Kiểm soát lạm phátA.Định nghĩa lạm phát: Trong kinh tế học phạm vi quốc gia Lạm phátlà tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định Trong
Trang 1Thực trạng lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007-2009 Kiểm soát lạm phát
A.Định nghĩa lạm phát:
Trong kinh tế học( phạm vi quốc gia)
Lạm phátlà tình trạng mức giá chung của nền kinh tế tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định
Trong một nền kinh tế( trong phạm vi thị trường tòan cầu)
Lạm phát là sự mất giá trị thị truong hay sự giảm sức mua của đồng tiền
Nguyên nhân lạm phát
Cầu kéo
Chi phí đẩy
Và một số nguyên nhân khác: Sức ỳ nền kinh tế, Tiền tệ
Đối với nước VN, có thể nói hiện nay nguyên nhân lạm phát là do tác động tổ hợp của ba dạng thức lạm phát : lạm phát tiền tệ( chủ yếu ), lạm phát chi phí đẩy , lạm phát cầu kéo.
Lạm phát cầu kéo: do đầu tư công và đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân tăng, dẫn đến nhu
cầu nguyên nhiên vật liệu tăng, thiết bị công nghệ tăng, thu nhập người dân cũng như người thân
từ nước ngoài gửi về tăng làm cho thu nhập tăng dẫn đến nhu cầu của người dân tăng, ngoài ra
là do nhu cầu nhập khẩu lương thực thế giới tăng Nhu cầu tăng đột biến đẩy giá cả các mặt hang tăng nhanh.
Lạm phát chi phí đẩy: giá nguyên nhiên liệu: xăng dầu các sản phẩm hóa dầu, thép, phôi
thép…( giá đầu vào) trên thế giới tăng mạnh, trong điều kiện kinh tế nước ta phần lớn phụ thuộc vào nhập khẩu ( chiếm 90% GDP) đồng thời thiên tai, mất mùa cũng khiến dẫn đến giá cả thị trường trong nước tăng
Lạm phát tiền tệ: Trong năm 2007cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh do vốn nước ngoài chảy
vào tăng đột bíên buộc ngân hàng nhà nứoc tung khối lượng lớn tiền để mua ngoại tệ tăng lượng tiền trong lưu thông với mức 30%, hạn mức tín dụng cũng tăng cao , thêm vào đó là hệ quả của sự tăng tín dụng trong những năm trước đó.
Nhưng trong khi đó so với các nuớc trong khu vực, như Thái Lan , Trung Quốc, cũng chịu sức ép tương tự mà lạm phát chỉ ở mức 1 con số, còn ta dến hai chữ số => khác biệt đó là domức chênh lệch mức tăng cung tiền và GDP quá lớn(2005-2007 cung tiền tăng 135%, GDP tăng 27% ) Mức chênh lệch đó là do cơ cấu kinh tế chậm cải thiện, công nghiêp khai thác tài nguyên gia công chiếm tỉ trọng lớ, giá trị gia tăng sản xuất công nghiệp thấp, đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước còn dàn trải, không đảm bảo tiến độ, không hiệu quả, nhiều thất thoát…kéo dài , chậm khắc phục.Công tác dự báo dự kiến biện pháp, kế họach ứng phó những tác động tiêu cực của kinh tế thế giới chưa được quan tâm đúng mức, tham mưu Đảng và Nhà Nước do chưa có kinh nghệim nên còn lúng túng, thiếu linh hoạt trong ứng phó Nói chung ngoài những yếu tố khách quan còn do yếu tố chủ quan là từ cơ quan Nhà nước điều hành ổn định kinh tế vĩ mô thiếu hiệu quả.
Trang 2Tuy nhiên nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam là vấn đề còn đang được tranh luận.
