Luận án hệ thống hóa được cơ sở khoa học (bao gồm cơ sở lý thuyết và thực tiễn) về bẫy thu nhập trung bình (BTNTB), xác định được các yếu tố khiến các quốc gia rơi vào BTNTB, những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB. Dựa vào các nghiên cứu quốc tế đi trước, luận án đã xác định được các cách để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Trong luận án, NCS đã kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích, tổng hợp so sánh, tới phương pháp định lượng và phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án Luận án đã xây dựng được phương pháp luận đầy đủ để nghiên cứu về BTNTB mà bất cứ quốc gia nào có đặc điểm tương đồng Việt Nam (tức là đang trong giai đoạn TNTB thấp) có thể áp dụng để nghiên cứu cho quốc gia mình, cụ thể như sau: Luận án đã khái quát hóa được những yếu tố chung và đặc trưng khiến các nền kinh tế vượt/mắc BTNTB tại châu Á; đồng thời áp dụng các cách xác định BTNTB, các tiêu chí so sánh và lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Luận án dùng mô hình dữ liệu bảng xác định được các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác Châu Á. Cuối cùng, từ kinh nghiệm BTNTB trong khu vực, thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á, xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, định hướng phát triển kinh tế của chính phủ, luận án đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam để vượt BTNTB thành công bao gồm thúc đẩy tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng thể chế; chính phủ can thiệp linh hoạt vào nền kinh tế; nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư, tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
LÊ PHƯƠNG THẢO QUỲNH
Hà Nội - 2022
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM
Ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 9310106
LÊ PHƯƠNG THẢO QUỲNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Từ Thúy Anh PGS, TS Hoàng Xuân Bình
Hà Nội - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi hoàn thành Các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê được sử dụng trong luận án có nguồn trích dẫn đầy đủ và trung thực Kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Nghiên cứu sinh
Lê Phương Thảo Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình lên ý tưởng và hoàn thành luận án “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, tác giả đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và sự quan tâm chia sẻ của các thầy cô, gia đình
và đồng nghiệp
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS, TS Từ Thúy Anh
và PGS, TS Hoàng Xuân Bình, hai thầy cô hướng dẫn đã dành trọn tâm huyết hỗ trợ, động viên, giúp đỡ và đưa ra những lời khuyên vô cùng hữu ích cho tác giả trong quá trình xây dựng và hoàn thành luận án Những lời góp ý đầy chuyên môn của PGS, TS
Từ Thúy Anh và PGS, TS Hoàng Xuân Bình đã giúp tác giả có đường hướng rõ ràng
và thêm nhiều ý tưởng mới cho luận án
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm và các đồng nghiệp trong Khoa Kinh tế Quốc tế, đồng nghiệp trong
Bộ môn Kinh tế vĩ mô - Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tác giả trong suốt quá trình làm việc, học tập và nghiên cứu
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Khoa Sau đại học - Trường Đại học Ngoại thương đã hỗ trợ và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án
Cuối cùng, tác giả muốn dành lời cảm ơn sâu sắc cho gia đình, chồng, con và bạn bè đã luôn ở bên thông cảm, chia sẻ, động viên và tạo động lực để tác giả hoàn thành luận án
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU x
DANH MỤC HÌNH xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 5
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 5
4.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 5
4.1.2 Phương pháp phân tích 6
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 6
4.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 6
4.2.2 Phương pháp phân tích 6
5 Đóng góp của luận án 7
5.1 Về lý luận 7
5.2 Về thực nghiệm 7
6 Kết cấu của luận án 8
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 9
1.1 Cách xác định BTNTB trong các nghiên cứu 9
Trang 61.1.1 Cách xác định BTNTB 10
1.1.2 Danh sách các quốc gia mắc /thoát/ có nguy cơ rơi vào BTNTB trong các nghiên cứu 15
1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB 18
1.2.1 Vốn đầu tư 18
1.2.2 Vốn nhân lực 19
1.2.3 Công nghệ 21
1.2.4 Thể chế 23
1.2.5 Hội nhập 24
1.2.6 Các yếu tố khác 26
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 30
2.1 Khái niệm về bẫy thu nhập trung bình 30
2.1.1 Khái niệm về ngưỡng TNTB và BTNTB 30
2.1.2 Ảnh hưởng của BTNTB lên kinh tế xã hội 35
2.2 Luận giải BTNTB theo các lý thuyết tăng trưởng 36
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB 42
2.3.1 Vốn đầu tư 42
2.3.2 Vốn nhân lực 43
2.3.3 Công nghệ 44
2.3.4 Thể chế 45
2.3.5 Hội nhập 46
CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM CỦA CÁC NỀN KINH TẾ VƯỢT HOẶC MẮC BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI CHÂU Á 48
3.1 Các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công 48
3.1.1 Thu nhập và tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công 48
3.1.2 Các yếu tố giúp các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công 53 3.2 Các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB 73
Trang 73.2.1 Thu nhập và tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB
73
3.2.2 Các yếu tố khiến các nền kinh tế châu Á mắc bẫy thu nhập trung bình 77
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG KINH TẾ VÀ KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM 85
4.1 Tổng quan kinh tế Việt Nam 85
4.1.1 Thu nhập và tăng trưởng của kinh tế Việt Nam 85
4.1.2 Đánh giá chung về kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002 - 2020 89
4.2 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam 93
4.2.1 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam theo các cách tiếp cận 93
4.2.2 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam bằng cách so sánh các tiêu chí 100
4.2.3 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam theo ý kiến chuyên gia và gợi ý kịch bản 108
CHƯƠNG 5: MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC THU NHẬP TRUNG BÌNH THẤP KHÁC TẠI CHÂU Á 111
5.1 Thu nhập và tăng trưởng của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á (nhóm LMICA) từ năm 2002 đến năm 2020 111
5.1.1 Thu nhập và tăng trưởng kinh tế của nhóm LMICA 111
5.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập, tăng trưởng của nhóm LMICA 112
5.2 Định lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm LMICA 116
5.2.1 Mô hình nghiên cứu 116
5.2.2 Biến số và thước đo 117
5.2.3 Mô tả thống kê và tương quan 122
5.2.4 Kết quả và thảo luận 125
CHƯƠNG 6 HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 130
Trang 86.1 Xu hướng phát triển kinh tế thế giới và định hướng phát triển kinh
tế của chính phủ Việt Nam 130
6.1.1 Xu hướng phát triển kinh tế thế giới 130
6.1.2 Định hướng phát triển kinh tế của chính phủ Việt Nam 132
6.1.3 Gợi ý kịch bản kinh tế Việt Nam 2021 - 2030 134
6.2 Những hàm ý chính sách cho Việt Nam 136
6.2.1 Tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động 136
6.2.2 Thúc đẩy vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng 139
6.2.3 Đổi mới và nâng cao chất lượng thể chế 141
6.2.4 Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế một cách linh hoạt và hiệu quả 142
6.2.5 Nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động vốn đầu tư 143
6.2.6 Tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế - Nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng FDI 145
6.2.7 Một số hàm ý chính sách khác 147
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC QUỐC GIA MẮC BẪY VÀ THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 172
PHỤ LỤC 2: CÁC CÁCH TIẾP CẬN BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TRONG CÁC NGHIÊN CỨU 174
PHỤ LỤC 3: ĐẶC ĐIỂM ĐẶC TRƯNG GIÚP CÁC NỀN KINH TẾ CHÂU Á VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH THÀNH CÔNG 176
PHỤ LỤC 4: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA KINH TẾ VIỆT NAM 181
PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH ARIMA DỰ BÁO THU NHẬP CHO VIỆT NAM (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA FELIPE VÀ CỘNG SỰ, 2012) 197
PHỤ LỤC 6: DỰ BÁO GDP BQĐN CỦA VIỆT NAM THEO SỐ LIỆU IMF (PHƯƠNG PHÁP FELIPE, 2012) 198 PHỤ LỤC 7: KIỂM TRA TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI THU NHẬP TƯƠNG ĐỐI THEO ADF VÀ PHILLIPS PERRON (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA
Trang 9ROBERTSON & YE, 2014) 199 PHỤ LỤC 8: PHƯƠNG PHÁP PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA VÀ XÂY DỰNG KỊCH BẢN KINH TẾ 201 PHỤ LỤC 9: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA 203 BẢNG ĐIỀU TRA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI VIỆT NAM 203 PHỤ LỤC 10: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 207
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ TIẾNG VIỆT
TỪ TIẾNG ANH
ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
ASEAN Association of South East
Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BRICS Brazil, Russia, India,
China, and South Africa Nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng
CUI Catch - up Index Chỉ số đuổi kịp
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước
Trang 11GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc dân
GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân
ICAC Independent Commission
Against Corruption
Ủy ban độc lập chống tham nhũng
ICOR Incremental Capital
Output Ratio
Hệ số hiệu quả sử dụng vốn
IMF International Monetary
Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế
IT Information&Technology Công nghệ thông tin
LMICA Lower Middle Income
Countries in Asia
Các nước thu nhập trung bình thấp tại châu Á
OLG Overlapping Generation Mô hình thế hệ đan chéo
PPP Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua
PWT Penn World Tables Dữ liệu Penn World Tables
R&D Research and development Nghiên cứu và phát triển
TFP Total Factor Productivity Năng suất các yếu tố tổng hợp
VAR Vector Autocorrelation
Regression
Mô hình vectơ tự hồi quy
Outlook
Triển vọng phát triển thế giới
OECD Organisation for Economic
Co-operation and Development
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB 27
Bảng 2.1: Phân loại các nước theo thu nhập 31
