Ô nhiễm môi trường do rất nhiều nguyên nhân gây nên, ô nhiễm từ các hoạt động công nghiệp như chất thải của các nhà máy xí nghiệp, đến các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như việc l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
PHẠM THỊ XOAN
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
======
PHẠM THỊ XOAN
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ THỊ MINH THẢO
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo Lê Thị Minh Thảo người đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô trong khoa Giáo dục Chính trị
đã nhiệt tình giảng dạy, cảm ơn Ban Chủ nhiệm khoa và Ban Giám hiệu Nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho em học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách, thành phố Hải Dương đã giúp tôi thực hiện đề tài này
Vì điều kiện thời gian có hạn, khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong quý thầy cô và mọi người chỉ bảo thêm và cho ý kiến đóng góp
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2019
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Xoan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Tiến sĩ Lê Thị Minh Thảo
Khóa luận với đề tài “Vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay” chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Nếu có gì sai phạm người viết sẽ chịu mọi hình thức kỉ luật theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2019
Tác giả khóa luận
Phạm Thị Xoan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa của đề tài 5
7 Kết cấu của khóa luận 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NÔNG THÔN Ở HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.2 Tổng quan về huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 18
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 23
2.1 Thực trạng vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách 23
2.2 Hậu quả và nguyên nhân do ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách hiện nay 31
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 43
3.1 Một số phương hướng cơ bản trong việc khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn tại huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương 43
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay 46
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
BVMT : Bảo vệ môi trường BVTV : Bảo vệ thực vật CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TN&MT : Tài nguyên và môi trường
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông thôn, nơi sống thân thiết của mỗi chúng ta, trải rộng mênh mông dọc theo chiều rộng của đất nước Nông thôn Việt Nam cũng chịu sự tác động sâu sắc của quá trình phát triển hướng tới một xã hội công nghiệp đang diễn
ra ở nước ta Nhiều tác động diễn ra hằng ngày, hàng giờ làm thay đổi tận gốc nếp ăn, nếp sống, nếp nghĩ của con người, cũng như môi trường sống của họ theo cả chiều xấu và chiều tốt
Vấn đề nhiễm môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Ô nhiễm môi trường do rất nhiều nguyên nhân gây nên, ô nhiễm từ các hoạt động công nghiệp như chất thải của các nhà máy xí nghiệp, đến các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật cho cây trồng, chăn nuôi; rác thải từ sinh hoạt của người dân,… đã làm cho môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Vì vậy, mà chúng ta cần chung tay để cứu lấy môi trường nông thôn
Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách của mọi thời đại, là thách thức gay gắt đối với sự phát triển tương lai của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng thể không loại trừ Là một vấn đề vô cùng rộng rãi và phức tạp đòi hỏi phải giải quyết, nhanh chóng với cùng sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và thường xuyên của mọi cá nhân, cộng đồng, quốc gia và toàn thể nhân loại trong thể nhân loại trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực của đời sống con người
Hằng ngày, chúng ta phải chứng kiến sự tàn phá ghê gớm của việc ô nhiễm môi trường tới cảnh quan nông thôn mà còn đối với cả sức khỏe người dân đang bị đe dọa từng ngày, từng giờ Ô nhiễm đã đổ lên những cánh đồng, những dòng sông, còn bệnh tật đổ lên đầu những người nông dân lao động
Họ chỉ biết đứng nhìn môi trường bị hủy hoại
Chính những hậu quả do ô nhiễm môi trường đã xuất hiện các làng ung thư, làng bệnh tật Những thứ bệnh đó chỉ có những người phải làm việc trong những nơi chứa nhiều chất độc hại mới bị mắc phải, nay cả những người nông dân cũng bị mắc phải những căn bệnh hiểm nghèo đó Việc chạy chữa cho
Trang 8những căn bệnh đó đã khiến những người nông dân phải bán cả nhà cửa, gia tài để lên thành phố chạy chữa Có khi không đủ tiền để chống chọi những căn bệnh tử thần quái ác đó, người nông dân phải nằm chờ chết
Tiếp đó, là sự chỉ đạo chưa sát sao của các cấp, các ban ngành thuộc về môi trường Ô nhiễm môi trường gây ra những hậu quả xấu tới hệ sinh thái môi trường nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp ngay cả đến sức khỏe người dân Không những vậy, khu vực nông thôn còn chịu sự tác động sâu sắc của quá trình CNH – HĐH đang diễn ra ở nước ta hiện nay để đưa đất nước ngày càng phát triển ở tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, quân sự, ngoại giao và sánh vai với các nước trên thế giới Huyện Nam Sách là một trong những huyện có nền kinh tế phát triển góp phần mạnh mẽ vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Hải Dương Song, khu vực này đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do hoạt động sản xuất chăn nuôi, nông nghiệp, công nghiệp, rác thải sinh hoạt,… ở trong huyện Các biện pháp đã được áp dụng để giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn nhưng vẫn chưa cải thiện được nhiều do lượng rác thải ngày càng nhiều Đã đến lúc, chúng ta phải đề cao việc bảo vệ để cứu lấy môi trường nông thôn hiện nay
