1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam

221 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bẫy Thu Nhập Trung Bình: Kinh Nghiệm Quốc Tế Và Hàm Ý Chính Sách Cho Việt Nam
Tác giả Lê Phương Thảo Quỳnh
Người hướng dẫn PGS, TS Từ Thúy Anh, PGS, TS Hoàng Xuân Bình
Trường học Trường Đại học Ngoại thương
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 221
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án hệ thống hóa được cơ sở khoa học (bao gồm cơ sở lý thuyết và thực tiễn) về bẫy thu nhập trung bình (BTNTB), xác định được các yếu tố khiến các quốc gia rơi vào BTNTB, những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB. Dựa vào các nghiên cứu quốc tế đi trước, luận án đã xác định được các cách để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Trong luận án, NCS đã kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích, tổng hợp so sánh, tới phương pháp định lượng và phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu, khảo sát của luận án Luận án đã xây dựng được phương pháp luận đầy đủ để nghiên cứu về BTNTB mà bất cứ quốc gia nào có đặc điểm tương đồng Việt Nam (tức là đang trong giai đoạn TNTB thấp) có thể áp dụng để nghiên cứu cho quốc gia mình, cụ thể như sau: Luận án đã khái quát hóa được những yếu tố chung và đặc trưng khiến các nền kinh tế vượt/mắc BTNTB tại châu Á; đồng thời áp dụng các cách xác định BTNTB, các tiêu chí so sánh và lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam. Luận án dùng mô hình dữ liệu bảng xác định được các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác Châu Á. Cuối cùng, từ kinh nghiệm BTNTB trong khu vực, thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á, xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, định hướng phát triển kinh tế của chính phủ, luận án đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam để vượt BTNTB thành công bao gồm thúc đẩy tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng thể chế; chính phủ can thiệp linh hoạt vào nền kinh tế; nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư, tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế quốc tế

LÊ PHƯƠNG THẢO QUỲNH

Hà Nội - 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 9310106

LÊ PHƯƠNG THẢO QUỲNH

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Từ Thúy Anh PGS, TS Hoàng Xuân Bình

Hà Nội - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do chính tôi hoàn thành Các tài liệu tham khảo, số liệu thống kê được sử dụng trong luận án có nguồn trích dẫn đầy đủ và trung thực Kết quả nêu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nghiên cứu sinh

Lê Phương Thảo Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình lên ý tưởng và hoàn thành luận án “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, tác giả đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình và sự quan tâm chia sẻ của các thầy cô, gia đình

và đồng nghiệp

Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS, TS Từ Thúy Anh

và PGS, TS Hoàng Xuân Bình, hai thầy cô hướng dẫn đã dành trọn tâm huyết hỗ trợ, động viên, giúp đỡ và đưa ra những lời khuyên vô cùng hữu ích cho tác giả trong quá trình xây dựng và hoàn thành luận án Những lời góp ý đầy chuyên môn của PGS, TS

Từ Thúy Anh và PGS, TS Hoàng Xuân Bình đã giúp tác giả có đường hướng rõ ràng

và thêm nhiều ý tưởng mới cho luận án

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm và các đồng nghiệp trong Khoa Kinh tế Quốc tế, đồng nghiệp trong

Bộ môn Kinh tế vĩ mô - Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tác giả trong suốt quá trình làm việc, học tập và nghiên cứu

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Khoa Sau đại học - Trường Đại học Ngoại thương đã hỗ trợ và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án

Cuối cùng, tác giả muốn dành lời cảm ơn sâu sắc cho gia đình, chồng, con và bạn bè đã luôn ở bên thông cảm, chia sẻ, động viên và tạo động lực để tác giả hoàn thành luận án

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU x

DANH MỤC HÌNH xi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 3

2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 5

4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 5

4.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 5

4.1.2 Phương pháp phân tích 6

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 6

4.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 6

4.2.2 Phương pháp phân tích 6

5 Đóng góp của luận án 7

5.1 Về lý luận 7

5.2 Về thực nghiệm 7

6 Kết cấu của luận án 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 9

1.1 Cách xác định BTNTB trong các nghiên cứu 9

Trang 6

1.1.1 Cách xác định BTNTB 10

1.1.2 Danh sách các quốc gia mắc /thoát/ có nguy cơ rơi vào BTNTB trong các nghiên cứu 15

1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB 18

1.2.1 Vốn đầu tư 18

1.2.2 Vốn nhân lực 19

1.2.3 Công nghệ 21

1.2.4 Thể chế 23

1.2.5 Hội nhập 24

1.2.6 Các yếu tố khác 26

1.3 Khoảng trống nghiên cứu 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 30

2.1 Khái niệm về bẫy thu nhập trung bình 30

2.1.1 Khái niệm về ngưỡng TNTB và BTNTB 30

2.1.2 Ảnh hưởng của BTNTB lên kinh tế xã hội 35

2.2 Luận giải BTNTB theo các lý thuyết tăng trưởng 36

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB 42

2.3.1 Vốn đầu tư 42

2.3.2 Vốn nhân lực 43

2.3.3 Công nghệ 44

2.3.4 Thể chế 45

2.3.5 Hội nhập 46

CHƯƠNG 3: KINH NGHIỆM CỦA CÁC NỀN KINH TẾ VƯỢT HOẶC MẮC BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI CHÂU Á 48

3.1 Các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công 48

3.1.1 Thu nhập và tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công 48

3.1.2 Các yếu tố giúp các nền kinh tế châu Á vượt BTNTB thành công 53 3.2 Các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB 73

Trang 7

3.2.1 Thu nhập và tăng trưởng của các nền kinh tế châu Á mắc BTNTB

73

3.2.2 Các yếu tố khiến các nền kinh tế châu Á mắc bẫy thu nhập trung bình 77

CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG KINH TẾ VÀ KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM 85

4.1 Tổng quan kinh tế Việt Nam 85

4.1.1 Thu nhập và tăng trưởng của kinh tế Việt Nam 85

4.1.2 Đánh giá chung về kinh tế Việt Nam giai đoạn 2002 - 2020 89

4.2 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam 93

4.2.1 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam theo các cách tiếp cận 93

4.2.2 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam bằng cách so sánh các tiêu chí 100

4.2.3 Đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam theo ý kiến chuyên gia và gợi ý kịch bản 108

CHƯƠNG 5: MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC THU NHẬP TRUNG BÌNH THẤP KHÁC TẠI CHÂU Á 111

5.1 Thu nhập và tăng trưởng của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á (nhóm LMICA) từ năm 2002 đến năm 2020 111

5.1.1 Thu nhập và tăng trưởng kinh tế của nhóm LMICA 111

5.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập, tăng trưởng của nhóm LMICA 112

5.2 Định lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm LMICA 116

5.2.1 Mô hình nghiên cứu 116

5.2.2 Biến số và thước đo 117

5.2.3 Mô tả thống kê và tương quan 122

5.2.4 Kết quả và thảo luận 125

CHƯƠNG 6 HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 130

Trang 8

6.1 Xu hướng phát triển kinh tế thế giới và định hướng phát triển kinh

tế của chính phủ Việt Nam 130

6.1.1 Xu hướng phát triển kinh tế thế giới 130

6.1.2 Định hướng phát triển kinh tế của chính phủ Việt Nam 132

6.1.3 Gợi ý kịch bản kinh tế Việt Nam 2021 - 2030 134

6.2 Những hàm ý chính sách cho Việt Nam 136

6.2.1 Tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động 136

6.2.2 Thúc đẩy vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng 139

6.2.3 Đổi mới và nâng cao chất lượng thể chế 141

6.2.4 Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế một cách linh hoạt và hiệu quả 142

6.2.5 Nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động vốn đầu tư 143

6.2.6 Tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế - Nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng FDI 145

6.2.7 Một số hàm ý chính sách khác 147

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 151

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC QUỐC GIA MẮC BẪY VÀ THOÁT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH 172

PHỤ LỤC 2: CÁC CÁCH TIẾP CẬN BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TRONG CÁC NGHIÊN CỨU 174

PHỤ LỤC 3: ĐẶC ĐIỂM ĐẶC TRƯNG GIÚP CÁC NỀN KINH TẾ CHÂU Á VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH THÀNH CÔNG 176

PHỤ LỤC 4: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THU NHẬP VÀ TĂNG TRƯỞNG CỦA KINH TẾ VIỆT NAM 181

PHỤ LỤC 5: MÔ HÌNH ARIMA DỰ BÁO THU NHẬP CHO VIỆT NAM (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA FELIPE VÀ CỘNG SỰ, 2012) 197

PHỤ LỤC 6: DỰ BÁO GDP BQĐN CỦA VIỆT NAM THEO SỐ LIỆU IMF (PHƯƠNG PHÁP FELIPE, 2012) 198 PHỤ LỤC 7: KIỂM TRA TÍNH DỪNG CỦA CHUỖI THU NHẬP TƯƠNG ĐỐI THEO ADF VÀ PHILLIPS PERRON (THEO PHƯƠNG PHÁP CỦA

Trang 9

ROBERTSON & YE, 2014) 199 PHỤ LỤC 8: PHƯƠNG PHÁP PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA VÀ XÂY DỰNG KỊCH BẢN KINH TẾ 201 PHỤ LỤC 9: BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA 203 BẢNG ĐIỀU TRA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH TẠI VIỆT NAM 203 PHỤ LỤC 10: CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KHẢ NĂNG VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021 - 2030 207

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TỪ TIẾNG VIỆT

TỪ TIẾNG ANH

ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á

ASEAN Association of South East

Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

BRICS Brazil, Russia, India,

China, and South Africa Nhóm các nền kinh tế mới nổi BRICS CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng

CUI Catch - up Index Chỉ số đuổi kịp

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước

Trang 11

GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc dân

GNP Gross National Product Tổng sản phẩm quốc dân

ICAC Independent Commission

Against Corruption

Ủy ban độc lập chống tham nhũng

ICOR Incremental Capital

Output Ratio

Hệ số hiệu quả sử dụng vốn

IMF International Monetary

Fund

Quỹ tiền tệ quốc tế

IT Information&Technology Công nghệ thông tin

LMICA Lower Middle Income

Countries in Asia

Các nước thu nhập trung bình thấp tại châu Á

OLG Overlapping Generation Mô hình thế hệ đan chéo

PPP Purchasing Power Parity Ngang giá sức mua

PWT Penn World Tables Dữ liệu Penn World Tables

R&D Research and development Nghiên cứu và phát triển

TFP Total Factor Productivity Năng suất các yếu tố tổng hợp

VAR Vector Autocorrelation

Regression

Mô hình vectơ tự hồi quy

Outlook

Triển vọng phát triển thế giới

OECD Organisation for Economic

Co-operation and Development

Trang 12

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB 27

Bảng 2.1: Phân loại các nước theo thu nhập 31

Bảng 2.3: Tóm tắt luận giải về BTNTB về mặt lý thuyết 42

Bảng 3.1 Các giai đoạn đạt TNTB thấp và TNTB cao 48

Bảng 3.2: Tỷ lệ tích lũy vốn/GDP của Singapore 54

Bảng 3.3: Đầu tư và hiệu quả đầu tư của các quốc gia Đông Á giai đoạn 1965 - 1995 56

