu quả nguồn vốn FDI Tất cả những yếu tố đó khiến Philippines và Indonesia không thể vươn lên thu nhập cao và mắc ở BTNTB
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG KINH TẾ VÀ KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP
TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM 4.1 Tổng quan kinh tế Việt Nam
4.1.1 Thu nhập và tăng trưởng của kinh tế Việt Nam
Theo số liệu của World Bank, kinh tế Việt Nam kể từ năm 2002 tới 2019 có mức tăng trưởng dao động từ 4% tới 6,6% Cụ thể, năm 2000 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 5,6%, sau đó con số này sụt giảm vào năm 2001 và 2002 xuống tới mức gần 5%, trước khi hồi phục và tiếp tục đà tăng liên tục tới năm 2006 với mức 6.6% Giai đoạn 2008 -2010 chứng kiến sự sụt giảm mạnh trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam, với mức tăng năm 2010 chỉ đạt 4,4% Năm 2011, 2012 kinh tế Việt Nam có sự hồi phục và đạt mức tăng trưởng tương ứng là 5,4% và 5,1%, trước khi rơi vào suy giảm tăng trưởng năm 2013 Từ năm
2014 tới 2018, xu thế chung của kinh tế Việt Nam là tăng trưởng ngày càng đi lên, mức tăng năm 2018 đạt 6,02% So sánh với mức tăng trưởng trung bình của thế giới và các quốc