B.Thực trạng lạm phát giai đoạn 2007-2009 và kiểm soát
sự là một thành tựu lớn
Thực trạng lạm phát năm 2007
Sau 11 năm lạm phát giữ ở mức một con số, năm 2007 chỉ số này đã tănglên mức hai con số Điểm khác biệt của lạm phát trong năm này là sự tănggiá diễn ra đồng loạt ở cả nhóm hàng lương thực và phi lương thực Đứngđầu về tốc độ tăng giá trong nhóm các hàng hóa tính CPI là thực phẩm(tăng 21,16%, riêng tháng 12 tăng 4,69%) Nhóm hàng nhà ở và vật liệuxây dựng tăng cao thứ hai (tăng 17,12%, riêng tháng 12 tăng 3,28%) Đứngthứ ba là nhóm hàng lương thực (tăng 15,4%, riêng tháng 12 tăng 2,98%).Phương tiện đi lại và bưu điện đứng thứ tư (tăng hơn 7%, riêng tháng 12tăng 0,7%) Tiếp đến là nhóm hàng may mặc và giày dép (tăng 7%,riêng tháng 12 tăng 1,16%); dược phẩm và y tế (tăng 7%)(2), v.v
Hiện tượng giá tăng diễn ra ở hầu hết các nhóm hàng hoá và dịch vụ như vậycho thấy, nguyên nhân của lạm phát không chỉ hoàn toàn do tác động của
Trang 3giá cả thế giới hay từ cung hàng hoá, dịch vụ; mà rõ ràng là có nguyênnhân từ tiền tệ
Khác với tình trạng lạm phát của những năm trước, chỉ số giá tiêu dùngcác tháng trong năm 2007 tăng liên tục ngoài dự đoán, vượt qua chỉ tiêuQuốc hội đề ra hết lần này đến lần khác (nói khác đi là không kiểm soátđược!) Ví dụ, tại thời điểm cuối năm 2006, lạm phát năm 2007 được dựbáo ở mức 6 - 7%, và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế là 9 -10% Nhưng, mới đếntháng 7/2007 chỉ số lạm phát đã đạt mức 6,19%, trong đó riêng tháng 7
là 0,94% Trước tình hình đó, thay vì chỉ tiêu lúc đầu là 6% - 7%, Chínhphủ đã phải điều chỉnh chỉ tiêu lạm phát cả năm ở mức dưới 8%, với niềmtin là chỉ số giá tiêu dùng của các tháng còn lại giữ ở mức tăng khoảng0,4%/tháng Nhưng rồi, ngay trong tháng 8 giá đã tăng thêm 0,55% (caohơn dự đoán), rồi tháng 9 vẫn tiếp tục tăng 0,51%, tháng 10 tăng 0,74%,tháng 11 tăng 1,23%, và tháng 12 tăng kỷ lục: 2,91% (cao nhất so với cáctháng trong năm, kể cả tháng2/2007 là tháng có Tết Nguyên Đán; và cũng caonhất so với các tháng 12 của 11 năm trước đó) Kết thúc năm 2007, tốc độtăng giá tiêu dùng chung đã lên đến 12,63% so với năm trước, gần gấprưỡi tốc độ tăng trưởng kinh tế (8,44%) Điều đó đã khiến cho nhiều ngườiphải lo lắng, nhất là những người nghèo Họ lo lắng không phải vì mức lạmphát cao (bởi nền kinh tế Việt Nam cũng đã từng đối mặt với lạm phát caotrong nhiều năm, như 1990:67,4%; 1991:67,6%; 1992: 17,6%; 1994: 14,4%;
và 1995: 12,7%, thậm chí còn rất cao, như các năm trước 1990), mà lo vìtốc độ tăng giá diễn ra quá nhanh, trong khi các nhà hoạch định chínhsách lại lúng túng trong cách xử lý Chính Bộ trưởng Bộ Tài chính VũVăn Ninh đã thừa nhận điều đó khi trả lời phỏng vấn Ông nói: “Đúng làtrong dự báo có vấn đề Kể cả dự báo thị trường thế giới và tác động củachính sách vào chỉ số giá tiêu dùng Chúng ta vẫn nghĩ rằng có thể khống chếđược, nhưng trên thực tế giá cả đã tăng rất cao
Với mức 12,63%, chỉ số lạm phát năm 2007 đã cao hơn nhiều so với lãisuất huy động tiết kiệm (lãi suất của các ngân hàng thương mại nhànước khoảng trên 8%, và của các ngân hàng thương mại cổ phần khoảng9,5%) Điều đó đã khiến cho người có tiền gửi tiết kiệm bị thiệt thòi lớn dolãi suất thực âm, và kết quả là dòng tiền ồ ạt được rút khỏi ngân hàng để đầu