Bảng 3.4: Tỷ trọng xuất khẩu một số mặt hàng của Hàn Quốc (1965 - 1994) Bảng 3.5: Kinh tế các nền kinh tế châu Á thành công trong giai đoạn TNTB 72

Bảng 3.6: Kinh tế các quốc gia châu Á mắc BTNTB 84

Bảng 4.1: Dự báo tăng trưởng và TNTB của Việt Nam (dùng mô hình ARIMA) 95

Bảng 4.2: Dự báo tăng trưởng và TNTB của Việt Nam (số liệu World Bank) 96

Bảng 4.3: So sánh giáo dục Việt Nam và các nền KT thành công ở Châu Á 102

Bảng 4.4: Tỷ lệ xuất khẩu/GDP của Việt Nam và các nền kinh tế thoát BTNTB 106

Bảng 5.1: Các biến số trong mô hình dữ liệu bảng 120

Bảng 5.2: Mô tả thống kê và tương quan các biến 122

Bảng 5.3: Mô tả tương quan các biến 125

Bảng 5.4: Kết quả ước lượng 126

Bảng 6.1: Mục tiêu phát triển kinh tế Việt Nam năm 2020 và 2030 133

Trang 13

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Sơ đồ khung phân tích 4 Hình 1.1: Kết quả tìm kiếm Google cho chủ đề Bẫy thu nhập trung bình (Middle income trap) trong tổng số tìm kiếm 10 Hình 2.1: 5 giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế 40 Hình 2.2: Mô hình tăng trưởng của Tran Van Tho (2013) 41 Hình 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của các nền kinh tế châu Á thành công và Mỹ 49 Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trong giai đoạn TNTB 51 Hình 3.3: Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%) 55 Hình 3.4: Vốn nhân lực các nước châu Á thành công và Mỹ giai đoạn 1950

- 1995 57

Hình 3.5: TFP các nước Đông Á và Mỹ giai đoạn 1951 -1995 61

Hình 3.6: GDP BQĐN của Philippines, Indonesia và một số quốc gia phát triển 74 Hình 3.7: Tăng trưởng kinh tế của Philippines 74 Hình 3.8: Tăng trưởng kinh tế của Indonesia 76 Hình 3.9: Vốn nhân lực của Philippines và Indonesia giai đoạn 1953 - 2017 80 Hình 3.10: TFP của Philippines và Indonesia giai đoạn 1953 - 2017 80 Hình 4.1: GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới giai đoạn 2002 - 2020 85 Hình 4.2: Tăng trưởng GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới từ 2008 - 2020 (tính theo USD hiện hành) 86 Hình 4.3: Tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế Việt Nam 87 giai đoạn 2002 – 2020 (%) 87 Hình 4.4: Tỷ lệ đóng góp vào GDP Việt Nam của từng khu vực kinh tế 88 Hình 4.5: Tăng trưởng thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ 98 Hình 4.6: Tăng trưởng và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam 100 Hình 4.7: Số năm giáo dục của các nhóm nước so với Mỹ (%) 102 Hình 4.8: Số lượng bằng phát minh sáng chế 104

Trang 14

Hình 4.9: Chỉ số đa dạng xuất khẩu 107 Hình 4.10: Mức độ ảnh hưởng và tính bất định của các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam 110 Hình 5.1: Thu nhập tương đối và tăng trưởng GDP BQĐN của Việt Nam và

cả nhóm LMICA 112 Hình 5.2: Chi tiêu chính phủ và vốn đầu tư của Việt Nam và nhóm LMICA 112 Hình 5.3: FDI ròng vào trong nước của Việt Nam và nhóm LMICA 113 Hình 5.4: Tỷ dân số sử dụng internet của Việt Nam và nhóm LMICA 113 Hình 5.5: Tỷ lệ nhập học đại học và cao đẳng của Việt Nam và nhóm LMICA 114 Hình 5.6: Chỉ số nhận thức tham nhũng của Việt Nam và nhóm LMICA 114 Hình 5.7: Tỷ lệ dân số thành thị của Việt Nam và nhóm LMICA 115 Hình 6.1: Kịch bản tăng trưởng của Việt Nam từ 2021 tới 2030 134

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khái niệm bẫy thu nhập trung bình (middle-income trap - BTNTB) xuất hiện lần đầu tiên trong báo cáo của Gill và Kharas công bố năm 2007 bởi World Bank Theo đó, BTNTB là tình trạng các quốc gia đã đạt được mức thu nhập trung bình (TNTB) nhưng sau đó mắc kẹt tại mức thu nhập ấy và không thể đạt được mức thu nhập cao do không thể duy trì đà tăng trưởng như trước Nhiều nước ở Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Phi đã mắc BTNTB như Brazil, Mexico, Iran, Li Băng, Ai Cập, Jordan, Nam Phi… Tại khu vực Đông Nam Á, nhiều quốc gia cũng đối mặt với BTNTB như Indonesia, Philipines, Thái Lan… Vì vậy, BTNTB đã trở thành đề tài nóng, thường xuyên được nghiên cứu, phân tích bởi các tổ chức quốc tế như World Bank, IMF, ADB, OECD… và nhận được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu

và làm chính sách trên thế giới

Theo tính toán của World Bank dựa trên chỉ số GNI/người, kinh tế Việt Nam

đã đạt mức TNTB thấp từ năm 2009 với mức thu nhập bình quân đầu người (BQĐN)

là 1.120 USD (Beliner và cộng sự, 2013) GNI BQĐN của Việt Nam năm 2020 là 2.660 USD (World Bank, 2021), với mức tăng trưởng 4,7% (như bình quân giai đoạn

2011 - 2019), phải tới năm 2030 GNI BQĐN của Việt Nam mới đạt mức TNTB cao (4.045 USD) và Việt Nam sẽ đạt mức thu nhập cao (từ 12.535 USD trở lên) vào năm

2054 Với cách phân loại quốc gia theo thu nhập (sử dụng chỉ số GDP BQĐN PPP 1990) từ bộ số liệu Maddison (2010), Felipe và cộng sự (2012) chỉ ra Việt Nam đã đạt mức TNTB từ năm 2002 với 2.023 USD/người Giai đoạn 2002 - 2010, tốc độ tăng trưởng GDP BQĐN đạt 6,1% Việt Nam muốn thoát khỏi BTNTB thấp thì phải đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 4,3% trong giai đoạn 2010 - 2029

Có thể nói, nếu so sánh với chính mình theo trục thời gian, Việt Nam đã đạt được thành công nhất định, nhưng để vươn lên thành quốc gia có kinh tế phát triển

và thu nhập cao trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore thì còn nhiều khó khăn Kinh tế Việt Nam những năm gần đây đã đạt được những thành tựu như tốc độ tăng trưởng kinh tế cao so với khu vực và thế giới, lạm phát ổn định, cán cân thương mại và cán cân thanh toán có nhiều cải thiện Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam cũng bộc

Trang 16

lộ nhiều tồn tại như đầu tư kém hiệu quả, chất lượng lao động thấp, nền kinh tế thâm dụng tài nguyên, thị trường tài chính chưa thực sự phát triển, hệ thống ngân hàng tiềm

ẩn nhiều rủi ro, ô nhiễm môi trường, tham nhũng… Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế chỉ ra Việt Nam hiện đang đối mặt với nguy cơ rơi vào BTNTB, Đại hội XIII của Đảng cũng khẳng định BTNTB là một trong bốn nguy cơ lớn của dân tộc Việt Nam

Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành

lập Đảng, Việt Nam trở thành quốc gia có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình

cao Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát

triển, thu nhập cao Điều đó cho thấy, vượt BTNTB để đạt được các mục tiêu kể trên vừa là vấn đề khoa học, vừa là nhiệm vụ chính trị, vừa là trách nhiệm quốc gia

Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm trả lời câu hỏi “làm thế nào để vượt BTNTB?” với những phân tích, đánh giá và những bằng chứng cụ thể Tuy nhiên, đặt vấn đề nghiên cứu so sánh để tìm ra yếu tố quyết định của hai nhóm quốc gia “vượt BTNTB” và “mắc BTNTB”, cùng với những phân tích từ chính năng lực nội tại của kinh tế Việt Nam, để từ đó đề xuất những hàm ý chính sách giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công, là một lựa chọn thuyết phục về mặt học thuật, thích hợp - nhìn từ bối cảnh và điều kiện thực tiễn Chính vì vậy, NCS quyết định chọn đề tài: “Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam” Thông qua luận án, NCS đưa ra nghiên cứu sâu hơn về kinh nghiệm vượt/mắc BTNTB của các quốc gia trên thế giới, áp dụng các cách xác định BTNTB và mô hình được đưa ra bởi các nghiên cứu quốc tế để phân tích về BTNTB tại Việt Nam và đưa ra các hàm ý chính sách có ý nghĩa với kinh tế Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm ra điểm khác biệt giữa nhóm nước thoát BTNTB và mắc BTNTB, các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB ở các quốc gia trên thế giới, xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Từ đó, đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam, giúp Việt Nam tăng trưởng cao, bền vững và vượt BTNTB thành công

Trang 17

2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Nghiên cứu những đặc điểm giúp Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công Nghiên cứu những yếu tố khiến Philippines, Indonesia rơi vào BTNTB Rút ra những đặc điểm chung và khác biệt giữa các quốc gia này và tìm ra bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam

Định lượng được ảnh hưởng của các yếu tố trong nền kinh tế tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á bao gồm 13 quốc gia: Việt Nam, Ấn

Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan giai đoạn 2002 - 2020

Dựa vào các định nghĩa mà những nghiên cứu quốc tế đưa ra và lấy ý kiến chuyên gia để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Từ đó, đưa ra gợi ý chính sách cho Việt Nam

2.3 Câu hỏi nghiên cứu và khung phân tích

Nghiên cứu cần trả lời cho những câu hỏi sau: i) Yếu tố nào khác biệt giữa nhóm quốc gia mắc BTNTB và nhóm vượt BTNTB thành công?; (ii) Thực trạng kinh

tế Việt Nam hiện nay và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam như thế nào?; (iii) Các yếu tố có ảnh hưởng ra sao tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á?; (iv) Từ kinh nghiệm quốc tế và thực trạng kinh tế Việt Nam, có thể rút ra hàm ý chính sách để Việt Nam tăng trưởng bền vững và nhanh chóng đuổi kịp các nước TNTB cao và sau đó là thu nhập cao trên thế giới? Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên, NCS sử dụng khung phân tích như sau:

Trang 18

Hình 1: Sơ đồ khung phân tích

Nguồn: Tác giả, 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới đối với BTNTB; khả năng vượt BTNTB của Việt Nam; nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến BTNTB ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam

Khách thể nghiên cứu: Các quốc gia trên thế giới, tập trung vào các quốc gia

châu Á (trong đó có Việt Nam)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu về kinh nghiệm mắc/thoát BTNTB của

các quốc gia trên thế giới, đánh giá ước lượng các yếu tố quyết định khả năng thoát

