Tuy nhiên, công tác quản lý thu NSNN Lâm Thao còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế; tổ chức thu còn nhiều cơ quan thực hiện; tỷ trọng t
Trang 1NGUYỄN PHƯƠNG ANH
QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC LÂM THAO
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 2NGUYỄN PHƯƠNG ANH
QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC LÂM THAO
Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ THỊ HƯƠNG GIANG
THÁI NGUYÊN, 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của Kho bạc nhà nước Lâm Thao
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Phương Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, các giảng viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại Trường Cảm
ơn toàn thể cán bộ, nhân viên Trường đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu nhằm hoàn thành chương trình Cao học
Tác giả Luận văn xin bày tỏ tình cảm trân trọng, sự cảm ơn chân thành,
sâu sắc tới TS Ngô Thị Hương Giang vì sự tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác
giả trong quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cơ quan đã tạo điều kiện để tác giả theo học chương trình đào tạo thạc sĩ và hoàn thành bản luận văn được thuận lợi
Cảm ơn gia đình, những người bạn đã cùng đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện bản luận văn này
Sau cùng, xin được cảm ơn các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ và kính mong nhận được sự quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô để tác giả có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn nhằm đạt được tính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng vào trong thực tiễn
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn Nguyễn Phương Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Kết cấu của đề tài 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu Ngân sách Nhà nước qua KBNN 5
1.1.1 Khái quát về thu ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước 5
1.1.2 Quản lý thu ngân sách Nhà nước qua kho bạc nhà nước cấp huyện 16
1.2 Kinh nghiệm về quản lý thu ngân sách nhà nước tại một số kho bạc địa phương và bài học rút ra cho Kho bạc Nhà nước Lâm Thao 32
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước ở một số địa phương 32
1.2.2 Những bài học rút ra cho Kho bạc Nhà nước Lâm Thao 36
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 38
2.2 Phương pháp nghiên cứu 38
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 40
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 40
Trang 62.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu thể hiện thực trạng quản lý thu NSNN qua KBNN 42
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu NSNN qua KBNN 43
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC LÂM THAO 44
3.1 Giới thiệu khái quát chung về Kho bạc nhà nước Lâm Thao 44
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 45
3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Kho bạc Nhà nước Lâm Thao 47
3.1.4 Tình hình nhân sự và hoạt động của Kho bạc Nhà nước Lâm Thao giai đoạn 2016-2018 48
3.2 Thực trạng thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao 50
3.2.1 Tình hình thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018 50
3.2.2 Quy trình thu ngân sách qua Kho bạc Nhà nước Lâm Thao 51
3.2.3 Các phương thức thu ngân sách nhà nước qua KBNN Lâm Thao 59 3.3 Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước qua KBNN Lâm Thao 60 3.3.1 Thực trạng thực hiện nguyên tắc và yêu cầu của quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao 60
3.3.2 Tổ chức bộ máy thực hiện thu NSNN qua KBNN Lâm Thao và sự phối hợp giữa các cơ quan trên địa bàn huyện Lâm Thao 65
3.3.3 Thực trạng quá trình quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao 68
3.4 Phân tích tác động các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao 80
Trang 73.5 Đánh giá chung về quản lý thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước Lâm Thao 86
3.5.1 Kết quả đạt được 86
86
3.5.2 Hạn chế 89
3.5.3 Nguyên nhân của hạn chế 91
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC LÂM THAO 96
4.1 Định hướng, mục tiêu công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao 96
4.1.1 Định hướng 96
4.1.2 Mục tiêu 97
4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao 98
4.2.1 Hoàn thiện quy trình thu và phương thức thu NSNN qua KBNN Lâm Thao 98
4.2.2 Phân chia thời gian thu NSNN theo kỳ 100
4.2.3 Kiện toàn bộ máy và tăng cường bồi dưỡng đào tạo cán bộ làm công tác thu ngân sách nhà nước 101
4.2.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu NSNN 102
4.2.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục và cung cấp dịch vụ thuế để nâng cao tính tự giác và trách nhiệm của người nộp thuế 103
4.2.6 Hoàn thiện công tác tự kiểm tra kế toán 104
4.3 Kiến nghị 105
4.3.1 Đối với Nhà nước 105
4.3.2 Đối với UBND huyện Lâm Thao 105
4.3.3 Đối với các ngành liên quan 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 8PHỤ LỤC 111
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT ATM Máy rút tiền tự động
GTGT Giá trị gia tăng
HĐND Hội đồng nhân dân
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Thống kê các đơn vị kinh doanh nộp NSNN trên địa bàn huyện
Lâm Thao 39Bảng 2.2 Thang đánh giá Likert 40Bảng 3.1 Tình hình nhân sự KBNN Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018 49Bảng 3.2: Số lượng đơn vị và tài khoản giao dịch với KBNN Lâm Thao giai
đoạn 2016 - 2018 49
Bảng 3.3: Tổng thu ngân sách qua KBNN Lâm Thao giai đoạn 2016 -
2018 50
Bảng 3.4: Kết quả thu ngân sách nhà nước bằng chuyển khoản qua KBNN
Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018 52Bảng 3.5: Kết quả thu ngân sách nhà nước bằng chuyển khoản qua ngân hàng
thương mại trên địa bàn huyện Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018 54
Bảng 3.6: Kết quả thu ngân sách nhà nước bằng tiền mặt qua KBNN Lâm
Thao giai đoạn 2016-2018 55
Bảng 3.7: Kết quả thu ngân sách nhà nước bằng tiền mặt qua các ngân hàng
trên địa bàn huyện Lâm Thao giai đoạn 2016-2018 56
Bảng 3.8: Kết quả thu ngân sách nhà nước bằng tiền mặt qua cơ quan thu
trên địa bàn huyện Lâm Thao giai đoạn 2016-2018 58
Bảng 3.9: Các phương thức thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018 59
Bảng 3.10: Dự toán thu NSNN qua KBNN Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018
69Bảng 3.11: Kết quả chấp hành dự toán thu NSNN qua KBNN Lâm Thao giai
đoạn 2016-2018 72
Bảng 3.12: Kết quả quyết toán thu NSNN qua KBNN Lâm Thao giai đoạn
2016-2018 75
Trang 11Bảng 3.13: Tình hình thực hiện công tác kiểm tra, xử lý thu NSNN qua
KBNN Lâm Thao giai đoạn 2016 - 2018 78Bảng 3.14: Kết quả khảo sát lãnh đạo, cán bộ KBNN Lâm Thao về công tác
dự toán thu NSNN 70
Bảng 3.15: Kết quả khảo sát đối tượng nộp NSNN về công tác thu NSNN
qua KBNN Lâm Thao 73Bảng 3.16: Kết quả khảo sát lãnh đạo, cán bộ về công tác quyết toán thu
NSNN qua KBNN Lâm Thao 75
Bảng 3.17: Kết quả khảo sát lãnh đạo, cán bộ về công tác kiểm tra, xử lý thu