tư vào “kênh” khác có hiệu quả hơn (người giàu thì mua nhà ở và bất độngsản, đầu tư chứng khoán; còn người nghèo thì có được đồng nào đều đổihết thành vàng) Kết quả là lượng tiền trong lưu thông càng lớn thêm, làmcho giá cả càng tăng cao hơn, đồng thời lại tiềm ẩn nguy cơ khủnghoảng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Lạm phát cao trên thực tế đã làmcho đồng tiền Việt Nam có xu hướng tăng giá so với đồng đô la Mỹ, dùcho trên danh nghĩa đồng Việt Nam vẫn mất giá tương đối so với đô la Mỹ
Trang 4một cách đều đều qua các năm (tỷ giá giữa USD/VND năm 2001 là 14.725VND; năm 2002: 15.280 VND; năm 2003: 15.510 VND; năm 2004: 15.740VND; năm 2005: 15.859 VND; năm 2006: 15.994 VND; và năm 2007: 16.241VND) Nhưng do giá cả tại Việt Nam tăng cao hơn giá cả tại Mỹ (12,63% sovới 4,1% năm 2007), nên dù tỷ giá danh nghĩa có phần hạ thấp giá trị đồngViệt Nam thì trên thực tế đồng đô la vẫn đang bị hạ thấp giá trị so với VND(USD đã bị mất giá 8,1% so với năm 2006, do lạm phát 4,1%, tại Mỹ 1 đô
la năm 2007 có sức mua tương đương với 0,959 đô la năm 2006, và bằng16.241 đồng Việt Nam năm 2007 Cũng do lạm phát 12,63%, tại Việt Nam16.241 đồng năm 2007 chỉ có sức mua tương đương với 14.189 đồng củanăm 2006; còn 1 đô la tại Việt Nam năm 2006 chỉ còn bằng 14.795 đồng vàotháng 12/2007 Như vậy, nếu so với sức mua là 15.994 đồng của năm 2006,thì đồng đô la tại Việt Nam vào cuối năm 2007 đã bị mất 8,1% giá trị Điều
đó vô hình chung đã góp phần hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhậpkhẩu Thực tế là năm 2007 Việt Nam nhập siêu kỷ lục, với 12,45 tỷ USD,bằng 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu
II Nguyên nhân gây ra lạm phát
Thứ nhất do giá lương thực – thực phẩm và giá dầu thế giới đã tăng caotrong năm 2007 Do hai nhóm hàng hóa này đều là những sản phẩmngoại thương chủ đạo của Việt Nam và đồng thời chiếm tỷ trọng lớntrong cơ cấu CPI, đây chắc chắn là một trong những nguyên nhân gây ralạm phát cao ở Việt Nam trong suốt năm nay Nhưng nếu giá lương thực– thực phẩm và giá dầu lửa thế giới là nguyên nhân chính, thì các nướctrong khu vực như Thái Lan và Trung Quốc cũng phải chịu sức ép tănggiá tương tự Tuy nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2007lên tới 2 chữ số, thì Trung Quốc chỉ chịu lạm phát ở mức 6,5% và TháiLan 2,9%
Ta chỉ có thể giải thích lạm phát năm 2007 có nguyên nhân chính từ nguồncung tiền tệ quá lớn
Nhận định trên xuất phát từ một hội thảo có tên “Phân tích diễn biến giá cả, lạmphát năm 2007, dự báo giá cả, lạm phát năm 2008″ do Viện Nghiên cứu khoahọc thị trường giá cả tổ chức (25/12/2007) Theo các chuyên gia về thị trườnggiá cả Việt Nam, năm 2007, tốc độ phát triển kinh tế chưa đạt đến mức 8,5%như kỳ vọng, trong khi đó, chỉ số giá đã vượt quá xa mục tiêu kiềm chế Mặc dùtốc độ tăng giá chưa đến mức là một “thảm họa” đối với một nền kinh tế đang
Trang 5phát triển nhanh như Việt Nam; song lại là một tín hiệu không tốt cho đời sốngngười dân và nền kinh tế Diễn biến giá cả và lạm phát năm 2007 cần được mổ
xẻ để tìm biện pháp điều hành giá cả trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhậpsâu hơn vào nền kinh tế thế giới