Các nền kinh tế vượt

hoặc mắc BTNTB tại châu Á

Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Cơ sở

lý luận

Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB cho Việt

Nam và các nước TNTB thấp khác tại châu Á

Thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam

Theo các khái niệm BTNTB

Theo phương pháp so sánh

Phỏng vấn chuyên

công BTNTB tại châu Á

Trang 19

BTNTB của nhóm nước có TNTB thấp tại châu Á, xác định thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, từ đó đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam Mặc

dù, tồn tại nhiều nguyên nhân và biểu hiện của BTNTB, trong luận án này, NCS tập trung vào biểu hiện của BTNTB thông qua chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người

và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia và tập trung vào các yếu tố giúp các quốc gia vượt BTNTB thành công

Không gian nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu về BTNTB trên thế giới, tuy

nhiên, với mục tiêu tìm ra các hàm ý chính sách giúp Việt Nam vượt BTNTB thành công, luận án lựa chọn tập trung nghiên cứu về BTNTB tại các quốc gia và nền kinh

tế tại châu Á như nhóm các nền kinh tế thoát BTNTB (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hong Kong), nhóm nước mắc BTNTB tại châu Á (cụ thể là Philippines và Indonesia) và nhóm quốc gia TNTB thấp tại châu Á (bao gồm Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan) Việc lựa chọn tập trung vào các nền kinh tế châu Á là do các quốc gia này có sự tương đồng về mặt địa lý, văn hóa, lịch sử và kinh tế so với Việt Nam, như vậy sẽ giảm thiểu độ sai lệch trong kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách đưa ra cho Việt Nam sẽ phù hợp hơn

Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu kinh nghiệm đối với BTNTB trên

thế giới và tại châu Á trong giai đoạn từ năm 1950 tới 2020 Luận án đánh giá ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á trong giai đoạn từ 2002 tới 2020 Luận án thực hiện phỏng vấn chuyên gia

để tìm ra những yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và xây dựng kịch bản cho kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, thời gian thực hiện phỏng vấn là tháng 3/2021 - 6/2021

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Trong luận án này, NCS sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng

4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

4.1.1 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được NCS sử dụng trong nghiên cứu định tính bao gồm dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:

Trang 20

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website của World Bank, IMF, Penn

World Tables, Tổ chức minh bạch quốc tế, Tổng cục thống kê Việt Nam, Bộ tài chính, trong giai đoạn từ 1950 tới 2020

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu 15 chuyên

gia có kinh nghiệm làm việc và nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế, thời gian thu thập

dữ liệu sơ cấp từ tháng 3/2021 tới tháng 6/2021

4.1.2 Phương pháp phân tích

- Phương pháp phân tích tổng hợp so sánh cho dữ liệu thứ cấp với các mục đích

sau: Thứ nhất, tìm hiểu kinh nghiệm các nước châu Á đối với BTNTB (tìm ra những yếu tố giúp nhóm nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hong Kong vượt BTNTB thành công; phân tích các yếu tố khiến Philippines và Indonesia bị mắc BTNTB) Thứ hai, so sánh các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB giữa Việt Nam với nhóm nước rơi vào BTNTB và nhóm nước thoát BTNTB, và so sánh với một số nước cụ thể như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản ), từ đó đánh giá về khả năng vượt BTNTB của Việt Nam

- Phương pháp phân tích xây dựng kịch bản theo ý kiến chuyên gia bằng cách

cho điểm: Trong nghiên cứu này, NCS sử dụng bảng hỏi, tập hợp ý kiến chuyên gia

về các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng giúp Việt Nam vượt BTNTB từ đó xây dựng kịch bản kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2021 - 2030 So sánh kết quả của phỏng vấn chuyên gia với phần phân tích tổng hợp so sánh ở trên và phần nghiên cứu định lượng để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam (Cụ thể về phương pháp phỏng vấn chuyên gia xem ở phụ lục 8)

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

4.2.1 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được NCS sử dụng trong nghiên cứu định lượng là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các website của World Bank, IMF, Penn World Tables, Tổ chức minh bạch quốc tế và Maddison (2018) trong giai đoạn từ 1950 tới 2020

4.2.2 Phương pháp phân tích

Phương pháp hồi quy: NCS sử dụng phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng

Trang 21

nhằm đánh giá ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp ở châu Á (Việt Nam, Ấn Độ, Campuchia, Lào, Philippines, Myanmar, Mông Cổ, Bangladesh, Pakistan, Nepal, Indonesia, Sri Lanka và Bhutan) giai đoạn 2002 - 2020 Kết quả mô hình là căn cứ đưa ra hàm ý chính sách ở chương 6

Phương pháp dự báo: Dựa trên các khái niệm khác nhau về BTNTB, NCS

dùng phương pháp dự báo theo mô hình ARIMA (Box và Jenkin, 1976) dự báo thu nhập và tăng trưởng của Việt Nam tới năm 2030 để xác định khả năng vượt BTNTB của Việt Nam NCS cũng sử dụng phần mềm Eview để đánh giá tính dừng của chuỗi

số liệu về thu nhập tương đối của Việt Nam so với Mỹ, từ đó đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về lý luận

Luận án hệ thống hóa được cơ sở khoa học (bao gồm cơ sở lý thuyết và thực tiễn) về BTNTB, xác định được các yếu tố khiến các quốc gia rơi vào BTNTB, những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB

Dựa vào các nghiên cứu quốc tế đi trước, luận án đã xác định được các cách

để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam Trong luận án, NCS đã kết hợp được nhiều phương pháp nghiên cứu từ phân tích, tổng hợp so sánh, tới phương pháp định lượng và phương pháp phỏng vấn chuyên gia

5.2 Về thực nghiệm

Luận án đã xây dựng được phương pháp luận đầy đủ để nghiên cứu về BTNTB

mà bất cứ quốc gia nào có đặc điểm tương đồng Việt Nam (tức là đang trong giai đoạn TNTB thấp) có thể áp dụng để nghiên cứu cho quốc gia mình, cụ thể như sau:

Luận án đã khái quát hóa được những yếu tố chung và đặc trưng khiến các nền kinh tế vượt/mắc BTNTB tại châu Á; đồng thời áp dụng các cách xác định BTNTB, các tiêu chí so sánh và lấy ý kiến chuyên gia để đánh giá khả năng vượt BTNTB của Việt Nam

Luận án dùng mô hình dữ liệu bảng xác định được các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của Việt Nam và các nước TNTB thấp khác Châu Á

Trang 22

Cuối cùng, từ kinh nghiệm BTNTB trong khu vực, thực trạng kinh tế và khả năng vượt BTNTB của Việt Nam, các yếu tố quyết định tới khả năng vượt BTNTB của nhóm nước TNTB thấp tại châu Á, xu hướng phát triển kinh tế trên thế giới, định hướng phát triển kinh tế của chính phủ, luận án đưa ra hàm ý chính sách cho Việt Nam để vượt BTNTB thành công bao gồm thúc đẩy tăng trưởng nhờ tăng năng suất lao động, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới, nâng cao chất lượng thể chế; chính phủ can thiệp linh hoạt vào nền kinh tế; nâng cao hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả hoạt động của vốn đầu tư, tận dụng cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế

6 Kết cấu của luận án

Luận án được chia thành sáu chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về bẫy thu nhập trung bình

Chương 2: Cơ sở lý luận về bẫy thu nhập trung bình

Chương 3: Kinh nghiệm của các nền kinh tế vượt hoặc mắc bẫy thu nhập trung bình tại châu Á

Chương 4: Thực trạng kinh tế và khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam Chương 5: Mô hình ước lượng các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng vượt bẫy thu nhập trung bình cho Việt Nam và các nước thu nhập trung bình thấp khác tại châu Á

Chương 6: Hàm ý chính sách cho Việt Nam

Trang 23

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẪY THU

NHẬP TRUNG BÌNH 1.1 Cách xác định BTNTB trong các nghiên cứu

Thuật ngữ BTNTB được đưa ra một cách gián tiếp bởi Garret (2004) khi quan sát thấy tốc độ tăng trưởng của các nước TNTB đã bị đình trệ kể từ những năm 1980 Thuật ngữ BTNTB được định nghĩa lần đầu tiên bởi Gill và Kharas (2007) trong báo cáo “An East Asian Renaissance”, kể từ đó thuật ngữ BTNTB trong nghiên cứu học thuật đã được phổ biến nhanh chóng Tính đến ngày 1 tháng 6 năm 2021, trên Google Scholar, có tới hơn 300 bài báo khoa học với thuật ngữ BTNTB (Middle income trap) trong tiêu đề Trong số đó, các bài báo có số lượng trích dẫn nhiều nhất bao gồm nghiên cứu của: Felipe và cộng sự (2012), Aiyar và cộng sự (2013), Egawa (2013), Eichengreen và cộng sự (2013), Islam (2015), Kharas và Kohli (2011), Lin và Treichel (2012)

Trong những năm gần đây, có một số nghiên cứu đặt câu hỏi về sự tồn tại của BTNTB như Barro (2016) cho rằng “Sự chuyển dịch từ mức TNTB lên TN cao là khó khăn nhưng không có bằng chứng chỉ ra sự chuyển dịch này khó hơn so với chuyển từ mức TN thấp lên TNTB”, như vậy, BTNTB cũng không khác biệt so với bẫy thu nhập thấp Nghiên cứu của Im và Rosenblatt (2013) cũng đồng tình tới quan điểm này Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất rằng BTNTB có tồn tại và

là hiện tượng đang ảnh hưởng lớn tới nhiều nước trên thế giới Vấn đề BTNTB đã được nghiên cứu bởi rất nhiều học giả (Ohno, 2009; Eichengreen và cộng sự, 2011; Spence, 2011; Agenor và Canuto, 2012; Felipe và cộng sự, 2012; Tran Van Tho, 2013; Aiyar và cộng sự, 2012; …) Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm khác nhau về BTNTB, nhìn chung chưa có một định nghĩa thống nhất về

“BTNTB”, mặc dù hiện tượng rơi vào BTNTB đang diễn ra Ngoài ra, cách viết về các quốc gia được coi là rơi vào BTNTB cũng rất khác biệt trong các nghiên cứu như

“được coi là BTNTB” (so-called middle-income trap) (Wheatley, 2010), hoặc

“BTNTB, nếu bẫy này tồn tại” (middle-income trap, if such traps exist) (World Bank, 2010) Spence không sử dụng từ “bẫy” nhưng cũng chỉ ra “chuyển đổi từ TNTB sang thu nhập cao là rất khó khăn” (Spence, 2011)

Trang 24

Hình 1.1 cho thấy tổng số lượt tìm kiếm tương đối trong Google trends cho cụm từ “middle income trap” từ năm 2010 tới 2021 minh họa cho sự quan tâm tới BTNTB ngày càng tăng kể từ năm 2011

Hình 1.1: Kết quả tìm kiếm Google cho chủ đề Bẫy thu nhập trung bình

(Middle income trap) trong tổng số tìm kiếm

Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa trên kết quả Google trends 1 , 2021

1.1.1 Cách xác định BTNTB

Có hai cách xác định BTNTB bao gồm: cách tiếp cận tuyệt đối và cách tiếp cận tương đối

Cách tiếp cận tuyệt đối

Cách tiếp cận tuyệt đối dựa trên các mức TNTB tuyệt đối Các tác giả như Spence (2011), Felipe (2012), Aiyar và cộng sự (2013) Eichengreen, Park và Shin (2013) sử dụng các giá trị tuyệt đối cho các ngưỡng thu nhập và dựa theo cách phân loại thu nhập của World Bank (Phụ lục 2.1) Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có

ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản

1 Google Trends, Cụm từ Tìm kiếm: “Middle income trap”, truy cập trực tuyến 30.05.2021 Thông tin về

Google Trends: “điểm số 100 phản ánh cụm từ được tìm kiếm rất phổ biến, điểm số 50 là phổ biến ở mức trung bình, điểm số dưới 50 là ít phổ biến ”.

