Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của chính sách vốn lưu động đối với rủi ro lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết.
Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài cần trả lời cho câu hỏi nghiên cứu sau:
Chính sách vốn lưu động tác động như thế nào đến rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp ?
Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận và các nghiên cứu trước đây của T.Afza và M.S Nair (2007), Faris Nasif Alshubiri (2011), cùng với Mohammad Hassani và Arezoo Rajab Tavosi (2014), tác giả đề xuất giả thuyết về mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động và rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp Để kiểm tra giả thuyết này, tác giả áp dụng các phương pháp phân tích tương quan và hồi quy, sử dụng mô hình Pooling OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) trên dữ liệu bảng, đồng thời áp dụng phương pháp Grangian Multiplier – LM Test.
1978)để lựa chọn mô hình tốt nhất.
Đóng góp của luận văn
Luận văn này có 3 đóng góp chính như sau:
Luận văn này làm rõ mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động và rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời cung cấp bằng chứng mới từ thị trường Việt Nam.
Chính sách vốn lưu động đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, tối ưu hóa chi phí và tăng cường hiệu quả hoạt động Sự điều chỉnh chính sách này có thể giúp doanh nghiệp cải thiện vị thế cạnh tranh và thu hút nhà đầu tư, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững trong bối cảnh thị trường đầy biến động.
Từ năm 2008 đến 2014, nghiên cứu này tập trung vào việc hồi quy và kiểm định mức độ sử dụng các chính sách vốn lưu động của các doanh nghiệp tại Việt Nam, một lĩnh vực chưa được nhiều nghiên cứu đề cập đến trong nước.
Bài nghiên cứu này cung cấp nền tảng cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng và đưa ra quyết định về chính sách vốn lưu động, phù hợp với đặc điểm ngành nghề và quy mô doanh nghiệp.
5
Quản trị vốn lưu động, đặc biệt là quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, đóng vai trò quan trọng trong quản trị tài chính của doanh nghiệp Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng vốn lưu động ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi của các công ty (Turuel & Solano, 2007; Nobanee et al, 2011; Mansoori & Muhammad, 2012) Tại Việt Nam, các giám đốc tài chính thường xuyên xem xét quản trị vốn lưu động trong các quyết định hàng ngày Trong bối cảnh kinh tế hiện nay đầy khó khăn và rủi ro, doanh nghiệp càng cần chú trọng hơn đến việc quản trị vốn lưu động.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng ngừng sản xuất, đóng cửa hoặc tuyên bố phá sản, cho thấy sự sai sót trong quyết định về chính sách vốn lưu động đã dẫn đến tổn thất lớn Những tổn thất này bao gồm mất mát về tiền mặt, phát sinh nợ khó đòi, bị chiếm dụng vốn, cũng như hao hụt và thất thoát hàng hóa, nguyên vật liệu Tất cả những yếu tố này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận hành hiệu quả của doanh nghiệp.
Để tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn, các công ty cần duy trì tính thanh khoản, vì lợi nhuận mà không có tính thanh khoản có thể dẫn đến rủi ro nghiêm trọng Cần có sự cân bằng giữa lợi nhuận và tính thanh khoản để đảm bảo sự tồn tại bền vững của doanh nghiệp Nghiên cứu của Mohammad Hassani và Arezoo Rajab Tavosi (2014) chỉ ra rằng nhiều công ty ở Iran chuyển đổi tiền mặt thành tài sản khác, dẫn đến thiếu hụt tiền mặt và giảm độ tin cậy Thiếu vốn lưu động kéo dài có thể dẫn đến cạn kiệt tài chính và phá sản, nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý vốn lưu động Nghiên cứu này cũng nhằm tìm hiểu "Tác động của chính sách vốn lưu động đến rủi ro lợi nhuận" của các doanh nghiệp niêm yết thông qua các chỉ số như lợi nhuận trên tài sản, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên vốn đầu tư.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tác động của chính sách vốn lưu động đến rủi ro lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết Nghiên cứu sẽ phân tích mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và khả năng sinh lời, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm tối ưu hóa chiến lược tài chính cho các doanh nghiệp.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu Đề tài cần trả lời cho câu hỏi nghiên cứu sau:
Chính sách vốn lưu động tác động như thế nào đến rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nói trên đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
Mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động và rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Mối quan hệ giữa các chỉ số tài chính được đánh giá thông qua độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản (SDROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (SDROE) và lợi nhuận trên vốn đầu tư (SDROI) Các yếu tố chính trong chính sách vốn lưu động được xác định qua chỉ số tổng tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản (AIP) và tổng nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (AFP), cùng với các biến kiểm soát khác trong mô hình nghiên cứu.