Riêng kiều hối lên đến 5 tỷ USD thậm chí có thể lên đến 7,5 tỷ USD Trong khiNhà nước lại chủ động tăng dự trữ ngoại hối lên từ 13 – 20 tuần nhập khẩu.Hàng trăm ngàn tỷ đồng tung ra trong thời gian ngắn để hút USD đã gây tácđộng lớn đến tăng giá hàng hoá, dịch vụ “Trước đây, chỉ vài chục ngàn tỷ đồngtung ra đã đủ làm khuynh đảo thị trường, năm nay tung ra đến hàng trăm ngàn tỷđồng là rất lớn đối với thị trường trong nước và tác động đến tăng lạm phát”, TSNguyễn Khánh Long – viện trưởng viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả -nói
Giáo sư Kenichi Ohno, chuyên gia Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) ướctính, có ít nhất 15 tỷ USD đã đổ vào Việt Nam trong năm 2007 từ các nguồn:dịch vụ (du lịch) 4,6 tỷ USD; vốn FDI giải ngân 2,2 tỷ USD; vốn vay ODA 1,8
tỷ USD, cổ phiếu và trái phiếu 2,5 tỷ USD… và đây là nguyên nhân chính gâynên tình trạng lạm phát ở Việt Nam và là mức lạm phát cao nhất trong các nướcmới nổi ở Đông Á
Giáo sư Kenichi Ohno cũng cho rằng, có nhiều nước tiếp nhận rất lớn ngoại tệnhưng vẫn cơ bản giữ được tỷ lệ lạm phát ở mức tương đối thấp Vấn đề củaViệt Nam là do chính sách quản lý tài chính, tiền tệ chưa hợp lý Dường nhưViệt Nam đã có tất cả các dấu hiệu của một nước tiếp nhận nhiều tiền mà khônghấp thụ tốt: sự bùng nổ về xây dựng, tài sản, dự trữ ngoại tệ tăng, định giá cao tỷgiá hối đoái, lạm phát gia tăng…, và điều này làm trầm trọng thêm tình trạnglạm phát
Ngoài ra còn 1 số nguyên nhân gây lạm phát như ảnh hưởng của thiên tai vàdịch bệnh
Trang 6III Tác động của lạm phát
Giá cả tăng mạnh sẽ làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khảnăng cạnh tranh của các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Lạm phát cao làmgiảm giá trị đồng tiền trong nước Khi các mức giá cả trong tương lai khó dựđoán hơn thì các kế hoạch chi tiêu và tiết kiệm hợp lý sẽ trở nên khó thực hiệnhơn Người dân ngày càng lo ngại về việc sức mua trong tương lai của họ bịgiảm xuống và mức sống của họ cũng vì vậy mà kém đi Lạm phát cao khuyếnkhích các hoạt động đầu tư mang tính đầu cơ trục lợi hơn là đầu tư vào các hoạtđộng sản xuất (ví dụ: khi có lạm phát, nếu ngân hàng không tăng lãi suất tiềngửãi thì dân chúng sẽ không gửi tiền ở ngân hàng mà tìm cách đầu cơ vào đấtđai khiến giá cả đất đai tăng cao ) Lạm phát cao đặc biệt ảnh hưởng xấu đếnnhững người có thu nhập không tăng kịp mức tăng của giá cả, đặc biệt là nhữngngười sống bằng thu nhập cố định như là những người hưởng lương hưu haycông chức Phúc lợi và mức sống của họ sẽ bị giảm đi
IV Biện pháp nhằm kiềm chế lạm phát
Một là, cần thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ năng động và hiệu quả
Ngoài những giải pháp Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng trong thời gian qua cóthể áp dụng những giải pháp dưới đây nhằm điều chỉnh lượng cung tiền phùhợp, điều chỉnh chính sách tài khoá, tích cực quản lý và tăng hiệu quả của chi
Việc cần làm trước mắt hiện nay là giảm nhanh lượng tiền mặt trong lưu thông.Một số giải pháp như điều chỉnh lãi suất vay nóng giữa các Ngân hàng, nới lỏng
tỷ giá hối đoái là rất cần thiết, tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ Cần phải quản