Trang 25

ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác

Spence (2011) là người đầu tiên đưa ra khoảng TN cố định để xác định BTNTB, theo đó một nước rơi vào BTNTB khi có TNBQĐN từ 5000 USD tới 10000 USD vì nền kinh tế sẽ đối mặt với nhiều thử thách khi chuyển từ giai đoạn phát triển này sang mức TN cao

Felipe và cộng sự (2012) phân tích GDP PPP1990 của 124 quốc gia dựa trên

bộ số liệu Maddison 2010, do bộ số liệu Maddison 2010 có số liệu tăng trưởng tới năm 2008, các tác giả đã mở rộng số liệu tới 2010 nhờ việc sử dụng tăng trưởng GDP BQĐN (theo local currency và constant prices) từ cơ sở dữ liệu của World Economic Outlook, IMF Cách phân loại nhóm nước theo TN của World Bank thông thường dựa theo GNI BQĐN, do đó không thể áp dụng trực tiếp để phân loại dữ liệu của Maddison Các tác giả đã lựa chọn các ngưỡng thu nhập để đảm bảo các nước được xếp loại TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao ở từng năm giống nhất với kết quả phân loại mà World Bank đưa ra Cuối cùng các tác giả chọn được cách phân loại theo bốn ngưỡng thu nhập sau: thu nhập thấp (dưới 2000 USD), TNTB thấp (2000 – 7250USD), TNTB cao (7250 – 11750 USD) và thu nhập cao (11750 USD) Sau đó chỉ ra một quốc gia được coi là rơi vào BTNTB thấp nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 28 năm, một quốc gia rơi vào BTNTB cao nếu đã ở trong mức thu nhập này hơn 14 năm Và để vượt qua TNTB thấp cần tốc độ tăng trưởng trung bình tối thiểu 4.7%/năm, trong khi để vượt qua TNTB cao cần tốc độ tăng trưởng 3.5%/năm trong giai đoạn nêu trên

Eichengreen (2013) định nghĩa BTNTB là sự tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế thị trường mới nổi Theo họ, một quốc gia đối mặt với tăng trưởng chậm lại ở thời gian t nếu: (1) Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 7 năm của TNBQĐN là 3,5% hoặc lớn hơn so với thời điểm t.; (2) Sau thời gian t, tốc độ tăng trưởng thấp hơn ít nhất 2%; (3) TNBQ lớn hơn $10,000 Tác giả kết luận rằng, tăng trưởng chậm lại chủ yếu xảy ra ở thời điểm chuyển giao thu nhập từ $10000 -11000, và $15000-16000 Nghiên cứu này cập nhật so với nghiên cứu năm 2011 (PWT 6.3) của tác giả do sử dụng PWT 7.1

Trang 26

Aiyar và các cộng sự (2013) trong bài nghiên cứu “Tăng trưởng chậm lại và BTNTB” nêu rõ BTNTB là hiện tượng các quốc gia tăng trưởng nhanh, sau khi đạt được mức TNTB không thể tiếp tục tiến lên mức thu nhập cao Nghiên cứu chỉ ra BTNTB thực tế là trường hợp đặc biệt của “tăng trưởng chậm lại” Aiyar chọn ngưỡng TNTB thấp là $2000 và cao là $15000 Tác giả dùng dữ liệu về TNTB cho 138 quốc gia trong 11 thời kỳ (1955 và 2009) Trước tiên, thực hiện hồi quy, với tỷ lệ tăng trưởng của TNBQĐN (dùng trung bình nhân của 5 năm) là biến phụ thuộc, và mức

độ trễ của thu nhập cũng như vốn là các biến độc lập Kết quả hồi quy này cho ra một tốc độ tăng trưởng dự kiến của mỗi nước tại từng thời điểm Phần chênh lệch res t là

sự khác nhau giữa tỷ lệ tăng trưởng thực tế và dự kiến của nước i tại thời điểm t Theo

đó, quốc gia i bị tăng trưởng chậm lại khi phần chênh lệch nhỏ hơn đáng kể so với thời điểm trước đó (t-1) và cũng nhỏ hơn thời điểm tiếp theo (t+1), trong đó mỗi thời

kỳ t là 5 năm Tóm lại, quá trình tăng trưởng chậm lại kéo dài ít nhất 10 năm Tác giả chỉ ra 123 lần tăng trưởng chậm lại từ 1960 (11% tổng số mẫu) Tác giả cũng kết luận rằng các nước TNTB thường bị tăng trưởng chậm lại nhiều hơn so với các nước có thu nhập thấp hoặc cao

Islam (2015) có cách tiếp cận khác khi nghiên cứu TNBQĐN của các nước vào bốn thời điểm, năm 1980, 1990, 2000 và 2010, sao đó xếp các quốc gia vào nhóm nước TN thấp, TNTB thấp, TNTB cao và TN cao theo cách định nghĩa của World Bank Một quốc gia được xếp là rơi vào BTNTB khi ở cả bốn mốc thời gian này đều

có TNTB cao vì quốc gia đó đã không chuyển được sang mốc TN cao sau 40 năm

Các nhà kinh tế học của Morgan Stanley khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nghiên cứu các giai đoạn phát triển của lịch sử thế giới và phát hiện ra rằng, trong lịch sử, tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ bị suy giảm sau một số năm tăng trưởng cao Thời điểm suy giảm tăng trưởng thường rơi vào mức GDP BQĐN PPP là 7000USD Dựa trên số liệu của Angus Maddison, họ tìm ra rằng trong 100 năm qua

có tới 40 nền kinh tế bị suy giảm tăng trưởng khi đạt mức TN 7000 USD, trong đó

31 nước có mức suy giảm tăng trưởng trung bình 2,8% sau khi đạt mức TN kể trên (Wang và cộng sự, 2009) Ngoài những nghiên cứu kể trên, Egawa (2013), Yiping và các cộng sự (2014), Dalgic và các cộng sự (2014) and Bozkurt và các cộng sự (2014) cũng nghiên cứu về BTNTB theo cách tiếp cận tuyệt đối

Trang 27

Nhìn chung, cách tiếp cận tuyệt đối có ưu điểm là đưa ra khái niệm và cách xác định các nước rơi hay thoát BTNTB một cách rõ ràng Mặc dù TNBQĐN không phản ánh hoàn toàn mức độ phát triển của một quốc gia nhưng cũng có mối quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu như chất lượng cuộc sống, tuổi thọ, tỷ lệ đi học… Nhược điểm của cách tiếp cận này là khi giữ các mốc TN cố định để phân nhóm nước thì theo thời gian mốc TN này không còn phản ánh chính xác kinh tế của một nước, nhất

là không phản ánh được tương quan TN với các quốc gia khác

Cách tiếp cận tương đối

Cách tiếp cận “tương đối” dựa theo TNBQĐN khi so sánh với Mỹ hoặc một quốc gia phát triển khác BTNTB tập trung vào nghiên cứu các nước thất bại trong việc đuổi kịp các nước phát triển như Mỹ và Nhật Các nghiên cứu lựa chọn cách tiếp cận tương đối lập luận rằng mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia là đạt được mức thu nhập cao như các nước phát triển nhất, do đó không nên chỉ nhìn vào thu nhập tuyệt đối của quốc gia đó mà phải có sự so sánh với một quốc gia phát triển (Cai, 2012) Woo (2012), Jankowska và các cộng sự (2012), Im và Rosenblatt (2013), Robertson

và Ye (2013), Bulman và các cộng sự (2014) là những nhà nghiên cứu điển hình tiếp cận BTNTB theo hướng tương đối (Phụ lục 2.2)

Woo (2012) giới thiệu khái niệm về chỉ số đuổi kịp (catch-up index CUI) đo bằng tỷ lệ thu nhập bình quân trên đầu người của một quốc gia với thu nhập bình quân đầu người tại Mỹ Woo sử dụng số liệu về dân số và GDP của Maddison (2010), trong đó GDP đo bằng 1990 Geary Khamis dollars Tác giả chỉ ra một nước có TNTB khi thu nhập của nước đó ở trong khoảng 20% đến 55% TNBQĐN của Mỹ Theo đó, một quốc gia mắc BTNTB nếu chỉ số đuổi kịp giữ ở mức 20-55% trong giai đoạn 1960-2006

Báo cáo “China 2030” của World Bank, 2012 chỉ ra một quốc gia rơi vào BTNTB khi thu nhập nằm trong khoảng 5% đến 45% TNBQ của Mỹ (theo Geary Khamis dollar 1990) Theo cách tiếp cận này, trong số 101 quốc gia có TNTB năm

1960, chỉ có 13 quốc gia trở thành nước có thu nhập cao trước năm 2008 Agenor và Canuto (2012) cũng sử dụng cách định nghĩa này trong nghiên cứu của mình

Trang 28

Robertson và Ye (2013) công bố cách kiểm tra BTNTB bằng cách sử dụng dữ liệu PWT (Pen World Table) Tác giả tập trung vào log income gap x i,t = y i,t – y r,t Trong đó, y là log của TNBQTĐN của nước i, và r là nước tham chiếu Theo các tác giả, một nước mắc BTNTB khi: thu nhập của nước đó không khác nhiều so với nước tham chiếu theo thời gian (dùng GDP cố định giá 2005, điều chỉnh theo PPP); thu nhập nằm trong ngưỡng trung bình 8% đến 36% so với Mỹ

Cũng sử dụng cách tiếp cận như Robertson và Ye (2013), Yilmaz (2014) nghiên cứu 57 quốc gia TNTB xem có mắc BTNTB hay không bằng cách sử dụng số liệu từ 1960 đến 2010 Kết quả là 8/57 quốc gia thoát bẫy (Đảo Síp, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Hong Kong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan) các quốc gia còn lại (Thổ Nhĩ Kỳ và đa số các quốc gia Châu Mỹ La tinh) đều mắc bẫy

Im và Rosenblatt (2013), cũng tiếp cận theo hướng tương đối Các tác giả nghiên cứu phân bố thu nhập tại 127 nước từ 1950 đến 2008 từ số liệu Maddison (2010) Các tác giả đã chia TNTB ra làm ba mức “TB thấp”, “TB vừa” và “TB cao” (phần tô đậm) theo 2 nhóm thu nhập khác nhau:

(1): <15%, 15-30, 30-45, 45-60, và 60% của thu nhập Mỹ

(2): <1/16, 1/16-1/8, 1/8-1/4, ¼-1/2, và >1/2 so với thu nhập của Mỹ

Kết luận chỉ ra rằng quá trình chuyển từ TNTB cao lên TN cao cũng giống như TNTB thấp lên TNTB cao Do đó, các tác giả nghi ngờ về sự tồn tại của BTNTB

