1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) tiểu thuyết của ma văn kháng dưới góc nhìn thể loại qua bóng đêm, bên bờ, người thợ mộc và tấm ván thiên​

110 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Thuyết Của Ma Văn Kháng Dưới Góc Nhìn Thể Loại (Qua Bóng Đêm, Bến Bờ, Người Thợ Mộc Và Tấm Ván Thiên)
Tác giả Lý Thị Vân Dương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Bích
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với khối lượng sáng tác đồ sộ cùng nhiều đóng góp nỗ lực, Ma Văn Kháng đã được nhận nhiều giải thưởng cao quý cho cả thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết như: Giải B Hội Nhà văn Việt Nam

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÝ THỊ VÂN DƯƠNG

TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG DƯỚI GÓC NHÌN THỂ LOẠI

(QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN)

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã ngành: 8.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Bích

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn

thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên)” là công trình

nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Bích Các nội dung

nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Lý Thị Vân Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy

cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Bích, người đã tận tình

hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, đồng nghiệp cùng bạn bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Lý Thị Vân Dương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp mới của luận văn 10

7 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10

1.1 Khái quát về thể loại tiểu thuyết 10

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 11

1.1.2 Đặc trưng thể loại tiểu thuyết 12

1.2 Nhà văn Ma Văn Kháng 21

1.2.1 Tiểu sử và cuộc đời 21

1.2.2 Hành trình sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng 21

1.2.3 Vị trí của Ma Văn Kháng trong văn xuôi Việt Nam đương đại 23

Chương 2: NHÂN VẬT VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG (QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN) 26

2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 26

2.1.1 Thế giới nhân vật 26

2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 33

2.2 Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 46

2.2.1 Người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài 47

Trang 6

2.2.2 Người kể chuyện với điểm nhìn bên trong 49

Chương 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG (QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN) 57

3.1 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 57

3.1.1 Ngôn ngữ dung dị, đời thường, giàu sức sống 57

3.1.2 Ngôn ngữ trữ tình, đậm chất thơ 68

3.2 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 71

3.2.1 Giọng điệu triết lý, triết luận 72

3.2.2 Giọng điệu thương cảm, trữ tình, thiết tha sâu lắng 74

3.2.3 Giọng điệu trào lộng, mỉa mai, châm biếm 78

3.2.4 Giọng điệu lạnh lùng, “vô âm sắc” 83

3.2.5 Giọng điệu đời thường, suồng sã, thông tục 86

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ĐNBN : Điểm nhìn bên ngoài

ĐNBT : Điểm nhìn bên trong

NKC : Người kể chuyện

NT1 : Ngôi thứ nhất

NT2 : Ngôi thứ hai

NT3 : Ngôi thứ ba

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong loại hình tự sự, tiểu thuyết là một thể loại chiếm vị trí quan trọng được coi là “cỗ máy cái” của nền văn học Tiểu thuyết là thể loại luôn luôn thay đổi,

biến hóa, “không hoàn kết”, bởi vì nó “tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn

thành” (M Bakhtin) Tiểu thuyết là một trong những dấu hiệu đánh dấu sự trưởng

thành của một nền văn học Tuy sinh sau đẻ muộn, tiểu thuyết Việt Nam cũng đã trải qua một hành trình nhọc nhằn với những cuộc cách tân đầy ý thức của các nhà văn đặc biệt là sau 1986 và đã trở thành thể loại trung tâm, có vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc Tiểu thuyết đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả Nhìn chung, văn học Việt Nam sau đổi mới đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết; từ cảm hứng lịch sử cộng đồng, dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư Đây là điều kiện thuận lợi để tiểu thuyết tồn tại và phát triển Tiểu thuyết từ 1986 trở về sau là một thế giới sáng tạo mới mẻ, nó quan tâm nhiều hơn đến số phận cá nhân và khám phá chiều sâu thế giới nội tâm phức tạp của con người Đây là thể loại có khả năng miêu tả cuộc sống bề bộn, phức tạp Đó cũng là nơi mà nhà văn có thể thể hiện các yếu tố kỹ thuật, nghệ thuật cùng với không khí dân chủ của môi trường sáng tạo Tiểu thuyết giúp nhà văn ý thức sâu sắc hơn về tư cách một nghệ sĩ, vượt lên trên những quy định, khuôn khổ truyền thống đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâu nay Sự vận động của tiểu thuyết đã để lại dấu ấn sâu sắc trong quá trình đổi mới văn học Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về thể loại tiểu thuyết mà đặc biệt là tiểu thuyết hiện đại thời kì đổi mới là một việc làm quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc

1.2 Tiểu thuyết là một thể loại tự sự mang trong mình những nét đặc trưng riêng

so với các thể loại khác về thi pháp như: kết cấu, cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện (NKC), điểm nhìn, giọng điệu Vì vậy, nghiên cứu tiểu thuyết từ góc nhìn thể loại sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn thấu đáo về phương thức xây dựng tác phẩm, về những đặc sắc trong việc kể chuyện, những nội dung hiện thực được phản ánh và những nét riêng biệt của nhà văn Từ đó, có thể khẳng định những đóng góp của nhà văn trong nền văn học dân tộc

Trang 9

1.3 Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, Ma Văn Kháng đã có nhiều đóng góp lớn, đặc biệt là với sự nghiệp đổi mới văn học nước nhà Nhà văn đã thổi vào nền

văn học Việt Nam sau 1975 một luồng gió mới với những sáng tác “nhìn thẳng vào sự

thật, nói rõ sự thật” Trong đời văn của mình, Ma Văn Kháng theo đuổi hai mảng đề

tài lớn là miền núi và thành thị Ông đã dâng cho đời 18 tiểu thuyết, hơn 200 truyện ngắn, hai tập bút ký phê bình và rất nhiều những bài báo, trả lời phỏng vấn, phát biểu hội thảo… Các tác phẩm của ông đã trở thành "tài sản" quý giá của văn chương Việt Nam

Với khối lượng sáng tác đồ sộ cùng nhiều đóng góp nỗ lực, Ma Văn Kháng đã được nhận nhiều giải thưởng cao quý cho cả thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết như: Giải B

Hội Nhà văn Việt Nam 1986 (cho tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn); Tặng thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 (cho tập truyện ngắn Trăng soi

sân nhỏ); Giải thưởng Văn học Đông Nam Á 1998; Giải thưởng Nhà nước về Văn học

- Nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2009 (tiểu thuyết Một

mình một ngựa); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho

các tác phẩm Truyện ngắn chọn lọc, Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở

La Pan Tẩn

1.4 Hơn năm mươi năm cặm cụi với cây bút, hơn 80 năm cuộc đời, nhà văn Ma

Văn Kháng đã để lại tên tuổi và dấu ấn trên văn đàn như một cây bút văn xuôi “lực

lưỡng”, một đời văn cần mẫn, sáng tạo Chính vì thế, lâu nay đã có nhiều công trình

nghiên cứu về tiểu thuyết, truyện ngắn của ông

Với mong muốn đóng góp thêm tiếng nói và khẳng định những giá trị trong sáng

tác của Ma Văn Kháng đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết, chúng tôi lựa chọn vấn đề Tiểu

thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người

thợ mộc và tấm ván thiên) để làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình

2 Lịch sử vấn đề

Như đã nói ở trên, trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là nhà văn có nhiều đóng góp lớn Vì thế, lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết, truyện ngắn của ông đặc biệt là về tiểu thuyết sau 1975 Nhiều công trình nghiên cứu, phê bình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Giáo sư Phong Lê,

Trang 10

Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu, Mai Thị Nhung, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Thị Bích đã được đăng tải trên nhiều sách báo và tạp chí

2.1 Những công trình nghiên cứu chung về tác phẩm của Ma Văn Kháng

Tác giả Minh Nhật trong bài viết “Nhà văn Ma Văn Kháng: Chắt chiu những vị

đời”, có trích dẫn nhận xét của GS Phong Lê về vẻ đẹp văn chương trong các tác phẩm

của Ma Văn Kháng: “Hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết trên một hành

trình dài, dẫu có lúc ngôn ngữ chính luận tràn lấn, nhưng vẫn không làm thay đổi, biến dạng tiếng nói nghệ thuật đích thực trong tác phẩm của Ma Văn Kháng Một tiếng nói nghệ thuật từ chính cuộc đời trần trụi, xù xì, thô nhám, đa sự cất lên; và lắm khi tác giả cũng không cần phải đóng vai trò khách quan “để sự thật tự nó nói lên” theo kiểu Balzac, Tolstoi, mà cứ đàng hoàng cất lên tiếng nói riêng để khơi gợi ở bạn đọc sự

đồng tình hay tranh luận” [62]

Tác giả Mai Thị Nhung, trong bài “Cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn Kháng

trong tiểu thuyết thời kì đổi mới” [63], đã thống kê được hơn 40 bài báo và 5 công trình

nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới đồng thời chỉ ra cái nhìn

đa chiều đa diện vào chiều sâu nhân bản và khẳng định những đóng góp không nhỏ của

Ma Văn Kháng vào sự vận động phát triển của Văn học Việt Nam Bài viết “Nghệ thuật

sử dụng thành ngữ tục ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới” [64],

cho thấy những thành công của nhà văn trong việc sử dụng những thành ngữ tục ngữ

để phản ánh hiện thực cuộc sống và khắc họa tính cách nhân vật Vốn từ ngữ phong phú đã góp phần làm nên “thương hiệu” Ma Văn Kháng

Tác giả Nguyễn Thị Bích, trong bài viết “Giọng điệu trần thuật của Ma Văn

Kháng trong truyện ngắn sau 1975”, đã chỉ ra một số giọng điệu trần thuật như giọng

khẳng định ngợi ca, giọng điệu trào lộng, châm biếm, mỉa mai, giọng điệu xót xa

thương cảm, giọng điệu suy ngẫm triết lí Từ đó khẳng định “Đọc truyện ngắn của Ma

Văn Kháng sau 1975 ta cảm nhận được những suy tư, trăn trở của một trái tim giàu yêu thương, giàu lòng trắc ẩn với cuộc đời và con người” [5]

Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của các tác giả cũng nghiên

cứu về vấn đề này như: Nguyễn Thị Huệ (2000), Những dấu hiệu đổi mới trong văn

xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986, Qua bốn tác giả: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn

Trang 11

Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn; Lê Thanh Ngọc (2004), Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975; Đỗ Phương Thảo (2006), Nghệ thuật

tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng; Lê Thanh Hùng (2006), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ đầu Đổi mới (Giai đoạn sáng tác 1980 - 1989); Đỗ Thị Thanh Quỳnh

(2006), Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng; Lê Minh Chung (2007), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới; Dương Thị Hồng Liên (2008), Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới; Trần Thị Phi Nga (2008), Đặc trưng tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng; Nguyễn Thị Vân Anh (2011),