Từ thực tiễn đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Vấn đề ô nhiễm môi trường
nông thôn ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay” cho khóa luận của
mình Từ đó, có thể thấy rõ về hiện trạng ô nhiễm nông thôn hiện nay, đề ra một số giải pháp để hạn chế tình trạng đó giúp cải thiện môi trường sinh thái tạo ra những điều kiện sống tốt cho người dân
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn nói chung, đã có nhiều tác giả nghiên cứu:
Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2008), “Báo cáo môi trường quốc gia”
Báo cáo đưa ra những nguyên nhân cơ bản của tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn hiện nay trên cả nước, đồng thời đưa ra giải pháp khắc phục tình trạng này
Tác giả Đinh Hạnh Thưng và Đặng Quốc Nam (2002) đã viết bài“Môi trường nông thôn và một số giải pháp định hướng”, tạp chí Bảo vệ môi
Trang 9trường, số 2 Đã chỉ ra trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ngày càng nhanh không đi cùng với việc nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, không kịp bồi dưỡng về các kiến thức sản xuất mới, lại thiếu hiểu biết về vệ sinh môi trường cũng như lao động, cho nên việc đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp ở nhiều địa phương đã làm ô nhiễm môi trường
Trong cuốn “Một số vấn đề ô nhiễm và suy thoái đất đai ở Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (2010), Nxb Chính trị Quốc Gia Tác giả đi sâu nghiên cứu thực trạng ô nhiễm và suy thoái đất đai với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hay chính là đi tìm hiểu nguyên nhân gây ra ô nhiễm và suy thoái đất đai từ các ngành nông nghiệp, công nghiệp, trong quá trình phát triển làng nghề, ô nhiễm do rác thải và ảnh hưởng từ những chính sách trong quản lý và quy hoạch đất đai
Nhóm tác giả Nguyễn Đức Khiển – Phạm Văn Đức – Đinh Minh Trí
(2010), trong giáo trình “Thực thi luật và chính sách bảo vệ môi trường tại Việt Nam”, Nxb Thông tin và tuyên truyền đã đề cập đến các vấn nạn ô nhiễm
môi trường như vấn đề an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí… đang là nỗi bức xúc của toàn xã hội
Tác giả Đào Đức Thắng (2012) đã viết công trình “Ô nhiễm môi trường
ở nông thôn đang báo động” đã đề cập đến môi trường nông thôn hiện nay
như việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy cách đã gây ảnh hưởng không những người sử dụng và người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng tới môi trường sống Tác giả cũng phân tích tình trạng hiện nay nông thôn đang trong quá trình CNH - HĐH nên đã xuất hiện các khu công nghiệp, khu chế xuất, liên doanh tại các khu vực nông thôn nhưng không đầu tư công nghệ xử
lí môi trường đã gây nghiêm trọng đếm môi trường
Giáo trình “Giáo dục môi trường” (2001) do tác giả Nguyễn Kim
Hồng viết, Nxb Giáo dục đã nói đến một số khái niệm cơ bản về môi trường, những vấn đề môi trường trên thế giới và Việt Nam hiện nay và việc giáo dục môi trường trong nhà trường
Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường nông thôn đang là một vấn đề nổi cộm, vấn đề này có tính chất phức tạp ở chỗ: mỗi một vùng miền, địa phương có sự
Trang 10khác nhau Nhưng nghiên cứu mang tính chất địa phương còn ít, nghiên cứu chưa sâu, chưa mang tính khả thi Ở huyện Nam Sách cũng đã đưa ra những nguyên nhân và giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn Nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn vẫn tồn tại và gây ảnh hưởng tới sự phát triển của địa phương
Chính vì vậy, đề tài này được coi là hết sức mới mẻ, hấp dẫn, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở lý luận về ô nhiễm môi trường nông thôn, khóa luận đã nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương hiện nay, từ đó đưa ra những phương hướng cơ bản và giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách nói riêng và bảo
vệ môi trường nông thôn Việt Nam nói chung
Từ đó, đề ra giải pháp nhằm khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn
ở hyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 11Về mặt thời gian: tập trung nghiên cứu về ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách từ năm 2010 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Khóa luận chủ yếu dựa trên một số vấn đề lý luận về môi trường và tổng quan về nông thôn ở huyện Nam Sách, từ đó đưa ra thực trạng và biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nông thôn huyện Nam Sách hiện nay
* Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp cụ thể như: phân tích và tổng hợp, thống kê, so sánh, logic - lịch sử,
6 Ý nghĩa của đề tài
Khóa luận có thể làm tư liệu tham khảo cho huyện Nam Sách, những người quan tâm đến vấn đề môi trường và cho sinh viên chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương và 6 tiểu tiết
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ NÔNG THÔN Ở HUYỆN NAM
SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Ô nhiễm môi trường và phân loại ô nhiễm môi trường
* Khái niệm môi trường và ô nhiễm môi trường
Khái niệm môi trường
Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, năm 2005 “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”
Phân loại môi trường
Theo mục đích nghiên cứu:
Môi trường tự nhiên: bao gồm các yếu tố thiên nhiên vật lí, hóa học, sinh học tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người hoặc ít sự chi phối của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất nước… Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường nhân tạo: bao gồm tất cả những yếu tố vật lí, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người như ô tô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo,…
