Tuy nhiên, thực trạng về công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như: Cơ chế
Trang 1–––––––––––––––––––––––––––––––
DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC CƠ QUAN THUỘC UBND HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2–––––––––––––––––––––––––––––––
DƯƠNG THỊ THÚY HẰNG
QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC CƠ QUAN THUỘC UBND HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 8.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Hương Giang
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa công bố tại bất kỳ nơi nào, mọi số liệu sử dụng trong luận văn này là những thông tin xác thực
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Thị Thúy Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Ngô Thị Hương Giang,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học - Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban lãnh đạo, các bạn bè đồng nghiệp,
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Do bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
Tác giả luận văn
Dương Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC CƠ QUAN THUỘC UBND CẤP HUYỆN 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND cấp huyện 5
1.1.1 UBND cấp huyện và các cơ quan thuộc UBND cấp huyện 5
1.1.2 Tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước 5
1.1.3 Quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước 17
1.2 Kinh nghiệm quản lý TSC ở ngoài nước, trong nước và bài học rút ra cho huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 23
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý TSC ở ngoài nước 23
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý TSC của một số địa phương ở Việt Nam 25
1.2.3 Bài học rút ra về quản lý TSC cho các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 28
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 30
Trang 62.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 30
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 32
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 32
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình tài sản công 33
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyên 34
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CÁC CƠ QUAN THUỘC UBND HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN 35
3.1 Khái quát về huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
3.1.3 UBND huyện và các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình 39
3.2 Thực trạng tài sản công của các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình 42
3.2.1 Tình hình tài sản công do Văn phòng UBND huyện quản lý 49
3.2.2 Tình hình tài sản công do phòng Tài chính - Kế hoạch huyện quản lý 52
3.2.3 Tình hình tài sản công do phòng Nông nghiệp & PTNT huyện quản lý 54
3.2.4 Tình hình tài sản công do phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện quản lý 56
3.2.5 Tình hình tài sản công do phòng Tài nguyên - Môi trường huyện quản lý 58
3.3 Thực trạng quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 61
3.3.1 Thực trạng thực hiện các nguyên tắc quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND của huyện Phú Bình 61
3.3.2 Thực trạng thực hiện nội dung quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND của huyện Phú Bình 65
Trang 73.4 Đánh giá chung về quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 80
3.4.1 Những kết quả đạt được 80
3.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 81
Chương 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TẠI CÁC CƠ QUAN THUỘC UBND HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN 87
4.1 Định hướng, mục tiêu hoàn thiện quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 87
4.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 91
4.2.1 Hoàn thiện chế độ phân cấp quản lý nhà nước về tài sản công 91
4.2.2 Nghiên cứu ban hành chế độ khen thưởng đối với các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện quản lý TSC 93
4.2.3 Tăng cường sử dụng các thành tựu khoa học công nghệ trong quản lý TSC 94
4.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức về quản lý TSC 95
4.2.5 Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách quản lý TSC 97
4.3 Kiến nghị 101
4.3.1 Kiến nghị đối với Trung ương 101
4.3.2 Kiến nghị đối với tỉnh Thái Nguyên 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐS : Bất động sản CQHC : Cơ quan hành chính CQNN : Cơ quan nhà nước ĐVSN : Đơn vị sự nghiệp HCNN : Hành chính nhà nước HĐND : Hội đồng nhân dân KCN : Khu công nghiệp NSNN : Ngân sách nhà nước PTNT : Phát triển nông thôn QLNN : Quản lý nhà nước TSC : Tài sản công TSCĐ : Tài sản cố định TSNN : Tài sản nhà nước UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tổng hợp tài sản nhà nước trong khu vực HCNN ở huyện Phú
Bình từ năm 2014 đến 31/12/2016 45 Bảng 3.2 Thực trạng sử dụng đất đai các cơ quan hành chính của huyện
Phú Bình giai đoạn 2014-2016 47 Bảng 3.3 Tình hình sử dụng đất của Văn Phòng UBND huyện Phú bình
giai đoạn 2014-2016 49 Bảng 3.4 Tổng hợp phương tiện đi lại trong Văn phòng UBND huyện
Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 50 Bảng 3.5 Tổng hợp máy móc thiết bị trong Văn phòng UBND huyện Phú
Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 51 Bảng 3.6 Tình hình sử dụng đất của Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện
Phú Bình giai đoạn 2014-2016 52 Bảng 3.7 Tổng hợp phương tiện đi lại trong Phòng Tài chính - Kế hoạch
huyện Phú Bình tính từ 2014 đến 31/12/2016 53 Bảng 3.8 Tổng hợp máy móc thiết bị trong Phòng Tài chính - Kế hoạch
huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 53 Bảng 3.9.Tình hình sử dụng đất của Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện
Phú Bình từ năm 2014 đến năm 2016 54 Bảng 3.10 Tổng hợp phương tiện đi lại trong Phòng Nông nghiệp &
PTNT huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 55 Bảng 3.11 Tổng hợp máy móc thiết bị trong Phòng Nông nghiệp &
PTNT huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 55 Bảng 3.12 Tình hình sử dụng đất của Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Phú
Bình từ năm 2014 đến năm 2016 56 Bảng 3.13 Tổng hợp phương tiện đi lại trong phòng Kinh tế - Hạ tầng
huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 57
Trang 10Bảng 3.14 Tổng hợp máy móc thiết bị trong phòng Kinh tế -Hạ tầng
huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 57 Bảng 3.15 Tình hình sử đất của Phòng Tài nguyên -Môi trường huyện
Phú Bình từ năm 2014 đến năm 2016 58 Bảng 3.16 Tổng hợp phương tiện đi lại trong Phòng Tài nguyên - Môi
trường huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 59 Bảng 3.17 Tổng hợp máy móc thiết bị trong Phòng Tài nguyên - Môi
trường huyện Phú Bình tính từ năm 2014 đến 31/12/2016 60 Bảng 3.18 Nguồn hình thành tài sản của UBND huyện Phú Bình từ năm
2014 đến năm 2016 65 Bảng 3.19 Kết quả đầu tư trụ sở làm việc tại UBND huyện Phú Bình giai
đoạn 2014 -2016 66 Bảng 3.20 Kết quả đầu tư phương tiện đi lại thuộc UBND huyện Phú
Bình giai đoạn 2014 -2016 67 Bảng 3.21 Kết quả điều tra về công tác thanh tra, kiểm tra quá trình khai
thác, sử dụng tài sản công 68 Bảng 3.22 Tình hình sai phạm trong sử dụng TSC tại các cơ quan thuộc
UBND huyện Phú Bình 69 Bảng 3.23 Bảng thanh lý tài sản công thuộc UBND huyện Phú Bình giai
đoạn 2014 -2016 70 Bảng 3.24 Kết quả điều tra việc đầu tư, mua sắm tài sản công trong các
cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phú Bình 71 Bảng 3.25 Kết quả điều tra việc đầu tư, mua sắm TSC theo quy định về
tiêu chuẩn, định mức tại UBND huyện Phú Bình 71 Bảng 3.26 Kết quả điều tra nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử
dụng TSC trong các cơ quan hành chính nhà nước 72 Bảng 3.27 Kết quả điều tra về hiệu quả sử dụng TSC tại UBND huyện
Phú Bình 73
Trang 11Bảng 3.28 Kết quả điều tra về ý thức, trách nhiệm của người trực tiếp sử
dụng TSC tại UBND huyện Phú Bình 73 Bảng 3.29 Kết quả điều việc xử lý những sai phạm trong việc quản lý, sử
dụng TSC tại UBND huyện Phú Bình 74 Bảng 3.30 Kết quả điều tra việc thanh lý, điều chuyển, kết thúc quá trình
sử dụng TSC tại UBND huyện Phú Bình 74 Bảng 3.31 Kết quả điều tra về mức độ quan tâm của chính quyền, địa phương
đối với quản lý, sử dụng TSC tại UBND huyện Phú Bình 75
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử hình thành, tổ chức và phát triển của các nhà nước trên thế giới
đã khẳng định rằng: Tài sản công là nguồn lực nội sinh của đất nước, là yếu tố
cơ bản của quá trình sản xuất và quản lý xã hội, là nguồn lực tài chính tiềm năng cho đầu tư phát triển, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nền kinh tế Việt nam đang từng bước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Vì vậy, tài sản công là vốn liếng nhằm phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho kinh tế nhà nước giữ vai trò trọng yếu, góp phần nâng cao đời sống nhân dân để hiện thực hoá những mục tiêu đặt ra Dù không tham gia trực tiếp vào sản xuất nhưng tài sản công có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế Ở các quốc gia phát triển, quản lý tốt tài sản công cũng được coi là một trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng quản lý nói chung của nhà nước
Thực tế thời gian qua, quản lý tài sản công luôn là vấn đề thời sự của Chính phủ, Quốc hội Việc thiếu chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản công và hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước đang là vấn đề được Chính phủ và các cơ quan hữu trách quan tâm Tình trạng các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các đơn vị thuộc khu vực công sử dụng vượt tiêu chuẩn định mức gây lãng phí, cho thuê, mượn tài sản công không đúng quy định, tự
ý sắp xếp, xử lý làm thất thoát tài sản công…đang đặt ra yêu cầu phải thống
kê và quản lý hiệu quả lượng tài sản này
Phú Bình là một huyện nghèo của tỉnh Thái Nguyên, địa bàn rộng, tăng trưởng kinh tế chưa cao, khả năng tích luỹ, mua sắm tài sản côngcòn thấp Do
đó, lãnh đạo Ủy ban nhân dân (UBND) huyện đã luôn đề cao và quan tâm đến công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện, được thể
Trang 13hiện thông qua việc triển khai và thực hiện khá tốt nhiều chính sách nhằm quản lý và khai thác tài sản công như: Luật quản lý tài sản nhà nước, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí, Luật đất đai, từ đó đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của các đơn vị thuộc UBND huyện và của huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Tuy nhiên, thực trạng về công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như: Cơ chế quản lý, quy trình đầu tư và mua sắm tài sản công còn phân tán; Việc quản lý, sử dụng một số loại tài sản công chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực sự được sử dụng vào hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước gây lãng phí NSNN dẫn đến chậm đổi mới, chưa đồng bộ với cơ chế quản lý tài chính, chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện và đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Đứng trước thực trạng đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” làm luận
văn tốt nghiệp của mình nhằm hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý tài sản công Qua đó phát huy tối đa hiệu quả sử dụng của tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình để phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới, phát triển huyện Phú Bình nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công tại các
cơ quan thuộc UBND cấp huyện
Trang 14- Phân tích, đánh giá thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quản tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian:
+ Đối với các số liệu thứ cấp được nghiên cứu trong 3 năm, từ năm
2014 đến năm 2016;
+ Đối với các số liệu sơ cấp, được điều tra năm 2017;
+ Đề xuất giải pháp đến năm 2020
- Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên gồm: Văn phòng HĐND&UBND, phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Kinh tế - Hạ tầng, Phòng Tài nguyên và Môi trường.,
- Phạm vi nội dung: Công tác quản lý tài sản công tại một số cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
4 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận về quản lý tài sản công để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Từ đó đề ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
Với kết quả nghiên cứu đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý của UBND huyện về công tác lãnh đạo, điều hành quản lý tài
Trang 15sản công, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục thành 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện và tăng cường quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG
TẠI CÁC CƠ QUAN THUỘC UBND CẤP HUYỆN
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài sản công tại các cơ quan thuộc UBND cấp huyện
1.1.1 UBND cấp huyện và các cơ quan thuộc UBND cấp huyện
1.1.1.1 UBND cấp huyện
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2005, Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương Ủy ban nhân dân huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện loại I có không quá ba Phó Chủ tịch; huyện loại II và loại III có không quá hai Phó Chủ tịch Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện gồm các Ủy viên là người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an
1.1.1.2 Các cơ quan thuộc UBND cấp huyện
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện gồm có các phòng
và cơ quan tương đương phòng Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1.1.2 Tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
1.1.2.1 Khái niệm tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
Tài sản công (TSC) theo Hiến pháp năm 1992 được cho là: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển,
Trang 17thềm lục địa và vùng trời, phần vốn do Nhà nước đầu tư vào xí nghiệp, công trình thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định
là của Nhà nước đều thuộc sở hữu toàn dân
Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định tài sản thuộc hình thức
sở hữu Nhà nước như sau: "Tài sản thuộc hình thức sở hữu Nhà nước bao gồm đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông, hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi từ nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu
tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định" Từ những căn cứ pháp luật hiện hành, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về tài sản công như sau:
Tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách nhà nước, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật như: đất đai, rừng tự nhiên, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời Tài sản công - Tài sản nhà nước bao gồm: Trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải (ô tô, xe máy, tàu, thuyền ), trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do quy định của pháp luật