Bảng 2.3: Tóm tắt luận giải về BTNTB về mặt lý thuyết 42
Bảng 3.1 Các giai đoạn đạt TNTB thấp và TNTB cao 48
Bảng 3.2: Tỷ lệ tích lũy vốn/GDP của Singapore 54
Bảng 3.3: Đầu tư và hiệu quả đầu tư của các quốc gia Đông Á giai đoạn 1965 - 1995 56
Bảng 3.4: Tỷ trọng xuất khẩu một số mặt hàng của Hàn Quốc (1965 - 1994) Bảng 3.5: Kinh tế các nền kinh tế châu Á thành công trong giai đoạn TNTB 72
Bảng 3.6: Kinh tế các quốc gia châu Á mắc BTNTB 84
Bảng 4.1: Dự báo tăng trưởng và TNTB của Việt Nam (dùng mô hình ARIMA) 95
Bảng 4.2: Dự báo tăng trưởng và TNTB của Việt Nam (số liệu World Bank) 96
Bảng 4.3: So sánh giáo dục Việt Nam và các nền KT thành công ở Châu Á 102
Bảng 4.4: Tỷ lệ xuất khẩu/GDP của Việt Nam và các nền kinh tế thoát BTNTB 106
Bảng 5.1: Các biến số trong mô hình dữ liệu bảng 120
Bảng 5.2: Mô tả thống kê và tương quan các biến 122
Bảng 5.3: Mô tả tương quan các biến 125
Bảng 5.4: Kết quả ước lượng 126
Bảng 6.1: Mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam năm 2020 và 2030 133
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Sơ đồ khung phân tích 4 Hình 1.1: Kết quả tìm kiếm Google cho chủ đề Bẫy thu nhập trung bình (Middle income trap) trong tổng số tìm kiếm 10 Hình 2.1: 5 giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế 40 Hình 2.2: Mô hình tăng trưởng của Tran Van Tho (2013) 41 Hình 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của các nền kinh tế châu Á thành công và Mỹ 49 Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trong giai đoạn TNTB 51 Hình 3.3: Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%) 55 Hình 3.4: Vốn nhân lực các nước châu Á thành công và Mỹ giai đoạn 1950
- 1995 57
Hình 3.5: TFP các nước Đông Á và Mỹ giai đoạn 1951 -1995 61
Hình 3.6: GDP BQĐN của Philippines, Indonesia và một số quốc gia phát triển 74 Hình 3.7: Tăng trưởng kinh tế của Philippines 74 Hình 3.8: Tăng trưởng kinh tế của Indonesia 76 Hình 3.9: Vốn nhân lực của Philippines và Indonesia giai đoạn 1953 - 2017 80 Hình 3.10: TFP của Philippines và Indonesia giai đoạn 1953 - 2017 80 Hình 4.1: GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới giai đoạn 2002 - 2020 85 Hình 4.2: Tăng trưởng GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới từ 2008 - 2020 (tính theo USD hiện hành) 86 Hình 4.3: Tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế Việt Nam 87 giai đoạn 2002 – 2020 (%) 87 Hình 4.4: Tỷ lệ đóng góp vào GDP Việt Nam của từng khu vực kinh tế 88 Hình 4.5: Tăng trưởng thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ 98 Hình 4.6: Tăng trưởng và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam 100 Hình 4.7: Số năm giáo dục của các nhóm nước so với Mỹ (%) 102 Hình 4.8: Số lượng bằng phát minh sáng chế 104
Trang 14Hình 4.9: Chỉ số đa dạng xuất khẩu 107 Hình 4.10: Mức độ ảnh hưởng và tính bất định của các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam 110 Hình 5.1: Thu nhập tương đối và tăng trưởng GDP BQĐN của Việt Nam và
cả nhóm LMICA 112 Hình 5.2: Chi tiêu chính phủ và vốn đầu tư của Việt Nam và nhóm LMICA 112 Hình 5.3: FDI ròng vào trong nước của Việt Nam và nhóm LMICA 113 Hình 5.4: Tỷ dân số sử dụng internet của Việt Nam và nhóm LMICA 113 Hình 5.5: Tỷ lệ nhập học đại học và cao đẳng của Việt Nam và nhóm LMICA 114 Hình 5.6: Chỉ số nhận thức tham nhũng của Việt Nam và nhóm LMICA 114 Hình 5.7: Tỷ lệ dân số thành thị của Việt Nam và nhóm LMICA 115 Hình 6.1: Kịch bản tăng trưởng của Việt Nam từ 2021 tới 2030 134
Trang 15MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap - BTNTB) xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo của Gill và Kharas công bố năm 2007 bởi World Bank Theo đó, BTNTB là tình trạng các quốc gia đã đạt được mức thu nhập trung bình (TNTB) nhưng sau đó mắc kẹt tại mức thu nhập ấy và không thể đạt được mức thu nhập cao do không thể duy trì đà tăng trưởng như trước Nhiều nước ở Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Phi đã mắc BTNTB như Brazil, Mexico, Iran, Li Băng, Ai Cập, Jordan, Nam Phi… Tại khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng đối mặt với BTNTB như Indonesia, Philipines, Thái Lan… Vì vậy, BTNTB đã trở thành đề tài nóng, thường xuyên được nghiên cứu, phân tích bởi các tổ chức quốc tế như World Bank, IMF, ADB, OECD… và nhận được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu
và làm chính sách trên thế giới
Theo tính toán của World Bank dựa trên chỉ số GNI/người, kinh tế Việt Nam
đã đạt mức TNTB thấp từ năm 2009 với mức thu nhập bình quân đầu người (BQĐN)
là 1.120 USD (Beliner và cộng sự, 2013) GNI BQĐN của Việt Nam năm 2020 là 2.660 USD (World Bank, 2021), với mức tăng trưởng 4,7% (như bình quân giai đoạn
2011 - 2019), phải tới năm 2030 GNI BQĐN của Việt Nam mới đạt mức TNTB cao (4.045 USD) và Việt Nam sẽ đạt mức thu nhập cao (từ 12.535 USD trở lên) vào năm
2054 Với cách phân loại quốc gia theo thu nhập (sử dụng chỉ số GDP BQĐN PPP 1990) từ bộ số liệu Maddison (2010), Felipe và cộng sự (2012) chỉ ra Việt Nam đã đạt mức TNTB từ năm 2002 với 2.023 USD/người Giai đoạn 2002 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP BQĐN đạt 6,1% Việt Nam muốn thoát khỏi BTNTB thấp thì phải đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 4,3% trong giai đoạn 2010 - 2029
Có thể nói, nếu so sánh với chính mình theo trục thời gian, Việt Nam đã đạt được thành công nhất định, nhưng để vươn lên thành quốc gia có kinh tế phát triển
và thu nhập cao trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore thì còn nhiều khó khăn Kinh tế Việt Nam những năm gần đây đã đạt được những thành tựu như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với khu vực và thế giới, lạm phát ổn định, cán cân thương mại và cán cân thanh toán có nhiều cải thiện Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam cũng bộc
Trang 16lộ nhiều tồn tại như đầu tư kém hiệu quả, chất lượng lao động thấp, nền kinh tế thâm dụng tài nguyên, thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, hệ thống ngân hàng tiềm
ẩn nhiều rủi ro, ô nhiễm môi trường, tham nhũng… Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế chỉ ra Việt Nam hiện đang đối mặt với nguy cơ rơi vào BTNTB, Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định BTNTB là một trong bốn nguy cơ lớn của dân tộc Việt Nam
Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành
lập Đảng, Việt Nam trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình
cao Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát
triển, thu nhập cao Điều đó cho thấy, vượt BTNTB để đạt được các mục tiêu kể trên vừa là vấn đề khoa học, vừa là nhiệm vụ chính trị, vừa là trách nhiệm quốc gia
Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi “làm thế nào để vượt BTNTB?” với những phân tích, đánh giá và những bằng chứng cụ thể Tuy nhiên, đặt vấn đề nghiên cứu so sánh để tìm ra yếu tố quyết định của hai nhóm quốc gia “vượt BTNTB” và “mắc BTNTB”, cùng với những phân tích từ chính năng lực nội tại của kinh tế Việt Nam, để từ đó đề xuất những hàm ý chính sách giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công, là một lựa chọn thuyết phục về mặt học thuật, thích hợp - nhìn từ bối cảnh và điều kiện thực tiễn Chính vì vậy, NCS quyết định chọn đề tài: “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam” Thông qua luận án, NCS đưa ra nghiên cứu sâu hơn về kinh nghiệm vượt/mắc BTNTB của các quốc gia trên thế giới, áp dụng các cách xác định BTNTB và mô hình được đưa ra bởi các nghiên cứu quốc tế để phân tích về BTNTB tại Việt Nam và đưa ra các hàm ý chính sách có ý nghĩa với kinh tế Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm ra điểm khác biệt giữa nhóm nước thoát BTNTB và mắc BTNTB, các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB ở các quốc gia trên thế giới, xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Từ đó, đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam, giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công
Trang 172.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Nghiên cứu những đặc điểm giúp Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công Nghiên cứu những yếu tố khiến Philippines, Indonesia rơi vào BTNTB Rút ra những đặc điểm chung và khác biệt giữa các quốc gia này và tìm ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam
Định lượng được ảnh hưởng của các yếu tố trong nền kinh tế tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á bao gồm 13 quốc gia: Việt Nam, Ấn
Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan giai đoạn 2002 - 2020
Dựa vào các định nghĩa mà những nghiên cứu quốc tế đưa ra và lấy ý kiến chuyên gia để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Từ đó, đưa ra gợi ý chính sách cho Việt Nam
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích
Nghiên cứu cần trả lời cho những câu hỏi sau: i) Yếu tố nào khác biệt giữa nhóm quốc gia mắc BTNTB và nhóm vượt BTNTB thành công?; (ii) Thực trạng kinh
tế Việt Nam hiện nay và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam như thế nào?; (iii) Các yếu tố có ảnh hưởng ra sao tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á?; (iv) Từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng kinh tế Việt Nam, có thể rút ra hàm ý chính sách để Việt Nam tăng trưởng bền vững và nhanh chóng đuổi kịp các nước TNTB cao và sau đó là thu nhập cao trên thế giới? Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, NCS sử dụng khung phân tích như sau:
Trang 18Hình 1: Sơ đồ khung phân tích
Nguồn: Tác giả, 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới đối với BTNTB; khả năng vượt BTNTB của Việt Nam; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến BTNTB ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam
Khách thể nghiên cứu: Các quốc gia trên thế giới, tập trung vào các quốc gia
châu Á (trong đó có Việt Nam)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu về kinh nghiệm mắc/thoát BTNTB của
các quốc gia trên thế giới, đánh giá ước lượng các yếu tố quyết định khả năng thoát
Các nền kinh tế vượt
hoặc mắc BTNTB tại châu Á
Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Cơ sở
lý luận
Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB cho Việt
Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á
Thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam
Theo các khái niệm BTNTB
Theo phương pháp so sánh
Phỏng vấn chuyên
công BTNTB tại châu Á
