Con người không phải là vật chủ thích hợp của giun đũa chó/mèo, khi vô tình ăn phải trứng có chứa ấu trùng L3 hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng [49, 31] thì ấu trùng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
=====***=====
CAO VÂN HUYỀN
THỰC TRẠNG NHIỄM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỄM ẤU TRÙNG GIUN ĐŨA
CHÓ/MÈO (Toxocara spp.) CỦA CÁC ĐỐI TƯỢNG
KHÁM TẠI BỘ MÔN KÝ SINH TRÙNG –
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
Cán bộ hướng dẫn
TS PHẠM NGỌC DOANH
Hà Nội - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, quý thầy cô phòng Đào tạo sau đại học, phòng Ký sinh trùng cùng các thầy cô, các nhà khoa học tại Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật – Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, đã tận tình giảng dạy và truyền đạt kiến thức trong quá trình tôi học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Ngọc Doanh, đã tận
tình hướng dẫn, chỉ dạy những kiến thức về chuyên môn thiết thực và những chỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình tôi học tập và viết luận văn
Tôi xin trân trọng cám ơn và bày tỏ lòng biết ơn đến PGS TS Phạm
Ngọc Minh, GS TS Nguyễn Văn Đề, ThS BS Phan Thị Hương Liên cùng
toàn thể các thầy cô Bộ môn Ký sinh trùng – Đại học Y Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong qua trình học tập cũng như thực hiện đề tài và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi xin gửi lới biết ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, ủng hộ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2017
Cao Vân Huyền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa được công bố trên một công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tôi xin hoàn toàn chịu chách nhiệm với những lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2017
Cao Vân Huyền
Trang 4ELISA Enzym – linked immune sorbent assay
(Phản ứng miễn dịch gắn men)
(Ấu trùng di chuyển ở mắt)
(Ấu trùng di chuyển nội tạng)
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Khái quát chung về giun đũa chó mèo và bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người 3
1.1.1 Tác nhân gây bệnh và vòng đời phát triển 3
1.1.2 Nguồn bệnh và con đường nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo 5
1.1.3 Đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa chó/mèo ở người 5
1.1.4 Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo ở người 10
1.1.5 Phòng bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo 12
1.2 Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên thế giới 13
1.3 Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tại Việt Nam 14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
2.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu 17
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.2.1 Xác định tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các đối tượng có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm Toxocara spp đến khám và làm xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh tùng - Trường đại học Y Hà Nội 17
2.2.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
Trang 62.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 17
2.3.2 Kỹ thuật xét nghiệm ELISA tìm kháng thể chống ấu trùng giun đũa chó/mèo 18
2.3.3 Xét nghiệm công thức bạch cầu 21
2.3.4 Phương pháp điều tra hiểu biết và hành vi phòng chống bệnh 21
2.3.5 Xử lý số liệu 22
2.3.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Thực trạng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở đối tượng nghiên cứu 24
3.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT 24
3.1.3 Triệu chứng lâm sàng 27
3.1.4 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo giới tính 29
3.1.5 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo nhóm tuổi 30
3.2 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo 31
3.2.1 Kiến thức hiểu biết và hành vi của nhóm nghiên cứu đối với bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo 31
3.2.2 Mối liên quan giữa nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo và một số yếu tố nguy cơ lây nhiễm 34
3.2.3 Mối liên quan nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo với thói quen, tập quán sinh hoạt 39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
KIẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.Thông tin của bộ Kit Toxocara ELISA 18
Bảng 3.1: Đặc điểm giới tính, tuổi, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 24
Bảng 3.2: Kết quả xét nghiệm ELISA và BCAT 25
Bảng 3.3: Liên quan giữa kết quả xét nghiệm ELISA với bạch cầu ái toan 26
Bảng 3.4: Triệu chứng lâm sàng của các đối tượng nghiên cứu 28
Bảng 3.5: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo giới 29