Những tài sản trên đây đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng theo nguyên tắc:
- Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng
- Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước
và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
Trang 18- Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm công bằng, hiệu quả, tiết kiệm
- Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Tài sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định
- Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai, minh bạch phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật
1.1.2.2 Phân loại tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
Để nhận biết và có các biện pháp quản lý có hiệu quả, tài sản công được phân loại theo các tiêu thức như sau:
a Phân loại theo công dụng của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công được chia thành 03 nhóm chính: trụ sở làm việc, phương tiện đi lại và máy móc, thiết bị và các tài sản khác (sơ
đồ 1.1)
Sơ đồ 1.1 Phân loại tài sản công theo công dụng của tài sản
(Nguồn: Giáo trình tài chính công- Học viện Tài chính)
Máy móc, thiết
bị và các tài sảnkhác
Trang 19* Trụ sở làm việc bao gồm:
- Khuôn viên đất:là tổng diện tích đất do cơ quan hành chính, đơn vị
sự nghiệp và các tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng được Nhà nước giao; nhận chuyển nhượng hoặc do tiếp quản từ chế độ cũ được xác lập sở hữu Nhà nước theo quy định của pháp luật
- Nhà công sở: là nhà cửa, vật kiến trúc và công trình xây dựng khác gắn liền với đất Nhà công sở bao gồm: công sở ở Trung ương và địa phương, công sở phục vụ công (bệnh viện, trường học, nhà thi đấu, phòng thí nghiệm…), cơ quan nghiên cứu, báo chí, phát thanh truyền hình của Nhà nước …Nhà công sở bao gồm các bộ phận: bộ phận làm việc, bộ phận công cộng và kỹ thuật, bộ phận phụ trợ và phục vụ Vật kiến trúc gồm: giếng khoan, giếng đào, sân chơi, hệ thống cấp thoát nước
- Xe ô tô gồm: xe từ 16 chỗ ngồi trở xuống; xe chở khách; xe ô tô tải;
xe ô tô chuyên dùng như: xe cứu thương, xe cứu hoả, xe chở tiền, xe phòng chống dịch, xe phòng chống lụt bão, xe hộ đê
- Xe máy
- Tàu xuồng, ca nô
* Máy móc, thiết bị và các tài sản khác bao gồm:
- Máy móc, thiết bị là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị trang bị cho cán bộ, công chức để làm việc và phục vụ hoạt động của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp như: máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, thiết bị truyền dẫn, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ
- Thiết bị, dụng cụ quản lý là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động của cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp như: máy
vi tính, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút bụi
- Các loại tài sản khác như: tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật, vườn cây lâu năm, súc vật nuôi để thí nghiệm hoặc nhân giống (vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả và đàn gia súc các loại)
Trang 20b Phân loại theo cấp quản lý
Căn cứ vào cấp quản lý, tài sản công được chia thành 04 nhóm: Tài sản công do Chính phủ quản lý, Tài sản công do UBND cấp tỉnh quản lý, Tài sản công do UBND cấp huyện quản lý và tài sản công do UNBD cấp xã quản
lý (sơ đồ 1.2)
Sơ đồ 1.2 Phân loại tài sản theo cấp quản lý
(Nguồn: Giáo trình tài chính công- Học viện Tài chính)
- Tài sản công do Chính phủ quản lý bao gồm: Tài sản công do các bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác do trung ương quản lý
- Tài sản công do UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý (gọi chung là UBND cấp tỉnh): bao gồm tài sản công do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức thuộc cấp tỉnh quản lý
- TSC do UBND cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quản lý (gọi chung là UBND cấp huyện): bao gồm tài sản công do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức thuộc cấp huyện quản lý
- TSC do UBND cấp xã, phường, thị trấn quản lý (gọi chung là UBND cấp xã) bao gồm: TSC do các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức thuộc cấp xã quản lý
Tài sản công
TSC do UBND cấp
xã quản lý
TSC do UBND cấp huyện quản lý
TSC do UBND cấp tỉnh quản lý TSC do CP
quản lý
Trang 21c Phân loại theo đối tượng sử dụng tài sản
- Căn cứ vào đối tượng sử dụng tài sản, tài sản công được chia thành 04 nhóm: tài sản công dùng cho hoạt động của các cơ quan hành chính, tài sản công dùng cho hoạt động của các đơn vị hành chính, tài sản công dùng cho hoạt động của các tổ chức, và tài sản công chưa được nhà nước giao cơ quan, đơn vị nào sử dụng
Sơ đồ 1.3 Phân loại tài sản công theo đối tượng sử dụng tài sản
(Nguồn: Giáo trình tài chính công - Học viện Tài chính)
Một là, tài sản công dùng cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước gồm: tài sản làm việc, nhà công vụ; phương tiện đi lại; máy móc, thiết bị và các tài sản khác trực tiếp phục vụ hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Là cơ quan công quyền nên các cơ quan hành chính nhà nước được NSNN đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (gồm cả kinh phí mua sắm, sửa chữa tài sản) Về nguyên tắc, các cơ quan cơ quan hành chính được bình đẳng sử dụng tài sản phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao Việc quản
lý tài sản phải tuân thủ theo chế độ, chính sách quản lý chung của Nhà nước như: tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản, chế độ báo cáo, mua sắm, bán thanh lý tài sản đồng thời phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhà nước trong suốt quá trình sử dụng Nhà nước quản lý toàn diện đối với tài sản do cơ quan hành chính nhà nước sử dụng, ở tất cả các khâu theo vòng đời tồn tại của
Tài sản công
TSC chưa được giao sử dụng
TSC dùng cho hoạt động của các tổ chức
TSC dùng cho hoạt động của các ĐVSN
TSC dùng cho
hoạt động của
các CQHC
Trang 22tài sản gồm: đầu tư, mua sắm; bố trí sử dụng, mục đích sử dụng, báo cáo thống
kê, kiểm kê, chuyển đổi công năng, thanh lý tài sản… Về nguồn kinh phí mua sắm: chỉ có một nguồn duy nhất đó là NSNN Trong quá trình sử dụng, giá trị hao mòn của những tài sản này được xem là yếu tố chi phí tiêu dùng công
Hai là, TSC dùng cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp: là những tài sản mà nhà nước giao cho các ĐVSN trực tiếp sử dụng để thực hiện các mục tiêu sự nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Loại này gồm: đất, nhà, công trình xây dựng và vật kiến trúc thuộc cơ sở hoạt động của ĐVSN như: trường học, bệnh viện, nhà văn hóa, phòng thí nghiệm, trạm trại nghiên cứu ; phương tiện đi lại; máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ Ở Việt Nam hiện nay, có 2 loại hình ĐVSN là: ĐVSN công lập tự chủ tài chính và ĐVSN công lập chưa tự chủ tài chính TSC tại các ĐVSN phần lớn là tài sản chuyên dùng, sử dụng mang tính đặc thù ở từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động Theo chế độ hiện hành, kinh phí đầu tư mua sắm tài sản của ĐVSN có thể có nhiều nguồn khác nhau như: nguồn NSNN, nguồn thu sự nghiệp hoặc các nguồn huy động khác do ĐVSN trực tiếp huy động và chịu trách nhiệm trước pháp luật Do đó, các ĐVSN có quyền tự chủ cao hơn các CQHC nhà nước trong việc quản lý, sử dụng tài sản, nhất là những tài sản mà đơn vị mua sắm bằng nguồn kinh phí không thuộc NSNN Bên cạnh đó, theo chủ trương đẩy mạnh xã hội hoá các lĩnh vực sự nghiệp, nhà nước đã áp dụng thực hiện cơ chế khoán chi cho các ĐVSN Đơn vị được quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc: đầu tư mua sắm, sử dụng, khai thác tài sản, thanh lý tài sản phục vụ đổi mới dây truyền công nghệ của đơn vị theo nhu cầu hoạt động của mình Trong quá trình sử dụng, giá trị của tài sản giảm dần Phần giá trị giảm dần đó được xem là yếu tố chi phí để tạo