NSNN qua KBNN Lâm Thao 79
Bảng 3.18: Kết quả khảo sát đối tượng nộp NSNN về đánh giá đội ngũ cán
bộ thu NSNN tại KBNN Lâm Thao 83Bảng 3.19: Kết quả khảo sát đối tượng nộp NSNN về sự hiểu biết pháp luật
thu NSNN, tính tự giác của tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ
đối với NSNN 85
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 3.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý Kho bạc nhà nước Lâm Thao 48Hình 3.2: Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN qua KBNN Lâm
Thao 65Hình 3.3: Tốc độ phát triển kinh tế huyện Lâm Thao giai đoạn 2016-2018 82Hình 3.4: Quy mô các đối tượng nộp ngân sách nhà nước tại KBNN Lâm
Thao giai đoạn 2016-2018 84
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thu ngân sách nhà nước là một nguồn tài chính quan trọng của quốc gia nói chung, tỉnh, huyện nói riêng Nhờ có nguồn thu ngân sách nhà nước mà các hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội cũng như thực thi nhiệm vụ của nhà nước đối với nền kinh tế được đảm bảo Cân đối thu - chi ngân sách luôn là một trong những mục tiêu phấn đấu của Đảng và Nhà nước Nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cố gắng để giảm thiểu chi hành chính, sự nghiệp, tăng cường chi cho đầu tư phát triển và xây dựng cơ bản, chi đúng chỗ, chi hiệu quả, tiết kiệm Bởi đầu tư của Nhà nước có ý nghĩa
vô cùng quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, nên tình trạng thâm hụt ngân sách là không tránh khỏi, nhưng thâm hụt mức độ nào là hợp lý đòi hỏi nhiều
nỗ lực
Trong số các phương tiện tài chính Kho bạc Nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng Nhiệm vụ chính trị, trọng tâm, chức năng của Kho bạc Nhà nước là quản lý và điều hành quỹ ngân sách nhà nước nhằm tập trung nhanh, đầy đủ các khoản thu vào Ngân sách Nhà nước trên cơ sở đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của quốc gia nhằm đáp ứng quản lý trong tầm vĩ mô nền kinh tế quốc dân Một trong nhiệm vụ chủ yếu của kho bạc nhà nước là tập trung và phản ánh các khoản thu NSNN, thực hiện điều tiết các khoản thu NSNN cho các cấp quản lý NSNN theo quy định của các cấp có thẩm quyền, thực hiện chi trả và kiểm soát chi NSNN theo dự toán NSNN được duyệt
Trong những năm qua, KBNN Lâm Thao đã có rất nhiều nỗ lực cùng với các cơ quan thu, cơ quan tài chính trên địa bàn huyện Lâm Thao đổi mới và cải tiến cơ chế thu, quản lý nguồn thu của NSNN Nhờ đó, công tác quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Lâm Thao trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, số thu được tập trung đầy đủ và nhanh chóng vào NSNN; công
Trang 14tác quản lý ngày một chặt chẽ và thống nhất, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, góp phần ổn định và phát triển kinh tế địa phương cũng như của tỉnh Năm 2016 tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đạt
586 tỷ đồng, năm 2017 tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện đạt 639
tỷ đồng
Tuy nhiên, công tác quản lý thu NSNN Lâm Thao còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế; tổ chức thu còn nhiều cơ quan thực hiện; tỷ trọng thu nộp trực tiếp vào KBNN chưa cao; thủ tục thu còn nhiều phức tạp; quản lý thu còn trùng lắp, thiếu thống nhất; phương thức thu còn nghèo nàn, chưa khai thác tốt những thành tựu công nghệ thông tin vào quản lý thu… vì vậy còn gây khó khăn cho người nộp; mọi nguồn thu chưa tập trung thật đầy đủ, kịp thời vào NSNN
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên, để tiếp tục nghiên cứu cả về mặt
lý luận cũng như thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện công tác quản lý thu NSNN qua KBNN Lâm Thao; tác giả đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu: “Quản lý thu ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Lâm Thao” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu của đề tài
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa lý luận và thực tiễn về công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
Trang 15- Phân tích thực trạng công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao giai đoạn 2016-2018;
- Phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách nhà
nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua KBNN Lâm Thao
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước Lâm Thao theo quá trình quản lý, cụ thể như sau: Dự toán thu ngân sách; Chấp hành dự toán; Quyết toán; Kiểm tra, đối chiếu và xử lý thu NSNN qua KBNN
- Phạm vi không gian: luận văn được nghiên cứu tại Kho bạc nhà nước Lâm Thao
- Phạm vi thời gian: các số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn từ năm 2016 đến hết năm 2018, số liệu sơ cấp nghiên cứu tháng 10/2018, giải pháp kiến nghị đến năm 2023
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn đã có những đóng góp nhất định cả về mặt lý luận và thực tiễn
về quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước
Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về quản lý thu ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
Đã tập trung đánh giá thực trạng nhằm làm rõ những thành tựu, hạn chế của công tác quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước Lâm Thao hiện nay, tìm ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó
Trang 16Luận văn đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu NSNN qua Kho bạc Nhà nước Lâm Thao
Đây sẽ là một trong những gợi ý cho Ban Giám đốc của Kho bạc Nhà nước Lâm Thao có thể áp dụng vào việc hoàn thiện công tác quản lý thu NSNN qua Kho bạc nhà nước
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo nội dung của Luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng công tác quản lý thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Lâm Thao
- Chương 4: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Lâm Thao
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý thu Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.1.1 Khái quát về thu ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước
1.1.1.1 Ngân sách nhà nước
Sự ra đời và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các các loại hình Nhà nước Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN Do vậy, NSNN chính là một phạm trù kinh tế và lịch sử
Với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để duy trì và phát triển xã hội Nhà nước phải có nguồn lực tài chính để thực hiện các nguồn lực chức năng của mình bằng quyền lực công cộng, Nhà nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp để chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát NSNN
đã có quá trình ra đời và hình thành suốt từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII Cho đến nay, các Nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN, thuật ngữ NSNN được sử dụng khá phổ biến ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới Theo các tác giả
Lê Văn Ái & Bùi Tiến Hanh (2010) thì: “NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định
Nó phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”