Bulman và các cộng sự (2014) phân biệt các quốc gia thành hai nhóm “thoát bẫy” và “không thoát bẫy” Tác giả khẳng định các nước thoát bẫy tăng trưởng nhanh trong mọi mức thu nhập, trong khi nhóm không thoát bẫy có xu hướng tăng trưởng chậm ở các giai đoạn phát triển (không chỉ trong ngưỡng TNTB) Kết luận này mâu thuẫn với các nghiên cứu cho rằng BTNTB là kết quả của việc tăng trưởng chậm lại kéo dài trong mức TNTB Tác giả đã sử dụng cách tiếp cận tương đối, chỉ ra mức TNTB thấp và cao là nằm trong khoảng 10% đến 50% thu nhập của Mỹ (dữ liệu PWT 7.0) Một nước mắc bẫy khi nó nằm trong ngưỡng thu nhập này trong giai đoạn 1960-

2009 và không thể đạt được mức thu nhập cao (>50% GDP BQĐN của Mỹ)

Trang 29

Ngoài ra, nghiên cứu của PwC (2014) đưa ra chỉ số thoát bẫy (ESCAPE Index – EI) Một nhóm các nhà kinh tế mà đứng đầu là Hawksworth (2014) đã đưa ra chỉ

số thoát bẫy nhằm phân tích khả năng thoát BTNTB cả các thị trường mới nổi Chỉ

số này gồm 20 chỉ số nhỏ trong 5 lĩnh vực: (i) ổn định và tăng trưởng kinh tế, ii) tiến

bộ và gắn kết xã hội, iii) công nghệ truyền thông, iv) các thể chế chính trị, luật pháp

và quản lý, và v) tính bền vững về môi trường Theo chỉ số thoát bẫy, những quốc gia đang đi đúng con đường thoát bẫy bao gồm Trung Quốc, Chile, Malaysia, Ả rập xê

út, trong khi đó Brazil, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ là năm quốc gia mắc BTNTB

Ưu điểm của cách tiếp cận tương đối là so sánh được TN giữa các quốc gia theo thời gian do đó không cần cập nhật các mốc TN để xác định trạng thái của các nước

Điểm chung của hai cách tiếp cận là hầu hết đều tập trung vào các nước Châu

Mỹ La Tinh và Châu Á Các nghiên cứu với cách tiếp cận tuyệt đối chỉ ra BTNTB là

do tăng trưởng chậm lại Cách tiếp cận tương đối chỉ ra BTNTB là do quá trình đuổi kịp bị thất bại Hầu hết các nghiên cứu về BTNTB đều tập trung vào nghiên cứu diễn biến của thu nhập bình quân trên đầu người và tốc độ tăng trưởng của một quốc gia theo thời gian, đồng thời nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tới hai biến số này Nguồn số liệu thường sử dụng của World Bank, Pen World Tables, Maddison (2010)

1.1.2 Danh sách các quốc gia mắc /thoát/ có nguy cơ rơi vào BTNTB trong các nghiên cứu

Từ các cách xác định TNTB và BTNTB khác nhau, kết quả là số lượng các nước được xác định rơi vào BTNTB trong các nghiên cứu cũng khác nhau Theo số liệu của World Bank, trong 101 nước TNTB năm 1960, có 88 nước mắc BTNTB và

13 nước lên được mức TN cao trước 2008: Equatorial Guinea, Hi Lạp, Hong Kong, Ireland, Israel, Nhật Bản, Mauritius, Bồ Đào Nha, Puerto Rico, Hàn Quốc, Singapore, Tây Ba Nha, Đài Loan Hầu hết 88 nước rơi vào BTNTB còn lại nằm ở Châu Mỹ La tinh và Trung Đông

Felipe và cộng sự (2012) xác định có 52 nước có TNTB năm 2010, bao gồm

38 nước là TNTB thấp, 14 nước TNTB cao Trong đó, 30 nước nằm trong BTNTB

Trang 30

thấp, 5 nước mắc BTNTB cao Thêm vào đó, 7 nước được xếp là có khả năng rơi vào BTNTB Woo (2012) nghiên cứu các nước Mỹ La Tinh và Đông Á Tác giả chỉ ra 5 quốc gia Mỹ La Tinh là các nước mắc BTNTB (Argentina, Brazil, Chile, Mexico và Venezuela)

Bulman và cộng sự (2014) nghiên cứu sự chuyển giao của các quốc gia giữa

ba mức thu nhập từ 1960 (1970) đến 2009 thông qua cách tiếp cận tương đối Kết quả

là trong 41 nước có TNTB năm 1960, 10 nước đã chuyển sang được mức TN cao, trong đó 24 nước vẫn nằm trong mức TNTB và 7 nước quay lại mức TN thấp

Robertson và Ye (2013) nghiên cứu dữ liệu chuỗi thời gian về TNBQĐN của các quốc gia Các tác giả tiến hành hai loại kiểm tra: Kiểm tra Dickey-Fuller đơn giản trên log của chênh lệch TNBQ xi,t (mô hình không giới hạn) và một mức kiểm tra tương tự nhưng không phải chuỗi thời gian dài hạn trên xi,t (mô hình giới hạn) Trong hình thức kiểm tra thứ hai, giả định đặt ra là tất cả các quốc gia có tốc độ tăng trưởng dài hạn giống nhau Hai cách kiểm tra này cho ra kết quả rất khác nhau (mô hình không giới hạn chỉ ra 6 nước mắc BTNTB, mô hình giới hạn chỉ ra 25 nước mắc BTNTB) Hầu hết các nước trong 25 nước này nằm ở Châu Mỹ La Tinh (6 nước) và Trung Mỹ (6 nước) và Châu Á (6 ở Tây Á, 3 ở Đông Nam Á)

Pruchnik và cộng sự (2017) nghiên cứu trên 186 quốc gia, xem xét khả năng mắc bẫy của các quốc gia này theo những định nghĩa khác nhau về BTNTB Các tác giả đưa ra kết luận hầu hết các quốc gia trong nghiên cứu (112 trên 186 nước, tương đương 60,2%) được xác định mắc BTNTB theo ít nhất một định nghĩa; 48,4% số quốc gia hiện đang mắc bẫy (số liệu World Bank tới 2015); 67 quốc gia được xác định là mắc bẫy theo một số định nghĩa nhưng lại được xác định là thoát bẫy theo định nghĩa khác Nghiên cứu cũng chỉ ra các nước Châu Mỹ La tinh và Ca ri bê chịu ảnh hưởng lớn nhất từ BTNTB, có tới 90,6% các quốc gia trong khu vực này được xác định mắc bẫy theo ít nhất một định nghĩa về BTNTB Ngoài ra một số nghiên cứu khác như Agenor và Canuto (2015); Im và Rosemblatt (2013); Jankowska và cộng sự (2012) không nêu danh sách nhóm mắc BTNTB nhưng liệt kê được các quốc gia đã thoát bẫy (Xem danh sách các quốc gia mắc bẫy và thoát bẫy ở Phụ lục 1)

Nghiên cứu William.T.Wilson (2014) về BTNTB tại khu vực Đông Á, tập

Trang 31

trung vào bốn quốc gia là Thái Lan, Indonesia, Philipines và Việt Nam, thông qua phân tích các nhân tố chính quyết định đến BTNTB: nền tảng vĩ mô, cơ cấu dân số,

đô thị hoá, thể chế, cơ cấu thương mại, cơ sở hạ tầng; chiến tranh và xung đột Tác giả chỉ ra Việt Nam là nước có nhiều khả năng rơi vào BTNTB Wing Thye Woo (2009) cho rằng Malaysia hiện đang mắc BTNTB vì nước này vẫn đang sử dụng chiến lược tăng trưởng kinh tế được xây dựng vào năm 1970 khi cấu trúc nền kinh tế Malaysia và các điều kiện kinh tế quốc tế rất khác so với ngày nay Nghiên cứu của Jitsuchon (2012) chỉ ra Thái Lan hiện đang mắc BTNTB Ohno (2017) thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng chính sách công nghiệp và hiệu quả tăng trưởng Kết luận của Ohno là Việt Nam cùng với Ấn Độ, Indonesia Campuchia đã rơi vào BTNTB nhưng chất lượng của chính sách công nghiệp vẫn rất thấp

Theo Cai (2012) và Linda Glawe, Helmut Wagner (2020), Trung Quốc đang phải đối mặt với thách thức trong việc xác định làm thế nào để vượt qua giai đoạn tăng trưởng giảm tốc, điều này đã dấy lên lo ngại rằng Trung Quốc đang, hoặc cũng

sẽ phải đối mặt với BTNTB Nguyễn Minh Phong (2014) nghiên cứu về các khái niệm BTNTB trên thế giới, thách thức BTNTB và ứng phó cần có của Việt Nam Tác giả chỉ ra Việt Nam có thể đối diện với BTNTB do tốc độ tăng trưởng có nguy cơ chậm lại, các nhân tố tăng trưởng theo bề rộng không còn hiệu quả như trước, thiếu các động lực tăng trưởng theo chiều sâu Trong nghiên cứu của Tho (2013), tác giả đưa ra một khung phân tích bao gồm các thuật ngữ như giai đoạn phát triển, điểm chuyển hoán trên thị trường lao động, tăng trưởng dựa trên đầu vào, tăng trưởng dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp, lợi thế so sánh động và yếu tố thể chế Sau đó, nghiên cứu giai đoạn phát triển hiện nay của các nước ASEAN, có so sánh với các nước Đông Á khác, đồng thời đánh giá khả năng vượt BTNTB của các nước ASEAN bằng cách thử so sánh tình trạng hiện nay của các nước đó với kinh nghiệm của Hàn Quốc, một nước đã thành công trong quá trình thoát khỏi BTNTB và phát triển thành nước tiên tiến Phần cuối của nghiên cứu tập trung bàn về khả năng rơi vào BTNTB của Việt Nam Nghiên cứu kết luận nếu không cải cách triệt để, Việt Nam có thể rơi vào trường hợp mà tác giả gọi là sự xuất hiện sớm của BTNTB Nguyễn Văn Luân

và Ngô Văn Hải (2015), Chu Văn Cấp & Nguyễn Đức Hải (2015), Võ Trí Hảo (2016), Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Charles Gore (2017) cũng nhận định

Trang 32

Việt Nam có nguy cơ rơi vào BTNTB

Như vậy, chuỗi dữ liệu, thời gian và phương pháp nghiên cứu khác nhau dẫn đến kết quả nghiên cứu rất khác nhau Hầu hết các nghiên cứu tập trung vào các nước Châu Mỹ La Tinh và Châu Á, trong những năm gần đây do tăng trưởng chậm lại diễn

ra tại Trung Quốc nên có thêm nhiều nghiên cứu đặt câu hỏi về khả năng mắc BTNTB của Trung Quốc Về kết quả nghiên cứu, hầu hết các nghiên cứu chỉ ra các nước mắc bẫy nằm ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á, riêng nghiên cứu của Bulman (2014) kết luận nhiều nước mắc BTNTB ở Châu Âu Đối với các nghiên cứu về BTNTB tại Việt Nam, đa số các nghiên cứu chỉ ra Việt Nam đang rơi vào hoặc có nguy cơ đối mặt với BTNTB Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu này một phần cũng xuất phát từ việc chưa có định nghĩa rõ ràng và đồng nhất về BTNTB