Diễn biến của thời gian tự sự trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng; Đỗ Thanh Hương

(2011), Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong văn xuôi của Ma Văn Kháng đầu thế kỉ XXI; Nguyễn Thị Mai (2011), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới dưới góc nhìn tự

sự; Nguyễn Thị Bích (2014), Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng); Đoàn Tiến

Dũng (2016), Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi của Ma Văn Kháng

Với số lượng đông đảo những công trình nghiên cứu, những bài báo, bài viết về

Ma Văn Kháng kể trên cho chúng tôi thấy được sức hấp dẫn và sự ảnh hưởng của nhà văn trong nền văn học nước nhà Chúng tôi cũng nhận thấy, các công trình trên đã nghiên cứu về những khía cạnh như: những dấu hiệu đổi mới, nghệ thuật tự sự, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ma Văn Kháng còn vấn đề nhìn nhận tiểu thuyết của ông từ góc nhìn thể loại vẫn ít nhiều chưa được đề cập đến Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại trong đề tài của mình

2.2 Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc

và tấm ván thiên

Ngay từ khi ra mắt bạn đọc, ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc

và tấm ván thiên đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của bạn đọc và của các nhà phê

bình, nghiên cứu văn học

PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện với bài "Bóng đêm và nghệ thuật tự sự tổng hợp

mới của Ma Văn Kháng” [78], đã có những nhận xét xác đáng về tiểu thuyết Bóng đêm Một là, tiểu thuyết Bóng đêm thuộc loại tiểu thuyết luận đề Hai là, tiểu

thuyết Bóng đêm là sự huy động tổng hợp của một vốn sống phong phú, những suy

Trang 12

nghiệm tâm huyết được tích lũy trong nhiều năm của nhà văn Ma Văn Kháng về đề tài an ninh xã hội, về cuộc chiến cam go của cái Thiện chống lại cái Ác; của Ánh sáng xua tan Bóng đêm Ba là, kết cấu của tiểu thuyết tập trung vào hai tuyến nhân vật chính một bên là các cán bộ, chiến sĩ công an mưu lược, dũng cảm, khoan dung, nhân

ái, xả thân vì nhiệm vụ được giao như ông Tầm, các trinh sát viên Trừng, Nhâm còn một bên là bọn tội phạm giết người, cướp của, hiếp dâm, buôn lậu ma túy, lưu manh

côn đồ như tên Thuyên, Kình, Phỉ… Bốn là, nhìn về tổng thể, tiểu thuyết Bóng

đêm cho ta thấy được cái nhìn đa chiều, đa diện nghiêm nhặt mà hiền minh, gợi mở

và đối thoại, tranh luận của Ma Văn Kháng về mảng hiện thực an ninh xã hội Nhà văn đã hé mở cho người đọc nhận ra tất cả sự phức tạp, rối rắm, oái oăm cùng những

ngẫu nhiên và bí ẩn khôn cùng của nó Đồng thời, với Bóng đêm, Ma Văn Kháng đã

thực hiện “một bước tổng hợp mới của nghệ thuật tự sự” và tác phẩm ghi nhận những

nỗ lực dẻo dai, bền bỉ, một thành tựu vượt trội, xứng đáng là tập đại thành của cây bút văn xuôi lão thực Ma Văn Kháng sau nhiều năm gắn bó tâm huyết với đề tài an ninh xã hội

Tác giả Hà Linh trong bài “Nhà văn Ma Văn Kháng: Sống còn để mang thương

tích”, có viết: “Tôi đã đọc một mạch Bóng đêm, và run theo mạch xúc cảm của nhà văn Những chất liệu ngồn ngộn của đời sống mà ông kể từ những chuyến đi thực tế của 20 năm trước, vẫn còn nóng hổi hơi thở của đời sống đương đại Và chính nhà văn

Ma Văn Kháng cũng bị dẫn dụ vào thế giới của riêng mình, trong thế giới của sự thăng hoa sáng tạo, ông đã khám phá ra chính mình, khám phá đời sống trong những tàng

ẩn sâu kín của tâm linh, của nội cảm” [49]

Đỗ Thanh Hương với bài “Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết "Bóng đêm" của

Ma Văn Kháng”, đăng trên báo Văn nghệ công an online, http://vnca.cand.com.vn,

nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ, qua "Bóng đêm", Ma Văn Kháng đã thành công trong việc "thực hiện một bước tổng hợp mới của nghệ thuật tự sự" Nó thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi của một nhà văn đã suốt đời gắn bó và nỗ lực đổi mới văn xuôi hiện đại Việt Nam”

Tác giả Bình Minh trong bài “Hành trình đi tìm cái thiện trong tiểu thuyết Bóng

đêm”, có viết: “Đọc tiểu thuyết Bóng đêm ta thấy một vốn sống phong phú và sự trải

Trang 13

nghiệm được tích lũy trong nhiều năm cầm bút của Ma Văn Kháng về đề tài an ninh

xã hội, về cuộc chiến cam go của cái thiện chống lại cái ác; của ánh sáng xua tan bóng tối Bóng đêm đã tái hiện bức tranh về cuộc đời sinh động được kết hợp rất linh hoạt giữa bút pháp hiện thực với suy tưởng lãng mạn, đôi chỗ có đan cài những chi tiết

“sex”, những chi tiết đẹp về tình yêu cũng là cách lựa chọn độc đáo của tác giả để tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm.” [57]

Tác giả Đoàn Trọng Huy với bài “Vẻ đẹp bộ tiểu thuyết cặp đôi Bóng đêm và

Bến bờ của Ma Văn Kháng”, có nhận xét như sau: “Bóng đêm và Bến bờ là loại truyện hình sự nhưng khái quát lại là tiểu thuyết luận đề mới Nó hàm chứa những vấn đề về đạo đức, về triết lý nhân sinh, những thông điệp tinh thần mới” [30]

Nhà lí luận phê bình Nguyễn Hoà cho rằng: “Không thể viết được như Ma

văn Kháng nếu chỉ lấy tài liệu ở mấy bài báo Bóng đêm và Bến bờ là tiểu thuyết luận đề, Ma Văn Kháng là nhà văn có tiếp xúc nhiều với thực tiễn sinh động” (dẫn

theo [89, tr.4])

Ở một khía cạnh khác, nhà văn Phùng Thiên Tân nhận thấy: “Thông thường các

cuốn tiểu thuyết về đề tài hình sự mở đầu là những vụ án xảy ra, kết thúc là tìm ra hung thủ hay tên biệt kích Ma Văn Kháng không viết thế Cách viết mới này là hướng dẫn cho các nhà văn trẻ trong ngành” (dẫn theo [89, tr.4])

Ý kiến của Nhà thơ Hữu Việt: “Bóng đêm, thể hiện tinh thần nhập cuộc của nhà

văn Ma Văn Kháng Nó thể hiện sức viết dẻo dai bền bỉ của một cây bút tuổi đã cao và

đã có nhiều thành tựu Ông đã đem chất thơ và các khát vọng vào tác phẩm của mình Hành động, chi tiết trong chuyện chỉ là bề nổi, phía sau tất cả là ý nghĩa nhân sinh của cuộc đời…” (dẫn theo [89, tr.4])

Trong các công trình nghiên cứu, chúng tôi đã rà soát có hai luận văn thạc sĩ

nghiên cứu về cặp đôi tiểu thuyết này đó là Nguyễn Thị Hằng (2012), Nghệ thuật tự sự

trong hai tiểu thuyết Bóng đêm và Bến bờ của Ma Văn Kháng Luận văn đã đề cập đến

những thành công về nghệ thuật tự sự trong hai tác phẩm được ghi dấu trên ba phương diện: nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và nghệ thuật sử

dụng giọng điệu Đặng Hồng Vân (2013), Yếu tố trinh thám trong tiểu thuyết của Ma

Trang 14

Văn Kháng qua tiểu thuyết Bóng đêm và Bến bờ đã đưa ra một cái nhìn khái lược về

văn học trinh thám, nhận diện yếu tố trinh thám trong tiểu thuyết Bóng đêm và Bến bờ

của Ma Văn Kháng nói riêng và tiểu thuyết của ông nói chung Luận văn cũng cho thấy yếu tố trinh thám được thể hiện hết sức đa dạng qua đề tài, cốt truyện, ngôn ngữ, đặc

biệt là hình tượng nhân vật trung tâm người chiến sĩ công an

Người thợ mộc và tấm ván thiên là tiểu thuyết được nhà văn viết trong khoảng

ba năm (từ 2012 tới 2014), tác phẩm được nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2015 Tác

giả Lam Thu trong bài “Ma Văn Kháng ra mắt tiểu thuyết ở tuổi 79”, có viết: “Người

thợ mộc và tấm ván thiên kể câu chuyện với những nhân vật gắn với hoàn cảnh, biến

cố thời cuộc một cách hấp dẫn Bên cạnh đó, thông qua nhân vật Quang Tình, tiểu thuyết đưa ra một nhân sinh quan về cuộc đời, con người và sự hướng thiện” [86]

Trong bài “Khát vọng chân - thiện - mỹ trong Người thợ mộc và tấm ván thiên

của Ma Văn Kháng”, tác giả Mộc Miên đã bình luận một đoạn trong tác phẩm như sau:

“Và thật bất ngờ, nhân cách trí thức của thầy đã khiến những cái mầm thiên lương còn sót lại trong con người Văn Chỉ dần dần mọc lên tươi tốt Có thể nói, trường đoạn Quang Tình thuyết phục được Văn Chỉ từ bỏ phép ứng xử lấy ác báo ác, vì oan oan tương báo thì biết bao giờ cho hết nổi đây; (đó) là một trường đoạn hay và là một bước chuyển tư tưởng nghệ thuật của cây đại bút này Nhân vật Quang Tình là một ẩn dụ thành công của nhân cách trí thức, của tư tưởng thẩm mỹ Ma Văn Kháng ” [56]

GS.TS.NGND Nguyễn Lân Dũng sau khi đọc Người thợ mộc và tấm ván thiên,

đã có những rung động và cảm nhận sâu sắc: “Tôi viết mấy dòng này với mong muốn

mọi bạn trẻ nên tìm đọc cuốn tiểu thuyết mà theo tôi là quá hay này Các bạn sẽ hiểu hơn xã hội chúng ta cả cái thành công và những sai lầm đáng tiếc, hiểu hơn về con người thật với cái tốt cái xấu đan xen Từ đó chúng ta tự hướng mình đến con đường nhân ái, tích cực, tự giác và tránh xa những cạm bẫy không khi nào hết được quanh ta ” [10]

Tác giả Ngọc Lợi trong bài “Đọc Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn

Kháng: điều còn lại”, có nhận xét: “Đặt trong bối cảnh của những năm bao cấp cùng những chuyển biến xã hội đặc trưng, tiểu thuyết “Người thợ mộc và tấm ván thiên” của Nhà văn lão làng Ma Văn Kháng cuốn hút người đọc không hẳn về đề tài mà còn