Bảng 3.6: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo theo nhóm tuổi 30
Bảng 3.7: Kiến thức hiểu biết về bệnh giun đũa chó/mèo 31
Bảng 3.8: Hiểu biết của các đối tượng về tác hại, cách phòng và điều trị tiên lượng bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo 33
Bảng 3.9: Hành vi của đối tượng nghiên cứu có liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo 34
Bảng 3.10: Mối liên quan giữa nuôi chó, mèo và kết quả ELISA 35
Bảng 3.11: Tẩy giun cho chó/mèo và kết quả xét nghiệm ELISA 36
Bảng 3.12: Tiếp xúc với chó, mèo và kết quả xét nghiệm ELISA 37
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa tiếp xúc với đất và kết quả xét nghiệm ELISA 39 Bảng 3.14: Thói quen, tập quán sinh hoạt và kết quả xét nghiệm ELISA 39
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Vòng đời phát triển của giun đũa chó 4
Hình 1.2: Triệu chứng mẩn ngứa trên bệnh nhân 6
Hình 2.1: Bộ Kit Toxocara ELISA 18
Hình 3.1: Hình ảnh chứng âm, dương, mẫu (+), (-) và kết quả giá trị OD 25
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Toxocariasis là tên gọi của bệnh do ấu trùng giun đũa chó Toxocara canis hoặc ấu trùng giun đũa mèo Toxocara cati gây nên ở người Đây là bệnh lây
truyền từ động vật sang người [49, 31] Trong chu kỳ phát triển, giun trưởng thành ký sinh ở ruột vật chủ chính tự nhiên là chó/mèo Giun cái trưởng thành đẻ trứng, trứng ra ngoài môi trường theo phân vật chủ Phôi trong trứng phát triển qua các giai đoạn ấu trùng L1, L2 và L3.Trứng chứa ấu trùng L3 có khả năng lây nhiễm Nếu chó/mèo nuốt phải trứng đã có ấu trùng L3 thì chúng sẽ phát triển thành giun trưởng thành ký sinh ở ruột Con người không phải là vật chủ thích hợp của giun đũa chó/mèo, khi vô tình ăn phải trứng có chứa ấu trùng L3 hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng [49, 31] thì ấu trùng thoát vỏ xâm nhập thành ruột và theo đường máu đến gan, phổi, mắt, hệ thần kinh trung ương và những cơ quan khác trong cơ thể người hoặc di chuyển dưới da Ở những cơ quan này, ấu trùng di chuyển hàng tuần hay hàng tháng hoặc nằm im thành những vật lạ gây viêm và kích thích tạo ra u hạt thâm nhiễm bạch cầu ái toan [49, 31]
Bệnh giun đũa chó/mèo xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới Tỷ lệ nhiễm bệnh cao thường xuất hiện ở những vùng nuôi nhiều chó/mèo và dân trí thấp Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tác động đến
cơ thể người một cách âm ỉ kéo dài (ấu trùng có thể sống trong cơ thể người đến 10 năm) làm ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất lẫn tinh thần người bệnh
Tại Việt Nam trước đây, bệnh giun đũa chó /mèo được xem là bệnh ít gặp Tuy nhiên, những năm gần đây tỷ lệ người dương tính với kháng thể kháng
Toxocara spp ngày càng nhiều Hiện nay, bệnh này được xem là bệnh ký sinh
trùng mới nổi [9] Một số điều tra nghiên cứu tại một số tỉnh phía Nam và khu
Trang 10vực miền Trung - Tây Nguyên cho thấy tỷ lệ nhiễm tương đối cao [2] Các báo cáo về nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các tỉnh phía Bắc còn rất ít Gần đây
số lượng bệnh nhân đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng – Đại học y Hà Nội với các triệu chứng nghi ngờ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối nhiều
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng nhiễm và một số
yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo (Toxocara spp.) của
các đối tượng khám tại Bộ môn Ký sinh trùng – Trường Đại Học Y Hà Nội”, với hai mục tiêu:
spp.) trên các đối tượng đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng – Đại học Y Hà
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái quát chung về giun đũa chó mèo và bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người
1.1.1 Tác nhân gây bệnh và vòng đời phát triển
Tác nhân gây bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo là giun tròn thuộc giống
Toxocara, họ Toxocaridae, liên họ Ascaridiodea, bộ Ascaridida Giống Toxocara
gồm nhiều loài ký sinh ở các loài động vật khác nhau, tuy nhiên chỉ có 2 loài được
ghi nhận là gây bệnh ở người, đó là Toxocara canis ký sinh ở chó và Toxocara cati
ký sinh ở mèo [49, 31]
Hình thái học giun đũa chó/mèo:
Giun đũa chó/mèo có màu vàng trắng, phân tính đực cái Con cái (9 - 18 cm) lớn hơn con đực (4 - 10 cm) Tử cung con cái trưởng thành chứa đầy trứng hình bán thùy, dày, vỏ xù xì, kích thước 90 x 75 µm [35]
Vòng đời phát triển của giun đũa chó/mèo (hình 1.1)
Trong vòng đời phát triển, giun đũa chó/mèo trưởng thành ký sinh ở ruột chó/mèo, chúng thải trứng ra ngoài theo phân vật chủ Sau 1 - 3 tuần, phôi phát triển thành ấu trùng qua các giai đoạn L1, L2, L3 ở trong trứng Trứng chứa ấu trùng L3