Để đánh giá rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp, các số liệu được đo lường qua độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời trên vốn (SDROA, SDROE và SDROI), kết hợp với các biến độc lập chính như AIP và AFP, cùng với các biến kiểm soát khác Nghiên cứu này được thực hiện trên 144 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2014, với thời gian phân tích kéo dài 7 năm.
Dữ liệu trong bài viết được trích xuất từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp, được công bố trên website của Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM và Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp, bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thuyết minh báo cáo tài chính Tác giả đã tổng hợp và tính toán giá trị của các biến sử dụng trong mô hình từ những dữ liệu này.
Dựa trên phương pháp luận và các nghiên cứu trước đây của T.Afza và M.S Nair (2007), Faris Nasif Alshubiri (2011), cùng với Mohammad Hassani và Arezoo Rajab Tavosi (2014), tác giả đề xuất giả thuyết về mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động và rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp Tác giả áp dụng các phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích tương quan và phân tích hồi quy, sử dụng mô hình Pooling OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) trên dữ liệu bảng Ngoài ra, nghiên cứu còn áp dụng phương pháp Grangian Multiplier – LM Test để kiểm tra kết quả.
1978)để lựa chọn mô hình tốt nhất
1.6 Đóng góp của luận văn
Luận văn này có 3 đóng góp chính như sau:
Luận văn này làm rõ mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động và rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thêm bằng chứng từ thị trường mới nổi như Việt Nam.
Chính sách vốn lưu động có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Việc quản lý vốn lưu động hợp lý giúp tối ưu hóa dòng tiền, nâng cao khả năng thanh khoản và tăng cường sức cạnh tranh Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nghĩa vụ tài chính để đảm bảo sự ổn định trong hoạt động kinh doanh Sự thay đổi trong chính sách vốn lưu động có thể tác động trực tiếp đến giá cổ phiếu và niềm tin của nhà đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến giá trị thị trường của doanh nghiệp.
Từ năm 2008 đến 2014, nghiên cứu này tập trung vào việc hồi quy và kiểm định mức độ áp dụng các chính sách vốn lưu động của các doanh nghiệp tại Việt Nam, một lĩnh vực chưa được khai thác nhiều trong các nghiên cứu trước đây ở nước ta.
Bài nghiên cứu này cung cấp cơ sở quan trọng cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng và đưa ra quyết định về chính sách vốn lưu động, phù hợp với đặc điểm ngành nghề và quy mô hoạt động của từng doanh nghiệp.
Luận văn được trình bày theo cấu trúc năm chương gồm :
- Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
- Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương này nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu, xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cần làm rõ Tác giả đưa ra định hướng về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời xác định các phương pháp cụ thể để đạt được mục tiêu Ngoài ra, chương cũng trình bày bố cục và khái quát những đóng góp chính của luận văn.
15
Dữ liệu nghiên cứu
Dựa trên các phương pháp luận đã được trình bày trong Chương hai và kế thừa các phương pháp nghiên cứu từ các nhóm nghiên cứu trước, đặc biệt là mô hình nghiên cứu của tác giả Mohammad Hassani và Arezoo Rajab Tavosi.