ra các sản phẩm dịch vụ công, một yếu tố cấu thành nên giá thành sản phẩm dịch vụ đó
Ba là, TSC dùng cho hoạt động của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phục vụ cho hoạt động của tổ chức, bao gồm: tài sản làm việc, phương tiện đi lại, máy móc,
Trang 23thiết bị và những tài sản khác Những tài sản này có thể là toàn bộ hoặc chỉ là một phần trong tổng số tài sản mà tổ chức đang quản lý, sử dụng
Bốn là, TSC mà Nhà nước chưa giao cho cơ quan, đơn vị, tổ chức nào
sử dụng, gồm: tài sản dự trữ nhà nước, tài sản mà nhà nước thu hồi từ các cơ quan, đơn vị do vi phạm chế độ quản lý do nhà nước quy định Pháp luật hiện hành giao cho cơ quan tài chính nhà nước các cấp tạm thời quản lý
d Phân loại theo đặc điểm, tính chất, hoạt động của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm có tài sản hữu hình và tài sản vô hình:
- Tài sản hữu hình là những cái có thể dùng giác quan nhận biết được hoặc dùng đơn vị cân đo đong đếm được
- Tài sản vô hình là những tài sản thể hiện ra bằng những lợi ích kinh
tế Chúng không có cấu tạo vật chất mà tạo ra những quyền và những ưu thế đối với người sở hữu và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng Tài sản vô hình bao gồm: giá trị quyền sử dụng đất, bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp, phần mềm máy tính…
e Phân loại theo đặc điểm hao mòn của tài sản
Theo cách phân loại này, tài sản công bao gồm:
- Tài sản hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng bị hao mòn qua thời gian như máy móc thiết bị, phương tiện đi lại…
- Tài sản không bị hao mòn: là tài sản khi qua sử dụng mà cơ bản vẫn giữ được hình dạng ban đầu như: đất đai, cây lâu năm
1.1.2.3 Đặc điểm của tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
Tài sản công trong các cơ quan Nhà nước rất phong phú về số lượng chủng loại, mỗi loại tài sản có đặc điểm, tính chất, công dụng khác nhau và do nhiều cơ quan sử dụng khác nhau, song chúng đều có đặc điểm sau:
* Đặc điểm chung đối với tài sản công
Thứ nhất: Tài sản công trong cơ quan quản lý Nhà nước được đầu tư
xây dựng, mua sắm bằng tiền ngân sách Nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước
Trang 24Thứ hai: Sự hình thành và sử dụng tài sản công phải phù hợp với chức
năng nhiệm vụ của từng cơ quan
Thứ ba: Vốn đầu tư xây dựng và mua sắm tài sản công không thu hồi
được trong quá trình sử dụng tài sản công, tài sản công trong cơ quan quản lý Nhà nước chủ yếu là những tài sản trong khu vực tiêu dùng của cải vật chất, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong quá trình sử dụng không tạo
ra sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ để đưa ra thị trường, do đó không chuyển giá trị hao mòn vào giá thành sản phẩm hoặc chi phí lưu thông
* Đặc điểm cụ thể đối với tài sản công
Tài sản công trong cơ quan QLNN có thể phân thành tài sản không tiêu hao và tài sản tiêu hao, cụ thể:
- Loại tài sản không tiêu hao: Là loại tài sản dù đã qua sử dụng mà cơ bản vẫn giữ được tính chất, hình dạng, tính năng ban đầu, những tài sản này được sử dụng nhiều lần, khấu hao trong thời gian dài Đó là những tài sản cố định gồm: Đất đai, nhà cửa, kiến trúc, xây dựng, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, phương tiện truyền dẫn; dụng cụ làm việc; súc vật làm việc, súc
vật cho sản phẩm (nếu có); cây lâu năm, các tài sản công khác…
Đất, nhà cửa, vật kiến trúc gọi là bất động sản, theo Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tại Điều 174 có quy định:
“BĐS là các tài sản bao gồm: Đất; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất,
kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất; Các tài sản khác do pháp luật quy định” Vì vậy, Bất động
sản có đặc điểm sau:
+ Tính cá biệt và khan hiếm: Do diện tích bề mặt trái đất là có hạn; diện tích đất của từng miếng đất, khu vực, vùng, địa phương, lãnh thổ…có giới hạn
+ Tính bền lâu: Do đất là một loại tài nguyên được xem như không thể
bị huỷ hoại; đồng thời, các vật kiến trúc và công trình xây dựng trên đất có thể tồn tại hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa
Trang 25+ Tính chịu ảnh hưởng lẫn nhau: BĐS chịu sự ảnh hưởng lẫn nhau rất lớn, giá trị của một BĐS này có thể bị tác động của BĐS khác
+ Các đặc điểm khác: Tính thích ứng; tính phụ thuộc vào năng lực quản lý; mang nặng yếu tố tập quán; thị hiếu và yếu tố tâm lý xã hội
- Loại tài sản tiêu hao: Là loại tài sản khi đã qua sử dụng làm mất tính chất, hình dạng, tính năng ban đầu của vật Ví dụ: giấy, mực, đồ ăn, thức uống…hoặc tài sản giữ nguyên hình thái hiện vật ban đầu cho đến khi
hư hỏng hoàn toàn, trong quá trình tồn tại TSCĐ bị hao mòn Do có kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ phận với mức độ hao mòn không đồng đều nên trong quá trình sử dụng TSCĐ có thể hư hỏng từng bộ phận
1.1.2.4 Vai trò của tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước
Tài sản công là một bộ phận của tài sản quốc gia, là tiềm lực phát triển đất nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tài sản công là nền tảng,
là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân” (Nguyễn Phố và Trần Thọ Kim, tr.79, 1989) Vai trò của tài sản công có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh: kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục ở đây, luận văn chỉ đề cập đến vai trò kinh tế của nó Theo đó tài sản công có những vai trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, tài sản công là một bộ phận nền tảng vật chất quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nhà nước Như đã trình bày ở trên, biểu hiện dưới hình thái hiện vật, tài sản công bao gồm: tài sản làm việc, nhà cửa; phương tiện đi lại; máy móc, trang thiết bị Đây chính là nền tảng vật chất căn bản để nhà nước tồn tại và phát triển Nói rộng hơn, đây là môi trường và
là điều kiện đảm bảo sự tồn vong cho một chế độ xã hội Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy hầu hết các nhà nước bị sụp đổ khi không còn kiểm soát được quyền lực công, trong đó có quyền lực về tài sản công Thông qua cuộc cách mạng xã hội, quyền lực công chuyển dịch sang tay nhà nước mới Nhà nước mới ra đời tiếp quản và sử dụng ngay toàn bộ cơ sở vật chất của nhà nước tiền nhiệm làm cơ sở sinh tồn của mình Trên nền tảng vật chất này, Nhà nước triển khai các hoạt động thuộc chức năng của mình để