Môi trường xã hội: Là quan hệ giữa người với người, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và cộng đồng con người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định,… ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một
Trang 13khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Theo vùng địa lí: dựa vào những vùng địa lí có cùng một điều kiện môi trường như nhau, chẳng hạn: Môi trường miền núi, môi trường trung du, môi trường đồng bằng, môi trường ven biển,…
Theo thành phần môi trường: theo Luật BVMT Việt Nam chia thành: Môi trường không khí, môi trường nước và nguồn nước, môi trường rừng, môi trường biển, môi trường trong lòng đất,…
Chức năng của môi trường:
Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người
Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Con người luôn cần một khoảng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không giann khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất mới Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi
Khái niệm ô nhiễm môi trường
Theo luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam, năm 2005:
“Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng đến con người và sinh vật”
“Tiêu chuẩn môi trường: là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng của môi trường xung quanh, hàm lượng các chất gây ô nhiễm trong chất thải” [16]
Trang 14* Phân loại ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường đất:
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần
xã sống trong đất [16]
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật trên cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con người Đất là một tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài ngyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho con người
Ô nhiễm môi trường nước:
Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làm giảm độ đa dạng các sinh vật trong sinh vật trong nước Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn
ô nhiễm đất [16]
Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại hóa chất, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra sông, ra biển mà chưa qua xử lý; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu dư thừa trên đồng ruộng ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông gây ô nhiễm trầm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, sinh vật trong khu vực
Ô nhiễm môi trường không khí:
Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây mùi khó chịu, giảm thị lực khi nhìn xa do bụi.[19, tr.60-66]
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang
có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Ô
Trang 15nhiễm không khí đến từ con người lẫn tự nhiên Ô nhiễm từ xe gắn máy cũng
là một loại ô nhiễm khí đáng lo ngại
Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây nhiều bệnh cho con người Nó còn tạo ra các cơn mưa axit làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh đồng Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như: CO2, đã gây hiệu ứng nhà kính Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà kính là cacbonic (CO2), nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, mêtan (CH4) là 13%, nitơ (N2) 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3% [19, tr.68]
Ô nhiễm ánh sáng, hiện nay con người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng một cách lãng phí ảnh hưởng lớn tới môi trường như ảnh hưởng tới quá trình phát triển của động thực vật
Trong đề tài này, tôi đã tiếp cận ô nhiễm môi trường theo lát cắt ngang, nghĩa là nghiên cứu các vấn đề gây ra ô nhiễm môi trường nông thôn trên một
số lĩnh vực, hoạt động
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cơ bản và vai trò của nông thôn
* Khái niệm nông thôn:
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã”
Trang 16Ngoài ra, nông thôn còn được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn là nơi có mật độ dân cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, có
cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp so
với thành thị
* Đặc điểm cơ bản nông thôn:
Dân cư ở nông thôn cư trú tập trung trong nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi khu vực nhất định được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế -
xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán và các yếu tố khác
Kinh tế nông thôn chủ yếu là kinh tế nông nghiệp mang nhiều yếu tố tự nhiên: nhà, vườn, ao, ruộng, thường gắn với những điều kiện địa lý có sẵn, trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành chính, ngoài ra còn có các nghề thủ công, chế biến lương thực, thực phẩm, buôn bán nhỏ theo hộ gia đình
Chính trị ở nông thôn ngoài hệ thống chính quyền xã, thôn do Nhà nước điều hành trên cơ sở pháp luật còn có hệ thống cương vị chức sắc trong dòng dòng tộc, trưởng thôn,… điều chỉnh hành vi của các thành viên bằng tục
lệ hay quy ước
Văn hóa nông thôn chủ yếu là văn hóa dân gian, thông qua lễ, hội,… để truyền những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, lối sống, kinh nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác Văn hóa nông thôn đã bảo tồn được những giá trị quý báu mang tính truyền thống
Trang 17* Vai trò của nông thôn:
Trong quá trình phát triển đất nước, nông thôn có vai trò rất to lớn trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Lịch sử phát triển trong quá khứ cho thấy đã từng có một số nước chỉ chú ý nhiều tới phát triển các đô thị, các khu công nghiệp hiện đại mà ít chú ý đến phát triển nông thôn Tình hình đó, đã làm tăng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, xã hội giữa nông thôn và đô thị