Năm 2014, Faris Nasif Alshubiri đã trình bày phần thiết kế nghiên cứu, bao gồm dữ liệu nghiên cứu, mô tả các biến trong mô hình, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên và bản cáo bạch của các doanh nghiệp niêm yết trên Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sàn Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2014.
Các doanh nghiệp được chọn lọc trong mẫu nghiên cứu phải đáp ứng các điều kiện sau :
Các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam không bao gồm các công ty thuộc lĩnh vực tài chính như ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán.
Các doanh nghiệp có đầy đủ số liệu trong giai đoạn 2008 - 2014
Trong nghiên cứu này, mẫu dữ liệu bao gồm 144 doanh nghiệp được chọn ngẫu nhiên từ nhiều ngành khác nhau, đảm bảo có đầy đủ thông tin trong suốt thời gian nghiên cứu Các doanh nghiệp trong mẫu được phân loại theo nhóm ngành với tỷ trọng từng ngành được xác định cụ thể.
Bảng 3.1:Bảng thống kê ngành và tỷ trọng của các doanh nghiệp trong mẫu
TT TÊN NHÓM NGÀNH SỐ
2 nh t ng n, xây ng và v t li u xây d 25 17,4%
Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình
Các biến được lựa chọn cho mô hình nghiên cứu dựa trên các nghiên cứu trước đây về tác động của chính sách vốn lưu động đến tỷ suất sinh lợi và rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp Nghiên cứu của T Afza và M S Nair (2007), Faris Nasif Alshubiri (2011), cùng với Mohammad Hassani và Arezoo đã cung cấp nền tảng quan trọng cho việc xác định những yếu tố này.
Nhóm tác giả T.Afza và M.S Nair (2007) đã nghiên cứu tác động của chính sách vốn lưu động đến rủi ro doanh nghiệp bằng cách sử dụng tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản (TCA/TA) và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (TCL/TA) Nghiên cứu này đo lường độ lệch chuẩn của các biến như Doanh thu (SDsale), tỷ suất sinh lợi trên tài sản (SDROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ (SDROE), và chỉ số giá thị trường (SDq).
Faris Nasif Alshubiri (2011) đã áp dụng phương pháp hồi quy của T.Afza và M.S Nair (2007) và bổ sung hai biến phụ thuộc là độ lệch chuẩn của tỷ lệ sinh lời trên vốn đầu tư (SDROI) và độ lệch chuẩn tỷ lệ sinh lời trên vốn (SDROC) để phân tích ảnh hưởng của chính sách vốn lưu động đến rủi ro hoạt động của doanh nghiệp Năm 2014, nhóm tác giả đã đánh giá tác động của chính sách vốn lưu động đến rủi ro lợi nhuận bằng cách sử dụng tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản (TCA/TA) và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (TCL/TA) làm các biến độc lập chính, đồng thời thêm các biến kiểm soát như quy mô doanh nghiệp (Size), tốc độ tăng trưởng doanh thu (Sales growth), tỷ số nợ (Leverage) và tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản (WCTA) Họ đã đo lường độ lệch tuyệt đối của tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ADROA), độ lệch tuyệt đối tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ADROE), độ lệch tuyệt đối tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (ADROI) và độ lệch tuyệt đối tỷ suất sinh lời trên vốn (ADROC).
Tuy nhiên, để phù hợp với dữ liệu thu thập được ở các doanh nghiệp niêm yết của Việt Nam Tác giả kế thừa mô hình nghiên cứu của tác
Hassan (2014) đã áp dụng phương pháp đo lường độ lệch chuẩn theo Faris Nasif Alshubiri (2011) để đánh giá tác động của chính sách vốn lưu động đến rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp.