Trang 26kiểm soát, quản lý kinh tế - xã hội của đất nước Mọi hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở, gắn liền với việc sử dụng tài sản công Với phạm vi rộng lớn, phong phú về chủng loại, đa dạng về công dụng , tài sản công trực tiếp giúp cho hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước thực hiện được trôi chảy liên tục và thông suốt Công năng của từng tài sản liên tục phát huy tác dụng góp phần làm nên thành quả hoạt động của nhà nước Tài sản làm việc chính là nơi hiện diện của chính quyền nhà nước, nơi làm việc hàng ngày của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước - nơi diễn ra các giao dịch của nhà nước với dân chúng, nơi quyền lực của nhà nước được thực thi Nếu không có tài sản làm việc thì nhà nước không thể triển khai thực hiện được các hoạt động của mình, theo đó quyền lực nhà nước cũng không thể thực hiện được Mặt khác, Tài sản công là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động sự nghiệp nhằm giúp các đơn vị sự nghiệp cung cấp các sản phẩm dịch vụ công với chất lượng cao cho con người Nó là điều kiện vật chất để đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học; để thực hiện nghiên cứu khoa học và áp dụng các thành tựu khoa học vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội Nước ta là nước nông nghiệp tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với yêu cầu phải rút ngắn thời gian, phải có bước nhảy vọt về công nghệ Từ đó, tại Hội nghị Trung ương 2 Khoá VIII Đảng ta đã khẳng định, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là khâu đột phá để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước Để phát triển các hoạt động này có nhiều yếu tố, trong đó tài sản công là điều kiện vật chất quan trọng để đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học, công nghệ và các sản phẩm khoa học công nghệ phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ không ngừng củng cố, xây dựng
và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật được xem là nhiệm vụ sống còn, có tính quy luật đối với mọi nhà nước Tiêu chí về mức độ hiện đại, tiện ích, quy mô
về tài sản công được coi là nhân tố đánh giá như sức mạnh, hiệu quả hoạt động của một nhà nước Có thể nói rằng, Nhà nước khó có thể hoàn thành
Trang 27nhiệm vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước khi chỉ có trong tay một nguồn lực công là cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu Với ý nghĩa đó, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước thì bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, khuôn khổ pháp lý thì Nhà nước còn phải không ngừng đầu tư phát triển tài sản công cả về quy mô, số lượng và chất lượng theo hướng ngày càng hiện đại, tiên tiến
Thứ hai, tài sản công là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội Chúng ta biết rằng, sự phát triển của xã hội chủ yếu do 3 yếu tố: Lao động, tri thức và quản lý, trong đó vai trò quản lý Nhà nước ngày càng có ý nghĩa quan trọng Bởi lẽ, một mặt quản lý là tổ chức lao động; Mặt khác, quản lý là phải tạo
ra khả năng phát triển tri thức Điều quan trọng của quản lý Nhà nước là sự kết hợp tri thức với lao động để hoàn thiện quản lý hơn nữa và thúc đẩy xã hội phát triển Vì vậy, quản lý nhà nước biểu hiện trước hết ở chính những tác động có ý thức vào các quá trình phát triển xã hội, vào ý thức con người, buộc mọi người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và các mục tiêu đã định
Nhà nước thực hiện chức năng kinh tế thông qua các hoạt động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành bình thường, hướng quá trình sản xuất xã hội tới những mục tiêu đã định trước Cùng với việc phải xây dựng, hoàn thiện cơ chế kinh tế theo hướng thúc đẩy, giải phóng mọi nguồn lực tập trung cho sản xuất ra của cải vật chất để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thì hoạt động của bộ máy nhà nước phải được đổi mới, cải cách theo hướng gọn nhẹ, hiệu lực và hiệu quả, thông suốt từ trung ương đến
cơ sở Với vai trò là nền tảng vật chất đảm bảo cho nhà nước hoạt động, tài sản công giữ vị trí hết sức quan trọng Một mặt, tài sản công là phương tiện để truyền tải thông tin, sự lãnh đạo điều hành quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước, đồng thời là công cụ để thực hiện ý trí của nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát duy trì sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu đã định trước Mặt khác, chúng ta đều đã biết rằng quá trình
Trang 28sản xuất xã hội chỉ có thể diễn ra được bình thường khi có sự quản lý thường xuyên, liên tục của nhà nước
Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay thì tác động của hoạt động quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất xã hội của một quốc gia càng lớn hơn bao giờ hết Thực tiễn cho thấy, khi hoạt động quản lý nhà nước kém hiệu quả, đặc biệt ở những nước xảy ra mất ổn định về chính trị thì ngay lập tức nền kinh tế rơi vào suy thoái, thậm chí khủng hoảng Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định: tài sản công là yếu tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội
1.1.3 Quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
1.1.3.1 Khái niệm về quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước
Quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước là sự tác động
có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước đối với tài sản công nhằm đảm bảo tài sản công được đầu tư, xây dựng mới, mua sắm quản lý, sử dụng, xử lý một cách tiết kiệm và hiệu quả
1.1.3.2 Vai trò của quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính nhà nước giữ vai trò quan trọng, là chìa khoá để dẫn đến thành công của việc quản lý tài sản công trong khu vực hành chính nhà nước vì:
Thứ nhất, do cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự
nghiệp bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, nguyên tắc, cách thức tổ chức và những điều kiện đảm bảo để thực hiện quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp tiết kiệm, hiệu quả nên vai trò hàng đầu của cơ chế
là định hướng, hướng dẫn, chỉ dẫn hành vi và tạo khuôn khổ cho việc tổ chức quản lý tài sản công của các cơ quan, đơn vị Việc quyết định mua sắm, đầu
tư cái gì, ở đâu; việc quyết định điều chuyển, bán, thanh lý tài sản gì đều phải căn cứ vào nhu cầu thực tế và các quy định của Nhà nước ở trung ương
và địa phương Ngoài ra cơ chế còn có tác dụng hướng dẫn trong mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan với nhau, giữa con người với nhau thông qua trình
tự, thủ tục thẩm quyền, cách thức thực hiện công việc đó như thế nào
Trang 29Thứ hai, cơ chế có tác dụng như những căn cứ, cơ sở chuẩn mực để quản
lý tài sản công trong các cơ quan nhà nước Việc phân biệt hành vi đúng- sai, tốt -xấu, hiệu quả- không hiệu quả đều phải căn cứ vào những giá trị, chuẩn mực; những quy định của cơ chế
Thứ ba, cơ chế quản lý có vai trò làm giảm tính bất định bằng cách cung
cấp thông tin cần thiết và thiết lập một cơ chế ổn định cho mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan, đơn vị trong bộ máy quản lý nhà nước
1.1.3.3 Nguyên tắc quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước
Với đặc điểm chung của tài sản công là phong phú về chủng loại, có tính năng, công dụng khác nhau, được phân bổ ở khắp mọi các cơ quan, tổ chức, đơn vị, được giao cho các ngành, các cấp, các tổ chức, cá nhân trực tiếp
sử dụng phục vụ cho các hoạt động: Quản lý Nhà nước, Quốc phòng - An ninh, …từ cấp cơ sở đến các hoạt động ở Trung ương Căn cứ Thông tư số 45/2013/BTC-TT ngày 28/3/2013 của Bộ Tài chính quy Định về những nguyên tắc tài sản công trong các cơ quan Nhà nước Do đó, việc quản lý tài sản công phải được tổ chức thực hiện những nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất: Thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; đồng thời
phải có cơ chế, chính sách chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng Thống nhất quản lý trên cơ sở đảm bảo cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản phù hợp với đặc điểm tài sản công Nội dung thống nhất của quản lý là Chính phủ thống nhất quản lý tài sản công; Quốc hội, Chính phủ quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản áp dụng chung cho mọi tài sản và quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản cụ thể đối với những tài sản có giá trị lớn mà hầu hết các cơ quan Nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang, các đơn vị công, các tổ chức khác được Nhà nước giao trực tiếp sử dụng (có thể gọi là những tài sản chủ yếu