1.2 Những nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB

Có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới BTNTB nhưng tổng hợp lại thì hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào các biến kiểm soát tăng trưởng trong

đó chủ yếu tập trung vào yếu tố vốn nhân lực, công nghệ, vốn đầu tư, thể chế và hội nhập Nói cách khác, các yếu tố được lựa chọn là những yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn, rất quan trọng cho các nước TNTB duy trì tăng trưởng kinh tế

1.2.1 Vốn đầu tư

Có nhiều cách giải thích khác nhau đã được đưa ra để giải thích cho sự tồn tại của BTNTB Những lập luận mà các nhà nghiên cứu đưa ra về cơ bản đều chỉ ra sự suy giảm trong tốc độ tăng năng suất là nguyên nhân chính của BTNTB; tuy nhiên các nhà nghiên cứu đưa ra những lý do khác nhau giải thích sự giảm tốc của năng suất và về những chính sách có thể được thực hiện để thúc đẩy tăng năng suất Một trong các lý do được đưa ra để giải thích sự suy giảm tốc độ tăng năng suất là do vốn

tư bản có hiệu suất giảm dần

Lập luận đầu tiên để giải thích về BTNTB (đặc biệt là với những kinh nghiệm

ở Đông Á với Trung Đông và Bắc Phi) liên quan tới năng suất cận biên giảm dần của vốn tư bản Trong giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế, tỷ lệ đầu tư cao (đặc biệt là các khu vực công) tạo ra lợi ích lớn về tăng trưởng trong kinh tế do đầu tư công vừa trực tiếp tác động lên năng suất của các yếu tố đầu vào vừa gián tiếp thúc đẩy đầu tư công thông qua hiệu ứng bổ sung (Agenor, 2012)

Trang 33

Kharas và Kohli (2001) chỉ ra rằng các nước TNTB và thu nhập thấp có những kênh tăng trưởng khác nhau Đối với nước thu nhập thấp, tăng trưởng có được

do sự di chuyển các yếu tố, đặc biệt là lao động từ những hoạt động năng suất thấp lên những hoạt động năng suất cao, cụ thể là trong xuất khẩu Chính phủ chỉ có vai trò cung cấp cơ sở hạ tầng hỗ trợ thị trường Tích luỹ tư bản tương đối đơn giản do chỉ yêu cầu thị trường tài chính tốt Tuy nhiên, các quốc gia TNTB phải đối mặt với những điều kiện khó khăn hơn do các yếu tố đã dịch chuyển sang các hoạt động có năng suất cao và hiệu quả đầu tư của vốn lúc này giảm dần Các quốc gia có TNTB phải sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn để thu hút người tiêu dùng trên thị trường quốc tế, đồng thời cũng phải tập trung vào thị trường nội địa Lúc này, phân bổ thu nhập là vấn đề cần quan tâm vì tăng trưởng phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của nhóm TN thấp và trung bình

Nguyễn Văn Luân và Ngô Văn Hải (2015) chỉ ra giai đoạn 2008 - 2014 tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức bình quân 5,5 - 6%/năm chưa đáp ứng yêu cầu cần thiết để thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững Kinh tế Việt Nam đang ngày càng bộc lộ sự tăng trưởng chậm, năng suất chưa cao, đồng vốn bỏ ra lớn nhưng hiệu quả thấp, khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Do đó, kinh tế Việt Nam phải đối mặt với vấn đề rơi vào BTNTB

Trong nghiên cứu bởi Redding (1996) khẳng định thiếu sót trong đào tạo và giáo dục có thể làm giảm hiệu quả các khoản đầu tư của các công ty về chất lượng sản phẩm Trong mô hình của Redding, công nhân đầu tư vào việc phát triển kỹ năng, trong khi doanh nghiệp đầu tư vào R&D Hai hình thức đầu tư đem lại ảnh hưởng qua lại tích cực và bổ sung lẫn nhau

Trang 34

Nghiên cứu của Acemoglu và cộng sự (2006) cung cấp một cơ sở khái niệm thay thế cho BTNTB Trong khuôn khổ nghiên cứu của họ, việc lựa chọn cán bộ quản

lý kỹ năng cao và các công việc để thúc đẩy sự đổi mới quan trọng hơn so với việc

áp dụng (hay mô phỏng) công nghệ nước ngoài Theo lý luận của các tác giả, nếu trình độ và kỹ năng của các nhà quản lý kém, họ sẽ không thể sử dụng công nghệ một cách hiệu quả Không có khả năng nâng cao chất lượng của lực lượng lao động có thể coi là nguyên nhân khiến BTNTB kéo dài, đặc biệt là ở châu Mỹ Latinh

Theo Eichengreen và cộng sự (2011), các nhân tố dẫn tới tăng trưởng chậm lại bao gồm: tốc độ tăng trưởng cao ở giai đoạn đầu, yếu tố nhân khẩu học không thuận lợi, tỷ lệ đầu tư cao và tỷ giá hối đoái thấp Nghiên cứu năm 2013 của các tác giả chỉ

ra nếu tỷ lệ số người được giáo dục trung học trở lên trong tổng dân số càng cao và

tỷ lệ xuất khẩu công nghệ cao thì tăng trưởng chậm lại càng ít xảy ra Jimenez và cộng sự (2012) và Jitsuchon (2012) cũng chỉ ra thiếu hụt lao động có tay nghề và chất lượng là nguyên nhân khiến các quốc gia mắc BTNTB

Stone và Shepherd (2011) cho thấy sự sẵn có của lao động có tay nghề cao là một yếu tố quyết định đặc biệt quan trọng để một công ty có thể tạo ra năng suất từ nhập khẩu hàng hóa trung gian và hàng hoá tư bản, tận dụng những lợi ích đem lại từ thương mại Vai trò của chính sách công trong việc tạo ra ngoại ứng tích cực trong giáo dục cũng được đề cập trong nghiên cứu của Agenor và Canuto (2015)

Theo Refika Atalay (2015), các nước đang phát triển sau khi đạt thu nhập BQĐN 10.000 USD/đầu người phải đối mặt với BTNTB và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế, cải thiện nguồn vốn con người của họ để loại bỏ BTNTB Vốn nhân lực bao gồm kiến thức và kỹ năng mà nhân lực có được Tất cả những điều này cho phép gia tăng sự phát triển của cá nhân và xã hội và sự thịnh vượng về kinh tế Tuy nhiên, thời lượng giáo dục ở các nước đang phát triển càng tăng thì chi phí cá nhân và xã hội càng tăng Do đó, các quốc gia này phải cải thiện các chính sách giáo dục để vừa phát triển nguồn nhân lực vừa giảm chi phí thay thế gây ra cho giáo dục

Bozkurt và các cộng sự (2014) nghiên cứu xem Thổ Nhĩ Kỳ đã rơi vào BTNTB hay chưa bằng cách sử dụng dữ liệu giai đoạn 1971 - 2012 thông qua phân tích hội tụ

và ARDL Thổ Nhĩ Kỳ “hội tụ” các nước có TN cao nhờ hai biến số quan trọng tác động tích cực lên GDP BQĐN là tỷ lệ đi học và tiết kiệm trong nước

Trang 35

Nghiên cứu của Agenor và Canuto (2015) sử dụng mô hình OLG phân biệt giữa hai loại kỹ năng lao động, cơ bản và nâng cao, trong đó kỹ năng nâng cao được được nghĩa là những kiến thức chuyên môn có được do tham gia các chương trình giáo dục đại học ở tuổi trưởng thành Các cá nhân với kỹ năng lao động cơ bản và nâng cao đều

có thể làm việc để sản xuất ra hàng hoá cuối cùng nhưng chỉ những người có kỹ năng nâng cao mới có thể làm trong lĩnh vực phát minh, sáng tạo Mô hình nghiên cứu này giả định năng suất cận biên đạt được từ việc tích luỹ kiến thức, kỹ năng sẽ tăng dần nhờ hiệu ứng “learning by doing”

Trong nghiên cứu về Thái Lan của Warr (2011), để có thể thoát BTNTB, Thái Lan phải tăng năng suất lao động thông qua việc đầu tư vào vốn nhân lực, đặc biệt nâng cao chất lượng giáo dục Tác giả cho rằng sự quan liêu của bộ giáo dục là nguyên nhân khiến chất lượng giáo dục của Thái Lan thấp Tran Van Tho (2013), Dinh (2014), Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Tran Thi Ha (2018) khi nghiên cứu về BTNTB tại Việt Nam cũng kết luận Việt Nam muốn thoát BTNTB cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo kĩ năng cho người lao động, đẩy mạnh khả năng nghiên cứu phát triển và tạo môi trường thể chế thuận lợi cho lĩnh vực tư nhân

1.2.3 Công nghệ

Các nghiên cứu định lượng về các quốc gia chỉ ra rằng tăng trưởng chậm lại liên quan trực tiếp đến BTNTB là do năng suất suy giảm không phải đơn thuần là kết quả của việc năng suất cận biên của tích luỹ vốn tư bản bị giảm Nghiên cứu của Yanrui Wu (2013) đã chia năng suất yếu tố tổng hợp (TFP) thành các yếu tố nhỏ hơn như sáng tạo (tiến bộ công nghệ) và hệ số bắt kịp (thay đổi trong hiệu quả công nghệ) Nghiên cứu sử dụng số liệu của 109 nền kinh tế, giai đoạn 1961 - 2010 Tác giả so sánh hiệu quả của các quốc gia bị ảnh hưởng bởi BTNTB và các quốc gia tránh được BTNTB, kết quả là TFP đóng vai trò quan trọng ở các nước thu nhập cao và các nước thoát BTNTB nhưng lại có tác động ngược chiều tới các nước mắc BTNTB Ngoài

ra, cả ở nước có thu nhập cao vào nước có TNTB, tiến bộ công nghệ và hiệu quả công nghệ đều có tác động cùng chiều tới tăng trưởng

Theo Bulman và cộng sự (2014), các nước thoát TNTB thường có tốc độ tăng trưởng công nghệ cao hơn, lạm phát thấp hơn, quá trình chuyển đổi cơ cấu nhanh hơn (từ nông nghiệp sang công nghiệp) Các nước thoát bẫy cũng có mức độ vốn nhân

Trang 36

lực, tỷ trọng xuất khẩu cao hơn, quản lý vĩ mô tốt hơn, phân phối thu nhập công bằng hơn

Aiyar và cộng sự (2013) cũng chỉ ra rằng các nước nằm trong ngưỡng TNTB thường có TFP suy giảm mạnh hơn so với những nước có thu nhập cao và thấp Đồng thời, suy giảm tăng trưởng không phải là một hiện tượng nhất thời, nó có thể kéo dài thời gian chuyển đổi sang mức thu nhập cao, nhưng nó không có nghĩa là các quốc gia sẽ bị “bẫy” lại trong giai đoạn tăng trưởng thấp