3.2.1 Biến phụ thuộc đo lường rủi ro lợi nhuận doanh nghiệp
Biến phụ thuộc Y trong nghiên cứu này là rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp, được đo lường qua độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi trên tài sản (SDROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (SDROE) và tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (SDROI) Các số liệu này được tính bằng căn bậc hai của phương sai các tỷ số ROA, ROE và ROI Chỉ số càng cao cho thấy độ biến thiên của các tỷ số này càng lớn, đồng nghĩa với việc rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng lên.
3.2.2 Các biến độc lập chính đo lường chính sách vốn lưu động
Trong các nghiên cứu về quản lý vốn lưu động, chính sách đầu tư mạo hiểm (AIP) và chính sách tài chính mạo hiểm (AFP) thường được xem xét Khi doanh nghiệp áp dụng chính sách đầu tư mạo hiểm, tỷ lệ đầu tư vào tài sản lưu động sẽ thấp hơn nhiều so với tài sản cố định Ngược lại, với chính sách đầu tư thận trọng, doanh nghiệp sẽ đầu tư phần lớn vốn chủ sở hữu vào tài sản lưu động, dẫn đến tăng chi phí cơ hội, giảm lợi nhuận và giảm rủi ro Chính sách đầu tư vốn mạo hiểm được tính toán dựa trên các yếu tố này.
Tỷ số này càng thấp mức độ mạo hiểm của chính sách đầu tư vốn lưu động càng cao
Chính sách tài chính mạo hiểm của doanh nghiệp thể hiện qua việc ưu tiên sử dụng nợ ngắn hạn hơn nợ dài hạn Ngược lại, chính sách vốn lưu động thận trọng cho thấy doanh nghiệp dựa nhiều vào nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu để tài trợ.
Tỷ số này càng cao thì mức độ mạo hiểm của chính sách tài trợ vốn lưu động càng cao
3.2.3 Các biến kiểm soát được sử dụng
Quy mô doanh nghiệp, được đo bằng tổng tài sản, có ảnh hưởng tiêu cực đến rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp.
AFP Tổng nợ ngắn hạn (TCL) Tổng tài sản (TA)
AIP = Tổng tài sản ngắn hạn (TCA)Tổng tài sản (TA)
Tăng trưởng là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp Ở các nền kinh tế có thị trường chứng khoán phát triển, tăng trưởng thường được đo bằng chỉ số Tobin’s Q, phản ánh tỷ lệ giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách của tổng tài sản Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Budia và cộng sự (2000), trong các nền kinh tế đang chuyển đổi với thị trường chứng khoán chưa phát triển, tốc độ tăng trưởng doanh thu là chỉ số phù hợp hơn để đo lường tăng trưởng Doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thường có hiệu quả hoạt động tốt, mang lại kỳ vọng tích cực cho nhà đầu tư.
Tỷ số nợ, hay còn gọi là leverage, được tính bằng tổng nợ chia cho tổng tài sản và được kỳ vọng sẽ có tác động tích cực (+) đến rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp.
WCTA, hay tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản, được tính bằng cách chia tổng vốn lưu động ròng cho tổng tài sản Tỷ lệ này được kỳ vọng sẽ có tác động tiêu cực đến rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong bài nghiên cứu, các doanh nghiệp được phân loại theo 6 nhóm ngành chính dựa trên "Tiêu chí phân ngành kinh tế" của Tổng cục thống kê Cụ thể, các ngành nghề bao gồm: Ind 1 - Ngành dịch vụ; Ind 2 - Ngành bất động sản, xây dựng và vật liệu xây dựng; Ind 3 - Ngành tiêu dùng và chế biến thực phẩm; Ind 4 - Ngành thép và sản xuất bao bì; Ind 5 - Ngành nông nghiệp và chế biến thủy sản; Ind 6 - Ngành công nghiệp.
Tuổi đời doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hiệu quả hoạt động của nó Doanh nghiệp có tuổi đời cao thường có nhiều trải nghiệm thị trường, từ đó xây dựng được nền tảng vững chắc và chính sách tài chính hiệu quả Điều này giúp giảm thiểu rủi ro lợi nhuận và kỳ vọng tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh.