Luật NSNN năm 2015 (Quốc hội, 2015) của Việt Nam quy định “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”
Trang 18Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Ngân sách nhà nước bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia như quan hệ với dân cư, các thành phần kinh
tế, các tổ chức xã hội,các quỹ tài chính và các nhà nước khác
1.1.1.2 Thu ngân sách nhà nước qua KBNN
a Khái niệm, bản chất và phân loại thu ngân sách nhà nước qua KBNN
* Khái niệm:
Thu NSNN là quá trình Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia, hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trong quản lý, điều hành nền kinh tế xã hội (Lê Văn Ái - Bùi Tiến Hanh, 2010)
Thu NSNN chứa đựng các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức tiền tệ, nảy sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia, hình thành quỹ NSNN Quá trình Nhà nước dùng quyền lực để thu NSNN thể hiện bằng nhiều cách khác nhau như đề ra các chủ trương, phương hướng thu NSNN; ban hành các chế độ, luật lệ và cơ chế cụ thể để tổ chức tiến hành thu NSNN; thực hiện cưỡng chế về nghĩa vụ nộp NSNN
Theo Luật NSNN sửa đổi năm 2015 của Việt Nam, tại Điều 1 định nghĩa:
“Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và
cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2015)
* Bản chất:
Thứ nhất, thu NSNN là quá trình của nhiều hành vi, hành động kế tiếp của Nhà nước Thật vậy, hoạt động thu NSNN thực chất bao gồm rất nhiều hành vi, hành động khác nhau của Nhà nước và có thể khái quát chúng thành
ba nhóm như sau:
Trang 19- Nhà nước đề ra các chủ trương, phương hướng, mục tiêu, , về thu NSNN cho một khoảng thời gian hay một chu kỳ nào đó
- Nhà nước ban hành các chính sách, chế độ về thu NSNN: luật, pháp lệnh, nghị định, , về thu thuế, phí, lệ phí Nhà nước tổ chức cơ chế hành thu, tức là tổ chức thực hiện cơ chế thu các khoản thu cụ thể cho NSNN…
Thứ hai, thu NSNN được dựa trên các quyền lực vốn có của Nhà nước
về chính trị, kinh tế,…đó là cơ sở cho hoạt động thu NSNN
Thứ ba, thu NSNN được thực hiện dưới dạng tiền tệ Đó là một bộ phận của cải vật chất của xã hội được huy động về tay Nhà nước nhưng khi được ghi thu NSNN là phải dưới dạng tiền tệ
* Phân loại:
- Thuế: Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập của cá nhân, doanh nghiệp cho nhà nước có thể bằng hình thức trực tiếp (thuế đánh vào thu nhập) hoặc gián tiếp (thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu…) Trong các nội dung thu NSNN thì nguồn thu từ thuế chiếm chủ yếu và có tính bền vững cao do được trích từ một phần giá trị của hoạt động sản xuất, kinh doanh, và cũng là một công cụ hữu hiệu của nhà nước dùng để điều tiết các hoạt động của nền kinh tế Tiền thu từ thuế không hoàn trả trực tiếp mà hoàn trả gián tiếp và không tương đương dưới hình thức người chịu thuế được hưởng các hàng hoá, dịch vụ nhà nước cung cấp không mất tiền hoặc với giá thấp và không phân biệt giữa người nộp thuế nhiều hay ít
- Phí và lệ phí: Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhưng mang tính đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ các dịch vụ do nhà nước cung cấp So với thuế, tính pháp lý của phí và lệ phí thấp hơn Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tư đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình Lệ phí gắn liền với việc thụ hưởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân
Trang 20- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước:Các khoản thu này bao gồm, tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi), thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các
cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các
tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Thu từ hoạt động sự nghiệp: Các khoản thu được thu từ bán sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp như thu tiền bán sản phẩm sản xuất thử của các đơn
vị nghiên cứu khoa học, bán sách do trường tự in ấn…hay là khoản chênh lệch giữa thu và chi của các đơn vị hoạt động sự nghiệp có thu
- Các khoản thu khác: Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các cơ quan, đơn vị nhà nước Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật (Lê Văn Ái, Bùi Tiến Hanh, 2010)
b Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước qua KBNN
Một là, thu NSNN dưới bất kỳ xã hội nào cũng đều gắn liền với quyền lực chính trị và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Nói một cách cụ thể, quyền lực của Nhà nước và các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
là những nhân tố trực tiếp quyết định mức thu, nội dung và cơ cấu thu của NSNN
Hai là, các hoạt động thu NSNN được tiến hành trên cơ sở những luật nhất định như Luật NSNN, các luật thuế, các chế độ, chính sách do Nhà nước ban hành Các hoạt động thu NSNN bắt buộc phải dựa trên cơ sở pháp luật vì thu NSNN có phạm vi rộng, tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và có liên quan tới lợi ích của hầu hết các chủ thể trong nền kinh tế Thực chất của thu NSNN là lấy về cho Nhà nước một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội Do đó, các tổ chức, cá nhân có thu nhập đều là đối tượng của hoạt động thu NSNN
Trang 21Ba là, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên nguồn thu NSNN là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến Thu NSNN gồm nhiều khoản thu với nhiều hình thức khác nhau và có tính chất khác nhau như tự nguyện - bắt buộc; ngang giá - không ngang giá; có đối khoản - không có đối khoản trực tiếp; kinh tế - phi kinh tế
Bốn là, thu NSNN gắn chặt với quy mô và trình độ phát triển của nền kinh tế và sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhau như giá cả, thu nhập, lãi suất Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN Kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị khác là tiền đề quan trọng đối với NSNN Ngược lại, chính sách thu NSNN khi áp dụng vào thực tế sẽ trở thành nhân tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả quá trình hoạt động của nền kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá trị khác (Lê Văn Ái, Bùi Tiến Hanh, 2010)
c Vai trò của thu ngân sách nhà nước qua KBNN
Thu NSNN đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội Có thể xem xét vai trò của thu NSNN trên một số điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, dưới góc độ là hoạt động tạo nguồn tài chính của Nhà nước, thu NSNN nhằm đảm bảo nguồn tài chính để duy trì hoạt động của bộ máy Nhà nước, đảm bảo trật tự xã hội, an ninh quốc phòng Để thực hiện đầy đủ vai trò tập trung nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước, điều quan trọng đối với hệ thống thu NSNN là khai thác, phát hiện, tính toán chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được; đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, chế độ thu, cơ chế tổ chức quản lý thu hợp lý
Thứ hai, dưới góc độ biểu hiện quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế, thu NSNN là một công cụ kinh tế của Nhà nước