Trang 19BTNTB của nhóm nước có TNTB thấp tại châu Á, xác định thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, từ đó đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam Mặc
dù, tồn tại nhiều nguyên nhân và biểu hiện của BTNTB, trong luận án này, NCS tập trung vào biểu hiện của BTNTB thông qua chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người
và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và tập trung vào các yếu tố giúp các quốc gia vượt BTNTB thành công
Không gian nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu về BTNTB trên thế giới, tuy
nhiên, với mục tiêu tìm ra các hàm ý chính sách giúp Việt Nam vượt BTNTB thành công, luận án lựa chọn tập trung nghiên cứu về BTNTB tại các quốc gia và nền kinh
tế tại châu Á như nhóm các nền kinh tế thoát BTNTB (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hong Kong), nhóm nước mắc BTNTB tại châu Á (cụ thể là Philippines và Indonesia) và nhóm quốc gia TNTB thấp tại châu Á (bao gồm Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan) Việc lựa chọn tập trung vào các nền kinh tế châu Á là do các quốc gia này có sự tương đồng về mặt địa lý, văn hóa, lịch sử và kinh tế so với Việt Nam, như vậy sẽ giảm thiểu độ sai lệch trong kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách đưa ra cho Việt Nam sẽ phù hợp hơn
Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu kinh nghiệm đối với BTNTB trên
thế giới và tại châu Á trong giai đoạn từ năm 1950 tới 2020 Luận án đánh giá ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á trong giai đoạn từ 2002 tới 2020 Luận án thực hiện phỏng vấn chuyên gia
để tìm ra những yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và xây dựng kịch bản cho kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, thời gian thực hiện phỏng vấn là tháng 3/2021 - 6/2021
4 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Trong luận án này, NCS sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng
4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính
4.1.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được NCS sử dụng trong nghiên cứu định tính bao gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:
Trang 20Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website của World Bank, IMF, Penn
World Tables, Tổ chức minh bạch quốc tế, Tổng cục thống kê Việt Nam, Bộ tài chính, trong giai đoạn từ 1950 tới 2020
Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu 15 chuyên
gia có kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, thời gian thu thập
dữ liệu sơ cấp từ tháng 3/2021 tới tháng 6/2021
4.1.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh cho dữ liệu thứ cấp với các mục đích
sau: Thứ nhất, tìm hiểu kinh nghiệm các nước châu Á đối với BTNTB (tìm ra những yếu tố giúp nhóm nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công; phân tích các yếu tố khiến Philippines và Indonesia bị mắc BTNTB) Thứ hai, so sánh các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB giữa Việt Nam với nhóm nước rơi vào BTNTB và nhóm nước thoát BTNTB, và so sánh với một số nước cụ thể như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản ), từ đó đánh giá về khả năng vượt BTNTB của Việt Nam
- Phương pháp phân tích xây dựng kịch bản theo ý kiến chuyên gia bằng cách
cho điểm: Trong nghiên cứu này, NCS sử dụng bảng hỏi, tập hợp ý kiến chuyên gia
về các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng giúp Việt Nam vượt BTNTB từ đó xây dựng kịch bản kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2030 So sánh kết quả của phỏng vấn chuyên gia với phần phân tích tổng hợp so sánh ở trên và phần nghiên cứu định lượng để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam (Cụ thể về phương pháp phỏng vấn chuyên gia xem ở phụ lục 8)
4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
4.2.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được NCS sử dụng trong nghiên cứu định lượng là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website của World Bank, IMF, Penn World Tables, Tổ chức minh bạch quốc tế và Maddison (2018) trong giai đoạn từ 1950 tới 2020
4.2.2 Phương pháp phân tích
Phương pháp hồi quy: NCS sử dụng phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng
Trang 21nhằm đánh giá ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp ở châu Á (Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan) giai đoạn 2002 - 2020 Kết quả mô hình là căn cứ đưa ra hàm ý chính sách ở chương 6
Phương pháp dự báo: Dựa trên các khái niệm khác nhau về BTNTB, NCS
dùng phương pháp dự báo theo mô hình ARIMA (Box và Jenkin, 1976) dự báo thu nhập và tăng trưởng của Việt Nam tới năm 2030 để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam NCS cũng sử dụng phần mềm Eview để đánh giá tính dừng của chuỗi
số liệu về thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ, từ đó đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam
5 Đóng góp của luận án
5.1 Về lý luận
Luận án hệ thống hóa được cơ sở khoa học (bao gồm cơ sở lý thuyết và thực tiễn) về BTNTB, xác định được các yếu tố khiến các quốc gia rơi vào BTNTB, những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB
Dựa vào các nghiên cứu quốc tế đi trước, luận án đã xác định được các cách
để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Trong luận án, NCS đã kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích, tổng hợp so sánh, tới phương pháp định lượng và phương pháp phỏng vấn chuyên gia
5.2 Về thực nghiệm
Luận án đã xây dựng được phương pháp luận đầy đủ để nghiên cứu về BTNTB
mà bất cứ quốc gia nào có đặc điểm tương đồng Việt Nam (tức là đang trong giai đoạn TNTB thấp) có thể áp dụng để nghiên cứu cho quốc gia mình, cụ thể như sau:
Luận án đã khái quát hóa được những yếu tố chung và đặc trưng khiến các nền kinh tế vượt/mắc BTNTB tại châu Á; đồng thời áp dụng các cách xác định BTNTB, các tiêu chí so sánh và lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam
Luận án dùng mô hình dữ liệu bảng xác định được các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác Châu Á
Trang 22Cuối cùng, từ kinh nghiệm BTNTB trong khu vực, thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á, xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, định hướng phát triển kinh tế của chính phủ, luận án đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam để vượt BTNTB thành công bao gồm thúc đẩy tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng thể chế; chính phủ can thiệp linh hoạt vào nền kinh tế; nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư, tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế
6 Kết cấu của luận án
Luận án được chia thành sáu chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình
Chương 2: Cơ sở lý luận về bẫy thu nhập trung bình
Chương 3: Kinh nghiệm của các nền kinh tế vượt hoặc mắc bẫy thu nhập trung bình tại châu Á
Chương 4: Thực trạng kinh tế và khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam Chương 5: Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình cho Việt Nam và các nước thu nhập trung bình thấp khác tại châu Á
Chương 6: Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU
NHẬP TRUNG BÌNH 1.1 Cách xác định BTNTB trong các nghiên cứu
Thuật ngữ BTNTB được đưa ra một cách gián tiếp bởi Garret (2004) khi quan sát thấy tốc độ tăng trưởng của các nước TNTB đã bị đình trệ kể từ những năm 1980 Thuật ngữ BTNTB được định nghĩa lần đầu tiên bởi Gill và Kharas (2007) trong báo cáo “An East Asian Renaissance”, kể từ đó thuật ngữ BTNTB trong nghiên cứu học thuật đã được phổ biến nhanh chóng Tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2021, trên Google Scholar, có tới hơn 300 bài báo khoa học với thuật ngữ BTNTB (Middle income trap) trong tiêu đề Trong số đó, các bài báo có số lượng trích dẫn nhiều nhất bao gồm nghiên cứu của: Felipe và cộng sự (2012), Aiyar và cộng sự (2013), Egawa (2013), Eichengreen và cộng sự (2013), Islam (2015), Kharas và Kohli (2011), Lin và Treichel (2012)
Trong những năm gần đây, có một số nghiên cứu đặt câu hỏi về sự tồn tại của BTNTB như Barro (2016) cho rằng “Sự chuyển dịch từ mức TNTB lên TN cao là khó khăn nhưng không có bằng chứng chỉ ra sự chuyển dịch này khó hơn so với chuyển từ mức TN thấp lên TNTB”, như vậy, BTNTB cũng không khác biệt so với bẫy thu nhập thấp Nghiên cứu của Im và Rosenblatt (2013) cũng đồng tình tới quan điểm này Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất rằng BTNTB có tồn tại và
là hiện tượng đang ảnh hưởng lớn tới nhiều nước trên thế giới Vấn đề BTNTB đã được nghiên cứu bởi rất nhiều học giả (Ohno, 2009; Eichengreen và cộng sự, 2011; Spence, 2011; Agenor và Canuto, 2012; Felipe và cộng sự, 2012; Tran Van Tho, 2013; Aiyar và cộng sự, 2012; …) Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm khác nhau về BTNTB, nhìn chung chưa có một định nghĩa thống nhất về
“BTNTB”, mặc dù hiện tượng rơi vào BTNTB đang diễn ra Ngoài ra, cách viết về các quốc gia được coi là rơi vào BTNTB cũng rất khác biệt trong các nghiên cứu như
“được coi là BTNTB” (so-called middle-income trap) (Wheatley, 2010), hoặc
“BTNTB, nếu bẫy này tồn tại” (middle-income trap, if such traps exist) (World Bank, 2010) Spence không sử dụng từ “bẫy” nhưng cũng chỉ ra “chuyển đổi từ TNTB sang thu nhập cao là rất khó khăn” (Spence, 2011)
Trang 24Hình 1.1 cho thấy tổng số lượt tìm kiếm tương đối trong Google trends cho cụm từ “middle income trap” từ năm 2010 tới 2021 minh họa cho sự quan tâm tới BTNTB ngày càng tăng kể từ năm 2011
Hình 1.1: Kết quả tìm kiếm Google cho chủ đề Bẫy thu nhập trung bình
(Middle income trap) trong tổng số tìm kiếm
Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả Google trends 1 , 2021
1.1.1 Cách xác định BTNTB
Có hai cách xác định BTNTB bao gồm: cách tiếp cận tuyệt đối và cách tiếp cận tương đối
Cách tiếp cận tuyệt đối
Cách tiếp cận tuyệt đối dựa trên các mức TNTB tuyệt đối Các tác giả như Spence (2011), Felipe (2012), Aiyar và cộng sự (2013) Eichengreen, Park và Shin (2013) sử dụng các giá trị tuyệt đối cho các ngưỡng thu nhập và dựa theo cách phân loại thu nhập của World Bank (Phụ lục 2.1) Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có
ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản
1 Google Trends, Cụm từ Tìm kiếm: “Middle income trap”, truy cập trực tuyến 30.05.2021 Thông tin về
Google Trends: “điểm số 100 phản ánh cụm từ được tìm kiếm rất phổ biến, điểm số 50 là phổ biến ở mức trung bình, điểm số dưới 50 là ít phổ biến ”.