có thể nhiễm cho vật chủ Khi chó, mèo nuốt phải trứng giun đũa đã chứa ấu trùng L3 Ở ruột non chó/mèo với điều kiện thích hợp ấu trùng thoát khỏi trứng, chui qua thành ruột, theo dòng máu đến gan, tim, phổi và sau đó trở về lại ruột non phát triển thành giun trưởng thành và bắt đầu sinh sản, đẻ trứng
Con cái có thể đẻ khoảng 200.000 trứng/ngày [23] Trứng giun đũa chó/mèo được thải ra ngoài theo phân vật chủ Trong đất, trứng có thể bảo tồn khả năng sống và khả năng gây bệnh trong thời gian dài, có thể tới 1 năm trong điều kiện thuận lợi [22]
Trang 12Giun đũa chó/mèo có thể truyền từ mẹ sang con qua bào thai Thời gian sống trung bình của giun đũa chó/mèo khoảng 4 tháng
Hình 1.1: Vòng đời phát triển của giun đũa chó
(Nguồn: www.dpd.cdc.gov/dpd.x)
Người nhiễm bệnh do ăn phải trứng có chứa ấu trùng L3 qua rau, bụi, tay bẩn… hoặc ăn thịt của vật chủ khác có chứa ấu trùng [49, 31] Tại ruột non, ấu trùng thoát khỏi vỏ trứng, xâm nhập qua thành ruột đi vào máu, theo dòng máu đến gan, từ đó vào tim phải Qua động mạch phổi, các mao mạch và sau đó đi rải rác khắp các cơ quan, như gan, phổi, tụy, cơ vân, não, mắt và một số cơ quan khác có các mao mạch nhỏ (0,02 mm) và bị đọng lại tại đây Chúng không phát triển trong cơ thể người nhưng có thể bảo tồn sự sống trong thời gian dài, dần dần ấu trùng tạo nang và chết trong đó
Trang 13Ngoài con người, những thú vật khác như loài gặm nhấm, cừu, côn trùng,
chim và ngay cả giun đất cũng có thể mang ấu trùng giun đũa chó/mèo Tất cả
những vật chủ này được gọi là vật chủ ngẫu nhiên, ký sinh trùng không bao giờ phát triển đến giai đoạn trưởng thành, không sinh sản được Vì vậy, ở những người bị nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo không bao giờ tìm thấy trứng trong phân
1.1.2 Nguồn bệnh và con đường nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
- Nguồn bệnh:
Chó/mèo nhiễm bệnh là nguồn dự trữ và phát tán mầm bệnh, ổ chứa trứng giun là đất, nước nhiễm phân chó/mèo Bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo không phải là nguồn lây nhiễm, vì ấu trùng không phát triển thành con giun trưởng thành trong cơ thể người, vì vậy không đẻ trứng [50]
- Con đường nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
Ở chó/mèo:
o Nhiễm trực tiếp qua đường tiêu hóa do nuốt phải trứng nhiễm ấu trùng
o Gián tiếp qua ăn các động vật khác bị nhiễm ấu trùng
o Nhiễm qua bào thai
Ở người:
o Qua ăn thức ăn bị nhiễm trứng giun đũa chó/mèo, hoặc đất, nước
o Qua tiếp xúc với chó/ mèo khi chăm sóc, chơi hoặc ngủ cùng chó mèo
o Qua ăn thịt các động vật khác bị nhiễm ấu trùng
1.1.3 Đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa chó/mèo ở người
Phụ thuộc vào mức độ nhiễm ấu trùng giun nhiều hay ít và tính nhạy của người bệnh mà thời gian ủ bệnh từ vài tuần đến vài tháng
Đặc điểm lâm sàng của bệnh rất đa dạng, phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, vị trí ký sinh của ấu trùng và đáp ứng của cơ thể người bị nhiễm
Trang 14Thông thường người bệnh có các triệu chứng toàn thân như: mệt mỏi, ăn không ngon, thể trạng kém, sốt bất thường và bị dị ứng (nổi mẩn ngứa, nổi ban mày đay…)
Hình 1.2: Triệu chứng mẩn ngứa trên bệnh nhân
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo thường gây các hội chứng chính như sau: ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM), ấu trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans = OLM), thể không điển hình, thể thần kinh (Neurological toxocariasis)
- Ấu trùng di chuyển nội tạng (Visceral larva migrans = VLM)
Thể bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng ở người đầu tiên được phát hiện năm 1952, ở trẻ em bị gan to và tăng bạch cầu ái toan [26] Bệnh nhân VLM điển hình là trẻ ở độ tuổi 2 - 7 tuổi thường nghịch đất và chơi với chó nhà Các dấu hiệu cấp tính của VLM liên quan đến sự di chuyển của ấu trùng ở gan và phổi, gây đau bụng, giảm sự thèm ăn, bồn chồn, sốt, ho, thở khò khè, hen suyễn
Ở thể bệnh này thấy rõ nhất sự tăng bạch cầu ái toan (> 2.000 tế bào/mm3) Ở
Trang 15các quốc gia phương Tây, hội chứng VLM hiếm gặp, từ 1952 đến 1979 chỉ thấy
970 trường hợp [34]
- Ấu trùng di chuyển ở mắt (Ocular larva migrans = OLM)
Hội chứng ấu trùng di chuyển ở mắt xảy ra ở cả trẻ em và thanh thiếu niên Triệu chứng phổ biến nhất là mất thị giác, bắt đầu trong một khoảng thời gian vài ngày đến vài tuần Ở mắt, ấu trùng bị giữ lại tạo một khối viêm thâm nhiễm BCAT Triệu chứng điển hình bao gồm: giảm thị lực một bên, đau mắt, đồng tử trắng, lé mắt kéo dài nhiều tuần Thường gặp nhất là u hạt võng mạc cực sau dễ nhầm với ung thư võng mạc Những biểu hiện hay gặp khác là viêm màng
bồ đào, áp - xe thuỷ tinh thể, viêm thần kinh thị giác, mủ tiền phòng Thường bị một bên mắt, hiếm khi cả hai mắt cùng bị Bệnh ở mắt thường không thấy tăng BCAT, gan to hay các triệu chứng khác ở thể bệnh ấu trùng di chuyển nội tạng OLM dường như là một bệnh lưu hành ở một số khu vực với ước tính tỷ lệ 1/100.000 người ở Alabama, Hoa Kỳ [43]