Trang 22để điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo định hướng, kế hoạch Mỗi thời kỳ, vai trò can thiệp của Nhà nước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế được thực hiện bằng những cách thức khác nhau Nếu như trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của từng cơ sở bằng các mệnh lệnh hành chính, các chỉ tiêu kế hoạch mang tính chất bắt buộc thì ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô, dùng thu NSNN làm công cụ để định hướng, kích thích, điều tiết sản xuất và tiêu dùng
Thứ ba, thu NSNN còn có tác dụng điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo các lợi ích xã hội khác Bên cạnh rất nhiều ưu thế so với
cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, cơ chế kinh tế thị trường cũng còn tồn tại nhiều khiếm khuyết, một số trong đó là sự chênh lệch ngày càng lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư Sự chênh lệch này không chỉ liên quan đến vấn đề đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư, làm mất đi ý nghĩa của sự phát triển kinh tế xã hội Do vậy, đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phân phối thu nhập, của cải xã hội
Thứ tư, thu NSNN còn có vai trò trong việc kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này thể hiện qua việc cơ quan thu NSNN, nhờ các hoạt động thu NSNN, có thể kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế đảm bảo thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt kinh tế xã hội
Có thể nói, thu NSNN có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia Vì thế, để phát huy vai trò này cần tập trung huy động đầy đủ các nguồn lực tài chính của đất nước (cần thu đúng, thu đủ và kịp thời), quản lý nguồn thu một cách khoa học, đảm bảo nguồn lực tài chính cho bộ máy Nhà nước hoạt động một cách bình thường và linh hoạt nhằm thúc đẩy kinh tế
đất nước phát triển (Trần Thị Ty, 2003)
Trang 23d Các phương thức thu ngân sách nhà nước qua KBNN
* Thu bằng chuyển khoản:
- Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại ngân hàng, ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN;
- Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại KBNN, KBNN thực hiện trích tài khoản của người nộp để ghi thu NSNN;
Thời điểm xác định người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN là thời điểm Kho bạc Nhà nước, ngân hàng, tổ chức tín dụng xác nhận trên giấy nộp tiền vào NSNN bằng chuyển khoản
* Thu bằng tiền mặt:
- Thu bằng tiền mặt nộp trực tiếp vào KBNN;
- Thu bằng tiền mặt vào ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản Hình thức này áp dụng đối với các ngân hàng có thoả thuận với KBNN về việc thu tiền mặt vào tài khoản của KBNN mở tại ngân hàng;
- Thu bằng tiền mặt qua cơ quan thu Hình thức này được áp dụng đối với các khoản thuế, phí, lệ phí của các hộ kinh doanh không cố định, không thường xuyên, không có tài khoản tại KBNN hoặc ngân hàng và có khó khăn trong việc nộp tiền vào KBNN do ở xa điểm thu của KBNN hoặc xa ngân hàng được KBNN uỷ nhiệm thu Cơ quan thu có trách nhiệm thu tiền từ người nộp, sau đó nộp toàn bộ số tiền đã thu được vào KBNN hoặc ngân hàng nơi KBNN
mở tài khoản;
- Thu bằng tiền mặt qua các cơ quan được uỷ nhiệm thu:
+ Các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Tài chính, được cơ quan thu uỷ nhiệm, thì được trực tiếp thu các khoản thu NSNN từ người nộp tiền, sau đó nộp vào KBNN hoặc ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản;
- Thu bằng tiền mặt qua các cơ quan được uỷ nhiệm thu:
+ Các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện theo quy định của Bộ Tài chính, được cơ quan thu uỷ nhiệm, thì được trực tiếp thu các khoản thu NSNN từ người nộp tiền, sau đó nộp vào KBNN hoặc ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản;
Trang 24e Quy trình thu ngân sách nhà nước qua KBNN
Thu ngân sách chuyển khoản qua KBNN
* Trường hợp KBNN chưa tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: Người nộp thuế lập 3 liên giấy nộp tiền vào NSNN (mẫu 02/NS kèm theo) gửi KBNN nơi mở tài khoản
C1 Bước 2: khi nhận được 3 liên giấy nộp tiền, KBNN thực hiện trích tài khoản tiền gửi của người nộp thuế để thu NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:
+ Liên 1: lưu tại KBNN và dùng làm chứng từ hạch toán
+ Liên 2: gửi cho người nộp thuế;
+ Liên 3: gửi cơ quan thu trực tiếp quản lý người nộp thuế
* Trường hợp KBNN đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế (mẫu 01/BKNT kèm theo)
chuyển cho KBNN nơi mở tài khoản
- Bước 2: Căn cứ bảng kê nộp thuế, KBNN thực hiện hạch toán; đồng thời, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:
+ Liên 1: là chứng từ hạch toán, lưu tại KBNN cùng bảng kê nộp thuế + Liên 2: gửi cho người nộp thuế;
- Bước 3: cuối ngày hoặc theo định kỳ, KBNN truyền dữ liệu về số thuế
đã thu vào hệ thống cơ sở dữ liệu thu, nộp thuế; đồng thời, in 2 liên Bảng kê
chứng từ nộp ngân sách (mẫu 04/BK-CTNNS kèm theo) và chuyển cho cơ quan
thu trực tiếp quản lý người nộp thuế 1 liên bảng kê, 1 liên lưu tại KBNN để làm căn cứ theo dõi, đối chiếu
Thu chuyển cho cơ quan thu trực tiếp
*Trường hợp ngân hàng chưa tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: người nộp thuế lập 4 liên giấy nộp tiền vào NSNN gửi ngân hàng nơi mở tài khoản;
- Bước 2: ngân hàng trích tài khoản tiền gửi của người nộp thuế và xử lý các liên giấy nộp tiền:
Trang 25+ Liên 1: làm chứng từ ghi nợ tài khoản tiền gửi của người nộp thuế; + Liên 2: gửi cho người nộp thuế;
+ Liên 3, 4: gửi KBNN;
- Bước 3: KBNN nhận và kiểm tra GNT, nếu phù hợp thì thực hiện hạch toán thu NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:
+ Liên 3: làm chứng từ hạch toán thu NSNN;
+ Liên 4: gửi cơ quan thu trực tiếp quản lý người nộp thuế;
*Trường hợp ngân hàng đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế gửi ngân hàng nơi mở tài khoản (trường hợp nộp thuế xuất khẩu, nhập khẩu thì lập riêng bảng kê nộp thuế cho mỗi tờ khai hải quan);
- Bước 2: ngân hàng nhập dữ liệu vào chương trình máy tính, làm thủ tục trích tài khoản của người nộp thuế; đồng thời, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN
và xử lý:
+ 1 liên làm căn cứ hạch toán và lưu cùng với bảng kê nộp thuế;
+ 1 liên trả cho người nộp thuế Ngân hàng phải ký và đóng dấu lên chứng từ trả cho người nộp thuế để chứng minh việc nộp tiền đã hoàn thành;
- Bước 3: ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của KBNN
mở tại ngân hàng ngay trong ngày làm việc hoặc chậm nhất là vào đầu của ngày làm việc hôm sau; đồng thời, truyền đầy đủ dữ liệu thu nộp thuế theo đúng định dạng quy định vào cơ sở dữ liệu thu ngân sách;
- Bước 4: trên cơ sở dữ liệu thu NSNN do ngân hàng chuyển đến, KBNN
in phục hồi 01 liên giấy nộp tiền vào NSNN làm căn cứ hạch toán thu NSNN và lưu Cuối ngày, KBNN truyền dữ liệu thu NSNN vào cơ sở dữ liệu thu NSNN; đồng thời, in 02 liên bảng kê chứng từ nộp ngân sách và gửi cho cơ quan thu trực tiếp quản lý người nộp thuế 1 liên, liên còn lại lưu tại KBNN
Thu trên cơ sở dữ liệu