Để đo lường sự khác biệt trong các chính sách tài chính, tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản được sử dụng để đánh giá tính thanh khoản của doanh nghiệp Nếu tỷ số này thấp hoặc âm, điều đó cho thấy doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Tuy nhiên, tỷ số này cũng phản ánh khả năng quản lý chính sách vốn lưu động của doanh nghiệp; một tỷ số thấp hoặc âm có thể chỉ ra rằng doanh nghiệp đang hoạt động với mức vốn lưu động thấp nhưng vẫn duy trì chính sách vốn lưu động hiệu quả Các nhà quản lý cần xem xét đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp để xác định tỷ lệ này ở mức phù hợp.
WCTA Vốn lưu động ròng ( TCA – TCL)
Bảng 3.2:Bảng tóm tắt các biến trong mô hình và nguồn dữ liệu
STT Kí hiệu Tên biến Nguồn dữ liệu
1 SD ROA Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên Tổng tài sản
Báo cáo tài chính SD ROA = δ 2 RO A
2 SD ROE Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Báo cáo tài chính SD ROE = δ 2 RO E
3 SD ROI Độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên vốn đầu tư
Báo cáo tài chính SD ROI = δ 2 RO I
Nợ ngắn hạn Tổng tài sản
6 Size Qui mô công ty Báo cáo tài chính Size = Logarit của tổng tài sản D.thu t - D.thu t-1
D.thu t-1 Tổng nợ Tổng tài sản Vốn lưu động ròng Tổng tài sản
10 Age Tuổi đời của doanh nghiệp Thuyết minh
BCTC Age = Logarit ( TG tính toán -
9 WCTA Vốn lưu động ròng trên tổng tài sản
Growth Tăng trưởng của doanh nghiệp
TCA/TA (%) Tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên tổng tài sản
TCL/TA (%) Tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản
Ind Ngành nghề Bản cáo bạch
Ind 2: bất động sản và VLXD Ind 3: ngành tiêu dùng và chế biến thực phẩm
Ind 4: NPL, bao bì, sản xuất thép
Ind 5: nông nghiệp, chế biến thủy sản.
Nghiên cứu của Gardner et al (1986), Weinraub & Visscher (1998) và Mohammad Hassan (2014) chỉ ra rằng chính sách vốn lưu động có vai trò quan trọng trong quản lý rủi ro lợi nhuận Tuy nhiên, một số nghiên cứu như của T.Afza và M.S Nair (2007) lại cho rằng chính sách này không ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro lợi nhuận Để làm rõ mối quan hệ giữa chính sách vốn và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giả thuyết nghiên cứu được đặt ra là H0 (Giả thuyết Null): có sự liên kết giữa chính sách vốn và các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Giả thuyết chung trên được cụ thể hóa bằng 3 giả thuyết:
Giả thuyết 1: có mối quan hệ giữa chính sách vốn lưu động và độ lệch chuẩn của lợi nhuận trên tài sản đối với các doanh nghiệp Việt Nam
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả bộ dữ liệu
Bảng 4.1 : Bảng thống kê mô tả
SD ROA SD ROE SD ROI SIZE TCA/TA WTCA LEV GROWTH AGE IND TCL/TA
Tốc độ tăng trưởng doanh thu ( Growth ) giữa các doanh nghiệp trong mẫu khảo sát c khá Cụ thể, giá 328.47
-95.28% Mức chênh lệch này dẫn đến giá chỉ đạt 29.17 có
, có doanh nghiệp tốc tăng trưởng khá cao, bên cạnh cũng tồn tại những doanh nghiệp bị sụt giảm doanh số khá lớn có thể
Trong các nhóm ngành, dịch vụ, bất động sản, vật liệu xây dựng, tiêu dùng và chế biến thực phẩm, thép và sản xuất bao bì chiếm tỷ lệ 17,4% Trong khi đó, nhóm ngành có tỷ lệ thấp nhất là nông nghiệp và chế biến thủy sản với 13,8%.
