Mục đích chủ yếucủa hai hành lang kinh tế Việt – Trung này là thúc đẩy hợp tác giữa các tỉnh biêngiới miền Bắc Việt Nam với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực:kinh tế, thươn
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TMQT Thương mại quốc tế
ADB Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank )
GMS Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (Greater Mekong Subregion) EHP Chương trình thu hoạch sớm trong khuôn khổ ACFTA
ACFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of South Asian
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng
về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội Quan hệ về chính trị ngoại giao, kinh tế thương mại và giao lưu văn hoá giữa hai nước đã có từ lâu đời và đã trở thành mốiquan hệ truyền thống bền vững Tuy nhiên, qua các thời kỳ lịch sử cũng có nhữngbiến động về chính trị - xã hội làm ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế thương mại giữahai nước nhưng chưa bao giờ làm mất đi quan hệ kinh tế đó, trái lại hoạt động kinh
-tế, thương mại giữa hai nước ngày càng có điều kiện thuận lợi để phát triển, phùhợp với xu thế hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới Từ khibình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ kinh tế chính trị của hai nướcphát triển nhanh chóng và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Hiện nay, TrungQuốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam
Hoạt động biên mậu của hai nước do có nhiều thuận lợi về địa lý cũng đãhình thành và phát triển từ rất lâu trong lịch sử quan hệ kinh tế - thương mại của hainước Sự phát triển quan hệ thương mại Việt – Trung nói chung và quan hệ biênmậu nói riêng phù hợp với lợi ích của hai nước, phù hợp với xu hướng của thời đại
và xu hướng tăng cường hợp tác trong khu vực Có thể nói đẩy mạnh quan hệthương mại qua biên giới Việt - Trung đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hainước, góp phần làm tăng thu ngân sách, nâng cao đời sống nhân dân, làm thay đổi
bộ mặt KTXH và văn hoá của nhân dân hai bên vùng biên giới Mặc dù trong thờigian qua hoạt động kinh tế thương mại biên giới Việt - Trung đã mang lại nhữngthành công to lớn, đã phát huy được tiềm năng, thế mạnh của kinh tế cửa khẩu biêngiới, góp phần vào công cuộc CNH – HĐH của mỗi nước, song bên cạnh nhữngthành tựu đã đạt được vẫn còn không ít những hạn chế, tồn tại cần khắc phục Việcxây dựng hành lang kinh tế Bắc – Nam trong phạm vi hai nước Việt Nam – TrungQuốc đã có tác động to lớn đến quan hệ thương mại của hai nước theo cả chiềuhướng tích cực và tiêu cực Để đẩy mạnh hoạt động thương mại trên khu vực biêngiới này, trong những năm qua, cả hai nước đã có nhiều cải cách trong chính sáchthương mại, cũng như đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương trong khuônkhổ hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng và ASEAN – Trung Quốc
Ý tưởng hành lang kinh tế Bắc Nam được Ngân hàng phát triển châu Á(ADB) đưa ra trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS)cùng với hai hành lang kinh tế khác nhằm mục đích tạo ra mối liên kết phát triển,đẩy mạnh hợp tác kinh tế thương mại giữa các nước trong khu vực GMS Đến tháng
Trang 35/2004, ý tưởng hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” là sáng kiến của Thủtướng Việt Nam nêu lên trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc vànhận được sự đồng tình của Thủ tướng Trung Quốc, trong đó hai hành lang kinh tếnày trùng với hai nhánh của hành lang kinh tế Bắc - Nam (GMS) Mục đích chủ yếucủa hai hành lang kinh tế Việt – Trung này là thúc đẩy hợp tác giữa các tỉnh biêngiới miền Bắc Việt Nam với các tỉnh Tây Nam Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực:kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa, du lịch…
Nhận thức được vai trò to lớn và tính cần thiết của việc đẩy mạnh hợp tácbiên mậu giữa hai nước thông qua sự phát triển của các hành lang kinh tế trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của hai nước nên em đã chọn đề tài nghiên cứu “Tác động của hành lang kinh tế Bắc – Nam trong Hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng tới thương mại Việt Nam – Trung Quốc” nhằm đánh giá những
tác động của hai hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng vàNam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng, nằm trong khuôn khổ hợp tác GMS
và hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” Việt – Trung, tới quan hệ thươngmại Việt Nam – Trung Quốc trên cả hai mặt thành tựu và hạn chế, để đưa ra một sốkhuyến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại trên khu vực haihành lang kinh tế này
Nội dung của đề tài nghiên cứu bao gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận để đánh giá tác động của hành lang kinh tế đến thương mại quốc tế.
Chương II: Đánh giá tác động của hành lang kinh tế Bắc – Nam trong GMS đến thương mại Việt Nam – Trung Quốc.