Trang 15

bởi lối viết đầy nội lực với nguồn tư liệu dồi dào ” [50]

Nguyễn Nữ Khánh Hương với luận văn thạc sĩ viết vào năm 2016, trường ĐHSP

Hà Nội 2: Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Một vùng

đất hoang và những cuộc gặp gỡ; Người thợ mộc và tấm ván thiên, đã đánh giá những

đóng góp của nhà văn thông qua hai cuốn tiểu thuyết Một vùng đất hoang và những

cuộc gặp gỡ, Người thợ mộc và tấm ván thiên Với Người thợ mộc và tấm ván thiên,

tác giả luận văn nhận định đây là tiểu thuyết luận đề với tư tưởng bao dung hướng thiện

và đi vào phân tích một số đặc điểm về nhân vật, cốt truyện, nghệ thuật trần thuật (người kể chuyện và điểm nhìn, giọng điệu triết lí)

Từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu sáng tác của Ma Văn Kháng

nói chung và ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên nói

riêng, chúng tôi nhận thấy vấn đề: Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn

thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên) còn nhiều bỏ ngỏ

để chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu để hoàn thành luận văn: Tiểu thuyết của Ma

Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm

ván thiên) với những mục đích sau:

- Đọc - hiểu và cảm thụ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới một cách sâu sắc, chỉ ra những nét đặc trưng nghệ thuật, những đóng góp của nhà văn trong tiến trình văn học Việt Nam

- Nhận rõ tài năng độc đáo của nhà văn từ việc chọn đề tài và những phương thức phản ánh riêng khi ghi lại những vấn đề xã hội và khẳng định tên tuổi của nhà văn trong nền văn học nói chung và trong sự phát triển của thể loại tiểu thuyết nói riêng

- Dựa trên những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết, chúng tôi khai thác ba tiểu

thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng trên

phương diện góc nhìn thể loại Chúng tôi đi sâu vào khám phá những sáng tạo của nhà văn và phát hiện những tác động của ba tiểu thuyết đến đời sống văn học

Trang 16

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, chúng tôi cũng xác định nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

- Khái quát những vấn đề lý luận chung về thể loại tiểu thuyết và đôi nét về cuộc đời, hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng

- Tìm hiểu nhân vật và người kể chuyện trong ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ,

Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng

- Tìm hiểu ngôn ngữ và giọng điệu trong ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ,

Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng

Từ đó, chúng tôi nhận định đánh giá về những thành công của tiểu thuyết Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết trong ba

tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng

qua các yếu tố như: nhân vật và người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu

4.2 Phạm vi tư liệu

Đề tài khảo sát chủ yếu ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và

tấm ván thiên, ngoài ra còn khảo sát các tiểu thuyết khác của nhà văn để đối chiếu và

so sánh như: Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989),

Ngược dòng nước lũ (1999)

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc

nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên), chúng tôi

vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

5.1 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp này được áp dụng trong quá trình khảo sát văn liệu để từ đó đưa ra những kết luận khoa học về các phương diện của ba tác phẩm mà chúng tôi quan tâm

Trang 17

5.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Đối chiếu, so sánh ba tiểu thuyết với những tác phẩm khác để chỉ ra những sáng tạo mới và để có cái nhìn sâu hơn về đối tượng nghiên cứu

5.3 Phương pháp nghiên cứu theo đặc trưng thể loại

Phương pháp này giúp chúng tôi tìm ra những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết thể hiện qua các tác phẩm mà đề tài nghiên cứu

5.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Vận dụng phương pháp này để chúng tôi đưa ra những khái quát trên cơ sở phân tích ngữ liệu cụ thể

6 Đóng góp mới của luận văn

- Khái quát những vấn đề lý luận chung về thể loại tiểu thuyết

- Tìm hiểu nhân vật và người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu

thuyết của Ma Văn Kháng qua ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và

tấm ván thiên từ đó cho thấy được sự vận động và đổi mới tư duy nghệ thuật của nhà

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

(Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên)

Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

(Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên)

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Khái quát về thể loại tiểu thuyết

Trang 18

1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết

Tiểu thuyết là thể loại lớn và chiếm vị trí quan trọng trong loại hình tự sự, đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong thời kì cận và hiện đại Đây là thể loại không bị giới hạn về dung lượng phản ánh hiện thực cả về không gian cũng như thời gian Những nguyên lý của tiểu

thuyết chi phối hầu hết các tác phẩm tự sự khác Tiểu thuyết được coi là “cỗ máy cái” của nền văn học, là thể loại luôn luôn thay đổi, biến hóa, “không hoàn kết”, bởi vì nó “tiếp

xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn thành” (M Bakhtin)

Để đưa ra những định nghĩa có tính chất quy phạm cho thể loại tiểu thuyết là điều không hề đơn giản

Belinsky cho rằng: "Tiểu thuyết là sử thi của đời tư" Ông chỉ ra khái quát

nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một

cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách

Trong bài viết Bàn về tiểu thuyết, nhà văn Phạm Quỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết

là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là những sự lạ tích kì, đủ làm cho người đọc có hứng thú Như vậy thời phạm vi của tiểu thuyết rộng lắm: phàm sách gì không phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thi ca thời là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết có khi lại gồm được cả các lối kia, vì trong một bộ tiểu thuyết, cũng có chỗ nghị luận, chỗ khảo cứu, chỗ ngâm vịnh chỗ khuyên răn” [16, tr.204]

Theo giáo sư Phan Cự Đệ, tiểu thuyết “tự bản chất nó vốn không có tính quy

phạm Đó chính là hiện thân của sự uyển chuyển Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã hình thành của mình Một thể loại như thế chỉ có thể là một thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển” [14, tr.500]

Xác định nội hàm khái niệm tiểu thuyết sẽ giúp ta nhận được những đặc điểm thi pháp cơ bản của thể loại đồng thời hiểu được quy luật vận động và phát triển của thể loại văn học đặc biệt này Mỗi tác giả đưa ra quan niệm riêng về thể loại tiểu thuyết

Trang 19

và đều thể hiện được những nét riêng của tiểu thuyết so với các thể loại khác Chúng tôi đồng tình và dựa vào định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiểu thuyết là một “tác phẩm tự sự

cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn của không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách

đa dạng” [25, tr.277] để nghiên cứu đề tài này

1.1.2 Đặc trưng thể loại tiểu thuyết

Trong phạm vi cho phép của luận văn, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu những

đặc trưng về nhân vật, người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu của ba tiểu thuyết

Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên

1.1.2.1 Nhân vật

Trong tác phẩm văn học, nhân vật là một yếu tố chiếm vị trí rất quan trọng Điều

này đã được nhà văn Tô Hoài khẳng định: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết

thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” [34, tr.127] Nhân vật không chỉ là nơi

bộc lộ tư tưởng, chủ đề mà còn thể hiện giá trị của tác phẩm Sự thành bại của nhà văn, của tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố này Nghiên cứu nhân vật, chính là nghiên cứu cách nhà văn nhìn nhận, cắt nghĩa về con người như thế nào và bằng cách nào trong văn chương của mình Nhân vật là người dẫn dắt người đọc đi vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định Vì vậy, trong mỗi sáng tác văn học không thể thiếu nhân vật Về khái niệm nhân vật văn học, các nhà nghiên cứu phê bình đã đưa ra những quan điểm khác nhau

Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân đã xem xét nhân vật

trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn và trường phái văn học:

“Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học

là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [3, tr.235]

Trang 20

Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn

học là con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học Nhân vật văn học

có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như

“thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [25, tr.162]

Theo cuốn Giáo trình Lý luận văn học, nhân vật văn học được quan niệm rộng

hơn: “Đó không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà có thể là những sự vật,

loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó là nhân vật dế mèn, võ sĩ

bọ ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài; là vầng trăng, bông hoa hồng trong thơ Bác v.v… Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể

mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [12, tr.126]

Mỗi một quan niệm trên lại thể hiện một cách nhìn nhận riêng về nhân vật văn học Nhưng nhìn chung, có thể khẳng định nhân vật văn học là sản phẩm tinh thần của nhà văn, là nơi để nhà văn thể hiện những quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ

về con người Nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động và có tính cách Để xây dựng nhân vật thành công, nhà văn cần phải huy động toàn bộ tư cách nghệ sĩ và năng lực tinh thần cá nhân của mình

Nhân vật văn học thường được xây dựng từ những nguyên mẫu ngoài đời, có khi là từ những điển hình xã hội, nhưng nó được xây dựng qua trí tưởng tượng, sự sáng tạo và tài năng của người nghệ sĩ để phục vụ cho dụng ý nghệ thuật và mang phong cách riêng của từng nhà văn Vì vậy, khi tìm hiểu nhân vật văn học, cần lưu ý: Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống

Nhân vật văn học tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Có nhiều cách phân loại nhân vật văn học Dựa vào phương pháp sáng tác ta thấy nhân vật của chủ nghĩa

cổ điển khác nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực Dựa vào chức năng nghệ thuật, nhân vật văn học chia ra thành nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, phản diện Dựa vào thể loại văn học ta có nhân vật tự

sự, trữ tình, kịch Dựa vào cấu trúc hình tượng chia ra thành nhân vật chức năng, nhân

Trang 21

vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Dựa vào thành phần và địa vị xã hội có thể chia thành nhân vật tri thức, bộ đội, công an, giáo viên, phụ nữ, trẻ em, tội phạm

Như vậy, nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Nhân vật văn học rất phong phú, nó có thể là loài vật, đồ vật… nhưng chủ yếu là con người Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức rất đa dạng Dù nhân vật là thế giới loài người hay loài vật nó đều có vai trò rất quan trọng trong sáng tác của nhà văn, nó làm nên linh hồn của tác phẩm Nhân vật văn học thể hiện cách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định, là nơi để nhà văn gửi gắm, kí thác những tâm tư, ước vọng, cùng những vấn đề triết lí nhân sinh Qua hệ thống nhân vật, người đọc thấy được tư tưởng nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhà văn Nhân vật văn học không chỉ là hình thức đơn thuần mà là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ, tư tưởng của nhà văn về con người, về thế giới Nghiên cứu tác phẩm văn chương cần phải tiếp nhận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và thấy được những đóng góp riêng của nhà văn đó

Nhân vật là yếu tố nghệ thuật quan trọng bậc nhất của thể loại tự sự trong đó có tiểu thuyết Có thể khẳng định rằng không có nhân vật thì sẽ không có tiểu thuyết Một tiểu thuyết hay là phải có nhân vật hay và độc đáo Những cách tân đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết hầu như đều gắn với vấn đề thể hiện nhân vật Nhân vật chính là quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thể hiện trong tác phẩm, là nơi tập trung thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn

Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự Đó là những nhân vật được miêu tả tỉ mỉ, rõ nét, sinh động, đa chiều và đa dạng Nhân vật tiểu thuyết là kết quả của quá trình sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn Nhân vật tiểu thuyết có thể bắt nguồn từ một nguyên mẫu ngoài đời và cũng có thể được hư cấu hoàn toàn, nhưng nó

đều là những “nhân vật sống” Nó không chỉ có các yếu tố ngoại hình, ngôn ngữ, hành

động… mà còn có đời sống nội tâm phong phú và bản thân nhân vật luôn có sự vận

động phát triển Nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm trải”, cảm nhận, tư duy, chịu

khổ đau và dằn vặt của cuộc đời Trong một chỉnh thể thế giới nghệ thuật tác phẩm, tiểu thuyết có khả năng kể về nhiều số phận, nhiều con người, đặt ra nhiều vấn đề nhân

Trang 22

sinh Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức tạo thành một chỉnh thể nghệ thuật, trong đó mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể Thế giới nhân vật tiểu thuyết có thể rất đồ sộ Các nhân vật tiểu thuyết tạo nên một xã hội vô cùng phong phú, phức tạp với nhiều quan hệ, hành động, ý nghĩ, tư tưởng, giọng điệu… Nó phong phú như chính cuộc sống vậy

Những đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết ở trên đây sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu

rõ hơn về những sáng tác tiểu thuyết đương đại cũng như các nhân vật trong sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng

Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm NKC là “hình

tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm [25, tr.191] Người kể chuyện

có nhiệm vụ tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật, thay mặt nhà văn bày tỏ quan điểm về con người, cuộc đời

Theo Pospelov, NKC có thể hiểu là “người môi giới giữa các hiện tượng được

miêu tả và người nghe (người đọc), là người cắt và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [69,

tr.196]) Theo W Keyser thì NKC: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về

toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học,… là vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [69,

tr.196] Còn Tz Todorov lại quan niệm: “Người kể chuyện là một nhân tố chủ động

trong việc kiến tạo thế giới hư cấu Chính NKC là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá” [69, tr.196]

Trong nghệ thuật trần thuật, NKC có thể kể ở ngôi thứ ba (NT3), ngôi thứ nhất (NT1), ngôi thứ hai (NT2)

- Người kể chuyện ở NT3: NKC không xuất hiện trực tiếp, không tham gia vào

Trang 23

diễn biến của các sự kiện Người kể chuyện không thuộc vào thế giới của truyện kể mà luôn đứng ở vị trí khách quan, tưởng như không liên quan tới câu chuyện nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm, không chỉ là người dẫn chuyện, tổ chức cốt truyện mà còn giữ vai trò phân tích, bình giá làm rõ các mối quan hệ trong tác phẩm

- Người kể chuyện ở NT1 (người kể tường minh, người kể lộ diện): NKC hiện diện như một nhân vật trong truyện, thường xuất hiện trực tiếp dưới hình thức “tôi” Người kể chuyện có thể thuộc vào thế giới nhân vật được miêu tả, trực tiếp tham gia vào diễn biến truyện nhưng nhiều khi cũng chỉ đóng vai trò là người chứng kiến, dẫn dắt câu chuyện

- Người kể chuyện ở NT2: Đây là dạng NKC đặc biệt, không phổ biến và rất ít được sử dụng Ở dạng này, NKC rời bỏ vị trí trần thuật (ở NT1 hoặc NT3) để tham gia đối thoại, tranh luận với độc giả, không còn khoảng cách trần thuật Độc giả bị kéo cùng các nhân vật trực tiếp tham gia vào diễn biến câu chuyện Người kể chuyện thuộc thế giới của nhân vật được miêu tả

Một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu để nhận diện NKC là điểm nhìn

kể chuyện Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ thể trần thuật hay giữa điểm nhìn của người trần thuật với những gì anh ta kể là điều đặc biệt quan trọng Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật Thuật

ngữ “điểm nhìn” đã trở nên quen thuộc trong nghiên cứu văn học Điểm nhìn là một khái niệm đã được đề cập khá sớm, đặc biệt ở Anh và Mĩ Theo M.H Abrahams (Từ

điển thuật ngữ văn học, A Glossary of Literature terms), điểm nhìn chỉ ra “những cách thức mà một câu chuyện được kể đến, một hay nhiều phương thức được thiết lập bởi tác giả bằng ý nghĩa mà độc giả được giới thiệu với những cá tính, đối thoại, những hành động, sự sắp đặt và những sự kiện mà trần thuật cấu thành trong một tác phẩm

hư cấu” [91, tr 274] Còn Trần Đình Sử trong cuốn giáo trình Dẫn luận thi pháp học

(NXB Giáo dục, 2004) cho rằng: “Điểm nhìn mang tính ẩn dụ, bao gồm mọi nhận thức,

đánh giá, quan sát, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới Nó là các vị trí dùng để quan sát, cảm nhận đánh giá bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, cả phương diện vật lí, tâm lí, văn hoá” [68, tr.149] Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học cũng

quan niệm về giá trị của điểm nhìn trong sáng tạo nghệ thuật: “Không thể có nghệ thuật

Trang 24

nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sự thay đổi nghệ thuật bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn” [25, tr.113]

Tóm lại, có thể hiểu điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của người trần thuật Nó là vị trí dùng để quan sát, cảm nhận, đánh giá Lí thuyết tự sự học tạm chia ba kiểu nhìn (gắn với ba kiểu điểm nhìn) phổ biến ở NKC:

- Thứ nhất, nhìn “từ đằng sau” gắn với điểm nhìn toàn tri, khi NKC có vai trò toàn năng với cái nhìn thông suốt tất cả

- Thứ hai, nhìn “từ bên trong” gắn với điểm nhìn bên trong (ĐNBT), khi NKC

là nhân vật Người kể chuyện hạn chế điểm nhìn tự sự của mình vào điểm nhìn của nhân vật NKC theo ĐNBT thường có hai dạng cơ bản:

+ Dạng thứ nhất, NKC xưng tôi, tự thú nhận, bộc bạch về mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải

+ Dạng thứ hai, NKC đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể Do vậy mà khoảng cách giữa NKC và nhân vật bị thu hẹp

- Thứ ba, nhìn “từ bên ngoài” gắn với điểm nhìn bên ngoài (ĐNBN): NKC theo ĐNBN hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể, anh ta chỉ có thể kể về những hành động, lời nói thể hiện ra bên ngoài nhân vật chứ không có khả năng am hiểu nội tâm của họ

Sự phân biệt ở trên hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không có tác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn mà các điểm nhìn thường xuyên được dịch chuyển, sử dụng linh hoạt, phối hợp với nhau phục vụ cho ý đồ sáng tạo của người nghệ sĩ Qua việc tìm hiểu lý thuyết về NKC và điểm nhìn ở trên, chúng tôi tiếp thu và phân chia

NKC trong ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên thành

Trang 25

của văn học" Nó là công cụ giúp nhà văn xây dựng hình tượng, miêu tả đời sống con

người trong tác phẩm Ngoài ra, ngôn ngữ nghệ thuật còn là công cụ tư duy, là phương tiện truyền đạt tư tưởng, tình cảm… của nhà văn qua mỗi hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm của mình Thông qua ngôn ngữ văn học, các nhà văn thể hiện tài năng của mình

Nhận thấy vai trò vô cùng quan trọng của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, nhà

văn Nga V.Kôrôlenkô chia sẻ: "Tôi muốn rằng mỗi một từ, mỗi một câu phải đúng với

giọng điệu, phải đúng chỗ và trong mỗi câu, thậm chí nếu có thể được, trong câu tách riêng ra, có thể lắng nghe thấy được tâm trạng trung tâm, nếu có thể nói như vậy được"

[42, tr.192]

Tác giả Phương Lựu đã cho rằng, ngôn từ văn học "là ngôn từ của một tác phẩm

văn học, của thế giới nghệ thuật, kết quả sáng tạo của nhà văn Đó là ngôn từ giầu tính hình tượng và giầu sức biểu hiện nhất, được tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác động thẩm mỹ tới người đọc" [25, tr.185]

Cùng với Phương Lựu, Huỳnh Như Phương có quan niệm: "ngôn từ trong tác phẩm

văn học là kiểu lời nói nghệ thuật do nhà văn sáng tạo trên cơ sở sản phẩm ngôn ngữ của một xã hội mà ông ta đã tiếp thu được" [25, tr 170]

Như vậy, ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo theo quy luật chung của nghệ thuật Văn bản nghệ thuật phải truyền

đạt một ý nghĩa mà "không một phát ngôn nào có thể thay thế được" (G.V.Xtapanôp)

Ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ thể hiện tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm Chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ nghệ thuật là chức năng thẩm mĩ Chức năng này được xác định trong hệ thống các hình tượng tác phẩm và phong cách tác giả, bởi ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện tài năng của nhà văn

Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Ngôn ngữ tạo ra những hình tượng văn học có khả năng tác động trực tiếp đến tư duy của con người, trực tiếp khơi dậy ở con người những suy nghĩ về cuộc sống Không chỉ đơn thuần là phương tiện truyền đạt những tư tuởng của nhà văn ngôn ngữ mà còn

là chất liệu xây dựng nên tác phẩm

Qua ngôn ngữ, người đọc khám phá thế giới hình tượng, tư tưởng, quan niệm…

mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm Bên cạnh đó, ngôn ngữ nghệ thuật lại chứa đựng

Trang 26

cả thế giới nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo từ cảnh vật, con người đến cốt truyện, kết cấu chủ đề… Trong mối quan hệ chặt chẽ ấy, ngôn ngữ nghệ thuật trở thành phương thức tồn tại, phương tiện biểu hiện nội dung, đồng thời có thể biểu hiện trực tiếp và rõ nét phong cách, tài năng của nhà văn

Ngôn ngữ của từng thể loại sẽ mang sắc thái khác nhau Tiểu thuyết là một thể

loại mang tính tổng hợp,“vận dụng nhiều phương thức biểu hiện: tự sự, trữ tình, kịch,

nhiều khả năng kết hợp giữa người kể chuyện và miêu tả, kết hợp giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ người kể chuyện, kết hợp độc thoại và đối thoại” [68, tr.382] Hơn

nữa, hiện thực được miêu tả trong tiểu thuyết rất gần gũi với đời sống hằng ngày nên ngôn ngữ tiểu thuyết vừa là ngôn ngữ gần gũi đến mức tối đa với đời sống, vừa là ngôn ngữ đa thanh, đa giọng điệu Ở đó, có sự kết hợp và tác động qua lại giữa tiếng nói của tác giả, ngôn ngữ trần thuật và ngôn ngữ nhân vật Dựa vào đặc trưng thể loại, trong phạm vi cho phép, luận văn chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu về ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng

*Giọng điệu nghệ thuật

Giọng điệu nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ của văn học, là một trong những

yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình sáng tạo nghệ thuật góp phần tạo nên phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn Khi trở thành một trong những thành tố của tác phẩm văn học, giọng điệu nghệ thuật trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với

giọng điệu ngoài cuộc sống

Tác giả Nguyễn Thái Hoà trong Những vấn đề thi pháp của truyện khẳng định rằng: "Giọng kể là cảm nhận đầu tiên và cũng là ấn tượng cuối cùng, dư vị cuối cùng

của người đọc (nghe) truyện" [33, tr.149] Ông khẳng định "giọng kể quả nhiên là mối giao lưu cảm nhận giữa người kể và người đọc bên ngoài tác phẩm, là hiệu quả người đọc cảm nhận được khi đọc (nghe) truyện" [33, tr.150] Đối với tác phẩm văn học,

giọng điệu là một phạm trù mang tính thẩm mỹ riêng Không phải bất cứ tác phẩm nào cũng có giọng điệu giống nhau mà mỗi nhà văn có một giọng điệu của riêng mình, theo tính cách, khẩu khí của mình để diễn đạt những điều mình muốn nói

Tác giả Trần Đăng Suyền cũng đã cho rằng: "Giọng điệu là thái độ tình cảm

của nhà văn đối với sự vật hiện tượng được miêu tả mà người đọc có thể cảm nhận qua các sắc thái biểu cảm của lời văn Thái độ, tình cảm ấy được bộc lộ qua nhiều yếu tố,

Trang 27

nhiều phương diện khác nhau của lời văn nghệ thuật" [66, tr.79]

Phan Cự Đệ nói về vai trò của giọng điệu: “Giọng điệu có vai trò quan trọng

trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc” [15,

tr.113]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả cũng đã quan niệm: "Giọng

điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với các hiện tượng được miêu tả, thể hiện trong các lời văn quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả" [25, tr.112-113] Các tác giả cũng đi đến một kết luận rằng: "Giọng điệu trong tác phẩm gắn liền với cái giọng "trời phú" của mỗi tác giả, nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với đối tượng thể hiện" [25, tr.135]

Giọng điệu trong văn chương vốn là một hình tượng nghệ thuật mang tính cá nhân cao độ, nó chịu sự quy định, ảnh hưởng bởi giọng điệu chung của thời đại Tuy nhiên, ở những cá nhân tài năng, giọng điệu của họ đã góp phần làm phong phú thậm chí làm thay đổi cấu trúc giọng điệu của cả một thời đại Cho nên, giọng điệu bao giờ cũng mang tính chất mới mẻ nếu nó là một sáng tạo thực sự Và một nhà văn tài năng

bao giờ cũng phải tạo ra giọng điệu chủ đạo - giọng điệu "trời phú" làm nên bản sắc

riêng Ở đây, chúng ta nhận thấy có nhiều khái niệm, nhiều quan niệm khác nhau về giọng điệu trong tác phẩm văn học Nhưng nhìn chung, chúng ta vẫn thấy một điểm hết sức thống nhất giữa tất cả các ý kiến đó là về vai trò và các yếu tố cấu thành giọng điệu Về phương diện này, giọng điệu có vai trò vô cùng quan trọng trong tác phẩm văn học Có thể nói, giọng điệu là cái mà chủ thể tiếp nhận đọc (nghe) xong tác phẩm khi gấp sách lại vẫn thấy văng vẳng bên tai tiếng nói của tác giả với nhiều cung bậc khác nhau và cả những hình ảnh, hình tượng, những sự việc mà giọng điệu ấy đem lại

Như vậy, ta có thể khẳng định giọng điệu trong văn chương là một yếu tố nghệ thuật thuộc phạm trù thẩm mỹ thể hiện thái độ, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ, sở trường

ngôn ngữ của tác giả Nó chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau như cái nhìn hiện

thực, cảm hứng chủ đạo, thái độ của tác giả Và đây sẽ là cơ sở để chúng tôi khảo sát

về giọng điệu trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

Trang 28

1.2 Nhà văn Ma Văn Kháng

1.2.1 Tiểu sử và cuộc đời

Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 01/12/1936 tại nhà thương Ái Mỗ, trấn Sơn Lộc - Tông, tỉnh lỵ Sơn Tây cũ Quê gốc là làng Kim Liên, Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội Ông hòa mình vào dòng chảy văn chương Việt Nam hiện đại từ nửa sau thế kỷ XX và trở thành một trong những cây bút tiêu biểu

Ma Văn Kháng đã từng tham gia quân đội từ tuổi thiếu niên và được cử đi học

ở Khu học xá Nam Ninh, Trung Quốc Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, hòa bình lập lại theo tiếng gọi của Đảng, Ma Văn Kháng tạm biệt quê hương Hà Nội lên Tây Bắc công tác Đây là một bước ngoặt rất quan trọng trong cuộc đời ông Ma Văn Kháng lên dạy học ở Lào Cai và đã lần lượt trải qua nhiều cương vị công tác Ông đã từng làm giáo viên dạy Văn, hiệu trưởng trường cấp 2, cấp 3 phổ thông Lào Cai, về sau ông được Tỉnh uỷ Lào Cai điều về làm thư ký cho Bí thư Tỉnh uỷ, rồi làm phóng viên, Phó tổng biên tập báo Đảng bộ Tỉnh Suốt 20 năm gắn bó với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng am hiểu lối sống, phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số Cái tên Ma Văn Kháng phần nào đã nói lên tình yêu thương mà ông dành cho mảnh đất giàu tình nghĩa ấy Từ trong tâm khảm, nhà văn đã coi Tây Bắc là quê hương thứ hai của mình

Sau 1976, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, Ma Văn Kháng chuyển công tác

về Hà Nội, trở về với cuộc sống đô thị Ông từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động Đến tháng 3 năm 1995, ông là Uỷ viên Ban chấp hành Đảng - Đoàn Hội Nhà văn Việt Nam khoá IV, trưởng ban sáng tác của Hội và là Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài Ở cương vị công tác nào, ông cũng là người dễ mến, sống chan hoà với mọi người

1.2.2 Hành trình sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng

Những trang viết về miền núi Tây Bắc đã bắt đầu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng đã cho ra đời hàng loạt những truyện ngắn, tiểu thuyết về cuộc đấu tranh, về cuộc sống và con người biên ải Tác phẩm đầu tiên của ông là truyện

ngắn Phố cụt (1961), được đăng trên báo Văn học, tiền thân của báo Văn Nghệ Thiên

Trang 29

truyện báo hiệu sự xuất hiện của nhà giáo - nhà văn mới Tuy nhiên bạn đọc chỉ thực

sự biết đến văn tài của ông khi truyện ngắn Xa phủ ra đời (1969)

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976, Ma Văn Kháng rời Lào Cai về Hà Nội hoạt động với tư cách là nhà văn chuyên nghiệp Một giai đoạn sáng tác mới được mở ra cho nhà văn Sáng tác của ông nở rộ, bút lực ngày càng tỏ ra sung sức, đề tài được mở rộng, nhiều chủ đề được khai thác sâu Ông cho ra đời hàng loạt tiểu thuyết có giá trị,

phản ánh đời sống của đồng bào dân tộc miền núi: Gió rừng (1977), Đồng bạc trắng

hoa xòe (1980), Vùng biên ải (1983) và sau này là Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001) Với

những tiểu thuyết này, Ma Văn Kháng trở thành “nhà văn của núi rừng”

Từ đầu những năm 80 và nhất là khi bước vào thời kỳ đổi mới, một loạt tiểu

thuyết như: Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không

có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989) lần lượt ra đời, làm sôi động đời

sống văn học, tạo nên những cuộc tranh luận không dễ nhất trí trên báo chí

Năm 1999, Ma Văn Kháng xuất bản cuốn tiểu thuyết Ngược dòng nước lũ Đó

là cuộc lội “ngược dòng” vô cùng gian lao và đầy đau đớn của con người để chống lại những cái xấu xa, bần tiện, bỉ ổi xuất hiện trong cơ chế thị trường và giữ lại được cho mình cái trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng nhất

Năm 2009, cuốn tiểu thuyết mang dáng dấp tự truyện Một mình một ngựa ra

đời Tiểu thuyết lấy cảm hứng tử niềm say mê trước vẻ đẹp kiêu hùng của con người giữa cuộc đời gian truân, còn nhiều khuyết tật, đầy mặc cảm cô đơn và dạt dào sức sống mãnh liệt

Đầu năm 2011, Ma Văn Kháng cho ra mắt tiểu thuyết Bóng đêm, tiếp sau đó ông đã hoàn thành tiểu thuyết Bến bờ, cả hai hợp thành bộ tiểu thuyết về đề tài hình

sự Ma Văn Kháng còn viết một tập hồi kí nhan đề Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng

nhớ thương Cuốn hồi kí là những kí ức của ông về học trò vùng biên, đồng nghiệp

ngành giáo dục và đồng nghiệp viết văn

Năm 2013, ông cho phát hành tiểu thuyết Chuyện của Lý Tác phẩm này dường

như là những gì lắng đọng, chắt chiu của Ma Văn Kháng về vùng đất Tây Bắc Nhân vật Lý trong truyện được nhà văn xây dựng như cái mầm sống hồn nhiên tràn đầy sinh lực Lý giống như là đứa con của đời, của cuộc sống Thông qua nhân vật Lý, Ma Văn

Kháng đưa ra nhân chứng cho nhận định về nhân sinh: “Con người là cái lý do sâu xa

Trang 30

nhất của cuộc đời”

Năm 2015, ở tuổi 79, nhà văn Ma Văn Kháng lại khiến bạn đọc một lần nữa khâm phục trước sự nỗ lực trong những năm tháng xế chiều của cuộc đời mình khi cho

ra đời 2 cuốn tiểu thuyết: Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ, Người thợ mộc

và tấm ván thiên Trong lời tuyên bố của mình Ma Văn Kháng nói rằng Người thợ mộc và tấm ván thiên là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, khép lại những năm tháng

cầm bút của người nghệ sĩ Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, giữa năm 2017, ở tuổi “ngoại

bát tuần”, Ma Văn Kháng cho ra mắt tiểu thuyết Chim én liệng trời cao - tác phẩm gần

400 trang sách phát triển từ truyện ngắn Chim én ông khởi bút gần nửa thế kỉ trước

Cùng với những nỗ lực và sức viết dẻo dai, bền bỉ, nhà văn đã đạt được nhiều giải thưởng trong sự nghiệp văn chương của mình:

- Giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986

- Giải thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995

- Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1998

- Giải thưởng Nhà nước về văn học - Nghệ thuật năm 2001

- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012

1.2.3 Vị trí của Ma Văn Kháng trong văn xuôi Việt Nam đương đại

1.2.3.1 Người góp công khai phá đề tài miền núi

Đề tài miền núi là một trong những mảng đề tài lớn của Văn học Việt Nam

Trước Ma Văn Kháng, đã có một số nhà văn khẳng định tên tuổi của mình ở mảng đề tài này như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Mạc Phi… cùng với những nhà văn vốn là người

dân tộc thiểu số đã không ngừng lao động nghệ thuật và hình thành nên bộ phận “văn

học đẹp đẽ” viết về đề tài dân tộc và miền núi này

Hòa chung với dòng chảy đó, Ma Văn Kháng cũng đã khẳng định tên tuổi của mình ở mảng đề tài này Nhưng có lẽ, đến Ma Văn Kháng, đề tài miền núi mới được thể hiện đa dạng và sâu sắc với hàng loạt truyện ngắn, tiểu thuyết Đặc biệt là tiểu thuyết sử thi của nhà văn có tầm vóc xứng đáng với lịch sử hào hùng của vùng núi Tây Bắc của tổ quốc Ma Văn Kháng với một phong cách riêng, đã đi vào khai thác đề tài đấu tranh của con người miền núi với những nét mới mẻ Ông đã tiên phong trong việc đưa đề tài về công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa vào sáng tác của mình Các tác phẩm của ông dựng lại một thời kỳ lịch sử đầy những biến động thăng trầm của đồng

Trang 31

bào dân tộc thiểu số Tây Bắc trong quá trình dài chiến đấu với kẻ thù, vừa có sự chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng bản thân mỗi người cùng những phong tục tập quán đặc trưng được hiện lên rõ nét trong những trang viết mang nét độc đáo riêng của nhà văn Hơn hai mươi năm gắn bó máu thịt, mảnh đất Lào Cai trở đã thành nguồn cảm hứng

vô tận để ông cho ra đời những đứa con tinh thần của mình Với sự am hiểu thực tế sâu

sắc, ông đã đưa vào tác phẩm của mình những chất liệu “ngồn ngộn” của cuộc sống

hiện thực nơi đây Các tác phẩm: Đồng bạc trắng hoa xòe (1977), Vùng biên ải (1983),

Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Chuyện của Lý (2013) là sự kết tinh thành tựu của nhà

văn về mảng đề tài miền núi Cùng với số lượng tác phẩm và những tình cảm cao quý, chân thành dành cho mảnh đất và con người miền núi, Ma Văn Kháng đã khẳng định

được những đóng góp của mình trong việc khai phá mảng đề tài này

1.2.3.2 Người góp công mở đường cho văn học thời kỳ đổi mới

Nếu điểm những gương mặt tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới,

Ma Văn Kháng phải là một trong những người được ghi công hàng đầu Cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn Ma Văn Kháng đã dũng cảm tiên phong mở đường cho sự đổi mới của văn học Việt Nam Được coi là người đi tiền trạm cho đổi mới văn học, nhà văn đã có nhiều đóng góp to lớn khi phân tích, mổ xẻ, nghiền ngẫm vấn đề cuộc sống hôm nay: con người với tất cả mặt tốt xấu cùng hiện thực sinh động có cả ánh sáng và bóng tối Với số lượng tác phẩm và nội dung thời sự đặc sắc, nhà văn đã chứng tỏ được tài năng của mình, góp phần làm mới

diện mạo Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới qua các tiểu thuyết: Mưa mùa hạ (1982),

Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Ngược dòng nước lũ (1999)…

Trong những năm tháng gần đây, tiểu thuyết có phần kém sôi động, không gây được nhiều sự chú ý và chưa có những tác phẩm để đời Nhưng chúng ta không thể phủ nhận những cố gắng, nỗ lực cách tân, sáng tạo của một số cây bút tiểu thuyết trong đó

có Ma Văn Kháng Ông vẫn luôn trăn trở, tìm tòi hướng đi mới cho tiểu thuyết Tác

giả Nguyễn Hòa trong bài nghiên cứu “Một cách lí giải về thực trạng tiểu thuyết Việt

Nam đương đại” đã nhận định: “Đọc Ma Văn Kháng, nhận thấy ông đang tiến hành một số thử nghiệm kĩ thuật, song chưa triển khai triệt để các biện pháp này để định

Trang 32

hình một phong cách tiểu thuyết” [18, tr.203] Tuy nhiên, với những nỗ lực sáng tác

bền bỉ và những đóng góp to lớn của mình Ma Văn Kháng xứng đáng là một trong những nhà văn gạo cội của văn học Việt Nam

TIỂU KẾT

Như vậy, chúng ta thấy, tiểu thuyết là một thể loại quan trọng trong loại hình tự

sự Nó luôn luôn vận động và biến đổi Tiểu thuyết có những đặc trưng riêng về nội dung cũng như hình thức với các thể loại khác Một số đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết gồm nhân vật, NKC, ngôn ngữ và giọng điệu Nghiên cứu những đặc trưng đó trong tác phẩm của một nhà văn sẽ góp phần khẳng định được những thành công về nghệ thuật cùng những đóng góp của nhà văn trong dòng chảy văn học

Có thể nói, cùng với những nhà văn tiên phong trong thời kì đổi mới, Ma Văn Kháng là một trong những cây bút tiêu biểu và có công hàng đầu trong tiến trình đổi mới văn học Ông đã có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà cả về số lượng và chất lượng Ma Văn Kháng với một đời văn cần mẫn, sáng tạo, với sức viết bền bỉ và dẻo dai đã trở thành tấm gương cho thế hệ nhà văn trẻ noi theo Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng với những hướng “thử nghiệm” tìm tòi, đổi mới trong thể loại tiểu thuyết, nhà văn đã góp phần tạo nên nền tảng cho những cách tân, đổi mới trong sáng tác của thế hệ sau

Trang 33

Chương 2 NHÂN VẬT VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG

(QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN)

2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng

2.1.1 Thế giới nhân vật

Qua khảo sát ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván

thiên, chúng tôi nhận thấy thế giới nhân vật được chia ra thành hai tuyến khá rõ ràng

là nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Bên cạnh đó, nhà văn còn sáng tạo ra những nhân vật độc đáo Họ là những người đứng giữa ranh giới thiện và ác Tuy nhiên,

sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Điều này giúp chúng tôi khảo sát nhân vật một cách có hệ thống hơn

2.1.1.1 Nhân vật chính diện

Là nhân vật mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, đại diện cho cái tốt, cái thiện, là hiện thân cho những khát vọng cao cả của nhà văn và thời đại Trong ba tiểu

thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên, chúng tôi thấy nhân vật

chính diện bao gồm: Nhân vật trí thức, chiến sĩ công an, người lãnh đạo có tài, có tâm; Nhân vật người phụ nữ đẹp về ngoại hình và tính cách; Nhân vật quần chúng tích cực

* Nhân vật trí thức, chiến sĩ công an, người lãnh đạo có tài, có tâm

Nhân vật trí thức, người lãnh đạo có tài, có tâm trong ba tiểu thuyết là những

người chiến sĩ công an nhân dân như ông Tầm, Nhâm, Trừng (Bóng đêm), Điền, Lập

(Bến bờ) và thầy giáo Quang Tình (Người thợ mộc và tấm ván thiên) Họ đều là những

người trí thức chân chính, có lòng yêu nghề, có trí tuệ, sống có lý tưởng, ước mơ và hoài bão nhưng lại sống trong một môi trường đầy rẫy những cạm bẫy, cái ác luôn rình rập bủa vây Họ phải chiến đấu với cái ác, cái xấu để bảo vệ cuộc sống của mọi người

và của chính mình Dù đôi khi những phút giây yếu đuối, ngã lòng nhưng họ cố gắng vượt lên mọi hoàn cảnh, biết nhìn lại mình và luôn tự hoàn thiện mình để vươn tới những lý tưởng cao đẹp

Ông Tầm (Cao Văn Tầm, tiểu thuyết Bóng đêm) - Trưởng công an quận, thủ trưởng của Nhâm và Trừng Ông có “ý chí gan góc hơn người, ý chí khăng khăng trên

cơ sở sở hữu một trí tuệ vững vàng một tầm nhìn xa và một tấm lòng rộng mở” [39,

Trang 34

tr.152] Ở tuổi ngoại năm mươi, “ông đã trải đủ mọi cảnh huống mùi đời ấm lạnh, tan

hợp, bi hoan” Ông là một “nhân vật của cuốn biên niên sử của công việc” “Lập nhiều công trạng nhưng ông lặng lẽ khiêm nhường, giấu mình tuy vẫn luôn mở rộng tâm hồn chào đón tiếp nhận các nguồn năng lượng khác để làm cho mình giàu có, bác tạp thêm”

[39, tr.153], là “cả một kho báu kinh nghiệm về sự thật” [39, tr.30] Những điều trên

cho thấy ông Tầm mang đúng cốt cách của một nhân vật chính diện và là một hình tượng lí tưởng đại diện cho cái đẹp, cái thiện, cho chân lí, lẽ phải Ông là một chiến sĩ công an mẫu mực, một lãnh đạo có tài và có tâm, là một tấm gương sáng cho các chiến

sĩ trẻ noi theo

Cũng như vậy, Lập trong tiểu thuyết Bến bờ - giám thị Trại giam Tam Giang,

bạn thân của Điền là một người mạnh mẽ, có ý chí nghị lực hơn người Trong công việc Lập không nệ vào sự yêu thích mà chỉ chú trọng đến bổn phận Anh luôn lo lắng

hết lòng cho công việc Bên cạnh ông Tầm và Lập, trong hai tiểu thuyết Bóng đêm và

Bến bờ còn có các chiến sĩ công an trẻ trung, năng động, sống hết mình vì công cuộc

bảo vệ sự bình yên cho nhân dân như Nhâm, Trừng, Điền

Nói đến nhân vật tri thức có tài có tâm, ta không thể không nhắc đến thầy giáo

Quang Tình trong tiểu thuyết Người thợ mộc và tấm ván thiên Quang Tình vốn là một

thầy giáo say mê lí tưởng, mê văn chương nghệ thuật, nhiệt tình và tận tụy với công việc

Thầy luôn khao khát vươn tới sự hoàn thiện đẹp đẽ nhất: “Trở thành một thầy giáo dạy

giỏi, một con người đa năng có ích cho đời” [41, tr.16] Thầy giáo Quang Tình từng gặp

đủ mọi bi kịch của cuộc đời Nhưng dù khó khăn thế nào, dù có rơi vào hoàn cảnh túng quẫn nhất, bạn đọc vẫn luôn thấy thầy giữ được niềm tin yêu với cuộc đời và con người, nhất là sự ý thức về nhân phẩm của mình Nhân vật thầy Quang Tình thật sự là tấm gương đạo đức sáng ngời để người đọc có thể soi vào Từ đó vực lên cho mình ý chí quyết tâm vượt khó, đặc biệt là việc giữ được thiện tâm trong sáng dù trong bất cứ hoàn cảnh nào Bên cạnh thầy giáo Quang Tình còn có hai người bạn thân của thầy là Trần Đình và Bùi