Giá -value ROA , SD ROE , SD ROI , WCTA, Growth, Leverage, TCA/TA, TCL/TA, Ind và Age
SIZE TCA/TA WTCA LEV GROWTH AGE IND TCL/TA
Bảng 4.3 : Kết quả hồi qui với biến phụ thuộc là SD ROA
(): p-value Kết quả kiểm định LM
- là mô hình Fixed effect
1 Vì vậy, mô hình phù hợp hơn để nghiên cứu là mô hình Fixed effect effect
SD ROA = -1.9194 + 0.0497*TCL/TA + 0.1269*Lev + 0.2581* Growth +
Bảng 4.4 : Kết quả hồi qui với biến phụ thuộc là SD ROE
Kết quả kiểm định LM
H 0 1 Vì vậy, mô hình phù hợp là mô hình Fixed effect
- ả thuyết H1 Vì vậy, mô hình phù hợp hơn để nghiên cứu là mô hình Fixed effect effect
Bảng 4.5 : Kết quả hồi qui với biến phụ thuộc là SD ROI
SD ROE = -0.2634*TCA/TA + 0.1584*Lev + 0.1641*Growth +
Kết quả kiểm định LM
- 0.05 nên là mô hình Fixed effect a ra giá trị p-value bằng 0.001
1 Vì vậy, mô hình phù hợp hơn để nghiên cứu là mô hình Fixed effect effect
SD ROI = -1.0562 + 0.0618*TCL/TA + 0.2158*Lev + 0.2396* Growth +
4.2.2 sử lưu động sử dụng chính vốn thận trọng Đ mức độ
Nghiên cứu này phân loại doanh nghiệp thành hai nhóm: nhóm doanh nghiệp sử dụng chính sách vốn lưu động thận trọng và nhóm doanh nghiệp sử dụng chính sách vốn lưu động mạo hiểm Tiêu chí phân loại dựa trên hệ số TCL/TA và TCA/TA, với các biến phụ thuộc được chọn là SDROA, SDROE và SDROI.
Bảng 4.6 : Kết quả hồi qui theo chính sách vốn với biến phụ thuộc SD ROA n thận trọng mạo hiểm
Bảng hồi quy 4.6 cho thấy mối tương quan dương giữa chính sách tài trợ và độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tổng tài sản, cũng như mối tương quan âm giữa chính sách đầu tư và độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tổng tài sản ở cả hai nhóm doanh nghiệp Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp mạo hiểm có mức độ ảnh hưởng của chính sách vốn lưu động lên rủi ro lợi nhuận cao hơn Hệ số xác định cho thấy độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tổng tài sản được giải thích bởi chính sách vốn lưu động và các biến kiểm soát như Lev, Growth, Size, WCTA, Ind và Age, với mức giải thích lần lượt là 59,68% cho nhóm doanh nghiệp thận trọng và 72,92% cho nhóm doanh nghiệp mạo hiểm, với giá trị P < 1% Hệ số Durbin Watson lần lượt là 2,0578 và 2,5239, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
Bảng 4.7 : Kết quả hồi qui theo chính sách vốn với biến phụ thuộc SD ROE n thận trọng m doanh mạo hiểm
Bảng kết quả hồi qui 4.7 chỉ ra rằng có mối tương quan dương giữa chính sách tài trợ và độ lệch chuẩn lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, trong khi đó, chính sách đầu tư có mối tương quan âm với độ lệch chuẩn này Đặc biệt, các doanh nghiệp mạo hiểm cho thấy mức độ ảnh hưởng của chính sách vốn lưu động lên rủi ro lợi nhuận gia tăng Hệ số xác định cho thấy độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tổng vốn chủ sở hữu được giải thích bởi chính sách vốn lưu động và các biến kiểm soát như Lev, Growth, Size, WCTA, Ind và Age, với 54,79% cho nhóm doanh nghiệp thận trọng (P < 5%) và 70,92% cho nhóm doanh nghiệp mạo hiểm (P < 1%) Hệ số Durbin Watson lần lượt là 1,9993 cho nhóm doanh nghiệp thận trọng và 2,4177 cho nhóm doanh nghiệp mạo hiểm, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình.