Trang 25ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác
Spence (2011) là người đầu tiên đưa ra khoảng TN cố định để xác định BTNTB, theo đó một nước rơi vào BTNTB khi có TNBQĐN từ 5000 USD tới 10000 USD vì nền kinh tế sẽ đối mặt với nhiều thử thách khi chuyển từ giai đoạn phát triển này sang mức TN cao
Felipe và cộng sự (2012) phân tích GDP PPP1990 của 124 quốc gia dựa trên
bộ số liệu Maddison 2010, do bộ số liệu Maddison 2010 có số liệu tăng trưởng tới năm 2008, các tác giả đã mở rộng số liệu tới 2010 nhờ việc sử dụng tăng trưởng GDP BQĐN (theo local currency và constant prices) từ cơ sở dữ liệu của World Economic Outlook, IMF Cách phân loại nhóm nước theo TN của World Bank thông thường dựa theo GNI BQĐN, do đó không thể áp dụng trực tiếp để phân loại dữ liệu của Maddison Các tác giả đã lựa chọn các ngưỡng thu nhập để đảm bảo các nước được xếp loại TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao ở từng năm giống nhất với kết quả phân loại mà World Bank đưa ra Cuối cùng các tác giả chọn được cách phân loại theo bốn ngưỡng thu nhập sau: thu nhập thấp (dưới 2000 USD), TNTB thấp (2000 – 7250USD), TNTB cao (7250 – 11750 USD) và thu nhập cao (11750 USD) Sau đó chỉ ra một quốc gia được coi là rơi vào BTNTB thấp nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 28 năm, một quốc gia rơi vào BTNTB cao nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 14 năm Và để vượt qua TNTB thấp cần tốc độ tăng trưởng trung bình tối thiểu 4.7%/năm, trong khi để vượt qua TNTB cao cần tốc độ tăng trưởng 3.5%/năm trong giai đoạn nêu trên
Eichengreen (2013) định nghĩa BTNTB là sự tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế thị trường mới nổi Theo họ, một quốc gia đối mặt với tăng trưởng chậm lại ở thời gian t nếu: (1) Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 7 năm của TNBQĐN là 3,5% hoặc lớn hơn so với thời điểm t.; (2) Sau thời gian t, tốc độ tăng trưởng thấp hơn ít nhất 2%; (3) TNBQ lớn hơn $10,000 Tác giả kết luận rằng, tăng trưởng chậm lại chủ yếu xảy ra ở thời điểm chuyển giao thu nhập từ $10000 -11000, và $15000-16000 Nghiên cứu này cập nhật so với nghiên cứu năm 2011 (PWT 6.3) của tác giả do sử dụng PWT 7.1
Trang 26Aiyar và các cộng sự (2013) trong bài nghiên cứu “Tăng trưởng chậm lại và BTNTB” nêu rõ BTNTB là hiện tượng các quốc gia tăng trưởng nhanh, sau khi đạt được mức TNTB không thể tiếp tục tiến lên mức thu nhập cao Nghiên cứu chỉ ra BTNTB thực tế là trường hợp đặc biệt của “tăng trưởng chậm lại” Aiyar chọn ngưỡng TNTB thấp là $2000 và cao là $15000 Tác giả dùng dữ liệu về TNTB cho 138 quốc gia trong 11 thời kỳ (1955 và 2009) Trước tiên, thực hiện hồi quy, với tỷ lệ tăng trưởng của TNBQĐN (dùng trung bình nhân của 5 năm) là biến phụ thuộc, và mức
độ trễ của thu nhập cũng như vốn là các biến độc lập Kết quả hồi quy này cho ra một tốc độ tăng trưởng dự kiến của mỗi nước tại từng thời điểm Phần chênh lệch res t là
sự khác nhau giữa tỷ lệ tăng trưởng thực tế và dự kiến của nước i tại thời điểm t Theo
đó, quốc gia i bị tăng trưởng chậm lại khi phần chênh lệch nhỏ hơn đáng kể so với thời điểm trước đó (t-1) và cũng nhỏ hơn thời điểm tiếp theo (t+1), trong đó mỗi thời
kỳ t là 5 năm Tóm lại, quá trình tăng trưởng chậm lại kéo dài ít nhất 10 năm Tác giả chỉ ra 123 lần tăng trưởng chậm lại từ 1960 (11% tổng số mẫu) Tác giả cũng kết luận rằng các nước TNTB thường bị tăng trưởng chậm lại nhiều hơn so với các nước có thu nhập thấp hoặc cao
Islam (2015) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu TNBQĐN của các nước vào bốn thời điểm, năm 1980, 1990, 2000 và 2010, sao đó xếp các quốc gia vào nhóm nước TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao theo cách định nghĩa của World Bank Một quốc gia được xếp là rơi vào BTNTB khi ở cả bốn mốc thời gian này đều
có TNTB cao vì quốc gia đó đã không chuyển được sang mốc TN cao sau 40 năm
Các nhà kinh tế học của Morgan Stanley khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nghiên cứu các giai đoạn phát triển của lịch sử thế giới và phát hiện ra rằng, trong lịch sử, tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ bị suy giảm sau một số năm tăng trưởng cao Thời điểm suy giảm tăng trưởng thường rơi vào mức GDP BQĐN PPP là 7000USD Dựa trên số liệu của Angus Maddison, họ tìm ra rằng trong 100 năm qua
có tới 40 nền kinh tế bị suy giảm tăng trưởng khi đạt mức TN 7000 USD, trong đó
31 nước có mức suy giảm tăng trưởng trung bình 2,8% sau khi đạt mức TN kể trên (Wang và cộng sự, 2009) Ngoài những nghiên cứu kể trên, Egawa (2013), Yiping và các cộng sự (2014), Dalgic và các cộng sự (2014) and Bozkurt và các cộng sự (2014) cũng nghiên cứu về BTNTB theo cách tiếp cận tuyệt đối
Trang 27Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất
là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác
Cách tiếp cận tương đối
Cách tiếp cận “tương đối” dựa theo TNBQĐN khi so sánh với Mỹ hoặc một quốc gia phát triển khác BTNTB tập trung vào nghiên cứu các nước thất bại trong việc đuổi kịp các nước phát triển như Mỹ và Nhật Các nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận tương đối lập luận rằng mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia là đạt được mức thu nhập cao như các nước phát triển nhất, do đó không nên chỉ nhìn vào thu nhập tuyệt đối của quốc gia đó mà phải có sự so sánh với một quốc gia phát triển (Cai, 2012) Woo (2012), Jankowska và các cộng sự (2012), Im và Rosenblatt (2013), Robertson
và Ye (2013), Bulman và các cộng sự (2014) là những nhà nghiên cứu điển hình tiếp cận BTNTB theo hướng tương đối (Phụ lục 2.2)
Woo (2012) giới thiệu khái niệm về chỉ số đuổi kịp (catch-up index CUI) đo bằng tỷ lệ thu nhập bình quân trên đầu người của một quốc gia với thu nhập bình quân đầu người tại Mỹ Woo sử dụng số liệu về dân số và GDP của Maddison (2010), trong đó GDP đo bằng 1990 Geary Khamis dollars Tác giả chỉ ra một nước có TNTB khi thu nhập của nước đó ở trong khoảng 20% đến 55% TNBQĐN của Mỹ Theo đó, một quốc gia mắc BTNTB nếu chỉ số đuổi kịp giữ ở mức 20-55% trong giai đoạn 1960-2006
Báo cáo “China 2030” của World Bank, 2012 chỉ ra một quốc gia rơi vào BTNTB khi thu nhập nằm trong khoảng 5% đến 45% TNBQ của Mỹ (theo Geary Khamis dollar 1990) Theo cách tiếp cận này, trong số 101 quốc gia có TNTB năm
1960, chỉ có 13 quốc gia trở thành nước có thu nhập cao trước năm 2008 Agenor và Canuto (2012) cũng sử dụng cách định nghĩa này trong nghiên cứu của mình
Trang 28Robertson và Ye (2013) công bố cách kiểm tra BTNTB bằng cách sử dụng dữ liệu PWT (Pen World Table) Tác giả tập trung vào log income gap x i,t = y i,t – y r,t Trong đó, y là log của TNBQTĐN của nước i, và r là nước tham chiếu Theo các tác giả, một nước mắc BTNTB khi: thu nhập của nước đó không khác nhiều so với nước tham chiếu theo thời gian (dùng GDP cố định giá 2005, điều chỉnh theo PPP); thu nhập nằm trong ngưỡng trung bình 8% đến 36% so với Mỹ
Cũng sử dụng cách tiếp cận như Robertson và Ye (2013), Yilmaz (2014) nghiên cứu 57 quốc gia TNTB xem có mắc BTNTB hay không bằng cách sử dụng số liệu từ 1960 đến 2010 Kết quả là 8/57 quốc gia thoát bẫy (Đảo Síp, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Hong Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan) các quốc gia còn lại (Thổ Nhĩ Kỳ và đa số các quốc gia Châu Mỹ La tinh) đều mắc bẫy