Lễ Hai thầy cũng góp phần thể hiện nhân cách đạo đức tốt đẹp của con người, giúp bạn đọc có thêm niềm tin với cuộc sống

Có thể thấy, Ma Văn Kháng đã xây dựng nên hình ảnh các nhân vật trí thức, chiến sĩ công an, người lãnh đạo có tài, có tâm mang trong mình cốt cách cao đẹp và đồng thời cũng phải chịu nhiều lắm những bi kịch từ cuộc đời Nhưng ở họ luôn sáng

Trang 35

lên sự dũng cảm, nghị lực và ý chí quyết tâm đấu tranh chống lại xái xấu, cái ác, bảo

vệ cho công lí, lẽ phải

* Nhân vật phụ nữ đẹp về ngoại hình và tính cách

Trong những trang viết của mình, Ma Văn Kháng dành rất nhiều tình cảm để ca ngợi vẻ đẹp của con người trong đó hình ảnh người phụ nữ luôn được tác giả quan tâm Nhân vật phụ nữ trong tác phẩm của nhà văn thường là những người đẹp, có phẩm hạnh,

họ mang một vẻ đẹp thánh thiện, đẹp cả về ngoại hình và tính cách

Trong tiểu thuyết Bóng đêm, Quyến - người yêu của Nhâm là một phụ nữ đẹp

Quyến có một bản tính nồng hậu, nàng luôn khát khao sự hoàn hảo trọn vẹn đến tận cùng

và luôn ao ước một đời sống lứa đôi khăng khít Với tình yêu chân thành của Nhâm, Quyến thực sự đã trở thành người phụ nữ đẹp Đó là người phụ nữ đoan trang, một thân

phận yếu đuối mong manh cần được sự che chở “Ôi! Quyến của anh! Anh vô cùng yêu

em Em không có lỗi lầm gì hết Em trong ngọc trắng ngà” [39, tr.302] Ta có thể bắt

gặp hàng loạt những nhân vật phụ nữ có vẻ đẹp gợi cảm như thế Đó là Cúc, bạn gái mới

quen của thiếu úy Hà Văn Trừng (Bóng đêm); là Khanh, người yêu Điền (Bến bờ); là Thắm, vợ thầy giáo Quang Tình (Người thợ mộc và tấm ván thiên)…

Với việc xây dựng hình tượng những người phụ nữ đẹp về ngoại hình và tính cách, Ma Văn Kháng cho người đọc thấy được vẻ đẹp và vai trò hậu phương vững chắc của họ với nhân vật trí thức, chiến sĩ công an dũng cảm gan dạ Những người phụ nữ chính diện trong tiểu thuyết của ông thường có nhan sắc, có cá tính, có trí tuệ và cũng gặp những bi kịch éo le trong cuộc đời nhưng ở họ cũng toát lên sự bản lĩnh, dám sống

và đấu tranh cho cái Thiện, cho lẽ phải Dù họ không được khắc họa như những nhân vật trung tâm nhưng họ vẫn nổi bật và gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc

* Nhân vật quần chúng tích cực

Ngoài những trí thức, lãnh đạo có tài, có tâm; những phụ nữ đẹp về ngoại hình

và tính cách, trong ba tiểu thuyết còn có sự xuất hiện của những nhân vật chính diện khác, họ là những nhân vật quần chúng có tư cách đạo đức tốt Có thể kể đến trong

tiểu thuyết Bóng đêm đó là chị Thư nhặt rác, người đã phát hiện ra đầu của anh Bội

trong cái gầu vứt dưới hồ Thanh Thiên; là người đàn ông có quan hệ thân mật với chị Thư, anh ta làm cửu vạn ở ga Trần Quý Cáp - một người lao động chân tay lương

Trang 36

thiện, anh đã bảo vệ Nhâm trong lúc Nhâm bị thương do đối đầu với lũ du côn Đó còn là những người dân trong ngôi làng ở Hưng Yên, nơi Trừng đến điều tra mối liên quan của cậu Lẫm đến cái chết của anh Bội Tất cả những nhân vật đó đều là những người dân lương thiện và họ giúp ích rất nhiều cho các chiến sĩ công an trong quá trình làm nhiệm vụ, giúp các anh hoàn thành nhiệm vụ của mình Trong tiểu thuyết

Bến bờ thì người đọc ấn tượng với Huy, con trai út của mụ Đống, người gần như tách

biệt hẳn với mẹ và các anh chị, tuy Huy không học cao nhưng anh là một người tốt, sống bằng chính sức lao động của mình và thường xuyên giúp đỡ, làm chỗ dựa cho Khanh

2.1.1.2 Nhân vật phản diện

* Nhân vật trí thức, công an, lãnh đạo tha hóa

Đối lập với những nhân vật trí thức, công an, người lãnh đạo tài năng, chân chính, trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng còn có những nhân vật trí thức, công an, lãnh đạo tha hóa, biến chất Đó là những kẻ đội lốt trí thức, mạo danh trí thức, là những

kẻ cậy chức cậy quyền, giả nhân giả nghĩa, lừa thầy phản bạn

Trong tiểu thuyết Bóng đêm, điển hình cho dạng nhân vật này là ông Khoái,

“một đối cực cả về hình thể lẫn thần thái với ông Tầm” [39, tr.182] Trừng đã từng

nhận xét: “Khoái là một kẻ bỉ tiện, là cặn bã của cặn bã” Hắn có một bộ dạng quan

cách, đạo đức giả, lấy mẽ bề ngoài che đậy cái bất tài vô dụng, lại đeo xung quanh mình bao điều ô trọc, dị nghị Khoái còn là một kẻ dâm đãng, hắn lợi dụng nghề nghiệp chức

vụ, hoàn cảnh để thỏa mãn tính thị dâm, khẩu dâm Hắn lo sợ, ganh ghét và còn trơ trẽn cướp công của những chiến sĩ trẻ như Nhâm Những biểu hiện trên của ông Khoái cho

thấy ông là một lãnh đạo không những chỉ thiếu tài mà còn thiếu cả đức, đúng là “cặn

bã của cặn bã” Bên cạnh Khoái, Hói trong Bến bờ và Hoàng Hủ trong Người thợ mộc

và tấm ván thiên cũng có những nét tương tự Chúng đều là những người nắm quyền

hành trong tay nhưng lại ngu dốt, rất nham hiểm và thâm độc Quyền lực có trong tay những kẻ như chúng thật là một mối nguy hại khôn lường Ma Văn Kháng đã thật tài tình khi dựng lên hình ảnh của những kẻ có chức có quyền mà tha hóa, trụy lạc để người đời đọc và soi xét Tác giả đặt họ vào thế đối lập để làm tôn thêm vẻ đẹp của những người trí thức, lãnh đạo chân chính và đồng thời cũng cho ta thấy rõ rằng, làm

Trang 37

người nhất là làm lãnh đạo cần thật sự vừa có tài vừa có tâm, có như vậy mới thu phục được lòng người

* Nhân vật phụ nữ sống với dục vọng bản năng

Nếu như Quyến, Khanh, Cúc và Thắm là đại diện cho những người phụ nữ đẹp

cả về ngoại hình và tính cách thì đối lập lại với họ là những người phụ nữ chỉ biết sống với những dục vọng bản năng Đó là những người phụ nữ hoặc bao che cho cái ác, hoặc làm điều ác, hoặc vì những bản năng dục vọng thấp hèn của bản thân mà bỏ quên danh

dự nhân phẩm của mình

Trong tiểu thuyết Bóng đêm, người phụ nữ đó là vợ của tên Thuyên (kẻ sát nhân

dã man Chị ta đã không tố cáo hành vi giết người của chồng, mà còn giúp hắn xóa bỏ

đi dấu vết tội ác man rợ nọ Trong Bến bờ, nổi bật lên nhân vật mụ Đống và lũ con gái,

con dâu của mụ Vợ Lập (Bến bờ) và vợ ông Tầm (Bóng đêm) cũng là những người

phụ nữ chạy theo dục vọng thấp hèn của bản thân Chỉ vì muốn được thỏa mãn cái bản năng nhục thể, họ đã chà đạp lên hạnh phúc và tình cảm thiêng liêng của hai vợ chồng

Nếu trong kiểu nhân vật phụ nữ đẹp về ngoại hình và tính cách, Ma Văn Kháng thể hiện thái độ trân trọng yêu thương và đồng cảm thì ở kiểu nhân vật phụ nữ này nhà văn đã bày tỏ sự phê phán với họ Nhà văn đã nhìn nhận vấn đề dục vọng bản năng ở nhiều khía cạnh Một mặt tác giả cho thấy nhu cầu về vật chất, về tình dục là nhu cầu

tự nhiên và thuộc về yếu tố bản năng của con người Mặt khác, nhà văn cũng khẳng định những nhu cầu đó không chỉ mang tính chất tự nhiên mà nó còn thể hiện trình độ văn hóa và nhân cách con người Qua đó, nhà văn cũng muốn nhắc nhở người đọc đừng

vì vật chất hay những nhu cầu tầm thường mà đánh mất đi bản chất tốt đẹp mình vốn

có đồng thời cũng gián tiếp cảnh báo tình trạng xuống dốc của các chuẩn mực đạo đức, những nấc thang giá trị đang có nguy cơ bị bào mòn và mất chỗ đứng trong đời sống tinh thần của người phụ nữ Việt Nam

* Nhân vật tội phạm, cặn bã của xã hội

Đây là tuyến nhân vật phản diện, đại diện của chúng chính là những kẻ tội phạm, những tên sát nhân với hành động tội ác man rợ hoặc là thành phần cặn bã của cuộc sống đô thị Các nhân vật này đại diện cho cái Ác, cái xấu xa, chúng đối lập với cái Thiện mà đại diện là các chiến sĩ công an nhân dân hết mình với công việc Loại nhân

vật này xuất hiện rõ trong cặp đôi tiểu thuyết hình sự Bóng đêm và Bến bờ

Trang 38

Nhân vật cần được nhắc đến đầu tiên là tên Thuyên, kẻ sát nhân hết sức dã man

và tàn bạo Hắn giết rồi làm thịt anh Bội mà không hề ghê tay, không chút run sợ Với tội ác mà hắn gây ra người đọc có cảm giác, hắn không còn là một con người nữa Hắn

là một tên dã dân, tên nghiệt súc Hắn là một sự lại giống, lộn giống, là một con quái vật, là một con quỷ đội lốt người Hắn là điển hình cho cái đại ác, cần được loại bỏ ngay lập tức Những con người như hắn chính là những kẻ đi ngược lại với thế giới văn minh, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội Tội ác hắn gây ra là không thể tha thứ Bên cạnh tên Thuyên là tên Phỉ; tên Cật; tên Lê Văn Sở - một tên tướng cướp bạo tàn, hung hăng, hống hách; tên Mừng - lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân trốn từ Nga về; thằng Tồn - hung thủ hiếp, giết và cướp của; tên Lường - kẻ gây ra vụ án rạch mặt trẻ em bằng lưỡi dao cạo khiến cả khu phố hoang mang, lo lắng; tên đại ác Lê Văn Kình chuyên cướp của, giết người Chúng đều là những tên phạm gian ác, nhưng dù

có gian manh, xảo trá đến đâu bọn chúng cũng đều bị các chiến sĩ công an tóm gọn và bắt chúng phải chịu trách nhiệm trước hành vi phạm tội của mình