- Thể bệnh không điển hình
Tỷ lệ huyết thanh dương tính cao, nhưng số lượng các ca bệnh mắc 2 thể bệnh VLM và OLM ít đã gợi ý các cuộc điều tra tìm kiếm các dấu hiệu khác của bệnh nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Hai cuộc điều tra được thực hiện tại Pháp và Ai-len đã được thực hiện để giải quyết vấn đề này
Ở người trưởng thành tại Pháp, bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo đặc trưng lâm sàng bởi sự ốm yếu, ngứa, phát ban, khó thở và đau bụng Những phát hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm tăng bạch cầu ái toan (trung bình 1.444 tế bào/mm3), tăng nồng độ kháng thể IgE (trung bình, 851 IU/ml) Hội chứng này được gọi là "phổ biến" ở người lớn [48]
Tại Ai-len, triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất ở trẻ em là sốt, chán
ăn, nhức đầu, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, rối loạn hành vi và ngủ, viêm họng, viêm phổi, ho, thở khò khè, đau chân tay, viêm hạch Hai bảy phần trăm
Trang 16bệnh nhân có hàm lượng kháng thể kháng Toxocara có hàm lượng bạch cầu ái
toan bình thường Thể bệnh này gọi là thể ẩn tính
- Thể thần kinh (Neurological toxocariasis)
Ấu trùng giun đũa chó/mèo di chuyển trong não vật chủ Từ năm 1950 đến nay, gần 20 trường hợp bệnh ấu trùng giun đũa ở não người đã được xác
định qua hình ảnh ấu trùng Toxocara trong dịch não tủy, mô não, màng não,
và/ hoặc chẩn đoán miễn dịch trên dịch não tủy [33] Cũng như VLM, dấu hiệu lâm sàng của các rối loạn thần kinh là không đặc hiệu [46], dẫn tới khả năng có thể chẩn đoán nhầm tình trạng này
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người
Chẩn đoán bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối khó khăn vì các triệu chứng lâm sàng đa dạng và thường không đặc hiệu Nếu thấy có các triệu chứng mề đay, mẩn ngứa, sốt kéo dài, ho, thở khò khè, triệu chứng thần kinh, tổn thương ở mắt… thì cần nghĩ tới nhiễm ấu trùng giun đũa chó mèo và kết hợp thực hiện các phương pháp chẩn đoán khác để khẳng định, bao gồm các phương pháp sau:
- Tìm hiểu tiền sử bệnh nhân: có tiếp xúc với chó/mèo hay các hoạt động liên quan đến tiếp xúc với nguồn bệnh không, như nghịch đất, mút tay, ăn rau
sống
Chẩn đoán hình ảnh:
Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có thể được sử dụng để phát hiện và xác
định vị trí tổn thương u hạt do ấu trùng Toxocara Siêu âm bụng cho thấy nhiều
vùng giảm âm trong gan ở trẻ em bị gan to, tăng bạch cầu ái toan và huyết thanh
dương tính với Toxocara [25]
Sử dụng chụp cắt lớp vi tính (CT) thấy hình ảnh tổn thương gan xuất hiện dưới dạng các vùng mật độ thấp [32, 39] Trong hệ thần kinh trung ương, hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) cho thấy u hạt xuất hiện là các vùng cường độ cao, chủ yếu nằm vỏ não hoặc dưới vỏ não [54] Ở 11 bệnh nhân bị thể bệnh OLM,
Trang 17siêu âm thấy khối ngoại vi phản chiếu cao, dải thủy tinh hoặc các màng, võng mạc bị bong tách [61]
Chẩn đoán cận lâm sàng
Tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi mặc dù không đặc hiệu đối với nhiễm
ấu trùng giun đũa chó/mèo, nhưng cho thấy có liên quan đến thể bệnh VLM Ngược lại, ở bệnh nhân OLM không thấy tăng bạch cầu ái toan [36], có thể là do mật độ ấu trùng thấp (thường là một ấu trùng) Ở thể bệnh phổ biến và ẩn tính, một số bệnh nhân không tăng bạch cầu ái toan Vì vậy, các chẩn đoán xét nghiệm khác cần xem xét, tốt nhất là xác định nồng độ kháng thể IgE
Chẩn đoán phòng thí nghiệm có thể đạt được bằng cách khám bệnh lý các cơ quan, bao gồm gan [41], não [38], phổi hoặc mắt [53] Ở thể bệnh mắt,
ấu trùng di chuyển có thể được quan sát trực tiếp dưới võng mạc [51] Tuy nhiên, kiểm tra ký sinh trùng trực tiếp thường ít thấy, và phương pháp chẩn đoán huyết thanh học là chính
Kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học phổ biến nhất là kỹ thuật miễn dịch liên kết enzyme - sorbent assay (ELISA) với kháng nguyên là chất tiết của ấu
trùng giun đũa chó/mèo [30] Sử dụng chất tiết từ ấu trùng T canis nuôi trong
ống nghiệm làm tăng độ đặc hiệu của phản ứng ELISA [40] Kết quả ELISA
dương tính với Toxocara spp có thể được khẳng định bằng kỹ thuật Western
blot (WB), với độ nhạy cũng như ELISA, và khá đặc hiệu khi các băng trọng lượng phân tử thấp hơn, từ 24 đến 35 kilodalton [44] Một bộ kit thương mại hiện được cung cấp ở Châu Âu cho kết quả rất tốt
Các xét nghiệm phản ứng miễn dịch gắn men (ELISA) sử dụng các kháng nguyên được tiết ra bởi ấu trùng giai đoạn hai, có độ đặc hiệu thích hợp để chẩn đoán nhiễm bệnh Kháng nguyên tái tổ hợp đã được sản xuất từ ấu trùng giai đoạn 2 hứa hẹn độ đặc hiệu cao hơn kỹ thuật đáng tin cậy hiện hành (khoảng