Im và Rosenblatt (2013), cũng tiếp cận theo hướng tương đối Các tác giả nghiên cứu phân bố thu nhập tại 127 nước từ 1950 đến 2008 từ số liệu Maddison (2010) Các tác giả đã chia TNTB ra làm ba mức “TB thấp”, “TB vừa” và “TB cao” (phần tô đậm) theo 2 nhóm thu nhập khác nhau:
(1): <15%, 15-30, 30-45, 45-60, và 60% của thu nhập Mỹ
(2): <1/16, 1/16-1/8, 1/8-1/4, ¼-1/2, và >1/2 so với thu nhập của Mỹ
Kết luận chỉ ra rằng quá trình chuyển từ TNTB cao lên TN cao cũng giống như TNTB thấp lên TNTB cao Do đó, các tác giả nghi ngờ về sự tồn tại của BTNTB
Bulman và các cộng sự (2014) phân biệt các quốc gia thành hai nhóm “thoát bẫy” và “không thoát bẫy” Tác giả khẳng định các nước thoát bẫy tăng trưởng nhanh trong mọi mức thu nhập, trong khi nhóm không thoát bẫy có xu hướng tăng trưởng chậm ở các giai đoạn phát triển (không chỉ trong ngưỡng TNTB) Kết luận này mâu thuẫn với các nghiên cứu cho rằng BTNTB là kết quả của việc tăng trưởng chậm lại kéo dài trong mức TNTB Tác giả đã sử dụng cách tiếp cận tương đối, chỉ ra mức TNTB thấp và cao là nằm trong khoảng 10% đến 50% thu nhập của Mỹ (dữ liệu PWT 7.0) Một nước mắc bẫy khi nó nằm trong ngưỡng thu nhập này trong giai đoạn 1960-
2009 và không thể đạt được mức thu nhập cao (>50% GDP BQĐN của Mỹ)
Trang 29Ngoài ra, nghiên cứu của PwC (2014) đưa ra chỉ số thoát bẫy (ESCAPE Index – EI) Một nhóm các nhà kinh tế mà đứng đầu là Hawksworth (2014) đã đưa ra chỉ
số thoát bẫy nhằm phân tích khả năng thoát BTNTB cả các thị trường mới nổi Chỉ
số này gồm 20 chỉ số nhỏ trong 5 lĩnh vực: (i) ổn định và tăng trưởng kinh tế, ii) tiến
bộ và gắn kết xã hội, iii) công nghệ truyền thông, iv) các thể chế chính trị, luật pháp
và quản lý, và v) tính bền vững về môi trường Theo chỉ số thoát bẫy, những quốc gia đang đi đúng con đường thoát bẫy bao gồm Trung Quốc, Chile, Malaysia, Ả rập xê
út, trong khi đó Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ là năm quốc gia mắc BTNTB
Ưu điểm của cách tiếp cận tương đối là so sánh được TN giữa các quốc gia theo thời gian do đó không cần cập nhật các mốc TN để xác định trạng thái của các nước
Điểm chung của hai cách tiếp cận là hầu hết đều tập trung vào các nước Châu
Mỹ La Tinh và Châu Á Các nghiên cứu với cách tiếp cận tuyệt đối chỉ ra BTNTB là
do tăng trưởng chậm lại Cách tiếp cận tương đối chỉ ra BTNTB là do quá trình đuổi kịp bị thất bại Hầu hết các nghiên cứu về BTNTB đều tập trung vào nghiên cứu diễn biến của thu nhập bình quân trên đầu người và tốc độ tăng trưởng của một quốc gia theo thời gian, đồng thời nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tới hai biến số này Nguồn số liệu thường sử dụng của World Bank, Pen World Tables, Maddison (2010)
1.1.2 Danh sách các quốc gia mắc /thoát/ có nguy cơ rơi vào BTNTB trong các nghiên cứu
Từ các cách xác định TNTB và BTNTB khác nhau, kết quả là số lượng các nước được xác định rơi vào BTNTB trong các nghiên cứu cũng khác nhau Theo số liệu của World Bank, trong 101 nước TNTB năm 1960, có 88 nước mắc BTNTB và
13 nước lên được mức TN cao trước 2008: Equatorial Guinea, Hi Lạp, Hong Kong, Ireland, Israel, Nhật Bản, Mauritius, Bồ Đào Nha, Puerto Rico, Hàn Quốc, Singapore, Tây Ba Nha, Đài Loan Hầu hết 88 nước rơi vào BTNTB còn lại nằm ở Châu Mỹ La tinh và Trung Đông
Felipe và cộng sự (2012) xác định có 52 nước có TNTB năm 2010, bao gồm
38 nước là TNTB thấp, 14 nước TNTB cao Trong đó, 30 nước nằm trong BTNTB
Trang 30thấp, 5 nước mắc BTNTB cao Thêm vào đó, 7 nước được xếp là có khả năng rơi vào BTNTB Woo (2012) nghiên cứu các nước Mỹ La Tinh và Đông Á Tác giả chỉ ra 5 quốc gia Mỹ La Tinh là các nước mắc BTNTB (Argentina, Brazil, Chile, Mexico và Venezuela)
Bulman và cộng sự (2014) nghiên cứu sự chuyển giao của các quốc gia giữa
ba mức thu nhập từ 1960 (1970) đến 2009 thông qua cách tiếp cận tương đối Kết quả
là trong 41 nước có TNTB năm 1960, 10 nước đã chuyển sang được mức TN cao, trong đó 24 nước vẫn nằm trong mức TNTB và 7 nước quay lại mức TN thấp
Robertson và Ye (2013) nghiên cứu dữ liệu chuỗi thời gian về TNBQĐN của các quốc gia Các tác giả tiến hành hai loại kiểm tra: Kiểm tra Dickey-Fuller đơn giản trên log của chênh lệch TNBQ xi,t (mô hình không giới hạn) và một mức kiểm tra tương tự nhưng không phải chuỗi thời gian dài hạn trên xi,t (mô hình giới hạn) Trong hình thức kiểm tra thứ hai, giả định đặt ra là tất cả các quốc gia có tốc độ tăng trưởng dài hạn giống nhau Hai cách kiểm tra này cho ra kết quả rất khác nhau (mô hình không giới hạn chỉ ra 6 nước mắc BTNTB, mô hình giới hạn chỉ ra 25 nước mắc BTNTB) Hầu hết các nước trong 25 nước này nằm ở Châu Mỹ La Tinh (6 nước) và Trung Mỹ (6 nước) và Châu Á (6 ở Tây Á, 3 ở Đông Nam Á)
Pruchnik và cộng sự (2017) nghiên cứu trên 186 quốc gia, xem xét khả năng mắc bẫy của các quốc gia này theo những định nghĩa khác nhau về BTNTB Các tác giả đưa ra kết luận hầu hết các quốc gia trong nghiên cứu (112 trên 186 nước, tương đương 60,2%) được xác định mắc BTNTB theo ít nhất một định nghĩa; 48,4% số quốc gia hiện đang mắc bẫy (số liệu World Bank tới 2015); 67 quốc gia được xác định là mắc bẫy theo một số định nghĩa nhưng lại được xác định là thoát bẫy theo định nghĩa khác Nghiên cứu cũng chỉ ra các nước Châu Mỹ La tinh và Ca ri bê chịu ảnh hưởng lớn nhất từ BTNTB, có tới 90,6% các quốc gia trong khu vực này được xác định mắc bẫy theo ít nhất một định nghĩa về BTNTB Ngoài ra một số nghiên cứu khác như Agenor và Canuto (2015); Im và Rosemblatt (2013); Jankowska và cộng sự (2012) không nêu danh sách nhóm mắc BTNTB nhưng liệt kê được các quốc gia đã thoát bẫy (Xem danh sách các quốc gia mắc bẫy và thoát bẫy ở Phụ lục 1)
Nghiên cứu William.T.Wilson (2014) về BTNTB tại khu vực Đông Á, tập
Trang 31trung vào bốn quốc gia là Thái Lan, Indonesia, Philipines và Việt Nam, thông qua phân tích các nhân tố chính quyết định đến BTNTB: nền tảng vĩ mô, cơ cấu dân số,
đô thị hoá, thể chế, cơ cấu thương mại, cơ sở hạ tầng; chiến tranh và xung đột Tác giả chỉ ra Việt Nam là nước có nhiều khả năng rơi vào BTNTB Wing Thye Woo (2009) cho rằng Malaysia hiện đang mắc BTNTB vì nước này vẫn đang sử dụng chiến lược tăng trưởng kinh tế được xây dựng vào năm 1970 khi cấu trúc nền kinh tế Malaysia và các điều kiện kinh tế quốc tế rất khác so với ngày nay Nghiên cứu của Jitsuchon (2012) chỉ ra Thái Lan hiện đang mắc BTNTB Ohno (2017) thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng chính sách công nghiệp và hiệu quả tăng trưởng Kết luận của Ohno là Việt Nam cùng với Ấn Độ, Indonesia Campuchia đã rơi vào BTNTB nhưng chất lượng của chính sách công nghiệp vẫn rất thấp
Theo Cai (2012) và Linda Glawe, Helmut Wagner (2020), Trung Quốc đang phải đối mặt với thách thức trong việc xác định làm thế nào để vượt qua giai đoạn tăng trưởng giảm tốc, điều này đã dấy lên lo ngại rằng Trung Quốc đang, hoặc cũng
sẽ phải đối mặt với BTNTB Nguyễn Minh Phong (2014) nghiên cứu về các khái niệm BTNTB trên thế giới, thách thức BTNTB và ứng phó cần có của Việt Nam Tác giả chỉ ra Việt Nam có thể đối diện với BTNTB do tốc độ tăng trưởng có nguy cơ chậm lại, các nhân tố tăng trưởng theo bề rộng không còn hiệu quả như trước, thiếu các động lực tăng trưởng theo chiều sâu Trong nghiên cứu của Tho (2013), tác giả đưa ra một khung phân tích bao gồm các thuật ngữ như giai đoạn phát triển, điểm chuyển hoán trên thị trường lao động, tăng trưởng dựa trên đầu vào, tăng trưởng dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp, lợi thế so sánh động và yếu tố thể chế Sau đó, nghiên cứu giai đoạn phát triển hiện nay của các nước ASEAN, có so sánh với các nước Đông Á khác, đồng thời đánh giá khả năng vượt BTNTB của các nước ASEAN bằng cách thử so sánh tình trạng hiện nay của các nước đó với kinh nghiệm của Hàn Quốc, một nước đã thành công trong quá trình thoát khỏi BTNTB và phát triển thành nước tiên tiến Phần cuối của nghiên cứu tập trung bàn về khả năng rơi vào BTNTB của Việt Nam Nghiên cứu kết luận nếu không cải cách triệt để, Việt Nam có thể rơi vào trường hợp mà tác giả gọi là sự xuất hiện sớm của BTNTB Nguyễn Văn Luân