Dalgic và các cộng sự (2014) phân tích các chỉ số hiệu quả liên quan tới BTNTB bằng cách sử dụng dữ liệu của 56 quốc gia có TNTB từ 1990 đến 2013 bằng phương pháp Probit Nghiên cứu chỉ ra khác biệt trong chất lượng nguồn nhân lực, công nghệ và chất lượng thể chế là những yếu tố giúp các quốc gia thoát BTNTB Jitsuchon (2012) chỉ ra mức độ chi tiêu và hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) thấp, chính phủ Thái Lan chưa thực sự nỗ lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đây cũng là nguyên nhân khiến Thái Lan rơi vào BTNTB

Các nhà kinh tế học như Eichengreen và cộng sự (2012), Agenor và Canuto (2012), Felipe và cộng sự (2012), Ayiar và cộng sự (2013) đều chung quan điểm các quốc gia thoát được BTNTB là do thực thi chiến lược phát triển kinh tế hợp lí, duy trì tăng trưởng sáng tạo và chuyển đổi từ nước nhập khẩu sang xuất khẩu sáng kiến, công nghệ Tăng trưởng trong sáng tạo giúp tăng năng suất, giúp các quốc gia đạt mức tăng trưởng kinh tế cao hơn và dần thoát khỏi BTNTB Nghiên cứu về các quốc gia Đông Nam Á, Daniel Kasenda (2013) cũng chỉ ra muốn thoát BTNTB phải tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động chính phủ, đầu tư cơ sở hạ tầng và nghiên cứu khoa học công nghệ Cách mạng công nghiệp 4.0 có thể là cơ hội giúp các quốc gia như Malaysia, Thái Lan vượt BTNTB thành công, để đạt được điều đó, các quốc gia này cần có sự chuẩn bị sẵn sàng và phản ứng nhanh thích ứng với sự thay đổi công nghệ như nâng cao hiểu biết về công nghệ số, đẩy mạnh kỹ năng, trình độ học vấn của người lao động, điều chỉnh cơ cấu dân số, mở rộng quy mô thị trường nội địa và nâng cao vị trí trong chuỗi sản xuất toàn cầu (Keun và cộng sự, 2020)

Theo Nguyễn Minh Phong (2014) và Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Việt Nam muốn thoát BTNTB cần tập trung nâng cao trình độ khoa học công nghệ, tăng cường ảnh hưởng của các nhân tố năng suất tổng hợp Klingler-Vidra và

Trang 37

cộng sự (2020) chỉ ra khi Việt Nam vượt qua ngưỡng của World Bank từ “TN thấp” sang “TNTB thấp”, chính phủ Việt Nam bắt đầu quan tâm tới vấn đề “BTNTB” và xác định “chính sách khoa học và công nghệ (KH&CN)” là yếu tố quan trọng nhất duy trì tăng trưởng kinh tế và giúp tránh bẫy

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các quốc gia rơi vào BTNTB do các mặt hàng xuất khẩu không đa dạng và không có khả năng sản xuất, xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao (như trong nghiên cứu của Felipe và cộng sự 2012, Eichengreen và cộng sự 2013, Lin và Treichel 2012) Eichengreen và cộng sự (2013) chỉ ra tăng trưởng chậm lại thường ít xảy ra ở những nước có cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đa dạng và các mặt hàng công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu Lin và Treichel (2012) phân tích kinh nghiệm phát triển kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc trong thập niên 60 - 90, đồng thời nghiên cứu sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc trong những năm gần đây Kết quả cho thấy những quốc gia này đều có

sự thay đổi trong cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng hiện đại hoá, do đó các nước châu Mỹ La Tinh muốn thoát BTNTB cần học hỏi từ các quốc gia trên, chính phủ cần

có chính sách hỗ trợ những ngành công nghiệp có lợi thế so sánh, thúc đẩy ngành công nghiệp công nghệ cao

1.2.4 Thể chế

Theo Kanchoochat (2014) thể chế kém là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến BTNTB Các tác giả cũng chỉ ra rằng các chính sách phát triển không đủ và không phù hợp là nguyên nhân khiến các quốc gia rơi vào BTNTB Paus (2014) điều tra một

số nước Châu Mỹ La tinh những năm 2000 Các tác giả tiếp cận theo hướng tập trung vào năng suất của các quốc gia và chỉ ra rằng cần phải có sự thay đổi thể chế các quốc gia này mới thoát được BTNTB Chính sách chính phủ mang tính chiến lược, năng động và toàn diện là yếu tố cốt lõi giúp các quốc gia đạt được mức thu nhập cao Thể chế cũng là một trong bảy yếu tố khiến tăng trưởng chậm lại tại các quốc gia mắc BTNTB Châu Mỹ La Tinh và Châu Á được chỉ ra trong nghiên cứu của Aiyar và cộng sự (2013) Theo nghiên cứu của Kharas và Kohli (2011), các quốc gia trong BTNTB không thể điều chỉnh các chính sách tăng trưởng hợp lý để đạt được mức thu nhập cao hơn Wing Thye Woo (2009) cho rằng Malaysia hiện đang mắc BTNTB vì nước này vẫn đang sử dụng chiến lược tăng trưởng kinh tế được xây dựng vào năm

Trang 38

1970 không phù hợp với tăng trưởng dựa trên tri thức, chiến lược này đã khiến Malaysia rơi vào BTNTB

Võ Trí Hảo (2016) chỉ ra những bất cập trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam đó là vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế còn quá lớn Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa được tạo điều kiện để phát triển do đó Việt Nam có nguy cơ rơi vào BTNTB Ohno (2017) thực hiện một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chất lượng chính sách công nghiệp và hiệu quả tăng trưởng Nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng chính sách công nghiệp thiếu chất lượng là nguyên nhân chính gây ra BTNTB tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển ngày nay trong đó có Việt Nam Một trong những giải pháp được Tran Van Tho (2013) đưa ra để các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng vượt BTNTB thành công là xây dựng hệ thống thể chế

để hỗ trợ cho khu vực tư nhân phát triển Charles Gore (2017) cho rằng Việt Nam cần cải cách chính sách mạnh mẽ, xây dựng chính phủ hiệu quả và lĩnh vực tư nhân năng động với các doanh nghiệp lớn để có thể thoát BTNTB thành công

Chính sách và thể chế kém khiến gia tăng bất bình đẳng thu nhập tại các quốc gia TNTB Trong quá trình phát triển của mình, các nước thu nhập thấp sẽ chuyển đổi sản xuất từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, khoảng cách thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất sẽ tăng lên Sau khi đạt mức TNTB, sự phát triển của giáo dục và quá trình công nghiệp hoá sẽ giúp giảm bất bình đẳng thu nhập Tuy nhiên, bất bình đẳng thu nhập kéo dài trong giai đoạn TNTB có thể là nhân tố kìm hãm sự tăng trưởng; nguyên nhân chính là nó có thể ngăn các cá nhân có ít tài sản (và con cái của họ) phát triển kỹ năng vì không thể có tài sản đảm bảo cho các khoản vay để giáo dục cao cấp Bất bình đẳng thu nhập cũng gây ra bất ổn xã hội và kéo lùi tăng trưởng kinh tế Egawa (2013) đưa ra lý do tương tự giải thích tại sao các nước TNTB không thể tiếp tục tăng trưởng với tốc độ như trước nếu thể chế kém và bất bình đẳng thu nhập vẫn giữ ở mức cao hoặc trở nên tệ hơn ở giai đoạn phát triển

đó Panther và Flechtner (2015) phân tích BTNTB cho 67 quốc gia có TNTB với số liệu giai đoạn 1976 đến 2009 bằng phương pháp so sánh tương đối định tính Nghiên cứu chỉ ra bất bình đẳng trong nước và quốc tế là nguyên nhân chính khiến các nước rơi vào BTNTB

1.2.5 Hội nhập

Trang 39

Aiyar và cộng sự (2013) xác định yếu tố quyết định đến “tăng trưởng chậm lại”, nhấn mạnh tầm quan trọng của thể chế, nhân khẩu học, cơ sở hạ tầng, cơ cấu thương mại Các tác giả phát triển một sơ đồ bẫy (“trap map”) cho các nước TNTB ở Châu Mỹ La Tinh và Châu Á (MENA) Sơ đồ này chỉ ra 7 yếu tố: Thể chế, dân số, thông tin liên lạc, đường xá, cơ cấu sản lượng, yếu tố vĩ mô và thương mại đóng vai trò quan trọng đối với nguy cơ tăng trưởng chậm lại Kết quả chỉ ra rằng các nước Châu Á có nguy cơ bị tăng trưởng chậm lại do yếu tố thông tin liên lạc, trong khi đó yếu tố thương mại đóng vai trò làm giảm nguy cơ suy giảm tăng trưởng Điều này khác với các nước ở Châu Mỹ La Tinh

Về giải pháp thoát BTNTB, Uruguay đã áp dụng các chính sách phát triển hiệu quả như tham gia Mercosur - hiệp định thương mại tự do cùng với Argentina và Brazil trong những năm 1990, thực hiện cải cách những năm 2000 với mục tiêu thu hút FDI,

đa dạng hoá xuất khẩu và tạo ra môi trường hỗ trợ đổi mới sáng tạo (Barrios và các cộng sự, 2010) Những cải cách đó đã giúp quốc gia này phục hồi sau khủng hoảng tài chính năm 1994 và 2002, đạt được năng suất và tốc độ tăng trưởng cao

Nghiên cứu của Lembaran (2018) so sánh các quốc gia Đông Nam Á với các quốc gia Đông Bắc Á (đặc biệt là Hàn Quốc) nhằm tìm ra nguyên nhân các quốc gia Đông Nam Á rơi vào BTNTB Kết quả của nghiên cứu chỉ ra các quốc gia Đông Nam

Á không thể vượt khỏi BTNTB một phần là do các nước này quá phụ thuộc vào đầu

tư nước ngoài và công nghệ nước ngoài trong lĩnh vực xuất khẩu

Tran Van Tho (2014) cũng khẳng định kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây tăng trưởng chủ yếu nhờ vào khu vực FDI nhưng tốc độ tăng trưởng không cao Việc Việt Nam quá phụ thuộc vào FDI cũng dẫn tới hệ lụy là sự mất cân bằng trong

cơ cấu, các lĩnh vực tập trung nhiều vốn FDI thì phát triển trong khi các lĩnh vực khác thì không Thêm vào đó, mối liên kết dọc giữa doanh nghiệp có vốn FDI và doanh nghiệp trong nước cũng rất yếu, do vậy hiệu ứng lan tỏa của FDI còn hạn chế Võ Trí Hảo (2016) chỉ ra doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đang được nhận quá nhiều ưu đãi trong khi đóng góp của những doanh nghiệp này vào tăng trưởng chưa cao, đồng thời các doanh nghiệp này cũng gây ra nhiều ảnh hưởng lên môi trường, điều này không tốt cho tăng trưởng trong dài hạn này khiến Việt Nam đối mặt với nguy cơ rơi vào BTNTB