* Trường hợp KBNN chưa tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
Trang 26- Bước 1: người nộp thuế lập 3 liên giấy nộp tiền vào NSNN (mẫu 02/NS kèm theo)
C1 Bước 2: KBNN làm thủ tục thu tiền, hạch toán thu NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:
Liên 1: làm chứng từ hạch toán thu NSNN;
Liên 2: gửi người nộp thuế;
Liên 3: gửi cơ quan thu trực tiếp quản lý người nộp thuế;
* Trường hợp KBNN đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế gửi KBNN;
- Bước 2: căn cứ bảng kê của người nộp thuế, KBNN nhập thông tin vào chương trình máy tính, in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN và làm thủ tục thu tiền, hạch toán thu NSNN và xử lý các liên giấy nộp tiền:
Liên 1: làm chứng từ hạch toán thu NSNN;
Liên 2: gửi người nộp thuế;
- Bước 3: tương tự như thu bằng chuyển khoản qua KBNN
Thu từ bước 3: tương tự như thu chuyển khoản
* Trường hợp ngân hàng chưa tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: người nộp thuế lập 4 liên giấy nộp tiền vào NSNN gửi ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản;
- Bước 2: căn cứ giấy nộp tiền, ngân hàng làm thủ tục thu tiền và xử lý các liên giấy nộp tiền:
+ Liên 1: ghi tăng tài khoản tiền gửi của KBNN tại ngân hàng và lưu + Liên 2: gửi người nộp thuế;
+ Liên 3 và 4: gửi KBNN
- Bước 3: tương tự như thu bằng chuyển khoản qua Ngân hàng
*Trường hợp ngân hàng đã tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế:
- Bước 1: Người nộp thuế lập bảng kê nộp thuế, gửi đến ngân hàng nơi KBNN uỷ quyền thu;
Trang 27- Bước 2: căn cứ bảng kê nộp thuế, ngân hàng thực hiện in 2 liên giấy nộp tiền vào NSNN, thu tiền, luân chuyển và xử lý chứng từ tương tự như thu bằng chuyển khoản qua Ngân hàng
- Bước 3 và 4: tương tự như thu bằng chuyển khoản qua Ngân hàng
Thu bước 3 và 4: tương tự như thu trực tiếp
Các cơ quan thu khi thu tiền mặt trực tiếp từ người nộp phải sử dụng biên lai, sau đó nộp toàn bộ số tiền đã thu vào KBNN
* Quy trình thu tại cơ quan thu:
- Bước 1: người nộp thuế đến cơ quan thu làm thủ tục nộp tiền;
- Bước 2: cơ quan thu thực hiện thu tiền, viết biên lai và xử lý:
Đối với biên lai thu không in mệnh giá:
+ Đối với các loại biên lai thu phạt có 4 liên thì các liên được xử lý: 1 liên lưu tại cơ quan thu, 1 liên trả lại người nộp, 1 liên gửi cơ quan ra quyết định xử phạt, 1 liên lưu cuống để quyết toán biên lai;
+ Đối với các loại biên lai thu phí, lệ phí có 3 liên, thì các liên được xử lý: 1 liên lưu tại cơ quan thu, 1 liên trả lại người nộp, 1 liên lưu cuống để quyết toán biên lai
Đối với biên lai thu in sẵn mệnh giá:
Khi người nộp thuế đến nộp tiền, cơ quan thu ghi đầy đủ, chính xác các nội dung theo quy định lên 2 liên biên lai; sau đó, giao cho người nộp 1 liên, 1 liên lưu tại cơ quan thu
Đối với biên lai thu in từ chương trình máy tính:
Biên lai thu in từ chương trình máy tính gồm 2 loại:
+ Biên lai in sẵn số tiền phải thu, được áp dụng đối với các khoản phải thu (thuế, phí, lệ phí) có tính chất thường xuyên, tương đối ổn định và được cơ quan thu xác định trước khi thu tiền Cơ quan thu in và giao 2 liên biên lai cho cán bộ để thu tiền trực tiếp từ người nộp và xử lý: 1 liên trả cho người nộp, 1 liên lưu tại cơ quan thu;
Trang 28+ Biên lai thu không in sẵn số tiền phải thu, được áp dụng cho các khoản nộp thuế, phí, lệ phí, thu phạt không thường xuyên và cơ quan thu không xác định trước được Khi người nộp thuế đến nộp tiền, cơ quan thu thực hiện thu tiền và nhập dữ liệu vào chương trình máy tính để in 2 liên biên lai: 1 liên lưu
và 1 liên trả cho người nộp thuế Trường hợp thu phạt thì cơ quan thu in 3 liên biên lai: 1 liên lưu, 1 liên trả cho người nộp, 1 liên gửi cơ quan ra quyết định
xử phạt;
*Quy trình nộp tiền vào KBNN:
- Bước 1: cuối ngày hoặc định kỳ, cơ quan thu lập bảng kê biên lai thu
(mẫu 02/BK-BLT hoặc mẫu 03/BK-BLMG đối với biên lai thu in sẵn mệnh giá);
căn cứ bảng kê biên lai, cơ quan thu lập bảng kê nộp thuế, hoặc lập giấy nộp tiền vào NSNN (tại các KBNN chưa tham gia hệ thống thông tin thu nộp thuế)
và nộp toàn bộ số tiền đã thu vào KBNN
Đối với các cơ quan nhận uỷ nhiệm thu thì phải lập 2 liên bảng kê biên lai thu: 1 liên lưu tại cơ quan nhận uỷ nhiệm thu, 1 liên gửi cơ quan uỷ nhiệm thu để theo dõi, kiểm tra, đối chiếu;
- Bước 2 và 3: KBNN làm thủ tục thu tiền, hạch toán thu NSNN và xử
lý như trường hợp thu tiền mặt trực tiếp vào KBNN (Bộ Tài chính, 2016)
1.1.2 Quản lý thu ngân sách Nhà nước qua kho bạc nhà nước cấp huyện
1.1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và đặc thù của quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước cấp huyện
a Khái niệm
Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động phát triển phù hợp với quy luật khách quan và đạt tới các mục tiêu đã định
Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về chủ thể quản lý, đối tượng quản
lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn
Trang 29Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách quan để hoạch định các chính sách, chế độ; sử dụng hệ thống các phương pháp tác động đến hoạt động thu NSNN nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước
Quản lý thu NSNN được quy định bằng pháp luật và theo dự toán Việt Nam quản lý thu NSNN bằng Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật NSNN năm 2015 Luật NSNN hiện nay là đạo luật cơ bản của Việt Nam điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực NSNN nói chung và quản lý thu NSNN
nói riêng (Lê Văn Ái - Bùi Tiến Hanh, 2010)
Quản lý thu NSNN qua KBNN cấp huyện là quá trình cơ quan khoa bạc nhà nước tại cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm cụ của nhà nước giao phó trong vận dụng các quy luật khách quan để hoạch định các chính sách, chế độ;
sử dụng hệ thống các phương pháp tác động đến hoạt động thu NSNN nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý của Nhà nước tại địa bàn một huyện cụ thể
b Mục tiêu
- Đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết của Nhà nước trong từng thời kỳ cụ thể theo đúng các quy định pháp luật về thu ngân sách Việc động viên một phần nguồn lực tài chính quốc gia vào tay nhà nước là yêu cầu không thể thiếu được đối với mọi nhà nước Động viên vào ngân sách nhiều hay ít tuỳ thuộc vào chức năng nhiệm vụ mà nhà nước đảm nhận, tuỳ thuộc vào cách thức
sử dụng nguồn lực tài chính của nhà nước cũng như khả năng tạo ra nguồn lực tài chính của nền kinh tế Mức động viên nguồn lực tài chính quốc gia vào tay nhà nước thường chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau trong đó cơ bản là: mức thu nhập GDP bình quân đầu người, tỷ suất doanh lợi trong nền kinh
tế, mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước, tổ chức bộ máy thu nộp
Do đó, công tác quản lý thu phải đảm bảo được yêu cầu tập trung nguồn lực
Trang 30của nền kinh tế vào trong tay nhà nước và nội dung quản lý thu ngân sách không đơn thuần là quản lý các hình thức thu và số thu mà còn phải tổ chức quản lý các yếu tố có ảnh hưởng đến thu NSNN
- Đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra nguồn thu của NSNN ngày càng lớn hơn Quản lý thu ngân sách phải căn cứ trên tình hình thực tế của nền kinh tế tránh hiện tượng thu thoát ly thực trạng kinh tế Thu ngân sách không vì yêu cầu đảm bảo nhu cầu trang trải các khoản chi phí của nhà nước mà gia tăng không có cơ sở khoa học, phi thực tế, gây kìm hãm đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, trong quản lý thu NSNN
từ việc hoạch định chính sách, chế độ thu cho đến tổ chức thực hiện phải luôn luôn phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế, thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh để có chính sách, chế độ, biện pháp chỉ đạo thu thích hợp Quản lý thu phải đảm bảo huy động hợp lý các nguồn lực từ xã hội vào tay nhà nước, có
sự hài hòa trong sự phân chia nguồn lực giữa nhà nước và các cá nhân tổ chức trong nền kinh tế để khuyến khích được sự phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các nguồn thu ngày càng lớn hơn cho ngân sách Để đảm bảo được yêu cầu này, quản lý thu ngân sách phải coi bồi dưỡng nguồn thu là mục tiêu có tính chất quyết định đến sự ổn định và phát triển của thu NSNN
- Quản lý thu phải coi trọng yêu cầu công bằng xã hội, đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành Thu NSNN xét ở một góc độ nào đó là sự phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư thông qua bộ máy quyền lực của nhà nước Sự phân phối đó là cần thiết cả về khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội, tuy nhiên sự phân phối đó luôn luôn chứa đựng trong nó những mâu thuẫn về mặt lợi ích Một sự động viên thiếu công bằng sẽ khoét sâu những mâu thuẫn đó làm phương hại đến tính ổn định và phát triển KT-XH của một quốc gia Vì vậy, trong quá trình quản lý thu NSNN phải luôn luôn coi trọng khía cạnh công bằng xã hội (Lê Văn Ái - Bùi Tiến Hanh, 2010)
Trang 31c Đặc thù
- Tính đầy đủ trọn vẹn: Tất cả các khoản thu đều phải có chứng từ xuất nhập tiền Nó phản ánh tính chính xác công minh rõ ràng Các khoản thu đều phải có trong kế hoạch phân bổ dự toán ngân sách đã được HĐND, UBND huyện thông qua
- Tính thống nhất: Cơ quan quản lý NSNN cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong quản lý NS cấp xã, phường và báo cáo các hoạt động thu NSNN đối với cấp tỉnh
- Tính công khai: Đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung
và dân chủ trong quản lý Tập trung phải dựa trên cơ sở dân chủ thực hiện trong khuôn khổ tập trung là thống nhất đường nối chủ trưong, kế hoạch phát triển của hệ thống thống nhất các quy chế quản lý, thực hiện chế độ một thủ trưởng
ở tất cả các đơn vị các cấp và xác định rõ vị trí trách nhiệm quyền hạn của các cấp, chấp nhận cạnh tranh, mở cửa cho hệ thống phát triển gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội huyện
1.1.2.2 Nguyên tắc và vai trò của quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước cấp huyện
a Nguyên tắc
Thứ nhất, nguyên tắc thống nhất trong quản lý thu NSNN Mọi khoản thu NSNN phải tuân thủ theo những quy định của luật NSNN và phải được dự toán hàng năm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tất cả các khâu trong chu trình thu NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước Hoạt động thu NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế - xã hội của từng vùng, miền, địa phương
Thứ hai, nguyên tắc dân chủ: Sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện trong suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách Sự tham gia của người dân sẽ làm cho ngân sách minh bạch hơn, các thông tin ngân sách
Trang 32trung thực, chính xác hơn Tuy nhiên, thực hiện dân chủ, tăng cường sự tham gia hoạt động của người dân trong quản lý thu ngân sách đôi khi làm cho quản
lý thu ngân sách trở nên khó khăn Các nhà lãnh đạo sẽ phải đối mặt với các ý kiến, các luồng quan điểm khác nhau của người dân, đôi khi là những hành động mang tính lợi dụng, chống đối
Thứ ba, nguyên tắc công khai, minh bạch: Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định thu, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hiệu quả Nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện trong suốt chu trình thu ngân sách
Thứ tư, nguyên tắc quy trách nhiệm: Nhà nước là cơ quan công quyền,
sử dụng các nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra Đây là nguyên tắc yêu cầu về trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trong quá trình quản lý thu ngân sách, bao gồm: Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động thu ngân sách, chịu trách nhiệm về các quyết định thu ngân sách của mình Quy trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với công chúng, đối với xã hội Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực hiện thu NSNN từ thuế theo chất lượng công việc đạt được
Thứ năm, nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác: Mọi khoản thu phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch thu NSNN, vào sổ và quyết toán thu rành mạch Chỉ có kế hoạch thu ngân sách đầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích, chính xác và đảm bảo tính minh bạch của các khoản thu Nguyên tắc này là cơ
sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trình hoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh ở việc thực hiện chính sách tài chính địa phương (Trần Thị Ty, 2003)
b Vai trò
Thứ nhất, quản lý thu NSNN là công cụ quản lý của Nhà nước để kiểm soát, điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi thành phần kinh tế, kiểm soát mọi thu nhập của tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm động viên sự
Trang 33đóng góp đảm bảo công bằng, hợp lý Các nhà nước trong lịch sử đều sử dụng công cụ thuế để ổn định và phát triển nền kinh tế, chống lại các hành vi kinh doanh phạm pháp
Thứ hai, quản lý thu NSNN là công cụ động viên, huy động các nguồn lực tài chính cần thiết nhằm tạo lập quỹ tiền tệ tập trung của NSNN Huy động các nguồn tài chính cần thiết vào nhà nước là nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống thu dưới bất kỳ chế độ nào, đó là đòi hỏi tất yếu của mọi nhà nước Nhà nước muốn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ lịch sử của mình tất yếu phải có nguồn tài chính Nguồn tài chính mà Nhà nước có được đại bộ phận là do quản lý tốt nguồn thu ngân sách mang lại
Thứ ba, quản lý thu NSNN là nhằm khai thác, phát hiện, tính toán chính xác các nguồn tài chính của đất nước để có thể động viên được và cũng đồng thời không ngừng hoàn thiện các chính sách, các chế độ thu để có cơ chế tổ chức quản lý hợp lý Đây là một nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế
Thứ tư, quản lý thu ngân sách góp phần tạo môi trường bình đẳng, công bằng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong quá trình SXKD Quản lý thu ngân sách góp phần tạo nên môi trường kinh doanh thuận lợi đối với quá trình SXKD Đồng thời, nó là công cụ quan trọng góp phần thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với toàn bộ hoạt động SXKD của xã hội