và Ngô Văn Hải (2015), Chu Văn Cấp & Nguyễn Đức Hải (2015), Võ Trí Hảo (2016), Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Charles Gore (2017) cũng nhận định
Trang 32Việt Nam có nguy cơ rơi vào BTNTB
Như vậy, chuỗi dữ liệu, thời gian và phương pháp nghiên cứu khác nhau dẫn đến kết quả nghiên cứu rất khác nhau Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các nước Châu Mỹ La Tinh và Châu Á, trong những năm gần đây do tăng trưởng chậm lại diễn
ra tại Trung Quốc nên có thêm nhiều nghiên cứu đặt câu hỏi về khả năng mắc BTNTB của Trung Quốc Về kết quả nghiên cứu, hầu hết các nghiên cứu chỉ ra các nước mắc bẫy nằm ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á, riêng nghiên cứu của Bulman (2014) kết luận nhiều nước mắc BTNTB ở Châu Âu Đối với các nghiên cứu về BTNTB tại Việt Nam, đa số các nghiên cứu chỉ ra Việt Nam đang rơi vào hoặc có nguy cơ đối mặt với BTNTB Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu này một phần cũng xuất phát từ việc chưa có định nghĩa rõ ràng và đồng nhất về BTNTB
1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB
Có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB nhưng tổng hợp lại thì hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào các biến kiểm soát tăng trưởng trong
đó chủ yếu tập trung vào yếu tố vốn nhân lực, công nghệ, vốn đầu tư, thể chế và hội nhập Nói cách khác, các yếu tố được lựa chọn là những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn, rất quan trọng cho các nước TNTB duy trì tăng trưởng kinh tế
1.2.1 Vốn đầu tư
Có nhiều cách giải thích khác nhau đã được đưa ra để giải thích cho sự tồn tại của BTNTB Những lập luận mà các nhà nghiên cứu đưa ra về cơ bản đều chỉ ra sự suy giảm trong tốc độ tăng năng suất là nguyên nhân chính của BTNTB; tuy nhiên các nhà nghiên cứu đưa ra những lý do khác nhau giải thích sự giảm tốc của năng suất và về những chính sách có thể được thực hiện để thúc đẩy tăng năng suất Một trong các lý do được đưa ra để giải thích sự suy giảm tốc độ tăng năng suất là do vốn
tư bản có hiệu suất giảm dần
Lập luận đầu tiên để giải thích về BTNTB (đặc biệt là với những kinh nghiệm
ở Đông Á với Trung Đông và Bắc Phi) liên quan tới năng suất cận biên giảm dần của vốn tư bản Trong giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế, tỷ lệ đầu tư cao (đặc biệt là các khu vực công) tạo ra lợi ích lớn về tăng trưởng trong kinh tế do đầu tư công vừa trực tiếp tác động lên năng suất của các yếu tố đầu vào vừa gián tiếp thúc đẩy đầu tư công thông qua hiệu ứng bổ sung (Agenor, 2012)
Trang 33Kharas và Kohli (2001) chỉ ra rằng các nước TNTB và thu nhập thấp có những kênh tăng trưởng khác nhau Đối với nước thu nhập thấp, tăng trưởng có được
do sự di chuyển các yếu tố, đặc biệt là lao động từ những hoạt động năng suất thấp lên những hoạt động năng suất cao, cụ thể là trong xuất khẩu Chính phủ chỉ có vai trò cung cấp cơ sở hạ tầng hỗ trợ thị trường Tích luỹ tư bản tương đối đơn giản do chỉ yêu cầu thị trường tài chính tốt Tuy nhiên, các quốc gia TNTB phải đối mặt với những điều kiện khó khăn hơn do các yếu tố đã dịch chuyển sang các hoạt động có năng suất cao và hiệu quả đầu tư của vốn lúc này giảm dần Các quốc gia có TNTB phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn để thu hút người tiêu dùng trên thị trường quốc tế, đồng thời cũng phải tập trung vào thị trường nội địa Lúc này, phân bổ thu nhập là vấn đề cần quan tâm vì tăng trưởng phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của nhóm TN thấp và trung bình
Nguyễn Văn Luân và Ngô Văn Hải (2015) chỉ ra giai đoạn 2008 - 2014 tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức bình quân 5,5 - 6%/năm chưa đáp ứng yêu cầu cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững Kinh tế Việt Nam đang ngày càng bộc lộ sự tăng trưởng chậm, năng suất chưa cao, đồng vốn bỏ ra lớn nhưng hiệu quả thấp, khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Do đó, kinh tế Việt Nam phải đối mặt với vấn đề rơi vào BTNTB
Trong nghiên cứu bởi Redding (1996) khẳng định thiếu sót trong đào tạo và giáo dục có thể làm giảm hiệu quả các khoản đầu tư của các công ty về chất lượng sản phẩm Trong mô hình của Redding, công nhân đầu tư vào việc phát triển kỹ năng, trong khi doanh nghiệp đầu tư vào R&D Hai hình thức đầu tư đem lại ảnh hưởng qua lại tích cực và bổ sung lẫn nhau
Trang 34Nghiên cứu của Acemoglu và cộng sự (2006) cung cấp một cơ sở khái niệm thay thế cho BTNTB Trong khuôn khổ nghiên cứu của họ, việc lựa chọn cán bộ quản
lý kỹ năng cao và các công việc để thúc đẩy sự đổi mới quan trọng hơn so với việc
áp dụng (hay mô phỏng) công nghệ nước ngoài Theo lý luận của các tác giả, nếu trình độ và kỹ năng của các nhà quản lý kém, họ sẽ không thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả Không có khả năng nâng cao chất lượng của lực lượng lao động có thể coi là nguyên nhân khiến BTNTB kéo dài, đặc biệt là ở châu Mỹ Latinh
Theo Eichengreen và cộng sự (2011), các nhân tố dẫn tới tăng trưởng chậm lại bao gồm: tốc độ tăng trưởng cao ở giai đoạn đầu, yếu tố nhân khẩu học không thuận lợi, tỷ lệ đầu tư cao và tỷ giá hối đoái thấp Nghiên cứu năm 2013 của các tác giả chỉ
ra nếu tỷ lệ số người được giáo dục trung học trở lên trong tổng dân số càng cao và
tỷ lệ xuất khẩu công nghệ cao thì tăng trưởng chậm lại càng ít xảy ra Jimenez và cộng sự (2012) và Jitsuchon (2012) cũng chỉ ra thiếu hụt lao động có tay nghề và chất lượng là nguyên nhân khiến các quốc gia mắc BTNTB
Stone và Shepherd (2011) cho thấy sự sẵn có của lao động có tay nghề cao là một yếu tố quyết định đặc biệt quan trọng để một công ty có thể tạo ra năng suất từ nhập khẩu hàng hóa trung gian và hàng hoá tư bản, tận dụng những lợi ích đem lại từ thương mại Vai trò của chính sách công trong việc tạo ra ngoại ứng tích cực trong giáo dục cũng được đề cập trong nghiên cứu của Agenor và Canuto (2015)
Theo Refika Atalay (2015), các nước đang phát triển sau khi đạt thu nhập BQĐN 10.000 USD/đầu người phải đối mặt với BTNTB và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế, cải thiện nguồn vốn con người của họ để loại bỏ BTNTB Vốn nhân lực bao gồm kiến thức và kỹ năng mà nhân lực có được Tất cả những điều này cho phép gia tăng sự phát triển của cá nhân và xã hội và sự thịnh vượng về kinh tế Tuy nhiên, thời lượng giáo dục ở các nước đang phát triển càng tăng thì chi phí cá nhân và xã hội càng tăng Do đó, các quốc gia này phải cải thiện các chính sách giáo dục để vừa phát triển nguồn nhân lực vừa giảm chi phí thay thế gây ra cho giáo dục
Bozkurt và các cộng sự (2014) nghiên cứu xem Thổ Nhĩ Kỳ đã rơi vào BTNTB hay chưa bằng cách sử dụng dữ liệu giai đoạn 1971 - 2012 thông qua phân tích hội tụ
và ARDL Thổ Nhĩ Kỳ “hội tụ” các nước có TN cao nhờ hai biến số quan trọng tác động tích cực lên GDP BQĐN là tỷ lệ đi học và tiết kiệm trong nước