lý lượng cung tiền trong lưu thông chặt hơn nữa, chủ động tăng vòng quay củađồng tiền Trước mắt nên hạn mức tín dụng đối với các ngân hàng thương mạinhằm hạn chế và kiểm soát lượng tiền tiếp tục được tung vào lưu thông Ngânhàng Nhà nước cần có cơ chế kiểm tra giám sát các ngân hàng thương mại, nhất
là những ngân hàng thương mại lớn trong việc xây dựng và thực hiện các biệnpháp tăng vòng quay đồng tiền, quản lý lượng cung tiền cho lưu thông Nếukhông quản lý và tăng vòng quay tiền tệ sẽ hoàn toàn bị động trong quản lý
Trang 7lượng tiền mặt trong lưu thông, lượng tiền sẽ tăng lên nhiều gây ra những hậuquả xấu và dẫn tới lạm phát thường trực Mặt khác phải xác định được lượngtiền thực có trong lưu thông (T), xây dựng chỉ tiêu vòng quay tiền, lấy đó làmmục tiêu phấn đấu của toàn ngành Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước chủđộng giảm lượng tiền trong lưu thông nhằm thúc đẩy các ngân hàng thực hiệncác giải pháp tăng vòng quay đồng tiền của mình Như vậy lượng tiền sẽ đượccung ứng trong giới hạn an toàn đối với nền kinh tế.
Tiếp đó, cần quản lý chặt chẽ chi tiêu ngân sách Cần xem xét lại các chươngtrình, dự án đầu tư, hoạt động chi tiêu của Chính phủ, của các ban ngành Tậptrung ngân sách vào những công trình cấp thiết, những chương trình không cấpthiết nên chuyển vào những năm sau Tăng hiệu quả chi tiêu ngân sách bằngviệc hoàn thành các chương trình, các dự án đúng thời hạn để sớm phát huy tácdụng Giảm chi phí trong các cơ quan khối công quyền, tích cực chống tiêu cực
và lãng phí
Các cơ quan chức năng cũng cần nghiên cứu điều chỉnh lãi suất ngân hàng năngđộng hơn Có thể đảm bảo mức lãi suất bình quân cả năm 12%, song mức hiệntại có thể điều chỉnh cao hơn nhằm rút bớt lượng tiền mặt ra khỏi lưu thông.Tăng lãi suất tiết kiệm trong giai đoạn hiện tại tuy có ảnh hưởng tới thị trườngchứng khoán, tới tăng trưởng song trong hiện thời là hợp lý và tác động tích cựctới kiềm chế lạm phát
Ngoài ra, cũng cần phải quản lý chặt chẽ hoạt động chi tiêu thu đổi ngoại tệ trênthị trường Tích cực thu hút ngoại tệ trong dân bằng việc khuyến khích gửi tiếtkiệm ngoại tệ với lãi suất hấp dẫn; thực hiện tỷ giá hối đoái linh hoạt giữa tiềnViệt với một số ngoại tệ, nhất là ngoại tệ mạnh chi phối hoạt động xuất nhậpkhẩu của Việt Nam như USD, EURO, Yên, Nhân dân tệ đảm bảo tác độngkhách quan vào xuất nhập khẩu, không gây thiệt hại chung cho nền kinh tế.Khuyến khích chi tiêu không dùng tiền mặt, đặc biệt là khách nước ngoài, cầntạo cơ chế để nhóm khách này có thể giam gia, nhất là đối với thị trường chứngkhoán
Bên cạnh đó, Chính phủ nên thực hiện bán trái phiếu chính phủ, tín phiếu khobạc cho dân, thu hồi tiền mặt Hoạt động này có tác dụng rất tích cực làm giảmnhanh lượng tiền mặt trong lưu thông và tác động trực tiếp tới giảm lạm phát.Trong trường hợp cấp bách hiện nay, không nên đấu thầu trái phiếu và tín phiếuqua trung gian Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước nên triển khai bántrực tiếp cho dân Bán trực tiếp sẽ tránh được các khâu trung gian nên mức lãisuất đối với người mua sẽ cao hơn, thu hút được nhiều người tham gia Có thể