Nếu như tiểu thuyết Bóng đêm là cuộc đối đầu giữa cái Thiện và cái Ác thì trong

Bến bờ cuộc đối đầu giữa các chiến sĩ công an với bọn tội phạm còn mang màu sắc là

một mối thù riêng tư Những tên tội phạm ở tiểu thuyết này là những kẻ đã từng có mối thù từ thời học sinh với các chiến sĩ công an Đó là những tên có máu mặt trong giới

xã hội đen như Nghiệm, Tóc xoăn, Mồm lệch… Bên cạnh những tên này còn có những tội phạm ẩn nấp trong đời sống hàng ngày, thậm chí gần ngay bên cạnh các chiến sĩ công an và người thân của họ Đây là những kẻ thừa cơ, sẵn sàng vấy bẩn, bôi nhọ danh

dự của các chiến sĩ, làm tổn hại đến tinh thần chiến đấu của các anh Tiêu biểu cho dạng tội phạm này là thằng Tư Con trai duy nhất với người chồng đầu tiên của mụ Đống, dì ghẻ của Khanh Nó ra tay giết vợ rồi còn trơ trẽn dựng chuyện để sỉ nhục Khanh và Điền Cuối cùng, với những tội ác đã gây ra, hắn bị xử bắn Đúng như nhà

văn nói, với những tên đại ác thì “cái chết, chỉ có cái chết mới có năng lực chấm dứt

mọi hành vi tội lỗi” [40, tr.290] của chúng được Ngoài ra, nhà văn còn kể đến rất nhiều

loại tội phạm khác nữa như bọn buôn lậu ma túy, những đứa trẻ chưa đến tuổi vị thành niên nhưng đã làm điều ác, những thằng nghiện, bọn lưu manh là sản phẩm cặn bã của cuộc sống đô thị

Trang 39

Qua các nhân vật tội phạm, cặn bã, lưu manh, nhà văn cho thấy xã hội này bên cạnh mặt tốt đẹp, mặt sáng thì vẫn còn nhiều lắm những cái xấu xa, cái bóng đêm bao phủ Và không ai khác, người chiến đấu chống lại cái ác, cái xấu xa đó là những chiến

sĩ công an đang ngày đêm miệt mài hi sinh cho công việc Những tên tội phạm này là nguyên nhân làm cho xã hội trở nên rối ren, phức tạp Nhà văn cũng muốn cảnh báo tình trạng tội phạm nảy nòi ngày càng nhiều trong xã hội hiện tại, mỗi bước tiến của nền văn minh lại là một bước tụt lùi của đạo đức Tội ác, theo nhà văn, chúng có nguyên nhân bắt nguồn từ chính gia đình, từ cha mẹ của bọn tội phạm, cũng có thể do bản thân bọn chúng không làm chủ được mình nên a dua, đua đòi theo cái xấu hoặc cũng có thể

do chính sự bất công của những người thực thi pháp luật Tóm lại, dù là dạng tội phạm nào đi chăng nữa thì bọn chúng cũng chính là những kẻ đang ngày đêm phá hoại cuộc sống của con người và xã hội, bọn chúng đáng bị đưa ra pháp luật để trừng trị một cách thích đáng, để trả lại sự bình yên, trong sạch cho cuộc sống của nhân dân

2.1.1.3 Nhân vật đứng giữa ranh giới Thiện và Ác

Sau khi nghiên cứu ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm

ván thiên của Ma Văn Kháng, chúng tôi nhận thấy có những nhân vật đứng giữa lằn

ranh Thiện và Ác Họ đang trên đà tha hóa, đang đi dần vào vòng tăm tối, họ là cái dị dạng, cái không bình thường của đời sống hoặc họ vì đời sống mà nhiều lúc đã dấn thân vào làm những điều xấu xa, gian trá Số lượng nhân vật này không nhiều nhưng chúng tôi đánh giá đây là những nhân vật thành công và nó mang nét mới trong quan

niệm về con người của Ma Văn Kháng Trong tiểu thuyết Bến bờ, có thể kể đến nhân

vật Chương, trưởng đoàn ca kịch thành phố nơi Khanh đã từng công tác Chương là

một gã được cái “mẽ bề ngoài” mà thực chất không hề có năng lực Không chỉ thế,

người đọc còn thấy hắn là một kẻ trơ trẽn, tráo trở và hèn hạ vô cùng Trong bộ phận

cảnh sát, cũng có những chiến sĩ đứng trên bờ vực tha hóa, đó là Khuynh: “Khuynh

mang cái vẻ lanh lợi thái quá và ham thích các thú vui tầm thường” [40, tr.186] Nhưng

trong công việc nhiều khi Khuynh cứng nhắc và quá vô tình Ấy vậy mà, lúc cần tỏ ra cương quyết và mạnh mẽ thì Khuynh lại yếu đuối để rồi anh bị một nhóm côn đồ đánh cho đến chết Nhân vật Khuynh khiến người đọc vừa giận vừa thương và không khỏi băn khoăn cho số phận và tính cách của con người

Trang 40

Trong tiểu thuyết Người thợ mộc và tấm ván thiên, chúng tôi xếp nhân vật Văn

Chỉ - chủ xưởng mộc, Dậu - thợ làm mộc cho ông Văn Chỉ và cô Mận làm tạp vụ trong xưởng mộc vào dạng nhân vật này Những nhân vật này có phần quen thuộc, gần gũi

và dường như ta vẫn gặp ở đâu đó giữa đời thường Họ chính là những nhân vật thể hiện tính cách của những con người sống nơi đô thị, nơi của những bon chen, xô bồ, phức tạp

Qua những nhân vật đứng giữa ranh giới “nhập nhằng” giữa Thiện và Ác, Ma

Văn Kháng cho người đọc thấy được sự phức tạp trong chính bản thể mỗi con người với những cái tốt, cái xấu lẫn lộn đan xen, không rõ ràng Ở giữa ranh giới đó, họ dễ bị

sa đà vào cái xấu, làm điều xấu nếu như không có sự thức tỉnh của thiên lương Phải chăng nhà văn muốn cảnh báo về tình trạng trong xã hội này còn nhiều lắm những người đang ở gần và đang dần đi vào cái bóng đêm, cái xấu xa, cái tội ác Để ngăn chặn điều này cần đánh thức được phần tốt đẹp trong con người họ mà không ai khác chính

bản thân họ phải tự nhận ra cái sai của mình để kịp thời sửa chữa

2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật

Trong phạm vi cho phép, luận văn chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật qua một số phương diện: Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật và miêu tả nhân vật với bản năng tính dục

2.1.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình

Qua khảo sát chúng tôi thấy nhà văn khá chú trọng đến việc miêu tả ngoại hình nhân vật và thông qua miêu tả ngoại hình mà nhà văn bộc lộ được tính cách, dấu ấn nghề nghiệp và ẩn chứa những dự cảm về thân phận con người

“trông mặt mà bắt hình dong” của dân gian và kết hợp với yếu tố tướng của thuật số

Với nhà văn, nhân vật chính diện không nhất thiết là một người có tướng mạo đẹp

nhưng kẻ xấu, kẻ ác thường mang vẻ kì dị và dữ tợn

Ngày đăng: 06/04/2022, 22:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Việt Nam nửa thế kỉ văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam nửa thế kỉ văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
3. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
4. Lê Huy Bắc (2008), “Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí Nghiên cứu văn học (s.7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
5. Nguyễn Thị Bích (Tập 1/2008), “Giọng điệu trần thuật của Ma Văn Kháng trong truyện ngắn sau 1975”, Tạp chí Khoa học công nghệ số 4 (48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật của Ma Văn Kháng trong truyện ngắn sau 1975”, Tạp chí "Khoa học công nghệ
6. Nguyễn Thị Bích (2014), Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng), Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng)
Tác giả: Nguyễn Thị Bích
Năm: 2014
7. Nguyễn Thị Bình (2013), “Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay” (Phần I), http://nguvan.hnue.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2013
8. Linh Chi, Ma Văn Kháng (ngày 17/05/2012),“Tôi gặp những ngẫu nhiên may mắn”, http://petrotimes.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi gặp những ngẫu nhiên may mắn
9. Lê Văn Chính (2004), Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng
Tác giả: Lê Văn Chính
Năm: 2004
10. Nguyễn Lân Dũng (2016), “Tiểu thuyết “Người thợ mộc và tấm ván thiên” qua góc nhìn của GS. Nguyễn Lân Dũng” , http://doanhnghiephoinhap.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết “Người thợ mộc và tấm ván thiên” qua góc nhìn của GS. Nguyễn Lân Dũng
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Năm: 2016
11. Hà Dương (2016), "Người thợ mộc và tấm ván thiên" - tác phẩm mới của nhà văn Ma Văn Kháng”, http://hanoimoi.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người thợ mộc và tấm ván thiên" - tác phẩm mới của nhà văn Ma Văn Kháng
Tác giả: Hà Dương
Năm: 2016
12. Hà Minh Đức (chủ biên) (2002), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
13. Phan Cự Đệ (1983), Các nhà văn Việt Nam hiện đại, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1983
14. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2003
15. Phan Cự Đệ (2007), Truyện ngắn Việt Nam Lịch sử - Thi pháp - Chân dung, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Việt Nam Lịch sử - Thi pháp - Chân dung
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
16. Trịnh Bá Đĩnh (2017), Phạm Quỳnh: Luận giải văn học và triết học, Nxb Văn hóa Thông tin - Trung tâm văn hóa Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quỳnh: Luận giải văn học và triết học
Tác giả: Trịnh Bá Đĩnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin - Trung tâm văn hóa Đông Tây
Năm: 2017
17. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại”, Tạp chí Văn học, (9), tr. 28 - 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
18. Nhiều tác giả (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
19. Nhiều tác giả (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1998
20. Nhiều tác giả (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng khảo sát từ ngữ trong ba tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Từ ngữ Từ lạ, lóng, - (LUẬN văn THẠC sĩ) tiểu thuyết của ma văn kháng dưới góc nhìn thể loại qua bóng đêm, bên bờ, người thợ mộc và tấm ván thiên​
Bảng kh ảo sát từ ngữ trong ba tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Từ ngữ Từ lạ, lóng, (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w