Trang 35Nghiên cứu của Agenor và Canuto (2015) sử dụng mô hình OLG phân biệt giữa hai loại kỹ năng lao động, cơ bản và nâng cao, trong đó kỹ năng nâng cao được được nghĩa là những kiến thức chuyên môn có được do tham gia các chương trình giáo dục đại học ở tuổi trưởng thành Các cá nhân với kỹ năng lao động cơ bản và nâng cao đều
có thể làm việc để sản xuất ra hàng hoá cuối cùng nhưng chỉ những người có kỹ năng nâng cao mới có thể làm trong lĩnh vực phát minh, sáng tạo Mô hình nghiên cứu này giả định năng suất cận biên đạt được từ việc tích luỹ kiến thức, kỹ năng sẽ tăng dần nhờ hiệu ứng “learning by doing”
Trong nghiên cứu về Thái Lan của Warr (2011), để có thể thoát BTNTB, Thái Lan phải tăng năng suất lao động thông qua việc đầu tư vào vốn nhân lực, đặc biệt nâng cao chất lượng giáo dục Tác giả cho rằng sự quan liêu của bộ giáo dục là nguyên nhân khiến chất lượng giáo dục của Thái Lan thấp Tran Van Tho (2013), Dinh (2014), Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Tran Thi Ha (2018) khi nghiên cứu về BTNTB tại Việt Nam cũng kết luận Việt Nam muốn thoát BTNTB cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo kĩ năng cho người lao động, đẩy mạnh khả năng nghiên cứu phát triển và tạo môi trường thể chế thuận lợi cho lĩnh vực tư nhân
1.2.3 Công nghệ
Các nghiên cứu định lượng về các quốc gia chỉ ra rằng tăng trưởng chậm lại liên quan trực tiếp đến BTNTB là do năng suất suy giảm không phải đơn thuần là kết quả của việc năng suất cận biên của tích luỹ vốn tư bản bị giảm Nghiên cứu của Yanrui Wu (2013) đã chia năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) thành các yếu tố nhỏ hơn như sáng tạo (tiến bộ công nghệ) và hệ số bắt kịp (thay đổi trong hiệu quả công nghệ) Nghiên cứu sử dụng số liệu của 109 nền kinh tế, giai đoạn 1961 - 2010 Tác giả so sánh hiệu quả của các quốc gia bị ảnh hưởng bởi BTNTB và các quốc gia tránh được BTNTB, kết quả là TFP đóng vai trò quan trọng ở các nước thu nhập cao và các nước thoát BTNTB nhưng lại có tác động ngược chiều tới các nước mắc BTNTB Ngoài
ra, cả ở nước có thu nhập cao vào nước có TNTB, tiến bộ công nghệ và hiệu quả công nghệ đều có tác động cùng chiều tới tăng trưởng
Theo Bulman và cộng sự (2014), các nước thoát TNTB thường có tốc độ tăng trưởng công nghệ cao hơn, lạm phát thấp hơn, quá trình chuyển đổi cơ cấu nhanh hơn (từ nông nghiệp sang công nghiệp) Các nước thoát bẫy cũng có mức độ vốn nhân
Trang 36lực, tỷ trọng xuất khẩu cao hơn, quản lý vĩ mô tốt hơn, phân phối thu nhập công bằng hơn
Aiyar và cộng sự (2013) cũng chỉ ra rằng các nước nằm trong ngưỡng TNTB thường có TFP suy giảm mạnh hơn so với những nước có thu nhập cao và thấp Đồng thời, suy giảm tăng trưởng không phải là một hiện tượng nhất thời, nó có thể kéo dài thời gian chuyển đổi sang mức thu nhập cao, nhưng nó không có nghĩa là các quốc gia sẽ bị “bẫy” lại trong giai đoạn tăng trưởng thấp
Dalgic và các cộng sự (2014) phân tích các chỉ số hiệu quả liên quan tới BTNTB bằng cách sử dụng dữ liệu của 56 quốc gia có TNTB từ 1990 đến 2013 bằng phương pháp Probit Nghiên cứu chỉ ra khác biệt trong chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ và chất lượng thể chế là những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB Jitsuchon (2012) chỉ ra mức độ chi tiêu và hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) thấp, chính phủ Thái Lan chưa thực sự nỗ lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đây cũng là nguyên nhân khiến Thái Lan rơi vào BTNTB
Các nhà kinh tế học như Eichengreen và cộng sự (2012), Agenor và Canuto (2012), Felipe và cộng sự (2012), Ayiar và cộng sự (2013) đều chung quan điểm các quốc gia thoát được BTNTB là do thực thi chiến lược phát triển kinh tế hợp lí, duy trì tăng trưởng sáng tạo và chuyển đổi từ nước nhập khẩu sang xuất khẩu sáng kiến, công nghệ Tăng trưởng trong sáng tạo giúp tăng năng suất, giúp các quốc gia đạt mức tăng trưởng kinh tế cao hơn và dần thoát khỏi BTNTB Nghiên cứu về các quốc gia Đông Nam Á, Daniel Kasenda (2013) cũng chỉ ra muốn thoát BTNTB phải tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động chính phủ, đầu tư cơ sở hạ tầng và nghiên cứu khoa học công nghệ Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể là cơ hội giúp các quốc gia như Malaysia, Thái Lan vượt BTNTB thành công, để đạt được điều đó, các quốc gia này cần có sự chuẩn bị sẵn sàng và phản ứng nhanh thích ứng với sự thay đổi công nghệ như nâng cao hiểu biết về công nghệ số, đẩy mạnh kỹ năng, trình độ học vấn của người lao động, điều chỉnh cơ cấu dân số, mở rộng quy mô thị trường nội địa và nâng cao vị trí trong chuỗi sản xuất toàn cầu (Keun và cộng sự, 2020)
Theo Nguyễn Minh Phong (2014) và Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Việt Nam muốn thoát BTNTB cần tập trung nâng cao trình độ khoa học công nghệ, tăng cường ảnh hưởng của các nhân tố năng suất tổng hợp Klingler-Vidra và
Trang 37cộng sự (2020) chỉ ra khi Việt Nam vượt qua ngưỡng của World Bank từ “TN thấp” sang “TNTB thấp”, chính phủ Việt Nam bắt đầu quan tâm tới vấn đề “BTNTB” và xác định “chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN)” là yếu tố quan trọng nhất duy trì tăng trưởng kinh tế và giúp tránh bẫy
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các quốc gia rơi vào BTNTB do các mặt hàng xuất khẩu không đa dạng và không có khả năng sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao (như trong nghiên cứu của Felipe và cộng sự 2012, Eichengreen và cộng sự 2013, Lin và Treichel 2012) Eichengreen và cộng sự (2013) chỉ ra tăng trưởng chậm lại thường ít xảy ra ở những nước có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đa dạng và các mặt hàng công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu Lin và Treichel (2012) phân tích kinh nghiệm phát triển kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc trong thập niên 60 - 90, đồng thời nghiên cứu sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc trong những năm gần đây Kết quả cho thấy những quốc gia này đều có
sự thay đổi trong cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng hiện đại hoá, do đó các nước châu Mỹ La Tinh muốn thoát BTNTB cần học hỏi từ các quốc gia trên, chính phủ cần
có chính sách hỗ trợ những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh, thúc đẩy ngành công nghiệp công nghệ cao
1.2.4 Thể chế
Theo Kanchoochat (2014) thể chế kém là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến BTNTB Các tác giả cũng chỉ ra rằng các chính sách phát triển không đủ và không phù hợp là nguyên nhân khiến các quốc gia rơi vào BTNTB Paus (2014) điều tra một
số nước Châu Mỹ La tinh những năm 2000 Các tác giả tiếp cận theo hướng tập trung vào năng suất của các quốc gia và chỉ ra rằng cần phải có sự thay đổi thể chế các quốc gia này mới thoát được BTNTB Chính sách chính phủ mang tính chiến lược, năng động và toàn diện là yếu tố cốt lõi giúp các quốc gia đạt được mức thu nhập cao Thể chế cũng là một trong bảy yếu tố khiến tăng trưởng chậm lại tại các quốc gia mắc BTNTB Châu Mỹ La Tinh và Châu Á được chỉ ra trong nghiên cứu của Aiyar và cộng sự (2013) Theo nghiên cứu của Kharas và Kohli (2011), các quốc gia trong BTNTB không thể điều chỉnh các chính sách tăng trưởng hợp lý để đạt được mức thu nhập cao hơn Wing Thye Woo (2009) cho rằng Malaysia hiện đang mắc BTNTB vì nước này vẫn đang sử dụng chiến lược tăng trưởng kinh tế được xây dựng vào năm