và được sử dụng phổ biến) Trên cơ sở cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản công do Quốc hội, Chính phủ quy định; các Bộ, ngành, địa phương quy định cơ chế, chính sách, chế độ quản lý đối với những tài sản có tính
Trang 30đặc thù riêng (có thể gọi những tài sản có tính đặc thù) và những tài sản phục vụ cho các hoạt động đặc thù
Thứ hai: Thực hiện quản lý và sử dụng tài sản công theo tiêu chuẩn,
định mức để công tác quản lý thống nhất, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn, định mức sử dụng từng loại tài sản cho từng đối tượng sử dụng, tránh hiện tượng mạnh ai người đó trang bị tuỳ tiện theo ý muốn của mình, tuỳ thuộc vào khả năng kinh phí của đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là thước
đo đánh giá mức độ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản công của từng đơn vị; mặt khác, tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản là cơ sở để thực hiện công tác quản lý, thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước Chính phủ quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản có giá trị lớn được
sử dụng phổ biến ở các cơ quan Nhà nước, các tổ chức khác Trên cơ sở tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản đối với các loại tài sản phổ biến, các Bộ, ngành, địa phương quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng đối với những tài sản sử dụng đặc thù
Thứ ba: Thực hiện phân cấp quản lý tài sản công để đảm bảo việc quản
lý tài sản công phù hợp với đặc điểm (là nguồn vốn tiềm năng cho phát triển) của tài sản công; đồng thời cũng được xuất phát từ phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý kinh tế - xã hội giữa Quốc hội, Chính phủ với các cấp chính quyền địa phương, giữa Chính phủ và các Bộ, ngành xây dựng cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản; về xây dựng và ban hành định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản; về quản lý tài sản công
Thứ tư: Quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách Nhà nước
Xuất phát từ “Tài sản công là những tài sản được hình thành từ nguồn ngân sách Nhà nước…” và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm bảo (trừ một số trường hợp cá biệt); do đó, việc quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách Nhà nước; hay nói một cách khác, quản lý tài sản công là quản lý ngân sách Nhà nước đã được chuyển thành hiện vật- tài sản Quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách Nhà nước, có nghĩa là mọi cơ chế, chính sách, chế độ quản lý tài sản công,
Trang 31định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản công phải phù hợp với quy định về quản lý ngân sách, việc trang bị tài sản công cho các cơ quan hành chính Nhà nước, các tổ chức khác phải phù hợp với khả năng của ngân sách Nhà nước và được lập dự toán, chấp hành dự toán theo quy định của pháp luật
về ngân sách Nhà nước
1.1.3.4 Nội dung quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
a Quản lý quá trình hình thành tài sản công
Khi cơ quan được thành lập, cùng với quy định về chức năng, nhiệm
vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ công chức, cơ quan được cấp một số tài sản gồm: TSLV, PTĐL và các tài sản khác Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan được đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản hoặc các nguồn khác được
sử dụng theo quy định của pháp luật Quá trình này gồm hai giai đoạn: quyết định chủ trương và thực hiện đầu tư, mua sắm TSC Sau khi có chủ trương, việc đầu tư, mua sắm tài sản được thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và quy định về mua sắm TSC Toàn bộ tài sản này được quản lý theo quy chế do cơ quan xây dựng trên cơ sở chế độ của Nhà nước quy định và đặc thù hoạt động của cơ quan
Bổ sung tài sản: Hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ được giao đơn vị lập
kế hoạch bổ sung tài sản; việc bổ sung tài sản hàng năm được thực hiện như sau: Mua sắm từ nguồn NSNN hoặc các nguồn khác được phép sử dụng theo quy định của pháp luật; tiếp nhận tài sản từ cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân khác hoặc thu hồi từ các dự án đã kết thúc
b Quản lý quá trình khai thác, sử dụng tài sản công
Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết vai trò của TSC Quản lý khâu này là thực hiện quản lý TSC theo mục đích, chế độ, tiêu chuẩn, định mức; quản lý quá trình thu hồi, điều chuyển, bán tài sản từ đơn vị này sang đơn vị khác; quản lý việc bảo dưỡng, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản nhằm duy trì hoạt động của TSC, đảm bảo cho việc sử dụng TSC có hiệu quả, tiết kiệm, đáp ứng được nhu cầu công tác của CQHC, ĐVSN Nội dung khâu này tập trung vào một số vấn đề sau:
Trang 32- Giao tài sản cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp quản
lý, sử dụng
- Xây dựng và ban hành nội quy, quy chế quản lý TSC
- Mở sổ sách kế toán theo dõi tình hình biến động của TSC
- Thực hiện chế độ kê khai, đăng ký, báo cáo, kiểm kê đột xuất và định
kỳ TSC theo quy định pháp luật
- Kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình quản lý, sử dụng TSC
- Bảo dưỡng, sửa chữa TSC theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm sử dụng
- Điều chuyển, bán, chuyển đổi sở hữu TSC
c Quản lý quá trình kết thúc sử dụng tài sản công
TSC đưa vào sử dụng sau một thời gian nhất định đều có quá trình kết thúc để thay thế bằng tài sản khác (trừ đất đai và một số công trình có tính chất tài sản lâu bền khác) Khi TSC hết thời gian sử dụng, đã hao mòn hết hoặc hư hỏng không còn sử dụng được thì phải được tiến hành thanh lý để thu hồi phần giá trị có thể thu hồi được cho NSNN và đồng thời đó cũng là căn cứ
để chuẩn bị đầu tư, mua sắm tài sản mới
1.1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính Nhà nước
a Nhóm nhân tố từ cơ chế, chính sách quản lý
- Sự phù hợp của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế
độ, quản lý TSC với thực tế Trong hệ thống cơ chế quản lý TSC thì các yếu
tố pháp luật (hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ, quản
lý TSC trong khu vực HCNN) phản ánh hiệu lực, hiệu quả quản lý thường rõ nét nhất
- Năng lực của cán bộ công chức làm công tác quản lý TSC: cơ chế quản lý TSC do đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý TSC hoạch định và thực thi Do đó hiệu lực, hiệu quả cơ chế quản lý TSC phụ thuộc vào năng lực của cán bộ, công chức làm công tác quản lý TSC trong việc thực hiện đúng vai trò, chức năng trong xây dựng, vận hành và chấp hành đúng cơ chế quản lý
Trang 33b Nhóm nhân tố từ đối tượng quản lý
Đối tượng của hệ thống quản lý đó là các cơ quan hành chính và các cán bộ công chức trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản Đây là một hệ thống cực
kỳ phức tạp với trình độ, năng lực, phẩm chất, nhu cầu và cách ứng xử khác nhau và do đó các phản ứng với các quyết định quản lý cũng rất khác nhau Trình độ dân trí, trình độ văn hoá, hiểu biết pháp luật của cán bộ, công chức trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản cũng quyết định tới hành ứng xử đối vớ các quyết định quản lý Nếu ý thức tuân thủ pháp luật và chính sách của cán bộ công chức trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản được nâng cao thì sẽ góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả cơ chế quản lý TSC