Trang 1892%) ELISA có độ nhạy cao (khoảng 78%), ở nồng độ huyết thanh lớn hơn 1/32
Phát hiện các loại globulin miễn dịch khác ngoài IgG có thể hữu ích trong chẩn đoán phân biệt Tăng nồng độ IgE đặc hiệu với kháng nguyên TES - Ag, được đo bằng kỹ thuật miễn dịch - phóng xạ và ELISA [45] đã được xác định
ở bệnh nhân có dấu hiệu lâm sàng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo
ELISA xác định kháng thể IgG trong huyết thanh đặc hiệu với Toxocara spp ít nhạy cảm hơn đối với chẩn đoán thể mắt OLM so với các dạng bệnh
khác [37] Vì vậy, cần thu nước hoặc dịch lỏng ở mắt khi nghi ngờ thể bệnh ở
mắt Kháng thể chống lại Toxocara spp trong những chất lỏng này cao hơn so
với ở huyết thanh và do đó, chẩn đoán tốt hơn so với huyết thanh ở những bệnh nhân thể mắt [27]
Khi đọc kết quả huyết thanh học, cần lưu ý rằng rất nhiều bệnh nhân huyết thanh dương tính qua xét nghiệm sàng lọc các quần thể lớn có thể bị nhiễm trong quá khứ chứ không phải nhiễm hiện tại Chỉ những bệnh nhân có
dấu hiệu lâm sàng nhiễm Toxocara spp mới cần điều trị, vì xét nghiệm miễn
dịch học không có khả năng phân biệt giữa nhiễm hiện tại và quá khứ Vì vậy, chẩn đoán miễn dịch học cần kèm theo kiểm tra bạch cầu ái toan máu và nếu
có thể, xác định lượng IgE huyết thanh
Phát hiện cả tăng bạch cầu ái toan máu ngoại vi và xét nghiệm huyết thanh dương tính là chỉ thị của nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo hiện tại Chẩn đoán ít chắc chắn ở những bệnh nhân không tăng bạch cầu ái toan, nhưng có những dấu hiệu của thể bệnh ẩn tính Trong những trường hợp đó, tăng nồng
độ IgE tổng số > 500 IU ml là bằng chứng của nhiễm gần đây Phát hiện protein trao đổi cation với bạch cầu ái toan (ECP) được tiết ra bởi bạch cầu ái toan cũng
có thể hữu ích, vị sự tích tụ các tế bào này ở các mô
1.1.4 Điều trị bệnh ấu trùng giun đũa chó mèo ở người
Trang 19Các dẫn xuất từ Benzimidazole bao gồm Thiabendazole (TBZ), Mebendazole (MBZ), và Albendazole (ABZ) được sử dụng phổ biến
TBZ được cho uống hàng ngày, liều 25 - 50 mg/kg kéo dài 3 - 7 ngày Tác dụng phụ bao gồm chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa
MBZ, liệu pháp điều trị tốt nhất lịch trình là 20 - 25 mg/kg/ngày trong 3 tuần, hiệu quả giảm 70% các triệu chứng lâm sàng Tác dụng phụ bao gồm mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng và dạ dày nhẹ
ABZ liều 10 mg/kg/ngày trong 5 ngày, cải thiện lâm sàng ở 47% bệnh nhân nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo Tác dụng phụ nhẹ được thông báo ở
mặc dù đã nỗ lực ngăn ngừa tái nhiễm Toxocara spp Các đối tượng không
triệu chứng nhưng bị tăng bạch cầu ái toan mạn tính và những bệnh nhân mắc thể ẩn tính mà không tăng bạch cầu ái toan thì không cần phải điều trị đặc hiệu
Với bệnh nhân thể OLM, chưa có thử nghiệm điều trị dạng bệnh này Tuy nhiên, có báo cáo khuyên dùng corticosteroids để giảm viêm hiệu quả và
có thể giảm thiểu tổn thương mắt gây ra bởi sự thải kháng nguyên của ấu trùng giun Phác đồ điều trị thường khoảng 1 mg/kg/ngày từ 1 tháng trở lên, nếu cần, thì liều lượng giảm dần Trong số các phương pháp vật lý, chiếu tia laser được chỉ định khi ấu trùng được nhìn thấy trong mắt U hạt có thể được điều trị bằng
Trang 20áp lạnh
Điều trị bệnh nhân thể thần kinh bao gồm sự kết hợp corticosteroids và DEC, hoặc MBZ hoặc TBZ, hoặc chỉ DFC hoặc TBZ Kết quả của những nghiên cứu này không rõ ràng
Theo dõi sau điều trị
Đối với việc theo dõi sau điều trị (ngoại trừ thể OLM), chỉ số bạch cầu ái toan có vẻ hữu ích Trong một thử nghiệm so sánh DEC và MBZ, cả hai đều giảm số lượng bạch cầu ái toan sau 1 tháng điều trị, trong khi nồng độ IgE
không thay đổi Việc phát hiện IgG chống Toxocara spp đặc hiệu bởi ELISA
dường như không hữu ích để theo dõi liệu pháp Khi so sánh hàm lượng kháng thể giữa trẻ không được điều trị và trẻ được điều trị, biến động kháng thể chống
IgG Toxocara spp không bị ảnh hưởng Ngược lại, nồng độ huyết thanh IgE chống Toxocara spp dường như giảm đáng kể sau điều trị nếu nó tăng đáng kể
trước khi điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân dị ứng
1.1.5 Phòng bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
Hạn chế tối đa tiếp xúc các vật chủ nhạy cảm, các con chó/mèo bị nhiễm và môi trường nghi ngờ có bệnh
Chó/mèo cần tẩy giun bắt đầu từ 2 đến 3 tuần tuổi Tẩy 2 tuần/ 1 lần cho đến 12 tuần tuổi Chó mèo trưởng thành nên tẩy hai lần/năm Điều trị chó cái cũng được chỉ định sau mỗi chu kỳ động dục
Phải có quy trình kiểm tra phân định kỳ và có kế hoạch điều trị cần thiết
Cấm chó/mèo chạy trong khu vườn chơi, công viên hoặc các hộp cát tông nơi ở của chó/mèo
Nhanh chóng loại bỏ các thùng chứa phân chó/mèo