Trang 8tổ chức thành những chiến dịch phân phối tín phiếu, trái phiếu trong thời gian
cụ thể với cơ chế thuận lợi kết hợp với sự tuyên truyền cổ động mạnh mẽ đểđộng viên mọi tầng lớp nhân dân, mọi tổ chức xã hội tham gia
Hai là, điều chỉnh tăng trưởng kinh tế
Trước thực trạng nền kinh tế phát triển quá nóng, cần phải giảm tốc độ tăngtrưởng, duy trì tốc độc tăng trưởng xoay quanh 8% là hợp lý Cần kiểm soátchặt chẽ hoạt động đầu tư cả trung ương và địa phương, đầu tư của các thànhphần kinh tế, chủ động điều chỉnh kế hoạch triển khai các dự án đầu tư, có thểchuyển những dự án chưa cấp thiết xuống tiếp những năm sau nhằm giảm tốc
độ tăng trưởng của nền kinh tế
Kiểm tra tiến độ thực hiện các dự án, các công trình đầu tư Khẩn trương hoànthành các dự án, các công trình, đặc biệt là những công trình trọng điểm, hoànthành dứt điểm các công trình dây dưa kéo dài để chúng sớm phát huy tác dụng
Đẩy mạnh sản xuất hàng hoá vật chất, tăng năng suất lao động hơn nữa, nhất là sảnxuất vật tư, nguyên vật liệu, hàng hoá tiêu dùng nhằm tăng năng lực của nền kinh
tế, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng để thúc đẩy tiêu dùng nội địa
Kiểm tra, xem xét các doanh nghiệp lớn đã cổ phần hoá, đánh giá hiệu quả vốn đầu
tư huy động từ thị trường chứng khoán Hạn chế các doanh nghiệp loại này chuyểnhướng kinh doanh từ sản xuất hàng hoá hiện hữu sang dịch vụ, đặc biệt là kinhdoanh tiền tệ
Ba là, hạn chế tăng chi phí
Giảm mức tăng chi phí phải thực hiện tiết kiệm trong sản xuất Để làm được điềunày, bản thân các doanh nghiệp cần tăng cường quản lý sản xuất theo định mức,kiểm tra chặt chẽ các yếu tố đầu vào theo đúng quy cách, phẩm chất, chủ độngnghiên cứu tìm vật tư thay thế với chi phí thấp, nhất là đối với vật tư nguyên liệunhập khẩu Một giải pháp giảm mức tăng chi phí khác có thể áp dụng là hoàn thiệncông nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến tố chức quản lý nhằm tăng năng suất laođộng
Lạm phát là hiện tượng của kinh tế thị trường mang tính khách quan, dù muốn hay
Trang 9không chúng ta cũng vẫn phải đón nhận Chính vì vậy, cần phải bình tĩnh nhìnnhận tìm hiểu bản chất sự việc để có những phản ứng điều chỉnh Tuy nhiên, đểthực hiện kiềm chế lạm phát trong giai đoạn này, Việt Nam sẽ phải chấp nhận từ
bỏ một số mục tiêu khác Do đó, Nhà nước cần có sự tham khảo ý kiến của các nhàkhoa học, các chuyên gia kinh tế cũng như học hỏi kinh nghiệm từ các nước kháctrên thế giới để có những quyết sách đúng đắn, kịp thời
II.Năm 2008( Trịnh Quốc Cường , Lê Tri Thức)
I diễn biến lạm phát năm 2008
Lạm phát thực sự bùng nổ và thực sự gây nên những bất ổn vĩ mô vào năm 2008.Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 7 năm 2008 khi lên tới trên 30% (YoY) Kết thúcnăm 2008, lạm phát lùi về còn 19.89%, đây là mức cao nhất trong vòng 17 nămqua Trong đó CPI của lương thực tăng cao nhất và đạt 49.16%
Chỉ số gia tiêu dùng
Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp, khácthường so với xu hướng giá tiêu dùng các năm trước Giá tăng cao ngay từ quý I vàliên tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng các tháng quý IV liên tục giảm (so vớitháng trước, tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12 giảm 0,68%)nên giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% vàchỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97%