Thứ năm, quản lý thu ngân sách có vai trò tác động đến sản lượng và sản lượng tiềm năng, cân bằng của nền kinh tế Việc tăng mức thuế quá mức thường dẫn tới sự giảm sản lượng trong nền kinh tế, tức là thu hẹp quy mô của nền kinh
tế Ngược lại, giảm mức thuế chung có xu thế làm tăng sản lượng cân bằng Trong nền KTTT, người ta sử dụng tính chất này để điều chỉnh quy mô sản lượng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp và hộ kinh doanh (Quốc hội,
2015)
1.1.2.3 Tổ chức bộ máy thực hiện thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà
Trang 34nước và sự phối hợp giữa các cơ quan cấp huyện
Theo Luật NSNN, Chính phủ đảm nhiệm trách nhiệm quản lý ngân sách nhà nước, còn Bộ Tài Chính trực tiếp đứng ra thay mặt Chính Phủ thực thi trách nhiệm này Để đảm bảo hoạt động quản lý NSNN được tiến hành một cách có hiệu quả, Bộ Tài Chính có các cơ quan quản lý chuyên môn đảm nhiệm từng lĩnh vực quản lý ngân sách cụ thể Trong lĩnh vực thu NSNN có các cơ quan như cơ quan Tài Chính, Thuế, Hải quan và các cơ quan khác được Bộ Tài chính
ủy quyền thu ngân sách nhà nước (gọi chung là các cơ quan thu) đảm nhiệm từng lĩnh vực thu ngân sách Tổ chức bộ máy thực hiện thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước và sự phối hợp giữa các cơ quan cấp huyện thể hiện tại hình 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Tổ chức bộ máy quản lý thu NSNN qua KBNN cấp huyện
(Nguồn: Trần Thị Ty, 2003)
Từ năm 2002, thi hành Luật NSNN sửa đổi, công tác quản lý tập trung các khoản thu NSNN đã được cải tiến một bước, toàn bộ các khoản thu NSNN phải nộp trực tiếp vào KBNN, hạn chế tối đa việc thu tiền thuế qua cơ quan thu
KBNN CẤ P TỈNH
KBNN CẤP HUYỆN
CÁ NHÂN, TỔ CHỨC NỘP NSNN
PHÒNG TÀI
CHÍNH, CHI CỤC
THUỂ TẠI HUYỆN
Các cơ quan thu được ủy quyền
Quan hệ phối hợp Quan hệ quản lý
Trang 35Trong giai đoạn này, hệ thống KBNN đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan thu và chính quyền các cấp trong việc tổ chức thu NSNN KBNN đã chủ động bố trí các điểm thu trong và ngoài trụ sở KBNN, đảm bảo tập trung đầy đủ và phân chia kịp thời các khoản thu của các cấp ngân sách cho mỗi cấp theo tỷ lệ quy định Từ phương thức thu thụ động, thuần tuý là nhập quỹ, đó tiến tới tổ chức thu trực tiếp, tổ chức những điểm thu cố định, thu lưu động để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, nhờ vậy nguồn thu cho NSNN được tập trung nhanh hơn, kịp thời hơn Mặc dù đạt được những kết quả rất đáng khích lệ nhưng thu NSNN trong giai đoạn này thực chất mới chỉ là mở rộng việc thực hiện phương thức người nộp thuế trực tiếp nộp tiền vào KBNN, trước hết là ở thành phố, thị xã và những nơi có nguồn thu lớn.Công tác tổ chức thu NSNN mặc dầu liên tục được cải tiến, song vẫn còn một số điểm bất cập như sau: người nộp thuế phải tự lập
4 liên Giấy nộp tiền bằng cách viết tay những thông tin, quy định có liên quan vào Giấy nộp tiền, điều này dễ dẫn đến sai sót cũng như gây phiền hà, mất nhiều thời gian của người nộp thuế; đồng thời, việc trao đổi thông tin về số đã thu giữa các cơ quan được thực hiện bằng cách cuối ngày KBNN chuyển chứng từ giấy cho cơ quan thu để đối chiếu, theo dõi thủ công đã ảnh hưởng đến việc lập bộ thuế kỳ tiếp theo của cơ quan Thuế và chậm việc thông quan đối với cơ quan Hải quan, cũng như sai lệch giữa các bên về số đã thu NSNN do không dùng chung một cơ sở dữ liệu Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện hạch toán thu NSNN, KBNN chỉ căn cứ vào Giấy nộp tiền của người nộp thuế, mà không có cơ sở đối chiếu nhanh số tiền thuế, mục lục NSNN trên Giấy nộp tiền với thông báo của
cơ quan thu và không đủ điều kiện để mở rộng được hình thức thu
Để đáp ứng được những yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, vừa thực hiện mục tiêu đổi mới cơ chế chính sách và quy trình nghiệp vụ trong công tác quản lý thu NSNN, Bộ Tài chính đã triển khai dự án Hiện đại hoá thu, nộp NSNN bằng Quyết định số 3414/QĐ-BTC ngày 18/10/2006 Theo đó, trên cơ
sở thông tư số 128/TT-BTC ngày 24/12/2008 hướng dẫn quản lý thu NSNN
Trang 36qua KBNN, Bộ tài chính cũng đã ban hành Quyết định số 1027/QĐ-BTC ngày 19/05/2009 về quy trình quản lý thu NSNN theo Dự án Hiện đại hóa thu, nộp NSNN và được triển khai từ giữa năm 2009
Dự án này nằm trong chiến lược tổng thể của cải cách thủ tục, hành chính, việc hình thành cơ chế phối hợp thu NSNN giữa các cơ quan: Kho bạc Nhà nước - Tổng cục Thuế - Tổng cục Hải quan và các Ngân hàng thương mại cùng với những ứng dụng công nghệ tin học hiện đại nên có tên gọi: “Dự án Hiện đại hoá thu NSNN của Bộ Tài chính tại các điểm thu của KBNN” được gọi tắt
là “Dự án Hiện đại hoá thu NSNN’’ hay là chương trình TCS (Tax collection system) Dự án trên là bước đi quan trọng có tính đột phá trong công tác quản
lý thu NSNN qua KBNN
Dự án Hiện đại hóa thu, nộp NSNN là dự án cải cách toàn diện quy trình quản lý thu, nộp thuế vào NSNN, nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu NSNN qua KBNN trên cơ sở ứng dụng thông tin hiện đại
* Sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác thu NSNN
Kho bạc nhà nước là một cơ quan trong hệ thống bộ máy quản lý thu NSNN ở Việt Nam, KBNN không thực hiện toàn bộ mọi nội dung của công tác thu NSNN, mà chỉ thực hiện nhiệm vụ ở một số khâu của quy trình quản lý thu NSNN Tuy nhiên KBNN là cơ quan đặc trách quản lý quỹ NSNN,có vai trò chủ đạo trong việc thu đúng, thu đủ và điều tiết vào các cấp NSNN theo quy định của cấp có thẩm quyền Các cơ quan thu có trách nhiệm phối hợp với KBNN tổ chức thu NSNN và quản lý thu NSNN có hiệu quả
Quy trình quản lý thu, nộp NSNN qua KBNN được thực hiện thông qua việc kết nối trao đổi thông tin về thu nộp NSNN trên chương trình TCS theo nguyên tắc: kết nối và trao đổi thông tin, dữ liệu điện tử giữa các cơ quan thu, NHTM và KBNN về số phải thu, số đã thu NSNN của người nộp thuế
Cục Tin học và Thống kê tài chính - Bộ Tài chính có trách nhiệm: Đảm bảo duy trì, quản lý và cập nhật cơ sở dữ liệu (CSDL) danh mục dùng chung
Trang 37của ngành tài chính Danh mục dùng chung (DMDC) bao gồm mã số thuế, tên NNT, kỳ thuế, số tiền, mục lục NSNN của từng đối tượng nộp tiền, danh sách
tờ khai hải quan…
Cơ quan Tài chính có trách nhiệm: truyền và nhận dữ liệu DMDC, nhận
dữ liệu thu NSNN từ KBNN thông qua TT-TĐTW để thực hiện quản lý và điều hành ngân sách theo quy định
Cơ quan Thuế, Hải quan có trách nhiệm: tổng hợp và truyền dữ liệu DMDC,số phải thu NSNN lên TT-TĐTW và thông qua Cổng thông tin điện tử của mình truyền cho các NHTM có tham gia phối hợp thu NSNN Quản trị CSDL và ứng dụng trao đổi dữ liệu của đơn vị
KBNN có trách nhiệm: nhận dữ liệu điện tử về số đã thu tại các chi nhánh NHTM qua Trung tâm trao đổi của NHTM (TW) để hạch toán đầy đủ kịp thời vào NSNN; tổ chức quản lý và lưu trữ thông tin, dữ liệu điện tử về số đã thu, đảm bảo tính an toàn, bảo mật, toàn vẹn, đầy đủ, không bị thay đổi sai lệch trong suốt quá trình lưu trữ; truyền (gửi) đầy đủ, kịp thời thông qua TT- TĐTW thông tin về số đã thu cho cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính đồng cấp theo đúng quy định