Khu vực nông thôn, trong đó có ngành công nghiệp, có đóng góp quan trọng vào việc tăng trưởng chung của nền kinh tế Sự đóng góp này trước hết thể hiện ở trong nông nghiệp trong GDP của đất nước
Ngoài ra, sự đóng góp của khu vực nông nghiệp nông thôn còn thể hiện
ở việc đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm quốc gia, cung cấp các yếu tố đầu vào nói chung như đất đai, tài nguyên khoáng sản, nguồn lao động cho sự phát triển công nghiệp nói chung, cung cấp nguồn nguyên liệu nông sản cho công nghiệp chế biến, tham gia vào xuất khẩu tạo thu nhập ngoại tệ cho đất nước và đặc biệt là vai trò bảo vệ môi trường sinh thái
* Theo thông tư 35/2016/TT-BNNTNT hướng dẫn thực hiện tiêu chí huyện đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 [20]
1 Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa bàn huyện đạt tiêu chuẩn khi:
a, Có đề án hoặc kế hoạch hoặc phương án quản lý (giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý) chất thải rắn trên địa bàn huyện được phê duyệt và triển khai thực hiện, bao gồm các hạng mục công trình, biện pháp, nhân lực, trang thiết bị, phương tiện đảm bảo yêu cầu
b, Khu xử lý chất thải rắn trên địa bàn huyện (nếu có) phải đầy đủ hồ
sơ, thủ tục về môi trường theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này và phải đảm bảo:
Bãi chôn lấp chất thải rắn (nếu có) phải tuân thủ tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam về bãi chôn lấp chất thải rắn (TCXDVN 261:2001); nước thải tù bãi
Trang 18chôn lấp phải đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải bãi chôn lấp (QCVN 25:2009/BTNMT);
Lò đốt chắt thải rắn công nghiệp (nếu có) phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn công nghiệp (QCVN 30:2012/BTNMT);
Lò đốt chất thải rắn y tế (nếu có) phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế (QCVN 02:2012/BTNMT), không sử dụng để đốt chất thải rắn công nghiệp và sinh hoạt;
Lò đốt chất thải rắn sinh hoạt (nếu có) phải tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt (QCVN 61-MT:2016/BTNMT), không sử dụng để đốt chất thải rắn công nghiệp và y tế
2 Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực – thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo
vệ môi trường khi:
a, Có đầy đủ hồ sơ, thủ tục về môi tường, bao gồm:
Báo cáo đánh giá tác động môi tường, hoặc đề án bảo vệ môi trường chi tiết, hoặc đề án bảo vệ môi trường đơn giản, hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường, hoặc hồ sơ tương đương theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Đối với các cơ sở thuộc danh mục quy định tại Phụ lục I Nghị định số 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, nếu chưa có các hồ sơ nêu trên phải lập báo cáo về các biện pháp bảo vệ môi trường;
b, Có công trình, biện pháp, hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường để thu gom, phân loại, lưu giữ, tái chế, thu hồi hoặc xử lý chất thải (nước thải, khí thải, chất thải rắn) đúng quy định; thực hiện đầy đủ và đúng các nội dung về bảo vệ môi trường đã cam kết trong các hồ sơ nêu trên
c, Cơ sở nuôi trồng thủy hải sản ngoài các yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản này phải tuân thủ quy hoạch nuôi trồng thủy sản của địa phương và các quy định về bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản tại Điều 71 Luật Bảo
vệ môi trường
Trang 19d, Cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung ngoài các yêu cầu tại điểm
a và điểm b khoản này phải đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y trong chăn nuôi theo quy định tại Luật Thú y, Điều 69 Luật Bảo vệ môi trường
đ, Làng nghề trên địa bàn, cơ sở sản xuất tại làng nghề phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định tại Điểu 70 Luật Bảo vệ môi trường
e, Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng cụm công nghiêp, Ban quản lý khu kinh doanh, dịch vụ tập trung trên địa bàn, cơ sở trong cụm công nghiệp, khu kinh doanh, dịch vụ tập trung phải có đầy đủ hồ sơ, thủ tục
về môi trường theo quy định tại điểm a khoản này
g, Chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp trên địa bàn, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong khu công nghiệp (trừ cơ sở nuôi trồng thủy sản, cơ sở chăn nuôi, khu chăn nuôi tập trung) phải có đầy đủ
hồ sơ, thủ tục về môi trường theo quy định tại điểm a khoản này; đồng thời, phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các quy định về bảo vệ môi trường khu công nghiệp theo quy định tại Điều 66 Luật Bảo vệ môi trường
1.1.3 Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn Việt Nam hiện nay
Với tổng diện tích tương đương khoảng 80% diện tích toàn quốc, nông thôn giữ vai trò là vành đai xanh, góp phần giữ cân bằng sinh thái giữa vùng nông thôn và thành thị Nông thôn là khu vực địa giới hành chính với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, được tổ chức theo đơn vị cơ sở là làng – xã và
có vai trò là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm chính cho người dân, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất công nghiệp, nằm trên địa bàn rộng lớn về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội Nông nghiệp nông thôn giữ vị trí trọng tâm, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Khu vực nông thôn chiếm khoảng 67% dân số toàn quốc với nguồn nhân lực, lao động quy mô lớn [2]
Nông thôn Việt Nam ở mỗi vùng miền có những đặc trưng khác nhau
về điều kiện tự nhiên Vì vậy, sự phát triển kinh tế xã hội cũng có nhiều đặc trưng và định hướng khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quát đặc điểm cơ bản