Chương III: Các khuyến nghị về chính sách nhằm thúc đẩy thương mại quốc tế trong hành lang kinh tế Bắc Nam.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của PGS.TS NguyễnNgọc Sơn và các cán bộ nghiên cứu trong Ban Các vấn đề quốc tế, Viện Chiến lượcphát triển, Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Do thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu không tránh khỏi nhữngthiếu sót và hạn chế Em rất mong PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn và các anh chị trongBan đóng góp ý kiến để em tiếp tục hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Mai Thị Minh Nguyệt
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH LANG KINH TẾ ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
I Cơ sở lý luận về hành lang kinh tế
1 Khái niệm về hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế không phải là một khái niệm mới trên thế giới Trước khiADB đưa ra khái niệm này như một sáng kiến để thúc đẩy hợp tác kinh tế ở Tiểuvùng sông Mekong mở rộng, trên thế giới đã biết đến nhiều hành lang kinh tế ở Mỹ,châu Âu, châu Phi… như là một tiếp cận phát triển ở những khu vực địa lý liền kề,lấy các trục tuyến giao thông làm cở sở để kết nối các vùng nhằm xây dựng cáckhuôn khổ hợp tác về phát triển kinh tế - xã hội
Ví dụ: theo hệ thống phát triển đường cao tốc Appalachian ở West Virgina
(Mỹ) người ta xây dựng 26 hành lang kinh tế nhằm cải thiện vị trí địa lý của khuvực Appalachian Hoặc hành lang kinh tế Tây Bắc Canada lấy đường cao tốcYellowhead 16 làm xương sống nối bốn tỉnh miền Tây Bắc Canada với Thái BìnhDương nhằm phát huy tối đa lợi ích kinh tế của tuyến đường trục này, hành langkinh tế này đã tạo ra bước ngoặt phát triển cho những khu vực nằm trong hành langlang…
Hành lang kinh tế là một không gian kinh tế có giới hạn về chiều dài và
chiều rộng, liên vùng lãnh thổ hoặc liên quốc gia, dựa trên việc thành lập một hoặc
nhiều tuyến giao thông kết hợp với những chính sách kinh tế nhất định để thúc đẩy
phát triển kinh tế trên toàn không gian đó
Hành lang kinh tế thường được thành lập để đẩy mạnh sự hội nhập về kinh tếgiữa những vùng kém phát triển hơn và thường là vùng sâu vùng xa với những vùngphát triển hơn và thường là vùng duyên hải Một bên muốn tìm đường ra biển, mộtbên muốn tìm đường tiếp cận trung tâm Bản thân từ "hành lang" trong quy hoạchgiao thông và quy hoạch vùng lãnh thổ có nghĩa là tuyến giao thông kết nối mộtvùng sâu trong nội địa với cảng biển trong nước hoặc nước khác
Hành lang kinh tế là một tuyến nối liền các vùng lãnh thổ của một hoặcnhiều quốc gia nhằm mục đích liên kết, hỗ trợ lẫn nhau để khai thác có hiệu quả lợithế so sánh của các khu vực địa lý – kinh tế nằm trên cùng một dải theo trục giaothông thuận lợi nhất đối với sự lưu thông hàng hóa và liên kết kinh tế giữa các vùngbên trong, cũng như các vùng cận kề với hành lang
Trang 5Tuyến liên kết này được hình thành trên cơ sở kết cấu hạ tầng đa dạng có khảnăng tạo ra sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, làm thay đổi căn bản diện mạocủa một vùng nhất định thuộc một hoặc nhiều quốc gia mà hành lang kinh tế đi qua,
và góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đó
Trên thực tế, thuật ngữ “hành lang kinh tế” được dùng chủ yếu để chỉ mộtkhu vực rộng lớn trải dài hai bên một tuyến đường giao thông huyết mạnh đã cóhoặc chuẩn bị được xây dựng Tuyến đường trục này cho phép giao thông thuận tiệnđến các điểm đầu, cuối và bên trong hành lang phát triển đó, có vai trò đặc biệt quantrọng để liên kết toàn khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế dọc theo hành lang này
Để hiểu rõ hơn khái niệm hành lang kinh tế chúng ta cần hiểu thêm về các cơchế hợp tác khu vực Có hai cơ chế hợp tác kinh tế khu vực chủ yếu: chính thức vàkhông chính thức
Cơ chế chính thức bao gồm các hình thức như Khu vực mậu dịch tự do
(FTA), Liên minh thuế quan (kiểu liên minh Nga - Belarus ), Thị trường chung(kiểu EU)
Cơ chế phi chính thức gồm các hình thức như Tam giác phát triển, Khu vực
tự do xuyên quốc gia, Hành lang kinh tế Trong đó cơ chế không chính thức có một