Bảng 4.8 : Kết quả hồi qui theo chính sách vốn với biến phụ thuộc SD ROI n thận trọng mạo hiểm
Kết quả hồi quy cho thấy có mối tương quan dương giữa chính sách tài trợ và độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư, trong khi đó, chính sách đầu tư lại có mối tương quan âm với độ lệch chuẩn này Hệ số xác định cho thấy 61,17% sự thay đổi của độ lệch chuẩn lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư ở nhóm doanh nghiệp thận trọng được giải thích bởi chính sách vốn lưu động và các biến kiểm soát như Lev, Growth, Size, WCTA, Ind và Age, với giá trị P < 1% Đối với nhóm doanh nghiệp mạo hiểm, tỷ lệ này là 66,12%, cũng với giá trị P < 1%.
Giá trị Durbin Watson lần lượt là 2,0786 cho nhóm doanh nghiệp thận trọng và 2,2569 cho nhóm doanh nghiệp mạo hiểm, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan trong mô hình Sự chênh lệch rõ rệt giữa hai nhóm doanh nghiệp này liên quan đến chính sách vốn lưu động và rủi ro lợi nhuận, được đo lường thông qua chỉ số SDROA.
SD ROE và SD ROI cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng chính sách vốn lưu động mạo hiểm sẽ đối mặt với mức rủi ro lợi nhuận cao hơn Ngược lại, việc sử dụng chiến lược bảo thủ hơn có thể giúp giảm thiểu rủi ro Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân nhắc giữa lợi nhuận và rủi ro trong quản lý tài chính doanh nghiệp.
: TCL/TA, TCA/TA, WCTA
Bảng 4.9 : Kết quả hồi qui theo nhóm ngành với biến phụ thuộc SD ROE
TCA/TA TCL/TA WCTA
Bất động sản là tài sản đặc biệt với tính chất bền vững, giá trị lớn và tính khan hiếm do nguồn cung đất đai có hạn Quản lý và khai thác hiệu quả thị trường bất động sản là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Tại Việt Nam, các hoạt động kinh doanh bất động sản đã được luật hóa để thực hiện chính sách phát triển thị trường Tuy nhiên, chính sách này cũng tiềm ẩn rủi ro cho các doanh nghiệp trong ngành, đồng thời họ còn phải đối mặt với nhiều thách thức khác.
Ngành dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro về lợi nhuận với hệ số hồi quy là -0,0437, mặc dù nó có nhiều lợi thế đặc trưng.
đối với nhóm ngành nông nghiệp và chế biến nông sản -0,0046
3 mức độ hô nhiều giữa các nhóm ngành với nhau
Thông qua kết quả hồi quy phụ lần lược giữa các biến độc lập TCL/TA,
TCA/TA, size, Growth, Leverage, WTCA và Age ta tìm được hệ số VIF lần lượt trong bảng sau:
Bảng 4.10 : Bảng hệ số kết quả hồi qui phụ cho các biến độc lập
Với hệ số VIP được tính như sau:
Trong đó: Rij 2 là hệ số xác định của mô hình hồi quy phụ, hồi quy biến độc lập bất kỳ với các biến độc lập khác
ROA = 2.382, SD ROE = 2.2032 , SD ROI = 2.3194 Các hệ số này hiện tượng tự tương quan
Biểu đồ 4.1 : Biểu đồ kiểm định tương quan giữa các biến và phần dư
Bảng 4.11 : Bảng kiểm định sự cần thiết các biến trong mô hình
Test Statistic Value Df Probability
, tuổi đời doanh nghiệp lợi nhuận
, tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản và tuổi đời doanh nghiệp
Dr.Abbasali Puraghajan; Ali Akbar Ramzani và Issa Eslami Bin (2014);Ali Alimohamadpour (2014), và Faris Nasif Alshubiri (2011)
Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng chính sách tài trợ mạo hiểm có thể làm tăng ROI lên 0.0497 và độ lệch chuẩn của ROI cũng tăng 0.0618, cho thấy doanh nghiệp có thể đạt được lợi nhuận cao hơn nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với rủi ro gia tăng Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây của Mohammad Hassan (2014), Dr Abbasali Puraghajan, Ali Akbar Ramzani, Issa Eslami Bin (2014) và Ali Alimohamadpour (2014).