Trang 20của khu vực nông thôn như: Kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn, nhất là về giao thông, các công trình bảo vệ môi trường như hệ thống cấp, thoát nước,
hệ thống quản lý chất thải rắn chưa được đầu tư tương ứng với mức độ phát triển kinh tế - xã hội; trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào trong sản xuất, bảo vệ môi trường thôn còn hạn chế Điều kiện tiếp cận với tri thức mới về môi trường, việc cập nhật thông tin của người dân nông thôn cũng còn nhiều hạn chế dẫn đến ý thức bảo vệ môi trường và ý thức chấp hành pháp luật của người nông dân chưa cao
Mức thu nhập của người dân còn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn Trình độ tổ chức quản lý có sự khác biệt giữa đô thị với nông thôn, ngay cả giữa các vùng nông thôn cũng có sự khác nhau, mặt bằng trình độ của cán bộ cũng có sự quản lý cấp xã không đồng đều, còn hạn chế về nhận thức
và chuyên môn quản lý, số lượng cán bộ chủ chốt cấp xã có chuyên môn về quản lý môi trường trình độ từ đại học trở lên còn thấp, thậm chí có nhiều cán
bộ chủ chốt cấp xã không được đào tạo chuyên môn về quản lý môi trường, dẫn đến hiệu quả công tác quản lý của địa phương chưa đạt hiệu quả cao, còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập do không đủ trình độ, năng lực quản lý
Công tác quản lý, bảo vệ môi trường khu vực nông thôn thời gian qua
đã có những chuyển biến tích cực, tuy nhiên thực tế công tác này vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn Còn nhiều vấn đề môi trường bức xúc tại khu vực nông thôn phát sinh cùng với quá trình công nghiệp hóa đối với khu vực này Tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong đó việc sử dụng thuốc BVTV, chất kích thích sinh trưởng, phân bón tràn lan trong canh tác nông nghiệp, phế phụ phẩm nông nghiệp không được xử lý triệt để đã đẫn đến ô nhiễm thực phẩm, ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí Quá trình phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản thải ra một lượng lớn chất thải rắn, bùn thải, nước thải có chứa kháng sinh, dư lượng chất kích thích sinh trưởng, mầm bệnh
Cùng với đó sự phát triển của các làng nghề tại địa bàn khu vực nông thôn gây những áp lực lớn đối với công tác bảo vệ môi trường, theo thống kê
cả nước hiện có 1.748 làng nghề (tiêu chí của Chính phủ) tập trung chủ yếu
Trang 21tại khu vực nông thôn với các loại hình như: Tái chế (giấy, nhựa, chì, sắt thép ); sản xuất thực phẩm; thuộc da; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm Các làng nghề sản xuất dựa trên kinh nghiệm, lâu năm với nguồn vốn, khoa học công nghệ hạn chế là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất Điển hình như: Làng nghề tái chế Dương Ổ và làng Phúc Lâm tại
xã Phong Khê, huyện Yên Phong, Bắc Ninh; làng nghề gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội); làng nghề tái chế chì tại xã Chỉ Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên, [3]
Thực trạng môi trường nông thôn nêu trên đã đặt ra những nhiệm vụ cho các cơ quan chức năng có liên quan như: Ngành Tài nguyên và Môi trường; Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý, bảo vệ môi trường Lực lượng Cảnh sát môi trường với vai trò chuyên trách, chủ động trong công tác trong phòng, chống tội phạm và vi phạm hành chính về môi trường trong thời gian qua luôn xác định khu vực nông thôn là địa bàn trọng điểm trong phòng ngừa, đấu tranh Giai đoạn 2014 - 2017, Cảnh sát môi trường đã phát hiện đã phát hiện hơn 60.000 vụ vi phạm với 65.000 đối tượng vi phạm; khởi tố và đề nghị khởi
tố là 1.380 vụ với 1.996 đối tượng, xử lý hành chính với 15.844 cá nhân, 11.018 tổ chức, xử phạt và truy thu phí môi trường là 526,29 tỷ đồng [4]
Có thể thấy, thực trạng môi trường nông thôn trong thời gian vừa qua xuất phát từ một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cơ bản như sau: Khu vực nông thôn có lượng dân số lớn, tập trung nhiều loại hình sản xuất đa dạng nhưng chủ yếu gắn với kinh nghiệm, truyền thống, nguồn vốn và trang bị khoa học kỹ thuật công nghệ thấp Do đó, tình trạng xả thải gây ô nhiễm môi trường còn diễn ra phổ biến; nhận thức của người dân tại khu vực nông thôn
vê môi trường, bảo vệ môi trường, pháp luật về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế
Đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tác động trực tiếp đến chất lượng môi trường; Công tác quản lý, bảo vệ môi trường tại khu vực nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn Đặc biệt quá trình xây dựng nông thôn mới tiêu chí về môi trường, bảo vệ môi trường chưa thật sự được quan tâm, chú trọng; nguồn kinh phí, nguồn lực về con người, trang bị khoa học công nghệ phục vụ cải tiến hệ thống sản xuất, đầu tư hệ
Trang 22thống xử lý chất thải rắn, chất thải sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn nhiều hạn chế, yếu kém
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành một xu thế phát triển tất yếu Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, tại nhiều khu vực nông thôn đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân
ể giảm những tác động từ ô nhiễm môi trường đến sức khỏe người dân đang sinh sống ở các vùng nông thôn hiện nay, thiết nghĩ chúng ta cần phải có các kế hoạch và biện pháp đánh giá toàn diện về thực trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực nông thôn Xác định được các vùng ô nhiễm trọng tâm, trọng điểm nhằm có các biện pháp khắc phục phù hợp và kịp thời
Ở tỉnh Hải Dương, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng Theo đánh giá của Sở TN&MT: “Môi trường của Hải Dương đã có sự