số đặc thù như chỉ bao gồm các vùng (địa phương) thuộc các nước khác nhau chứkhông bao gồm thực thể quốc gia; các thành viên duy trì quan hệ thương mại và đầu
tư với thị trường bên ngoài khu vực; không có những chính sách chung đồng nhất,nhưng gián tiếp cắt giảm các biện pháp thuế quan và phi thuế quan tạo điều kiệnthuận lợi cho sự tự do hoá thương mại, đầu tư, giao thông, nhập cư; thúc đẩy sựphát triển tại khu vực biên giới của các nước thành viên
Như vậy, hành lang kinh tế là một dạng của cơ chế hợp tác khu vực phi
chính thức, nó bao gồm các vùng, địa phương thuộc các nước khác nhau trong cùngmột khu vực địa lý Các thành viên trong hành lang sử dụng các chính sách thươngmại và đầu tư để thúc đẩy phát triển tại khu vực “hành lang” của mình
2 Đặc điểm của hành lang kinh tế
Hành lang kinh tế ngoài những đặc điểm tương tự với các hình thức hợp táckinh tế phi chính thức khác còn có một số điểm khác biệt sau:
Thứ nhất, hành lang là một khu vực địa lý xác định và thường được hìnhthành dựa trên cơ sở một tuyến động mạch giao thông liên vùng sẵn có
Trang 6Thứ hai, hành lang kinh tế nhấn mạnh các sáng kiến song phương hơn là cácsáng kiến đa phương, tập trung vào các nút chiến lược đặc biệt là tại biên giới giữahai nước
Thứ ba, hành lang kinh tế đòi hỏi phải có sự quy hoạch không gian và vật lý
cụ thể trên khu vực các hành lang và vùng lân cận, để tập trung phát triển hạ tầng vàđạt được những hiệu quả thiết thực nhất
3 Quá trình phát triển của các hành lang kinh tế
- Hành lang giao thông: Là sự hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải, tập
trung vào phát triển các tuyến giao thông ưu tiên, có ý nghĩa quan trọng để liên kếtcác vùng hoặc các khu vực với nhau và đẩy mạnh liên kết giao thông vận tải tới cáctrung tâm đông dân, khu du lịch và thị trường Sự hợp tác này sẽ thúc đẩy giaothương, du lịch và đầu tư
Ví dụ: Trong hành lang kinh tế Bắc – Nam của GMS có 3 tuyến hành lang
vận tải được đầu tư xây dựng là: tuyến Côn Minh tới Bangkok qua Lào hoặcMyanmar; Côn Minh tới Hà Nội – Hải Phòng; Nam Ninh tới Hà Nội Hay như dự
án giao thông quan trọng trong hành lang kinh tế Đông Tây là tuyến đưởng thẳng vàliên tục, duy nhất giữa Ấn Độ Dương với Biển Đông…
Các dự án giao thông cũng bao gồm cả nâng cấp hệ thống giao thông đườngthủy nội địa, cảng biển và mạng lưới đường sắt Nhờ có các hành lang giao thôngnày đã cắt giảm chi phí vận tải và thời gian đi lại Đồng thời hành lang giao thôngcũng tạo ra mối liên kết giữa các vùng kinh tế với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho
là phương thức vận tải đang được phát triển mạnh trên thế giới có tác dụng thúc đẩy
sự phát triển buôn bán quốc tế, đáp ứng được yêu cầu của phương thức giao hàng
"từ kho người bán đến kho của người mua"
Ở Việt nam hàng hoá được vận chuyển theo hình thức vận tải đa phươngthức là các loại hàng được đóng trong container, chủ yếu là những mặt hàng nhưquần áo may sẵn, hàng nông sản, hàng đông lạnh và một số mặt hàng tiêu dùng
Trang 7khác, còn hàng hoá NK là các nguyên liệu gia công như: vải, sợi, len, dạ hay cácmáy móc thiết bị
Hành lang giao thông đa phương thức là dạng hành lang liên kết giữa cácvùng hoặc khu vực thông qua sự hội nhập các phương tiện vận tải khác nhau
- Hành lang logistics: Hành lang logistics (hay hành lang hậu cần) không
chỉ liên kết giữa các vùng, khu vực, mà còn phối hợp hài hòa khung thể chế củahành lang để thuận tiện hóa các dòng trao đổi hàng hóa và con người, thông tintrong cả vùng
- Hành lang kinh tế: Như đã nói ở trên, một trong những đặc điểm hay điều
kiện quan trọng để hình thành nên hành lang kinh tế, đó là phải trục, tuyến giaothông huyết mạch, quan trọng, liên kết các vùng Vì vậy, các hành lang kinh tếthường được hình thành trên cơ sở các hành lang giao thông, hoặc phát triển hànhlang giao thông sẽ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng, hìnhthành và phát triển các hành lang kinh tế Sự liên kết về tự nhiên và các tiện ích hậucần là điều kiện tiên quyết cho phát triển hành lang kinh tế
“Hành lang kinh tế” muốn phát triển đòi hỏi phải có CSHT kết hợp với các