Giáo dục sức khỏe bởi các bác sĩ thú y, các thầy thuốc, các nhà hoạt động xã hội và những chủ vật nuôi để góp phần vào công tác dự phòng
và phòng chống bệnh
Trang 21 Rửa tay sau khi chơi ở nơi có cát và vật nuôi
1.2 Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo trên thế giới
Nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo (Toxocariasis) ở người được Willder
mô tả lần đầu năm 1950 khi phát hiện ấu trùng của giun trong u hạt võng mạc (retinal granuloma) Sau đó, bệnh ở người được Beaver mô tả năm 1952, trên
bệnh nhân có bệnh lý ở gan và phổi Ấu trùng Toxocara spp được phát hiện
sau khi giải phẫu tử thi, sinh thiết gan, phổi Beaver và cộng sự đã chứng minh
có sự hiện diện của ấu trùng giun đũa chó ở người và gọi đó là bệnh “ấu trùng
di chuyển nội tạng”
Toxocariasis là một trong những bệnh giun sán truyền từ động vật sang người phổ biến nhất, xuất hiện khắp mọi nơi trên thế giới, không phụ thuộc vào nông thôn hay thành thị, ngay cả những nước phát triển, như Nhật Bản, Mỹ, Úc, Pháp, vẫn có khả năng nhiễm và thậm chí nhiều hơn ở một số vùng so với các quốc gia đang phát triển Các nghiên cứu nhận thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh do giun đũa chó/mèo ở vùng nhiệt đới cao hơn do nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho sự hình thành phôi của trứng
Đây là bệnh lây truyền từ động vật và truyền qua đất Nghịch đất hoặc ăn đất làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh, đặc biệt là trẻ em sống ở nhà có chó con chưa được tẩy giun Vệ sinh cá nhân kém cũng như ăn rau sống được trồng ở vườn nhà bị nhiễm bẩn có thể gây nhiễm liều thấp mãn tính Ít phổ biến hơn liên quan đến tiêu thụ thịt sống của vật chủ chứa, như gà [52], cừu [55] hoặc thỏ [56] Trong số sinh viên thú y tại Toulouse (Pháp), tỷ lệ huyết thanh dương tính với
Toxocara spp cao hơn ở những người thường ăn sống gan bê hoặc nấu chưa
chín kỹ so với những người ăn chín [24] Điều này cho thấy rằng ấu trùng lây nhiễm có thể giải phóng khỏi mô động vật trong quá trình tiêu hóa và sau đó gây bệnh cho người
Trang 22Tỷ lệ mắc bệnh giun đũa chó/mèo ở người liên quan trực tiếp với tỷ lệ nhiễm trùng ở chó/mèo và tập quán thả rông chó/mèo ở nơi công cộng Bệnh xảy
ra ở mọi lứa tuổi, nhưng trẻ em có nguy cơ mắc bệnh cao hơn người lớn do thói quen chơi của trẻ và khuynh hướng đưa tay vào miệng, đặc biệt ở những trẻ chậm phát triển, không có sự khác biệt về chủng tộc, bé trai có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn trẻ gái Hội chứng ấu trùng di chuyển nội tạng thường xảy ra ở trẻ 1-7 tuổi, trong khi ấu trùng di chuyển ở mắt hay gặp ở trẻ lớn và trung niên
Các cuộc điều tra về tỷ lệ nhiễm ở các nước phương Tây thấy rằng từ 5% người trưởng thành khỏe mạnh ở khu vực thành thị dương tính và tỷ lệ này
2-ở nông thôn là 14,2 - 37% [47]
Ở các nước nhiệt đới tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara spp cao
hơn, cụ thể là 63,2% ở Bali [28], 86% ở trẻ em tại Saint - Lucia, Tây Ấn Độ [60], và 92,8% ở người lớn ở La Reunion (Lãnh thổ nước ngoài của Pháp, Ấn
Độ Dương) [48]
1.3 Tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tại Việt Nam
Trước đây, bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người tại Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, vì hiểu biết về bệnh này ở nước ta còn hạn chế, thậm chí ngay cả với các bác sĩ Hơn nữa, các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu và việc xét nghiệm phân không áp dụng được trong bệnh này do giun không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và đẻ trứng trong ruột của người Những năm gần đây đã có một số nghiên cứu điều tra huyết thanh học (ELISA) ở một số địa điểm, chủ yếu ở miền Nam và miền Trung - Tây Nguyên
Năm 1988, tại bệnh viện Nhi đồng II, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Vinh Hiển gặp một bệnh nhi bị sốt kéo dài, bạch cầu ái toan tăng rất cao Huyết thanh của bệnh nhân được gửi sang Pháp xét nghiệm đã xác định là trường hợp nhiễm
ấu trùng giun đũa chó/mèo Sử dụng kỹ thuật ELISA với kháng nguyên chất tiết của ấu trùng giun đũa chó/mèo đã phát hiện hàng ngàn người có huyết thanh dương tính [7]
Trang 23Trong một nghiên cứu ở khoa Miễn dịch của Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ huyết thanh dương tính với kháng nguyên giun đũa chó/mèo trên các bệnh nhân có triệu chứng dị ứng là 46,9% Trong số bệnh nhân nghiên cứu có triệu chứng ngứa và phản ứng huyết thanh dương tính với kháng nguyên giun đũa chó/mèo được điều trị Albendazole 800 mg/ngày trong
21 ngày thì chỉ có 11,3% hết triệu chứng ngứa Một số báo cáo ca bệnh nhiễm
ấu trùng giun đũa chó/mèo có tổn thương cơ quan nội tạng, tăng bạch cầu ái toan,