ô nhiễm, tuy chưa đến mức nghiêm trọng, song từng thành phần như môi trường nước, không khí, đất ở một số khu vực, nhất là khu vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đang có xu hướng ô nhiễm gia tăng,… việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân hóa học làm ô nhiễm nguồn nước và đất” Tuy nhiên, kết quả giám sát qua báo cáo và khảo sát trực tiếp tại gần 40 đơn vị, cơ sở sản xuất, thực trạng môi trường ở một số nơi có thể đang ở mức báo động, cần có những giải pháp cấp bách [31]
Nan giải nhất là khu vực sản xuất xi măng ở huyện Kinh Môn Ở đây lúc nào cũng sôi động như một đại công trường Các hoạt động khai thác, chế biến đá gây tiếng ồn, bụi; các đoàn xe vận chuyển hàng ngàn tấn nguyên vật liệu vào các nhà máy xi măng mỗi ngày gây ồn ào, bụi bặm, tàn phá đường giao thông; hoạt động của hai nhà máy xi măng lớn (Hoàng Thạch và Phúc Sơn) cũng gần 10 nhà máy xi măng lò đứng; công nghệ lạc hậu hàng ngày hàng giờ làm ô nhiễm bầu không khí Tất cả các hoạt động trên gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng trong khu vực Những ngày không mưa, nhất là mùa khô, trên lá cây, mái nhà luôn có những lớp bụi bao phủ, bầu trời luôn có
Trang 23những sương mù Một số nhà máy xi măng với công nghệ lạc hậu hơn nằm rải rác ở Kim Thành và Tứ Kỳ,… cũng gây ô nhiễm trong khu vực
Qua kiểm tra một sô bệnh viện, chỉ có viện quân y 7 có hệ thống xử lý nước thải y tế tương đối đảm bảo và có hệ thống lò đốt rác thải y tế đạt chuẩn Theo báo cáo của Sở Y tế, đến nay trong hệ thống các bệnh viện trên địa bàn tỉnh mới có các bệnh viện tuyến tỉnh và 8 bệnh viện tuyến huyện được xử lý rác thải bằng đốt rác y tế, số còn lại chôn lấp tại chỗ Nước thải y tế hầu như không được xử lý Nước thải sinh hoạt lẫn nước thải y tế với lưu lượng hàng trăm m3/ngày tự ngấm xuống khu vực bệnh viện và khu dân cư xung quanh, gây ô nhiễm nặng cho môi trường nước và đất nơi đây [31]
Tại khu công nghiệp Đại An đã đầu tư khá hoàn chỉnh hạ tầng và thu hút dự các dự án đầu ra và thu hút dự án đầu tư cho đất; nước thải của các dự
án trong khu công nghiệp không được xử lý và tùy tiện ngấm vào lòng đất
Môi trường ở cá nhà máy, cơ sở sản xuất giày, đặc biệt các cơ sở chế biến bột giấy từ nguyên liệu thô (tre, gỗ,…) cũng là nơi có nguy cơ ô nhiễm cao Trong quá trình sản xuất bột giấy phải trải qua giai đoạn xử lý hóa chất
đề tẩy, một nước qua lớn Hai bên bờ sông đầu Phú Thái, cơ sở sản xuất giấy Thành Dũng và Thành Phát hiện chưa có xử lý chất thải
Ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở TN&MT Hải Dương cho biết: Hiện nay, tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ở khu vực nông thôn ở Hải Dương khoảng 657,7 tấn/ngày, đêm; trong đó, rác thải có thể tái chế như nhựa, giấy bìa thủy tinh, kim loại,… chiếm 26% [25] Việc xử lý rác thải khu vực nông thôn thực hiện chủ yếu bằng biện pháp chôn lấp Rác thải phát sinh trong sản xuất nông nghiệp như vỏ chai, bao bì thuốc bảo vệ thực vật chưa được thu gom hoặc mới chỉ thu gom tạm vào các bể chứa, chưa được xử lý triệt để Tỉnh Hải Dương đã thành lập được 1.152 đơn vị thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt; trong đó có 1.130 tổ chức thu gom, 14 hợp tác xã và 8 công ty Tỉnh đã và đang đầu tư 3 lò đốt rác thải sinh hoạt vơi tổng công suất 8,5 tấn/giờ Tỉnh cũng đang tiếp tục hỗ trợ 44 xã xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh với kinh phí là 22 tỷ đồng, nâng tổng số xã được hỗ trợ xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh trên địa bàn tỉnh lên thành 156 xã, 3 phường và 5 thị trấn [26]
Trang 241.2 Tổng quan về huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
Bản đồ hành chính huyện Nam sách tỉnh Hải Dương năm 2015
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lí:
Nam Sách là một trong 12 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương, nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Huyện có phía Bắc giáp thị xã Chí Linh, phía Đông giáp huyện Kinh Môn và Kim Thành, phía Tây giáp huyện Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh), phía Tây Nam giáp với huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp với thành phố Hải Dương Huyện cách thủ đô Hà Nội hơn 60 km về phía Tây, cách thành phố Hải Phòng 40 km về phía Đông [24]
Nam Sách có diện tích tự nhiên 109,07 km2 Dân số có 117.614 người Mật độ trung bình 1.074 người/km2 Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 59,2%; tỷ lệ lao động của huyện qua đào tạo chiếm 43% [33]
Trang 25Nam Sách nằm trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai được hình thành bởi sự bồi lắng phù sa của các sông Thái Bình, Kinh Thầy và Lai Vu Địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc thâm canh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển một số ngành nghề khác
Huyện có 19 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 18 xã (An Bình, An Sơn, An Lâm, Cộng Hòa, Đồng Lạc, Hiệp Cát, Hồng Phong, Hợp Tiến, Minh Tân, Nam Chính, Nam Hồng, Nam Hưng, Nam Tân, Nam Trung, Phú Điền, Quốc Tuấn, Thái Tân, Thanh Quang), 01 thị trấn Nam Sách - là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Toàn huyện có 102 thôn, khu dân cư [33]
* Đất đai:
Đất ở Nam Sách được hình thành do sự bồi đắp lắng phù sa của sông Thái Bình, sông Kinh Thày, sông Lai Vu,… Đất đai màu mỡ phù hợp với sự sinh trưởng phát triển của các cây nông nghiệp, đặc biệt là các cây vụ đông như hành, tỏi, các cây vụ đông
* Thủy lợi:
Huyện Nam Sách về cơ bản cả bốn phía đều có sông bao bọc, gồm các sông Thái Bình, sông Kinh Thày, sông Lai Vu Do vậy nguồn nước khá dồi dào, phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt dân cư Tuy nhiên, đây cũng
là một khó khăn cho huyện do giao thông không được thuận lợi và nguy cơ ngập lụt về mùa mưa
* Giao thông:
Nam Sách có hệ thống giao thông rất thuận lợi: Có đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, quốc lộ 5A, Quốc lộ 37, tỉnh lộ 390 chạy qua và có đường thuỷ của ba con sông lớn là Thái Bình, Kinh Thầy, Lai Vu Quốc lộ 37 qua địa bàn huyện có chiều dài 11,9 km Tuyến đường này đã được nâng cấp và hoàn thiện theo tiêu chuẩn đường cấp III, mặt đường bê-tông nhựa, rộng 12m Tuyến tỉnh lộ 390 có chiều dài 8,16 km, mặt đường nhựa với bề rộng mặt đường là 5,5 - 5,7 m [12, tr.40]
Dự án cầu Hàn mới hoàn thành năm 2017, huyện Nam Sách có thêm 01 tuyến đường nối từ đường Ngô Quyền (TP Hải Dương) đi qua các xã: Minh
Trang 26Tân, Hồng Phong, Nam Hồng, An Sơn, Nam Chính, Quốc Tuấn giao với Quốc lộ 37
1.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Nghề lao động chính của người dân Nam Sách là sản xuất nông nghiệp Trước đây có nhiều nghề thủ công truyền thống khá nổi tiếng: nghề đan võng
ở Quan Đình (xã Đồng Lạc); nghề dệt vải ở Đồn Bối (xã Nam Hồng); nghề làm nồi, ấm đất nung ở làng Lâm Xuyên (làng Quao, xã Phú Điền); nghề trồng cói, dệt chiếu (xã Thái Tân, Minh Tân) Đặc biệt là nghề gốm sứ ở Chu Đậu (xã Thái Tân)
Những năm gần đây kinh tế của Nam Sách có tốc độ tăng trưởng khá, bình quân 5 năm 2010-2015 đạt 8,6%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Năm 2014, cơ cấu kinh tế giữa nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là: 28,2% -39,2% - 32,6% Thu nhập bình quân/người/năm đạt hơn 40 triệu đồng [12, tr.9-10]
Nông nghiệp:
Khuyến khích phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại, ứng dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học, đưa giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất Mở rộng diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, với những con
có giá trị kinh tế cao như tôm, cá rô phi đơn tính, cá chim trắng Giai đoạn
2006 – 2010, phấn đấu đưa tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp đạt 7,6 – 7,8%/ năm; tổng thu trên 1ha diện tích đất nông nghiệp vào năm 2010 đạt 53 triệu đồng/ha [12, tr.17]
Diện tích trên 800 ha nuôi trồng thủy sản, 1.038,5 ha sông ngòi tự nhiên và 500 ha đất bãi trũng cây lúa được chuyển đổi sang đào ao lập vườn phát triển nuôi trồng thủy sản [12, tr.19 – 22]
Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá với nhiều vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn như vùng sản xuất cà rốt ở xã Thái Tân, trồng hành vụ đông ở xã Nam Trung, trồng bí xanh ở xã Hợp Tiến, trồng dưa hấu ở xã Nam Hưng, lúa chất lượng cao ở xã Quốc Tuấn, nuôi cá lồng ở
xã Nam Tân,
Trang 27Công nghiệp:
Huyện đã có khu công nghiệp Nam Sách được Chính phủ phê duyệt trên 63 ha, CCN An Đồng đã được tỉnh phê duyệt trên 35 ha, khu Công nghiệp Cộng Hòa Ngoài ra một số doanh nghiệp đã đầu tư vào thị trấn Nam Sách, xã Minh Tân; khả năng dành đất cho công nghiệp ở dọc đường 183, đường 17 của huyện còn lớn [33] Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, nhiều doanh nghiệp đã phát triển và trở thành các doanh nghiệp lớn trong nhiều lĩnh vực trọng yếu của đất nước như một số Công ty cổ phần được xây dựng, góp phần phát triển kinh tế địa phương ổn định quốc phòng
và an ninh, giúp cho nhiều thanh niên có việc làm
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển khá Đến nay, trên địa bàn huyện có gần 300 doanh nghiệp, trong đó có 08 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Riêng CCN An Đồng với diện tích 35,18
ha, thu hút 13 doanh nghiệp vào đầu tư với tổng vốn đầu tư trên 200 tỷ đồng,
tỷ lệ lấp đầy đạt 94,7% [12, tr.30 – 38] Huyện có 08 làng được UBND tỉnh công nhận làng nghề gồm: Làng nghề chế biến nông sản Mạn Đê xã Nam Trung; 03 làng nghề sản xuất hương (An Xá, Đông Thôn, Trực Trì) ở xã Quốc Tuấn; làng nghề mộc Ngô Đồng, xã Nam Hưng; làng nghề bún, bánh Lang Khê, xã An Lâm; làng nghề gốm Chu Đậu, xã Thái Tân; làng nghề sản xuất gạch không nung Lấu Khê, xã Hiệp Cát
1.2.3 Điều kiện về văn hóa – giáo dục
* Giáo dục:
Hiện nay, huyện có 63 trường học (bậc Mầm non có 20 trường, Tiểu học có 19 trường, THCS có 20 trường, THPT có 4 trường) Huyện có 50 trường đạt chuẩn quốc gia; 45,5% số trẻ trong độ tuổi được huy động ra nhà trẻ; 98,5% số cháu trong độ tuổi ra mẫu giáo, 92% số học sinh tốt nghiệp THCS vào học THPT [33]
Hệ thống giáo dục huyện Nam Sách gồm các trương Phổ thông trung học từ lớp 10 -> 12 Ở mỗi xã đều có trường phổ thông cơ sở từ lớp 6 -> 9 và các trường tiểu học từ lớp 5 trở xuống Có 3 trường phổ thông trung học chính
Trang 28quy là: Phổ thông trung học Nam Sách, Phổ thông trung học Mạc Đĩnh Chi và Phổ thông trung học Nam Sách II
* Y tế:
Hệ thống y tế đƣợc phủ kín các xã, thị trấn trên địa bàn toàn huyện Đến hết năm 2017, toàn huyện có 100% xã, thị trấn đƣợc công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2011 - 2020 [33]
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN Ở
HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY
2.1 Thực trạng vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn ở huyện Nam Sách
2.1.1 Ô nhiễm môi trường nông thôn do hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi
Trước tiên dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay là do việc lạm dụng và sử dụng không hợp lí các loại hóa chất sản xuất trong nông nghiệp của người dân trong huyện Diện tích đất canh tác sử dụng thuốc BVTV thì hiện nay là 100% với trên 1000 chủng loại thuốc [1, tr.153 - 157], trong đó nhiều loại thuốc có tính độc tố cao Tất cả các loại cây trồng hầu như đều phải phun thuốc BVTV Điển hình, xã NamTrung là xã trồng cây hành, tỏi với số lượng rất nhiều Vì vậy, vào mỗi vụ thì việc phun thuốc trừ sâu chống bệnh hại cho cây trồng là rất lớn Việc sử dụng không hợp lí, không tuân thủ theo những quy định nghiêm ngặt về quy trình sử dụng nên thuốc bảo