Trong quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu hoá, quốc tế hoá thì hiệu lực, hiệu quả của cơ chế quản lý tài sản công trong cơ quan hành chính nhà nước trên cơ sở cơ chế cũ sẽ giảm, thậm chí mất hiệu lực Nếu không muốn điều đó thì chúng ta buộc phải cải tổ lại hệ thống luật pháp, chính sách cho phù hợp với thông lệ quốc tế Như vậy điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu lực và hiệu quả của cơ chế quản lý cả về tư duy, nhận thức và thực tiễn vận hành cơ chế
Trang 341.2 Kinh nghiệm quản lý TSC ở ngoài nước, trong nước và bài học rút ra cho huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý TSC ở ngoài nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý tài sản công ở Trung Quốc
Nhà nước Trung Quốc thực hiện chế độ quản lý theo nguyên tắc Nhà nước nắm quyền sở hữu thống nhất, chính quyền giám sát, quản lý theo từng cấp và đơn vị được quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản này
Tổ chức bộ máy quản lý TSC: để quản lý TSC đạt hiệu quả cao năm
2003, Chính phủ Trung Quốc đã thành lập Bộ Quản lý tài sản quốc gia Các nhiệm vụ cơ bản của Bộ là: (i) đại diện chủ sở hữu TSC thuộc sở hữu của Chính phủ Trung Quốc; (ii) Ngăn chặn mọi trường hợp hư hao, tổn thất mất mát tài sản bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật; (iii) Xây dựng trình Quốc Vụ viện ban hành luật và các chính sách chế độ dưới luật; trực tiếp ban hành các chế độ, văn bản hướng dẫn các vấn đề liên quan đến TSC
Hệ thống chính sách quản lý: Chính phủ Trung Quốc đã ban hành hệ thống các quy định về quản TSC lý gồm: quy định về tiêu chuẩn, định mức
sử dụng tài sản đối với trụ sở làm việc, phương tiện đi lại, quy trình sử
dụng tài sản…
1.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý tài sản công ở Australia
Hơn 20 năm qua, nước Úc đã thực hiện một cuộc cải tổ rộng rãi, toàn diện về hệ thống chính sách và các thủ tục quản lý TSC tại CQNN và ĐVSN công lập Đây không phải là một quá trình riêng rẽ mà cải cách quản lý TSC ở
Úc đã được thực hiện một cách logic và nhất quán với các cuộc cải cách rộng rãi hơn nhằm tăng năng suất và hiệu quả của khu vực công và nền kinh tế Úc Mục tiêu của quá trình cải cách là tăng cường hiệu quả quản lý TSC tại CQNN và ĐVSN công lập của CP làm động lực cho cải tiến quy trình ngân sách công một cách toàn diện dựa trên đầu ra và kết quả chứ không dựa trên đầu vào
- Việc quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản dựa trên cơ sở kết quả, chất lượng cung cấp sản phẩm đầu ra, chiến lược đầu tư tài sản và dự
Trang 35toán NSNN được cấp thẩm quyền phê duyệt Việc mua sắm tài sản do đơn vị
sử dụng ngân sách tự quyết định, đối với những tài sản có giá trị từ 10 triệu AUD trở lên thì phải được thẩm định bởi cơ quan tài chính Đối với những tài sản có giá trị lớn nhà đất) việc mua sắm tổ chức tập trung thực hiện qua tổ chức dịch vụ mua sắm chuyên nghiệp
- Về thanh lý tài sản: Đối với những tài sản lớn (nhà đất) phải có sự thẩm định của BTC; còn những thiết bị khác (ô tô, bất động sản) đơn vị tự quyết định thanh lý Việc thanh lý tài sản được đấu giá công khai thông qua tổ chức dịch vụ thanh lý chuyên nghiệp Kết quả thanh lý được công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Số tiền thu được nộp NSNN, tuy nhiên tuỳ theo thoả thuận giữa đơn vị với BTC, đơn vị có thể được giữa lại toàn bộ hoặc một phần để tái đầu tư tài sản
1.2.1.3 Kinh nghiệm quản lý tài sản công ở Canada
Năm 1993, Uỷ ban tài chính quốc gia đã thông qua chính sách quản lý tài sản của Chính phủ theo đó mục tiêu quản lý tài sản phải nhằm tối đa hoá lợi thế kinh tế trong dài hạn của Nhà nước Các nguyên tắc quản lý tài sản công được xác định là: (1) công khai, minh bạch và công bằng: theo đó tất cả các giao dịch liên quan tới lợi ích thu được, quyền sở hữu, quản lý và bố trí tài sản thuộc liên bang quản lý phải được thực hiện một cách công khai, minh bạch và công bằng; (2) việc quản lý TSC phải được phân công, phân cấp và
uỷ quyền rõ ràng; (3) TSC được quản lý, sử dụng đúng mục đích không được cho thuê, nhượng bán, trao đổi Trước năm 1995, Chính phủ Canađa giao TSC cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng
Từ năm 1995, Chính phủ Canađa thực hiện đổi mới công tác quản lý TSC theo nguyên tắc: CP không giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sư nghiệp trực tiếp quản lý tài sản mà Chính phủ thành lập đơn vị chuyên quản lý tài sản công để cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuê sử dụng Các cơ quan, đơn vị chỉ được thuê tài sản (Tài sản làm việc, phương tiện đi lại) theo tiêu chuẩn, định mức hoặc theo yêu cầu, nhiệm vụ được giao và phải sử dụng tài sản theo đúng mục đích Quan hệ này được thực hiện theo hợp đồng thuê
Trang 36tài sản Khi các cơ quan có sự thay đổi về nhu cầu sử dụng diện tích làm việc, phương tiện đi lại hoặc không còn nhu cầu sử dụng sẽ ký lại hợp đồng thuê sử dụng cho phù hợp với nhu cầu, tiêu chuẩn, định mức hoặc chấm dứt hợp đồng thuê Các đơn vị chịu trách nhiệm quản lý tài sản công của Canada gồm có:
- Công ty quản lý đất đai, bất động sản Canađa: là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Chính phủ Canađa Công ty này hoạt động theo phương thức
tự chủ về tài chính và được điều hành bởi Ban giám đốc (Tổng giám đốc là do Hội đồng Bộ trưởng chỉ định) Chức năng chủ yếu của công ty là: Bán bất động sản là nhà, đất; Cho thuê nhà đất; Thúc đẩy giá trị mới tạo ra hoặc trước khi bán; Quản lý tài sản; Giám sát và động viên thuế tài sản; định giá tài sản trước khi bán
- Trung tâm quản lý thiết bị vận tải để quản lý xe ô tô của các cơ quan Chính phủ và thực hiện cho các cơ quan Chính phủ thuê theo hợp đồng kinh
tế Các đơn vị được giao tài sản có trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa tài sản
và bố trí sử dụng theo tiêu chuẩn, định mức để bảo đảm phục vụ nhu cầu công tác và sử dụng tài sản có hiệu quả, tiết kiệm Khi có nhu cầu bán, thanh lý tài sản, các đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản có văn bản đề nghị với bộ phận chuyên trách mua sắm tài sản để xem xét, quyết định; căn cứ vào quyết định các đơn vị tổ chức thực hiện việc bán, thanh lý tài sản
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý TSC của một số địa phương ở Việt Nam
1.2.2.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên
Theo Báo cáo tình hình quản lý, sử dụng TSC của tỉnh Hưng Yên, đến nay tỉnh Hưng Yên đã định danh được 961 mã đơn vị vào Chương trình quản
lý đăng ký tài sản nhà nước, phần mềm của cục quản lý tài sản công - BTC
Đối với PTĐL: Có sự quản lý linh hoạt trong việc đầu tư mua mới, việc điều chuyển nội bộ giữa các cơ quan, đơn vị trong tỉnh và cả điều chuyển từ cấp trên về tỉnh Cụ thể đầu năm 2011, tỉnh đã tổ chức mua mới 10 chiếc xe ô
tô phục vụ công tác Các xe trên đều được ký hợp đồng và tổ chức mua xe trước ngày 24/02/2011 (ngày Chính phủ ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP) Tháng 5 năm 2011 tỉnh Hưng Yên được tiếp nhận 1 chiếc xe ô tô điều chuyển
Trang 37từ Văn phòng Chính phủ Điều chuyển nội bộ giữa các đơn vị trong tỉnh là 07
xe ô tô từ nơi thừa so với tiêu chuẩn, định mức sang nơi thiếu so với tiêu chuẩn, định mức
Đối với trụ sở làm việc có sự sắp xếp, thay đổi hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị làm việc và giao dịch của người dân Năm 2011 tỉnh Hưng Yên thực hiện thanh lý 816 m2 gồm 2 trụ sở cũ không sử dụng được và