Trang 40

Theo Nguyễn Minh Phong (2014), Việt Nam muốn thoát BTNTB cần có biện pháp khai thác tốt nguồn vốn FDI, kiều hối; thúc đẩy các hiệp định thương mại song phương Nguyễn Văn Luân và Ngô Văn Hải (2015) cho rằng Việt Nam sẽ thoát được BTNTB nếu chuyển đổi triệt để mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, thực hiện quyết liệt chiến lược về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, chủ động tích cực hội nhập kinh tế quốc tế để kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực Nguyễn Quỳnh Huy (2019) chỉ ra các nước thành công trong thoát khỏi BTNTB có chất lượng nhân lực cao hơn, nhất là tỷ lệ nhân lực tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển, mức độ bất bình đẳng và khu vực phi chính thức thấp hơn Đặc biệt các nước này có mức độ liên kết sâu với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và thúc đẩy cơ chế nâng cấp công nghệ trong quá trình phát triển Do đó, các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) muốn thoát BTNTB cần ưu tiên thúc đẩy môi trường để tăng tính kết nối giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, đầu tư mạnh vào giáo dục gắn liền với nghiên cứu và phát triển, giảm bớt tình trọng bất bình đẳng và quy mô của khu vực phi chính thức

Trong nghiên cứu của mình Dinh (2014) kết luận rằng nếu muốn tiếp tục con đường tăng trưởng kinh tế nhanh, thì Việt Nam phải thực hiện chuyển đổi cơ cấu để nâng người lao động từ nền nông nghiệp năng suất thấp và chỉ lắp ráp các nguyên liệu đầu vào nhập khẩu lên các hoạt động năng suất cao hơn Tác giả cho thấy có sự khác biệt giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp được hỗ trợ bởi vốn FDI Các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp FDI thường không có sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp nhỏ trong nước Kết quả là, sản phẩm cuối cùng có ít giá trị gia tăng; công nghệ và chuyên môn không được chia sẻ; và nền kinh tế đã không thể tiến lên nấc thang chuyển đổi cơ cấu Để nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, cần thực hiện các biện pháp thúc đẩy sự mở rộng của các doanh nghiệp nhỏ trong nước, đồng thời giúp các doanh nghiệp này đạt được năng suất cao hơn thông qua hội nhập thương mại Việt Nam cần thu hút FDI vào những lĩnh vực sản xuất đã có lợi thế so sánh và tạo dựng được thị phần như các ngành kinh doanh nông sản, hàng may mặc và gỗ

1.2.6 Các yếu tố khác

Yiping và các cộng sự (2014) sử dụng số liệu của 80 quốc gia từ 1990 tới 2013

Ngày đăng: 06/04/2022, 22:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), Xu hướng đô thị hóa ở Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và một số hệ lụy, http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=21873 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xu hướng đô thị hóa ở Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và một số hệ lụy
Tác giả: Ban Các vấn đề Xã hội và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2019
3. Báo cáo Papi, 2017, Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Việt Nam, https://papi.org.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Việt Nam
4. Bộ kế hoạch và đầu tư (2019), Năng suất lao động của Việt Nam thua xa so với các nước trong khu vực, Hội nghị cải thiện NSLĐ QG, https://congthuong.vn/nang-suat-lao-dong-cua-viet-nam-thua-xa-so-voi-cac-nuoc-trong-khu-vuc-123479.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất lao động của Việt Nam thua xa so với các nước trong khu vực, Hội nghị cải thiện NSLĐ QG
Tác giả: Bộ kế hoạch và đầu tư
Năm: 2019
5. Bộ kế hoạch và đầu tư, Ban nguồn và phát triển thông tin, Bản tin điện tử số 10 (6/2019), Chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR;http://file.ncif.gov.vn/Media/bantinattachfile/20190624105248/ICOR%20Final.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR
6. Bộ lao động - thương binh và xã hội (2020), Năng suất lao động giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm. Truy cập ngày 12/3/2021 tại website:http://www.molisa.gov.vn/Pages/tintuc/chitiet.aspx?tintucID=224265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất lao động giai đoạn 2016 - 2020 tăng 5,8%/năm
Tác giả: Bộ lao động - thương binh và xã hội
Năm: 2020
7. Bộ tài chính (2021), Rủi ro khi xuất khẩu phụ thuộc vào FDI, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ttsk/dtn/ttskdtn_chitiet?dDocName=MOFUCM199215&amp;dID=207692&amp;_afrLoop=2757477218697531#%40%3FdID%3D207692%26_afrLoop%3D2757477218697531%26dDocName%3DMOFUCM199215%26_adf.ctrl-state%3D13bw4siaq_4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro khi xuất khẩu phụ thuộc vào FDI
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2021
8. Bộ tài chính, (2020), Bản tin nợ công, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/btc/r/lvtc/qln/qln_chitiet?dDocName=MOFUCM177611&amp;_afrLoop=266672145817000#%40%3F_afrLoop%3D266672145817000%26dDocName%3DMOFUCM177611%26_adf.ctrl-state%3Dmi8ius5fe_137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin nợ công
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2020
9. Bộ xây dựng, (2020), Câu chuyện chuyển đổi số tại Việt Nam: Động lực đến từ thể chế, https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1184/66374/cau-chuyen-chuyen-doi-so-tai-viet-nam--dong-luc-den-tu-the-che.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện chuyển đổi số tại Việt Nam: Động lực đến từ thể chế
Tác giả: Bộ xây dựng
Năm: 2020
10. Chu Văn Cấp &amp; Nguyễn Đức Hải, (2015), Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình: Nhìn dưới góc độ mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Tạp chí phát triển &amp; hội nhập, số 24(34) - Tháng 09-10/2015, tr13 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình: Nhìn dưới góc độ mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Tác giả: Chu Văn Cấp &amp; Nguyễn Đức Hải
Năm: 2015
11. Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên (2016), Điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam để tránh bẫy thu nhập trung bình, Hội thảo quốc tế Việt Nam học 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam để tránh bẫy thu nhập trung bình
Tác giả: Phan Thế Công và Phạm Thị Minh Uyên
Năm: 2016
12. Trương Văn Dũng (2020), Đô thị hoá với phát triển bền vững con người ở Việt Nam hiện na, https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/do-thi-hoa-voi-phat-trien-ben-vung-con-nguoi-o-viet-nam-hien-nay-67852.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hoá với phát triển bền vững con người ở Việt Nam hiện na
Tác giả: Trương Văn Dũng
Năm: 2020
13. Trần Thị Hà (2018) Viện chiến lược và chính sách tài chính, Vượt bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho Việt Nam, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/r/m/ncvtd/ncvtd_chitiet?dDocName=UCMTMP121700&amp;_afrLoop=2959482797390243#%40%3F_afrLoop%3D2959482797390243%26dDocName%3DUCMTMP121700%26_adf.ctrl-state%3Drv6l7eisq_4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vượt bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý chính sách cho Việt Nam
14. Võ Trí Hảo, 2016, Hội thảo quốc tế:”Bẫy thu nhập trung bình: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”, TT nghiên cứu chiến lược và chính sách quốc gia, ĐHQG TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc tế:”Bẫy thu nhập trung bình: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”
15. Đàm Thị Hiền (2021), Phát triển kinh tế số ở Việt Nam: Thách thức và gợi ý giải pháp, Bài đăng trên tạp chí tài chính kỳ 2, tháng 6/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế số ở Việt Nam: Thách thức và gợi ý giải pháp
Tác giả: Đàm Thị Hiền
Năm: 2021
16. Trần Việt Hoà (2019), Thành tựu nổi bật và đóng góp của KH&amp;CN trong thực hiện các mục tiêu phát triển của ngành Công Thương; Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 11 năm 2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu nổi bật và đóng góp của KH&CN trong thực hiện các mục tiêu phát triển của ngành Công Thương
Tác giả: Trần Việt Hoà
Năm: 2019
44. Benjamin E.Diokno (2017), Economic and Fiscal Policy Determinants of public deficits: The Philippine Case,https://www.econstor.eu/obitstream/10419/46651/1/538098449.pdf Link
50. Ceicdata, 2020, https://www.ceicdata.com/en/indicator/vietnam/labour-productivity-growth Link
122. Muhammad Zulfikar Rakhmat &amp; Dikanaya Tarahita (2018), Indonesia seeks to raise human capital. https://www.asiasentinel.com/p/indonesia-raise-human-capital Link
158. Shinichi, .I. (1998), Political Economy of Japanese and Asian Development, https://doi.org/10.1007/978-4-431-66962-3, tr 37 Link
190. World Bank, (2021a), Middle Income Countries, https://www.worldbank.org/en/country/mic/overview191. World Bank, (2021b), Middle Income Trap,https://elibrary.worldbank.org/doi/pdf/10.1596/9780821387856_CH04 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ khung phân tích - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 1 Sơ đồ khung phân tích (Trang 18)
Hình 2.1: 5 giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế - Nguồn: Kenichi Ohno (2011) - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 2.1 5 giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế - Nguồn: Kenichi Ohno (2011) (Trang 54)
Hình 2.2: Mô hình tăng trưởng của Tran Van Tho (2013) - Nguồn: Tran Van Tho. 2013 - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 2.2 Mô hình tăng trưởng của Tran Van Tho (2013) - Nguồn: Tran Van Tho. 2013 (Trang 55)
Hình 3.1: Thu nhập bình quân đầu người của các nền kinh tế châu Á thành công - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.1 Thu nhập bình quân đầu người của các nền kinh tế châu Á thành công (Trang 63)
Hình 3.2: Tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trong giai đoạn TNTB - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.2 Tốc độ tăng trưởng của các quốc gia trong giai đoạn TNTB (Trang 65)
Hình 3.3: Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%) - Nguồn: NCS tính toán dựa trên số liệu PWT9 3 - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.3 Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP (%) - Nguồn: NCS tính toán dựa trên số liệu PWT9 3 (Trang 69)
Hình 3.4: Vốn nhân lực các nước châu Á thành công và Mỹ giai đoạn 1950 - 1995 - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.4 Vốn nhân lực các nước châu Á thành công và Mỹ giai đoạn 1950 - 1995 (Trang 71)
Hình 3.5: TFP các nước Đông Á và Mỹ giai đoạn 1951 -1995 - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.5 TFP các nước Đông Á và Mỹ giai đoạn 1951 -1995 (Trang 75)
Hình 3.6: GDP BQĐN của Philippines, Indonesia và một số quốc gia phát triển - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.6 GDP BQĐN của Philippines, Indonesia và một số quốc gia phát triển (Trang 88)
Hình 3.8: Tăng trưởng kinh tế của Indonesia - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.8 Tăng trưởng kinh tế của Indonesia (Trang 90)
Hình 3.9: Vốn nhân lực của Philippines - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 3.9 Vốn nhân lực của Philippines (Trang 94)
Hình 4.1: GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới giai đoạn 2002 - 2020 - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 4.1 GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới giai đoạn 2002 - 2020 (Trang 99)
Hình 4.2: Tăng trưởng GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới từ 2008 - 2020  (tính - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 4.2 Tăng trưởng GDP BQĐN của Việt Nam và thế giới từ 2008 - 2020 (tính (Trang 100)
Hình 4.3: Tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế Việt Nam - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 4.3 Tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế Việt Nam (Trang 101)
Hình 4.4: Tỷ lệ đóng góp vào GDP Việt Nam của từng khu vực kinh tế - Bẫy thu nhập trung bình: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam
Hình 4.4 Tỷ lệ đóng góp vào GDP Việt Nam của từng khu vực kinh tế (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w