vệ thực vật gây nhiều tác hại cho chính người sử dụng thuốc và người tiêu dùng nông sản và thực phẩm có chứa dư thuốc bảo vệ thực vật, đồng thời ảnh hưởng tới môi trường sống Sau khi sử dụng xong, người dân vứt luôn vỏ bao
bì thuốc bảo vệ thực vật ngay xuống đất, hay xuống mương máng gần đó
Hầu hết người dân ở các xã đều hoạt động sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là sau vụ đông, ở các xã như Nam Trung, Nam Chính, Hợp Tiến, An Lâm,… việc đốt rơm rạ rất nhiều, khói ảnh hưởng đến môi trường không khí Không những thế rơm rạ được người dân phơi đầy ở ngoài đường gây khó khăn cho các phương tiện di chuyển trên đường
Hiện nay, hình thức canh tác nông nghiệp của huyện còn lạc hậu, việc
sử dụng phân động vật tươi hoặc ủ chưa đảm bảo còn phổ biến gây nhiễm bẩn nguồn nước bởi những thành phần hữu cơ và vi sinh vật trong chất thải động vật Bên cạnh đó, hiện nay trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, phân bón hóa học… không có nguồn gốc xuất xứ, không được sự cho phép của các cơ quan khuyến nông đã và đang là mối nguy hại với môi trường đất và môi trường nước Các chất độc hại có trong thuốc trừ
Trang 30sâu, thuốc BVTV, phân bón hóa học một phần được ngấm xuống đất ảnh hưởng đến các tầng nước ngầm phía dưới, một phần theo dòng chảy qua hệ kênh mương nội đồng xả ra hệ thống sông, suối làm ô nhiễm nguồn nước
Do hiện tượng thấm nước mà dư lượng các loại thuốc trừ sâu cũng như phân bón ở các vùng sản xuất nông nghiệp có thể gây ô nhiễm nước ngầm và đất Sự có mặt của những chất này, kể cả khi có nồng độ rất nhỏ cũng gây những hậu quả nghiêm trọng Ước tính trên địa bàn tỉnh có khoảng một nửa lượng phân bón đưa vào đất được cây trồng sử dụng, nửa còn lại là nguồn gây
ô nhiễm môi trường Hệ số sử dụng phân đạm khoảng 60%; trong đó từ 15 - 20% bị huỷ ra khỏi đất dưới dạng khí, 20 - 25% được chuyển vào chất hữu cơ trong đất; 20 - 25% bị rửa trôi ra sông suối dưới dạng NO3 [19] Còn lượng phôtpho bị rửa trôi khỏi đất và đi vào hệ thống sông suối dưới dạng đất bị sói mòn trung bình khoảng 6 - 15kg phôtpho (dạng P2O5) trên 1ha đất canh tác Thuốc BVTV là một trong các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường Theo nghiên cứu, khi phun thuốc BVTV để trừ dịch hại ngoài đồng ruộng thì chỉ có 5 - 7% lượng thuốc tham gia trực tiếp vào quá trình tiêu diệt dịch hại, còn 93 - 95% bị rửa trôi vào nguồn nước, thẩm thấu vào đất canh tác gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và tiêu diệt các loài vi sinh vật có ích Mặt khác, khi phun, thuốc bị khuếch tán vào trong không khí và nhờ gió và mưa sẽ di chuyển đến nhiều vùng khác nhau Thuốc BVTV để lại dư lượng trong các sản phẩm nông nghiệp gây nguy hiểm tới sức khoẻ con người
Bên cạnh hoạt động canh tác nông nghiệp thì hiện nay, hoạt động chăn nuôi ngày càng phát triển và phát triển mạnh theo quy mô tập trung Các hộ gia đình đơn lẻ xả thải trực tiếp chất thải chăn nuôi vào cống rãnh nước thải sinh hoạt mà không có hệ thống bi-ô-ga, gây ra mùi hôi thối khó chịu tại nơi những người dân đang ở Nhiều trang trại chăn nuôi, xí nghiệp chế biến thực phẩm nằm lẫn trong khu dân cư, sản xuất còn đơn lẻ, manh mún thiếu các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường Không chỉ trồng trọt, chăn nuôi mà tình trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát, thiếu quy hoạch, thức ăn thừa không được xử lí, việc sử dụng kháng sinh tùy tiện cũng dẫn đến ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng ở một số xã
Trang 31Trên địa bàn tỉnh có 12 doanh nghiệp và 70 trang trại và tương đương trang trại chăn nuôi đã sử dụng hệ thống chuồng trại công nghệ bán tự động phục vụ sản xuất, còn lại nhiều hộ chăn nuôi hiện chưa sử dụng hệ thống chuồng trại bán tự động Việc cơ giới hóa trong chăn nuôi của các doanh nghiệp chủ yếu ở các khâu cho ăn, nước uống và chế biến thức ăn Hệ thống
xử lý nước thải chăn nuôi trước khi thải ra nguồn tiếp nhận còn chưa được kiểm soát chặt chẽ
2.1.2 Ô nhiễm môi trường nông thôn do hoạt động sản xuất công nghiệp
Tại xã Hiệp Cát, huyện Nam Sách, Hải Dương tồn tại bãi rác thải trái phép rộng 5.000m2, ước tính khối lượng rác thải lên tới 10.000m3
, gây ô nhiễm môi trường nơi đây Nếu không có sự việc tàu hút cát khai thác trái phép tại đây, thì bãi rác khổng lồ này được chô lấp hơn chục năm qua vẫn chưa bị phát hiện Rác thải được chôn lấp ở đây chủ yếu là rác thải công nghiệp như vụn vải, vụn may mũ giầy, rác thải xây dựng Ông Nguyễn Văn Thành, Chủ tịch UBND xã Hiệp Cát cho biết rác thải ở đây được chôn lấp trái phép từ nhiều năm qua, tầm từ khoảng năm 2006, khi mà xã bàn giao khu đất cho một lò gạch thủ công sản xuất Trước việc một bãi rác rộng lớn tồn tại hàng chục năm nay mà các cơ quan chức năng không hề hay biết, ông Nguyễn Văn Mạnh, Trưởng phòng TN&MT huyện Nam Sách, Hải Dương cho biết đang phối hợp với các đơn vị điều tra, làm rõ vấn đề này Rõ ràng, cần phải nhanh chóng vào cuộc và khẩn trương xử lý để tránh ô nhiễm môi tường xung quanh, nhất là ô nhiễm nguồn nước sông Thái Bình, khi mà dước
hạ lưu này có hàng chục nhà máy sản xuất nước sạch lấy nguồn nước này để sản xuất
Nhiều năm nay, người dân ở thôn Hà Liễu, xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương luôn phải sống trong cảnh tiếng ồn và khói bụi
Lý do là nhà máy gạch Yến Thanh ở ngay liền kề liên tục xả chất thải không qua xử lý ra môi trường Mặc dù nhân dân ở đây đã nhiều lần ý kiến với nhà máy gạch Nhưng đổi lại thì người dân khu Hà Liễu chỉ nhận được những lời hăm dọa làm cho người dân ở đây vô cùng búc xúc và lo sợ Người dân búc xúc vì khí thải của nhà máy Theo thông tin từ người dân thôn Hà liễu xã Thanh Quang cho biết, hoạt động nhiều năm nay gần đây gây ra nhiều hệ lụy