Mặc dù giá tiêu dùng năm 2008 tăng khá cao, nhưng xu hướng diễn biến theochiều hướng tích cực vào các tháng cuối năm là do:
(i) Kết quả thực hiện đồng bộ 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổnđịnh kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó ưutiên mục tiêu kiềm chế lạm phát với giải pháp thắt chặt tiền tệ là nguyên nhân cơbản giữ cho lạm phát thấp hơn 20% Điều này cũng khẳng định những giải pháp
mà Chính phủ đề ra là hoàn toàn đúng hướng, kịp thời và đạt kết quả tích cực, giátiêu dùng đã giảm dần từ tháng 10 năm 2008;
(ii) Giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu hàng hoá khác trên thị trường thếgiới nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn cũng đã giảm mạnh vào những thángcuối năm, tạo thuận lợi cho giảm giá đầu vào của sản xuất trong nước;
Trang 10(iii) Tình hình sản xuất trong nước những tháng cuối năm cũng đã bớt khó khănhơn, do tiếp cận các nguồn vốn và mức độ giải ngân khá hơn.
Giá vàng tháng 12/2008 so với tháng trước tăng 0,78%; so với tháng 12 năm
2007 tăng 6,83% Giá vàng bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 31,93%.Giá đô la Mỹ tháng 12/2008 so với tháng trước tăng 1,14%; so với cùng kỳ nămtrước tăng 6,31% Giá đô la Mỹ bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng 2,35%
Giá trị xuất nhập khẩu
Theo công bố của Tổng cục Thống kê ngày 25/12, bất chấp tình hình kinh tế thếgiới khó khăn nhưng giá trị xuất khẩu năm 2008 của Việt Nam tăng gần 30%.Nhập siêu giảm dần và cả năm giữ ở mức 17 tỷ USD
Xuất khẩu
Số liệu do Tổng cục Thống kê vừa công bố cho thấy, hàng xuất khẩu của Việt Namnăm nay thu về 62,9 tỷ USD, tăng 29,5% so với năm trước Tốc độ tăng trưởng nàyvượt khá xa chỉ tiêu do Quốc hội thông qua hồi đầu năm là 20-22%
Trong năm 2009, xuất khẩu của Việt Nam dự kiến chỉ tăng 13%, do giá cả và cầutại các thị trường lớn đều giảm mạnh Hiện giá dầu thô trên thị trường thế giới chỉcòn bằng 1/4 giá đỉnh điểm hồi tháng 7 vừa qua
Những mặt hàng xuất khẩu mang về nhiều ngoại tệ trong năm nay vẫn là dầu thô,với 10,45 tỷ USD, tiếp sau là dệt may 9,1 tỷ USD, giày dép 4,69 tỷ USD, thủy sản,gạo và cà phê Trong 3 tháng cuối năm, xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng, nhưng
Trang 11Mức nhập siêu này chủ yếu do nhập khẩu tăng rất mạnh trong những tháng đầunăm Trong năm 2007, thâm hụt thương mại của Việt Nam là 14,12 tỷ USD
Đại đa số mặt hàng nhập khẩu là các loại máy móc và nguyên vật liệu cho sảnxuất Trong đó, máy móc - thiết bị chiếm 13,6 tỷ USD và dầu thô 10,81 tỷ USD.Sắt thép, vải, nguyên liệu cho ngành da giày cũng chiếm tỷ trọng lớn
Thị trường chứng khoán
Như một quy luật, năm 2008 là năm điều chỉnh giảm cho giai đoạn bùng nổ
2006-2007, nhưng với tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt nguồn từ Mỹ
đã khiến VN-Index tụt giảm sâu hơn dự đoán của nhiều chuyên gia, quay trở lại vạch xuất phát của đầu năm 2006 là 300 điểm.
a Thị trường vốn (cổ phiếu & chứng chỉ quỹ)
Thị trường đi xuống là xu hướng chủ đạo trong năm 2008, xu hướng này bắt đầu từ đỉnh VNIndex 1,104 điểm vào ngày 10/10/2007.