òn ài chí tài ác ủa các
(Lev) òn ài ó tác ủi à các ải t qủa ỷ ài sả ì ủa ROA tăng 0.1269 ,
, độ lệch chuẩn của ROI tăng 0.2518 đơn vị và đều có ý nghĩa ý 5%
, theo kết quả trong mẫu khảo sát tỷ lệ nợ 97.96% và tỷ lệ nợ trung bình là 44,87%
, cũng như tiềm ẩn những rủi ro về mặt lợi nhuận mà doanh nghiệp phải đánh đổi
Biến nghiên cứu th Chaiporn Vithes
d rủi ro lợi nhuận của doanh nghiệp với một mứ thống kê dưới 5% hoạt động i trong qu
– , Dhawan (2001) cho rằng các doanh nghiệp n
Các doanh nghiệp nhỏ thường hoạt động với sự đa dạng hạn chế hơn so với các doanh nghiệp lớn, điều này có thể dẫn đến việc gia tăng rủi ro kinh doanh trong dài hạn và làm tăng khả năng thất bại trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Nghiên cứu này cho thấy sự khác biệt so với các nghiên cứu trước, chủ yếu do hầu hết các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa Thị trường chứng khoán còn yếu, chưa xây dựng được uy tín trong lĩnh vực tài chính, dẫn đến việc các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay Hơn nữa, đầu ra thị trường vẫn chưa ổn định, phản ánh đúng thực trạng của thị trường Việt Nam.
Việc mở rộng qui mô doanh nghiệp có thể dẫn đến khó khăn trong việc tối ưu hóa năng lực sản xuất, khiến đầu ra trở nên kém cạnh tranh và không ổn định Điều này có thể làm gia tăng rủi ro về lợi nhuận trong dài hạn.
Sự tương quan giữa ngành nghề kinh doanh và độ lệch chuẩn của rủi ro lợi nhuận cho thấy rằng các nhóm ngành khác nhau sẽ có mức độ rủi ro và lợi nhuận không giống nhau Do đó, việc phân tích rủi ro là cần thiết để hiểu rõ hơn về tiềm năng lợi nhuận trong từng lĩnh vực kinh doanh.
Các nhà nghiên cứu (1994), Garriga
(2006), Castelli & ctg (2006) và nhiều ng
, gặt hái những thành tích hoạt chỉ cho vay
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt so với các nghiên cứu trước, khi doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa vào nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng để bổ sung vốn kinh doanh Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác nhau tùy thuộc vào ngành nghề, dẫn đến nhu cầu và cấu trúc vốn cũng không đồng nhất Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận các điều khoản rủi ro cao và lãi suất cao để có được vốn vay Điều này chỉ ra rằng lãi suất cho vay không đồng nhất giữa các doanh nghiệp và ngành nghề Hơn nữa, các nghiên cứu trước được thực hiện ở những quốc gia có môi trường kinh doanh minh bạch hơn, điều này đã ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh và tiềm ẩn rủi ro về lợi nhuận cho doanh nghiệp Việt Nam.