tăng IgE và phản ứng huyết thanh đối với kháng nguyên giun đũa chó/mèo Một điều tra khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh năm 2009 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính
với Toxocara canis là 20,6% [11]
Theo dõi tình hình nhiễm Toxocara canis trong số cán bộ chiến sĩ công
an nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại bệnh viện 30 - 4 TP
HCM, cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với Toxocara spp là
40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 tỷ lệ này là 130/1628 (8%) trường hợp [20]
Tại phòng khám của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn trong năm 2009 đã phát hiện 4.652 trường hợp huyết thanh dương tính với giun đũa chó/mèo Các trường hợp nhiễm này phân bố rất rộng nhưng chủ yếu là khu vực miền Trung - Tây Nguyên Số ca bệnh phát hiện nhiều nhất ở Bình
Định 2.706 ca, tiếp theo là Gia Lai 786 ca, Phú Yên 520 ca, Quảng Ngãi 304
ca, Đăk Lăk 228 ca Nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên nhiễm chủ yếu với 4.134 ca,
nhóm tuổi nhỏ từ 1 - 4 tuổi chỉ phát hiện có 44 ca Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đến khám là người lớn, trẻ em rất ít nên không thể xác định là nhóm tuổi nhỏ nhiễm thấp hơn người lớn
Ở miền Bắc chưa có nhiều báo cáo về tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở người Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Quyên tại tỉnh Phú Thọ cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với ấu trùng giun đũa chó/mèo rất cao từ
Trang 2472,5 – 87,6% [18] Tỷ lệ nhiễm giun đũa chó/mèo trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện 103 là 35% [17]
Như vậy điều tra tại cộng đồng cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa chó/mèo tại một số địa phương ở nước ta tương đối cao Nguyên nhân là ở nước ta chó/mèo được nuôi phổ biến, thường thả rông, phân chó gặp ở khắp nơi Tỷ lệ chó mẹ nuôi con nhiễm giun đũa chó tới 73,7% Một khảo sát tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở chó tại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa gần đây
cho thấy qua mổ khám tỷ lệ chó nhiễm T canis chiếm từ 10% - 25% và qua xét
nghiệm phân là 22,8% - 40% [15] Ngoài ra, khảo sát trên 90 mẫu rau sống bán tại các siêu thị trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thấy 67,7% số mẫu rau nhiễm trứng giun đũa chó/mèo [14], số mẫu đất có nhiễm trứng giun đũa chó/mèo thay đổi từ 5 - 26% [6]
Có thể thấy rằng nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo tương đối phổ biến ở nước ta, đặc biệt là ở khu vực miền Nam và miền Trung - Tây Nguyên, số liệu về bệnh này ở các tỉnh miền Bắc còn rất ít Hiện nay, một số bệnh viện quan tâm đến khám, xét nghiệm và điều trị cho bệnh nhân, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu về tình hình dịch tễ, các yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh Các số liệu này rất cần thiết cho việc kiểm soát bệnh Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài
“Thực trạng nhiễm và một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun
đũa chó/mèo (Toxocara spp.) của các đối tượng khám tại Bộ môn Ký sinh
trùng – Trường Đại Học Y Hà Nội”
Trang 25CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân đến khám, xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh trùng - Đại học
Y Hà Nội có một số triệu chứng lâm sàng nghi ngờ: mẩn ngứa hay nổi mề đay, đau bụng, đau đầu, nhức mỏi, kết quả siêu âm hay cắt lớp vi tính (CT) có tổn thương ở gan
- Bệnh nhân được giải thích rõ và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Nguyên liệu nghiên cứu
- Mẫu huyết thanh của các bệnh nhân đến khám tại Bộ môn Ký sinh trùng
- Đại học Y Hà Nội
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Bộ môn Ký sinh
trùng - Trường Đại học Y Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 - 2017
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Xác định tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo ở các đối tượng
có dấu hiệu lâm sàng nghi ngờ nhiễm Toxocara spp đến khám và làm xét nghiệm tại Bộ môn Ký sinh tùng - Trường đại học Y Hà Nội
2.2.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
- Tổng số 397 bệnh nhân đến khám và làm xét nghiệm ELISA Toxocara spp tại Bộ môn Ký sinh trùng - Trường Đại học Y Hà Nội
- Lấy máu và tách huyết thanh: bệnh nhân được lấy 1ml máu ở tĩnh mạch
Trang 26trong chất chống đông dùng để xét nghiệm công thức máu và 1ml dùng để tách huyết thanh làm xét nghiệm ELISA
2.3.2 Kỹ thuật xét nghiệm ELISA tìm kháng thể chống ấu trùng giun đũa chó/mèo
- Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ Kit Toxocara ELISA của
Mỹ sản xuất, với độ nhạy 93%, độ đặc hiệu 88% để phát hiện kháng thể IgG
đặc hiệu với Toxocara spp trong huyết thanh người bị nhiễm ấu trùng giun đũa
chó/mèo Hình ảnh và thông tin của bộ Kit như sau:
Hình 2.1: Bộ Kit Toxocara ELISA
Bảng 2.1.Thông tin của bộ Kit Toxocara ELISA
Trang 27Tên bộ Kit Toxocara ELISA
Phương pháp Kỹ thuật miễn dịch gắn men (ELISA)
Tổng thời gian ~ 20 phút
+ Nguyên tắc hoạt động của bộ kit
Bộ kit hoạt động theo nguyên tắc phản ứng ELISA gián tiếp phát hiện
kháng thể: kháng nguyên Toxocara spp đã gắn sẵn trong các giếng nhựa
polystyren kết hợp với kháng thể đặc hiệu có trong huyết thanh người, sau đó kháng thể kết hợp với kháng kháng thể IgG người gắn men peroxidase Phức hợp này được phát hiện bằng cách cho thêm cơ chất Men peroxidase phân giải
H202 tạo oxy nguyên tử sẽ oxi hóa cơ chất làm thay đổi màu phản ứng
+ Thành phần bộ kit:
R1: Bản nhựa polystyren 96 giếng, với 12 thanh, mỗi thanh 8 giếng đã
gắn sẵn kháng nguyên Toxocara spp
R2: Dung dịch rửa PBS - T (Photphate buffer saline -Tween 80)
R3: Dung dịch pha loãng PBS - T - BSA (BSA: Bovis serum albumin)
R4: Kháng thể kháng IgG gắn men peroxidase (HRPO)
R5a: Dung dịch pha cơ chất (mono USA Ag - HBs)
R5b: Cơ chất OPD (Ortho - Phenylene - Diamine)
Trang 28R5c: Dung dịch ngưng phản ứng (acid sunfuaric loãng)
R6a: Huyết thanh đối chứng dương
R6b: Huyết thanh đối chứng âm
+ Dụng cụ:
- Bộ Micropipet: 5 cái (0 - 5 l ; 2 - 20 l ; 20 - 200 l ; 200 - 1000 l ; Micropipet 8 đầu : 20 - 200 l)
- Tủ ấm, tủ sấy, máy ly tâm
- Đầu Eppendorf, tube lấy máu, giá đựng ống nghiệm, ống nghiệm, kim
lấy máu, bông , cốc đong
Các bước thực hiện ELISA:
- Chuẩn bị: dung dịch rửa: 475ml nước cất + 25 ml dung dịch rửa PBS, pha loãng huyết thanh bệnh nhân (pha loãng 1/64): 5µl huyết thanh + 315µl dilution (chứng âm, chứng dương không cần pha loãng)
- Các bước tiến hành:
+ Bẻ số giếng cần dùng (số bệnh nhân, chứng âm và chứng dương), đánh
số
+ Cho lần lượt vào mỗi giếng 100µl chứng âm, chứng dương và huyết thanh bệnh nhân đã được pha loãng ở trên
+ Ủ ở nhiệt độ phòng trong vòng 10 phút
+ Rửa 03 lần với dung dịch rửa đã chuẩn bị ở trên
+ Nhỏ vào mỗi giếng 02 giọt (100µl) Emzyme Conjugate
+ Ủ ở nhiệt độ phòng 05 phút
+ Rửa 03 lần bằng dung dịch rửa đã chuẩn bị
+ Nhỏ vào mỗi giếng 02 giọt (100µl) Chromogen
+ Ủ ở nhiệt độ phòng 05 phút
+ Nhỏ vào mỗi giếng 02 giọt (100µl) Stop
- Cách đánh giá kết quả: đọc giá trị OD bằng máy đọc ở bước sóng 450
Trang 29nm Ghi kết quả trị số OD của từng giếng
Nếu OD > 0,3: Dương tính
Nếu OD < 0,3: Âm tính
- Tỷ lệ nhiễm ấu trùng giun đũa chó/mèo thông qua xét nghiệm ELISA dương tính được tính theo công thức
Tỷ lệ nhiễm (%) =
Số xét nghiệm dương tính
x 100 Tổng số xét nghiệm
2.3.3 Xét nghiệm công thức bạch cầu
- Sử dụng máy xét nghiệm huyết học ADVIA 2120i do hãng Siemens (Đức) sản xuất để xét nghiệm 24 thông số: Công thức máu, công thức bạch cầu
- Xác định tỷ lệ BCAT:
+ Số lượng bạch cầu bình thường: 4,0 - 9,0 x103/µl máu
+ Tỷ lệ BCAT bình thường: 1 - 4%
+ Số lượng BCAT bình thường: 40 - 350/µl máu
- Các mức độ tăng BCAT (Theo Franklin và CS, 1998):
+ Tăng nhẹ: từ 350 - 1.500/µl máu hay 4 - 7%
+ Tăng trung bình: > 1.500 - 5.000/µl máu hay > 7 - 10%
+ Tăng cao: > 5.000/µl máu hay > 10%
2.3.4 Phương pháp điều tra hiểu biết và hành vi phòng chống bệnh
- Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi KAP về các thông tin sau:
o Hiểu biết về bệnh giun đũa chó/mèo
o Nguồn nhiễm bệnh giun đũa chó/mèo
o Con đường nhiễm bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
Trang 30o Tác hại của bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
o Cách phòng chống bệnh ấu trùng giun đũa chó/mèo
o Nuôi chó/mèo, có chó/mèo chạy xung quanh nhà hay không
o Tiếp xúc với chó/mèo
o Tiếp xúc với đất, rửa tay trước khi ăn, ăn rau sống
- Một số khái niệm dùng trong câu hỏi KAP
o Nghịch đất: được áp dụng phỏng vấn đối tượng trẻ em dưới 15 tuổi
Ở nông thôn đại đa số trẻ em thường có thói quen chơi các trò chơi dân gian, nô đùa tại các bãi đất, khu đất trống, vườn xung quanh nhà
o Tiếp xúc đất: dùng đối với người từ 15 tuổi trở lên, trong độ tuổi lao động, làm ruộng, trồng trọt có liên quan đến đất
o Bồng bế chó/mèo: là hành động chơi với chó/mèo, bế chó/mèo của trẻ em hoặc người lớn Ở đây có thể là bế chó/mèo nhà nuôi hoặc chó/mèo không do mình nuôi nhưng được những hộ gia đình trong cùng khu nuôi
o Thường xuyên: là hành động diễn ra hằng ngày như một thói quen (bồng bế chó/mèo) hay công việc hằng ngày (làm ruộng, trồng trọt)
o Không thường xuyên: là hành động thỉnh thoảng mới diễn ra, bị gián đoạn thường xuyên
2.3.5 Xử lý số liệu
- Số liệu thu thập được phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
2.3.6 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Các số liệu chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nghiên cứu, kết quả cho nghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đích phục vụ sức khỏe