-Giai đoạn đầu năm cuối tháng 4: Thị trường tiếp tục trong xu hướng điều chỉnh giảm bắt đầu từ tháng 10/2007
Khởi đầu năm 2008 VN-Index đã đón nhiều thông tin bất lợi từ
chính sách tiền tệ của nhà nước nhằm khống chế lạm phát đang ở
mức cao hai con số
Ngày 25/03 VN-Index đóng cửa tại 496.64 điểm, chính thức phá
đáy 500
-Giai đoạn tháng 5 -> giữa tháng 6: Áp lực từ nguồn cung giải
chấp các hợp đồng Repo
Ngoài các tin xấu đến dồn dập, thị trường cổ phiếu còn đón nhận
một lượng hàng bán ra bất chấp mọi giá trong thời điểm này, đó là
lượng hàng giải chấp từ các hợp đồng Repo của các công ty chứng
khoán và ngân hàng thương mại
- Giai đoạn từ cuối tháng 6 cuối tháng 8: niềm tin nhà đầu tư được khôi phục từ dấu hiệu nền kinh tế vĩ mô
Những biện pháp mạnh tay của Chính phủ từ đầu năm đã bắt đầu có tác dụng từgiữa tháng 6, thâm hụt mậu dịch giảm đáng kể tăng trưởng tín dụng đã chậm lại
Trang 12và có chọn lọc Thị trường đã rớt về đáy 367 điểm và tiêu hóa hết các thông tinxấu, nên giới đấu cơ quay lại thị trường thu gom cổ phiếu với tâm lý cổ phiếu giárẻ.
-Giai đoạn đầu tháng 9 -> cuối tháng 12: VN-Index bị tác động
mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
b Tình hình IPO năm 2008
Tâm lý nhà đầu tư đã không còn ưa chuộng hàng hóa IPO nữa Cả năm 2008
có 50 công ty tiến hành IPO, đấu giá trên 2 sàn HOSE và HASTC 3 công ty
có số lượng cổ phiếu lớn nhất mang ra đấu giá là Sabeco, Habeco và Vietinbank Tổng cộng có tất cả 385,418,192 CP phát hành ra công chúng nhưng chỉ có 230,985,944 CP được nhà đầu tư mua tương ứng với tỷ lệ 60% Tổng số tiền IPO thu được năm 2008 đạt 9,870 tỷ đồng
c Thị trường OTC
Năm 2008 cũng là năm ngủ đông của thị trường OTC Hầu hết mọi cổ phiếu đều đóng băng không giao dịch, nhà đầu tư nào lỡ đầu tư vào thị trường OTC vào cuối năm 2007 đều bị kẹt vốn Tuy nhiên vẫn còn những cổ phiếu được nhà đầu
tư giao dịch như cổ phiếu khối ngân hàng : Eximbank, Đông Á, Quân Đội –MB, Vietcombak và vài cổ phiếu của ngành bất động sản có kế hoạch niêm yết rõ ràng như Hoàng Anh Gia Lai, BCCI.
d Thị trường trái phiếu năm 2008
Giao dịch trên thị trường trái phiếu Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực Đông Á Cụ thể năm 2007 tăng 98.11% so với mức trung bình 21.1% của khu vực Tuy nhiên, theo đánh giá của các tổ chức tài chính chuyên nghiệp, thị trường trái phiếu Việt Nam vẫn được coi là thị trường chưa phát triển
Lãi suất
Trước vận động bất lợi của TTCK và lạm phát tăng cao ngay từ đầu năm 2008,
Ngân hàng nhà nước (NHNN) thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sử dụng đồngthời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở Từ giữa tháng 1-2008, dự trữbắt buộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới
12 tháng Tới giữa năm 2008, NHNN tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản lên14%/năm