Theo quy trình hiện đại hóa thu, nộp NSNN được triển khai từ năm 2010, KBNN được ủy nhiệm thu các khoản thu NSNN bằng tiền mặt và tiền phạt vi phạm hành chính (VPHC) bằng biên lai thu cho chi nhánh NHTM.Và như vậy, người nộp thuế sẽ thực hiện nộp các loại thuế, phí, lệ phí, tiền phạt vi phạm hành chính cũng như các khoản thu ngân sách khác tại ngân hàng nơi KBNN phối hợp và ủy nhiệm thu
Trường hợp KBNN chưa ủy nhiệm thu NSNN bằng tiền mặt với các NHTM thì KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan và các NHTM vẫn tổ chức phối hợp thu NSNN theo nguyên tắc kết nối, trao đổi thông tin dữ liệu điện tử đối với các khoản thu NSNN bằng chuyển khoản.Việc đối chiếu số liệu thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, Hải quan và các NHTM được thực hiện thông qua
Trang 38tài khoản của KBNN tại các chi nhánh NHTM
Đối với chi nhánh NHTM (tổ chức được KBNN uỷ quyền thu NSNN), việc tổ chức đối chiếu dữ liệu về số đã thu NSNN được trao đổi qua Trung tâm trao đổi của NHTM Công tác trao đổi, đối chiếu chứng từ thu NSNN giữa chi nhánh NHTM (nơi KBNN mở TK) với KBNN được thực hiện theo phiên trong ngày theo thỏa thuận giữa hai bên
Trao đổi thông tin giữa cơ quan Thuế với chi nhánh NHTM được thực hiện thông qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế, đảm bảo thông tin,
dữ liệu trao đổi giữa Tổng cục Thuế với chi nhánh NHTM về DMDC, về số phải thu NSNN phải được đầy đủ, kịp thời và chính xác, tạo điều kiện thuận lợi cho các chi nhánh NHTM trong việc thực hiện thu NSNN
Trao đổi thông tin giữa cơ quan Hải quan với chi nhánh NHTM: được thực hiện thông qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan, đảm bảo thông tin, dữ liệu trao đổi giữa chi nhánh NHTM với Tổng cục Hải quan phải đồng bộ với dữ liệu về số đã thu NSNN được hạch toán vào tài khoản của KBNN mở tại chi nhánh NHTM; thông tin về số đã thu NSNN từ chi nhánh NHTM chuyển cho cơ quan Hải quan chỉ phục vụ cho việc thông quan hàng hoá xuất, nhập khẩu Thông tin để hạch toán số đã thu NSNN vào hệ thống tác nghiệp của cơ quan Hải quan được lấy từ KBNN
Việc thực hiện thu nộp Ngân sách nhà nước theo quy trình mới đã đạt được các mục tiêu cơ bản như sau: Cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách.Thông tin nhanh số thu vào NSNN qua Kho bạc; giảm nguồn lực nhập cùng loại thông tin về chứng
từ thu tại các đơn vị Tài chính; tập trung quản lý đối với các khoản thu vào NSNN và các khoản tạm thu qua Kho bạc Nhà nước, khắc phục tình trạng không thống nhất về thông tin; đáp ứng xu hướng hiện đại hóa công tác tài chính quốc gia và xây dựng chính phủ điện tử
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan sẽ giúp cho công tác quản lý thu NSNN đạt hiệu quả cao Sự phân định trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng, được
Trang 39thể chế hóa thành luật cho các cơ quan, cá nhân trong việc quản lý thu NSNN trên cơ sở đảm bảo tính minh bạch sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng quản
lý thu NSNN, tình hình cải cách hành chính của Nhà nước, thực hiện triệt để công tác cải cách hành chính (Trần Thị Ty, 2003)
1.1.2.4 Nội dung quản lý thu ngân sách nhà nước qua kho bạc nhà nước
a Dự toán thu NSNN
Dự toán NSNN qua KBNN hàng năm được lập làm căn cứ cho việc ra
kế hoạch của đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ thu Trong quá trình lập dự toán, có quy định cụ thể về thời gian thực hiện theo từng nội dung cụ thể
- Yêu cầu và căn cứ của lập dự toán thu ngân sách nhà nước qua KBNN + Yêu cầu của lập dự toán: Các nội dung thu NSNN phải được tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi tiết các nội dung thu, chi tiết theo các sắc thuế Dự toán phải được lập đúng theo quy định về biểu mẫu, nội dung và thời hạn đã quy định Dự toán phải có kèm theo báo cáo thuyết minh cụ thể về cơ sở, căn
cứ tính toán các nội dung trong dự toán
+ Căn cứ lập dự toán: Nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và bảo đảm quốc phòng- an ninh, các chỉ tiêu cụ thể của năm kế hoạch Chính sách, các quy định cụ thể về chế độ thu ngân sách trong đó cụ thể là có các luật thuế của hệ thống thuế, các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định về thu phí lệ phí, các quy định về thu phạt đây là các căn cứ pháp lý quan trọng nhất cho việc xác định các chỉ tiêu về thu NSNN Phân cấp nguồn thu ngân sách nhà nước mà cụ thể phân chia tỷ lệ hưởng các khoản thu NSNN của các cấp ngân sách Thông
tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập dự toán ngân sách, hướng dẫn của
ủy ban nhân dân các cấp về lập dự toán ở địa phương
+ Lập và thảo luận dự toán ngân sách: Các đơn vị trên cơ sở các văn bản hướng dẫn và số kiểm tra tiến hành lập dự toán thu ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp Đơn vị dự toán cấp I xem xét, tổng hợp, lập dự toán tổng thể báo cáo cơ quan tài chính, kèm
Trang 40theo bản thuyết minh chi tiết Cơ quan tài chính các cấp tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán ngân sách với cơ quan, đơn vị cùng cấp và UBND, cơ quan tài chính cấp dưới; cơ quan, đơn vị cấp trên phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán với các đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc trong quá trình lập
dự toán Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với, các Bộ, cơ quan liên quan, tổng hợp và lập dự toán thu NSNN, trình Chính phủ Bộ Tài chính thừa uỷ quyền Thủ tướng Chính phủ báo cáo và giải trình với Quốc hội về số dự toán thu NSNN (Lê Văn Ái - Bùi Tiến Hanh, 2010)
b Chấp hành dự toán
- Yêu cầu của chấp hành dự toán: Triển khai thực hiện các chỉ tiêu thu trong kế hoạch ngân sách năm từ khả năng, dự kiến thành hiện thực Từ đó, góp phần thực hiện các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển KT-XH của Nhà nước Trong khâu chấp hành dự toán thu phải đảm bảo thu đúng, thu đủ và thu kịp thời vào NSNN đảm bảo phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước Trong tổ chức thu cần đảm bảo tính công bằng và tránh thất thu và phải đảm bảo hiệu quả công tác thu nộp về mặt xã hội, đó là đảm bảo việc chi phí cho mỗi đồng tiền thu vào ngân sách, gồm chi phí của công tác tổ chức bộ máy thu nộp và cả chi phí của người nộp vào ngân sách là thấp nhất
- Nội dung chấp hành thu ngân sách nhà nước qua KBNN: Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu ngân sách lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu Các khoản thu nội địa như thuế, phí, lệ phí thường do cơ quan thuế thực hiện, cơ quan Hải quan tổ chức thu từ XNK, cơ quan Tài chính và các cơ quan thu khác được uỷ quyền thu các khoản thu còn lại của NSNN Các tổ chức cá nhân có nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác vào NSNN theo quy định của pháp luật
Về nguyên tắc toàn bộ các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước, trừ một số khoản cơ quan thu có thể thu trực tiếp song phải định kỳ nộp vào Kho bạc Nhà nước theo quy định (Lê Văn Ái - Bùi Tiến