Trang 381970 không phù hợp với tăng trưởng dựa trên tri thức, chiến lược này đã khiến Malaysia rơi vào BTNTB
Võ Trí Hảo (2016) chỉ ra những bất cập trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam đó là vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế còn quá lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được tạo điều kiện để phát triển do đó Việt Nam có nguy cơ rơi vào BTNTB Ohno (2017) thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng chính sách công nghiệp và hiệu quả tăng trưởng Nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng chính sách công nghiệp thiếu chất lượng là nguyên nhân chính gây ra BTNTB tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ngày nay trong đó có Việt Nam Một trong những giải pháp được Tran Van Tho (2013) đưa ra để các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng vượt BTNTB thành công là xây dựng hệ thống thể chế
để hỗ trợ cho khu vực tư nhân phát triển Charles Gore (2017) cho rằng Việt Nam cần cải cách chính sách mạnh mẽ, xây dựng chính phủ hiệu quả và lĩnh vực tư nhân năng động với các doanh nghiệp lớn để có thể thoát BTNTB thành công
Chính sách và thể chế kém khiến gia tăng bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia TNTB Trong quá trình phát triển của mình, các nước thu nhập thấp sẽ chuyển đổi sản xuất từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, khoảng cách thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất sẽ tăng lên Sau khi đạt mức TNTB, sự phát triển của giáo dục và quá trình công nghiệp hoá sẽ giúp giảm bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, bất bình đẳng thu nhập kéo dài trong giai đoạn TNTB có thể là nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng; nguyên nhân chính là nó có thể ngăn các cá nhân có ít tài sản (và con cái của họ) phát triển kỹ năng vì không thể có tài sản đảm bảo cho các khoản vay để giáo dục cao cấp Bất bình đẳng thu nhập cũng gây ra bất ổn xã hội và kéo lùi tăng trưởng kinh tế Egawa (2013) đưa ra lý do tương tự giải thích tại sao các nước TNTB không thể tiếp tục tăng trưởng với tốc độ như trước nếu thể chế kém và bất bình đẳng thu nhập vẫn giữ ở mức cao hoặc trở nên tệ hơn ở giai đoạn phát triển
đó Panther và Flechtner (2015) phân tích BTNTB cho 67 quốc gia có TNTB với số liệu giai đoạn 1976 đến 2009 bằng phương pháp so sánh tương đối định tính Nghiên cứu chỉ ra bất bình đẳng trong nước và quốc tế là nguyên nhân chính khiến các nước rơi vào BTNTB
1.2.5 Hội nhập
Trang 39Aiyar và cộng sự (2013) xác định yếu tố quyết định đến “tăng trưởng chậm lại”, nhấn mạnh tầm quan trọng của thể chế, nhân khẩu học, cơ sở hạ tầng, cơ cấu thương mại Các tác giả phát triển một sơ đồ bẫy (“trap map”) cho các nước TNTB ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á (MENA) Sơ đồ này chỉ ra 7 yếu tố: Thể chế, dân số, thông tin liên lạc, đường xá, cơ cấu sản lượng, yếu tố vĩ mô và thương mại đóng vai trò quan trọng đối với nguy cơ tăng trưởng chậm lại Kết quả chỉ ra rằng các nước Châu Á có nguy cơ bị tăng trưởng chậm lại do yếu tố thông tin liên lạc, trong khi đó yếu tố thương mại đóng vai trò làm giảm nguy cơ suy giảm tăng trưởng Điều này khác với các nước ở Châu Mỹ La Tinh
Về giải pháp thoát BTNTB, Uruguay đã áp dụng các chính sách phát triển hiệu quả như tham gia Mercosur - hiệp định thương mại tự do cùng với Argentina và Brazil trong những năm 1990, thực hiện cải cách những năm 2000 với mục tiêu thu hút FDI,
đa dạng hoá xuất khẩu và tạo ra môi trường hỗ trợ đổi mới sáng tạo (Barrios và các cộng sự, 2010) Những cải cách đó đã giúp quốc gia này phục hồi sau khủng hoảng tài chính năm 1994 và 2002, đạt được năng suất và tốc độ tăng trưởng cao
Nghiên cứu của Lembaran (2018) so sánh các quốc gia Đông Nam Á với các quốc gia Đông Bắc Á (đặc biệt là Hàn Quốc) nhằm tìm ra nguyên nhân các quốc gia Đông Nam Á rơi vào BTNTB Kết quả của nghiên cứu chỉ ra các quốc gia Đông Nam
Á không thể vượt khỏi BTNTB một phần là do các nước này quá phụ thuộc vào đầu
tư nước ngoài và công nghệ nước ngoài trong lĩnh vực xuất khẩu
Tran Van Tho (2014) cũng khẳng định kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây tăng trưởng chủ yếu nhờ vào khu vực FDI nhưng tốc độ tăng trưởng không cao Việc Việt Nam quá phụ thuộc vào FDI cũng dẫn tới hệ lụy là sự mất cân bằng trong
cơ cấu, các lĩnh vực tập trung nhiều vốn FDI thì phát triển trong khi các lĩnh vực khác thì không Thêm vào đó, mối liên kết dọc giữa doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp trong nước cũng rất yếu, do vậy hiệu ứng lan tỏa của FDI còn hạn chế Võ Trí Hảo (2016) chỉ ra doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đang được nhận quá nhiều ưu đãi trong khi đóng góp của những doanh nghiệp này vào tăng trưởng chưa cao, đồng thời các doanh nghiệp này cũng gây ra nhiều ảnh hưởng lên môi trường, điều này không tốt cho tăng trưởng trong dài hạn này khiến Việt Nam đối mặt với nguy cơ rơi vào BTNTB
Trang 40Theo Nguyễn Minh Phong (2014), Việt Nam muốn thoát BTNTB cần có biện pháp khai thác tốt nguồn vốn FDI, kiều hối; thúc đẩy các hiệp định thương mại song phương Nguyễn Văn Luân và Ngô Văn Hải (2015) cho rằng Việt Nam sẽ thoát được BTNTB nếu chuyển đổi triệt để mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, thực hiện quyết liệt chiến lược về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực Nguyễn Quỳnh Huy (2019) chỉ ra các nước thành công trong thoát khỏi BTNTB có chất lượng nhân lực cao hơn, nhất là tỷ lệ nhân lực tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển, mức độ bất bình đẳng và khu vực phi chính thức thấp hơn Đặc biệt các nước này có mức độ liên kết sâu với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy cơ chế nâng cấp công nghệ trong quá trình phát triển Do đó, các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) muốn thoát BTNTB cần ưu tiên thúc đẩy môi trường để tăng tính kết nối giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, đầu tư mạnh vào giáo dục gắn liền với nghiên cứu và phát triển, giảm bớt tình trọng bất bình đẳng và quy mô của khu vực phi chính thức
Trong nghiên cứu của mình Dinh (2014) kết luận rằng nếu muốn tiếp tục con đường tăng trưởng kinh tế nhanh, thì Việt Nam phải thực hiện chuyển đổi cơ cấu để nâng người lao động từ nền nông nghiệp năng suất thấp và chỉ lắp ráp các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu lên các hoạt động năng suất cao hơn Tác giả cho thấy có sự khác biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp được hỗ trợ bởi vốn FDI Các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp FDI thường không có sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nhỏ trong nước Kết quả là, sản phẩm cuối cùng có ít giá trị gia tăng; công nghệ và chuyên môn không được chia sẻ; và nền kinh tế đã không thể tiến lên nấc thang chuyển đổi cơ cấu Để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, cần thực hiện các biện pháp thúc đẩy sự mở rộng của các doanh nghiệp nhỏ trong nước, đồng thời giúp các doanh nghiệp này đạt được năng suất cao hơn thông qua hội nhập thương mại Việt Nam cần thu hút FDI vào những lĩnh vực sản xuất đã có lợi thế so sánh và tạo dựng được thị phần như các ngành kinh doanh nông sản, hàng may mặc và gỗ
1.2.6 Các yếu tố khác
Yiping và các cộng sự (2014) sử dụng số liệu của 80 quốc gia từ 1990 tới 2013