để giải phóng mặt bằng xây dựng các khu làm việc mới
Năm 2011, UBND tỉnh Hưng Yên cũng đã ban hành Quyết định số 06/2011/QĐ-UBND ngày 09/3/2011 quy định việc phân cấp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức; đồng thời có Công văn số 1874UBND-TH ngày 02/11/2011 chỉ đạo việc mua sắm tài sản thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP; Sở Tài chính đã có văn bản yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện việc kê khai báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị và tình hình tăng giảm tài sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
1.2.2.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình
Theo báo cáo, năm 2011 Sở Tài chính tỉnh Thái Bình đã phối hợp với các cấp, các ngành tổ chức lớp tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ cho đối tượng
là chủ tài khoản, các bộ kế toán tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn tỉnh về công tác quản lý tài chính kế toán, ngân sách và quản
lý tài sản nhà nước Thông qua lớp tập huấn nghiệp vụ, việc quản lý TSC của các đơn vị đã có nhiều chuyển biến tích cực; việc theo dõi, hạch toán mọi biến động về số lượng và giá trị tài sản nhà nước được thực hiện đúng quy định Các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp được giao quản lý, sử dụng TSC hầu hết đều chấp hành đúng quy định về lập hồ sơ quản lý tài sản, thực hiện các trình tự thủ tục về đầu tư, mua sắm, thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý TSC đúng thẩm quyền, theo trách nhiệm đã được phân cấp
Đặc biệt, việc mua sắm, quản lý và sử dụng TSC đã được chú trọng, từng bước được hoàn thiện và tăng cường công tác quản lý dựa trên những chính sách, chế độ đã quy định Năm 2011, thông qua việc đấu thầu mua sắm tập trung, ngành Giáo dục mua sắm 12,31 tỷ đồng trang thiết bị dạy học, tiết
Trang 38kiệm được 872,55 triệu đồng, ngành Y tế mua sắm 173,69 tỷ đồng tiền thuốc, vật tư, hoá chất phục vụ cho các bệnh viện, tiết kiệm được 21,15 tỷ đồng
Công tác kê khai, đăng ký TSC vào Cơ sở dữ liệu quốc gia được UBND tỉnh quan tâm, chỉ đạo, đến nay đã hoàn thành 100% tiến độ Tính đến ngày 31/12/2011, tỉnh Thái Bình có 6.227 tài sản với tổng giá trị hơn 5.965 tỷ đồng, bao gồm các tài sản là đất, nhà, xe ô tô và các tài sản khác có nguyên giá theo sổ kê toán từ 500 triệu đồng trở lên
Để nâng cao công tác quản lý, sử dụng TSC, Sở Tài chính cũng kiến nghị Bộ Tài chính ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng các tài sản là máy móc, thiết bị văn phòng, phương tiện làm việc, dụng cụ chuyên môn, đối với đơn vị sự nghiệp công lập để việc quản lý tài sản nhà nước tiết kiệm và hiệu quả hơn
1.2.2.3 Kinh nghiệm của tỉnh Cà Mau
Theo báo cáo kê khai tài sản nhà nước và tình hình quản lý, sử dụng TSC, năm 2011 tỉnh Cà Mau đã triển khai toàn diện công tác quản lý, sử dụng TSC
Tỉnh đã ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng TSC Ngày 12/11/2010 UBND tỉnh Cà Mau đã ban hành Quyết định số 28/2010/QĐ-UBND quy định về việc phân cấp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Cà Mau Theo đó ngày 25/11/2010, Sở Tài chính Cà Mau có Công văn số 1404/STC-GCS hướng dẫn quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Cà Mau
Tình hình quản lý, sử dụng TSC được triển khai quán triệt tiết kiệm, hiệu quả Năm 2011 STC đã thẩm định trình UBND tỉnh xem xét trang bị thiết bị văn phòng cho 19 đơn vị với giá trị trang cấp trên 2,2 tỷ đồng, có 21 lượt đơn vị thanh lý tài sản với tổng nguyên giá trên 10 tỷ đồng, giá trị còn lại gần 1,8 tỷ đồng Sở Tài chính đã trình UBND tỉnh bán đấu giá, điều chỉnh giá bán cho 05 trường hợp với giá khởi điểm gần 19,6 tỷ đồng
Công việc báo cáo, kê khai định kỳ TSC luôn được quan tâm và thực hiện kịp thời Tính đến 31/12/2011 STC đã cập nhật vào Phần mềm Quản lý
Trang 39đăng ký TSNN Tổng nguyên giá đầu kỳ là trên 5.072 tỷ đồng, tổng nguyên giá tăng trong kỳ là trên 94 tỷ đồng, số giảm trong kỳ là gần 600 triệu đồng và tổng nguyên giá cuối kỳ là trên 5.266 tỷ đồng
1.2.3 Bài học rút ra về quản lý TSC cho các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Với đặc điểm chung là phong phú về chủng loại, có tính năng, công dụng khác nhau, được giao trực tiếp cho các ngành, các cơ quan đơn vị trực tiếp sử dụng phục vụ cho các hoạt động của quản lý nhà nước Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm quản lý, sử dụng TSC của một số tỉnh bạn có thể rút ra một
số nhận xét liên quan đến việc vận dụng quản lý TSC cho các cơ quan thuộc UBND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đó là:
Một là, thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý đồng thời phải
có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù, đối với một số ban ngành, địa phương, nâng cao hiệu quả việc quản
lý TSC là vấn đề rất cần thiết Nhờ có hệ thống pháp luật đã tạo ra cơ sở pháp
lý để cơ quan quản lý TSC giám sát, kiểm tra các cơ quan, đơn vị sử dụng TSC, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị sử dụng TSC, thực hiện việc quản lý và sử dụng theo tiêu chuẩn định mức để công tác quản
lý thống nhất, đồng thời áp dụng tiêu chuẩn định mức sử dụng từng loại tài sản cho từng đối tượng sử dụng
Hai là, về nguyên tắc hiệu quả, công khai, minh bạch trong quản lý và
sử dụng TSC Theo nguyên tắc này mọi quyết định đầu tư xây dựng mua sắm,
sử dụng, khai thác và thanh lý TSC phải đảm bảo tính hiệu quả với ý thức tiết kiệm, công tâm, đồng thời phải thực hiện theo cơ chế đấu thầu, đấu giá, phải công khai trên phương tiện thông tin đại chúng Đây là cơ chế quản lý hiệu quả để xác định kết quả công việc và cơ chế này sẽ khiến những người được giao trách nhiệm quản lý tài sản phải đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc quản lý, sử dụng và xử lý tài sản
Ba là, về phân cấp trong quản lý TSC: Nhìn chung, tại các tỉnh đều
giao quyền quản lý TSC cho các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị Ở
Trang 40Thái Nguyên cũng vậy, phân cấp quản lý TSC để đảm bảo việc quản lý tài sản công phù hợp với đặc điểm của TSC đồng thời cũng được xuất phát từ phân cấp trách nhiệm, quyền hạn quản lý kinh tế: quyền quyết định đầu tư xây dựng mới, mua sắm, xử lý TSC được phân cấp cho các cấp chính quyền, các
cơ quan, đơn vị, bởi vì họ là người biết rõ nhất họ cần tài sản gì, có nên tiếp tục sử dụng tài sản đó hay không, có nên sửa chữa hay thanh lý tài sản, tránh hiện tượng mạnh ai người đó trang bị tùy theo ý muốn của mình, tùy thuộc vào khả năng kinh phí của đơn vị; tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản còn là thước đo đánh giá mức độ sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài sản công của từng đơn vị
Bốn là, quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước
Xuất phát từ “Tài sản công là tài sản được hình thành từ ngân sách nhà nước….” và mọi chi phí trong quá trình sử dụng tài sản đều do ngân sách nhà nước đảm bảo (trừ một số trường hợp cá biệt) do đó, việc quản lý tài sản công phải gắn với quản lý ngân sách nhà nước, hay nói một cách khác là quản lý tài sản công là quản lý ngân sách nhà nước đã được chuyển hóa thành hiện vật - tài sản, vì vậy, chính sách, chế độ quản lý, định mức, tiêu chuẩn sử dụng tài sản công phải phù hợp với qui định về quản lý ngân sách nhà nước, việc trang
bị tài sản công cho các cơ quan nhà nước phải phù hợp với khả năng của ngân sách và được lập dự toán, chấp hành dự toán theo qui định của pháp luật về ngân sách của huyện đã được Hội đồng nhân dân huyện thông qua