cơ hội kinh tế Các cơ hội đó là giao thông và đầu tư, cũng như các nỗ lực của chínhquyền để giải quyết các tác động xã hội hay các tác động khác nảy sinh từ tính kếtnối được tăng cường trên tuyến hành lang
Mục tiêu đầu tiên cần được chú trọng để phát triển hành lang kinh tế đó làphát triển một hệ thống giao thông vận tải cho phép giao thương hàng hóa và ngườidân đi lại trong vùng mà không tốn kém hay bị trì hoãn Đổi lại, việc nâng cấpmạng lưới giao thông sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển vùng
Do đó, giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế
II Thương mại quốc tế và các tiêu chí đánh giá
1 Khái niệm về thương mại quốc tế
1.1 Khái niệm thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế (TMQT) thường được hiểu là sự trao đổi hàng hoá vàdịch vụ qua biên giới giữa các quốc gia hoặc mua bán tại chỗ với người nướcngoài Theo nghĩa rộng hơn, TMQT bao gồm sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ vàcác yếu tố sản xuất qua biên giới giữa các quốc gia Tổ chức thương mại thếgiới (WTO) xem xét TMQT bao gồm thương mại hàng hoá, thương mại dịch
Trang 8vụ và thương mại quyền sở hữu trí tuệ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này,
em chỉ xem xét TMQT dưới góc độ là thương mại hàng hóa hay cụ thể là hoạt độngXNK hàng hóa
1.2 Hàng hóa trong thương mại quốc tế.
Hàng hóa trong thương mại quốc tế có thể chia thành 3 loại:
1.2.1 Sản phẩm hàng hóa hữu hình
Sản phẩm hàng hóa hữu hình trong TMQT bao gồm những loại hàng hóa nhưnguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lương thực thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng… Đây là
bộ phận chủ yếu và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Hoạt động mua bán các loại hàng hóa này được gọi là thương mại hàng hóa.
được gọi là thương mại dịch vụ.
1.2.3 Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phâncông lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia
Có 2 loại hình gia công chủ yếu:
Thứ nhất: Gia công thuê cho nước ngoài Khi trình độ phát triển của mộtquốc gia còn thấp, thiếu vốn, công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệpthường nhận gia công cho nước ngoài
Thứ hai: Thuê nước ngoài gia công Khi quốc gia đã đạt tới một trình độ pháttriển nhất định thì sẽ áp dụng hình thức này
Trang 92 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế
Một trong những đặc trưng cơ bản của sự phát triển kinh tế thế giới hiện nay
là quá trình hội nhập mạnh mẽ kinh tế quốc tế Cùng với quá trình này, hoạt độngTMQT có vị trí ngày càng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của các nước
Đối với các nước đang phát triển, hoạt động TMQT trở thành nguồn tích lũyvốn quan trọng trong giai đoạn đầu của sự nghiệp CNH Thông qua hoạt độngTMQT sẽ làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước và mởrộng các mối quan hệ quốc tế Hoạt động TMQT tạo điều kiện XK những sản phẩm
có lợi thế so sánh, góp phần cải thiện cán cân thương mại, đáp ứng nhu cầu ngoại tệcho việc NK máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ cho nhu cầu sảnxuất trong nước Có nhiều nước đang phát triển không đủ điều kiện và khả năng đểsản xuất nhiều loại tư liệu sản xuất, do đó việc NK sản phẩm đã góp phần đáp ứngyêu cầu sản xuất trong nước Qua đó tạo điều kiện mở rộng thị trường trong vàngoài nước, nâng cao khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Hoạt động TMQT thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngCNH Ở các nước đang phát triển, giá trị nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, lao độngtrong nông nghiệp chiếm đại bộ phận, hoạt động dịch vụ nhỏ bé, lạc hậu Phát triểnTMQT sẽ thúc đẩy các mối liên kết ngược và xuôi giữa các ngành, sự phát triển cácngành trực tiếp XK đã tác động đến các ngành cung cấp đầu vào, thúc đẩy sự pháttriển của các ngành này Sau đó khi tích lũy được nâng cao, các sản phẩm thô vốn
sử dụng cho XK, lại trở thành nguyên liệu cung cấp đầu vào cho các ngành côngnghiệp chế biến Sự phát triển của các ngành này lại thúc đẩy sự phát triển côngnghiệp hàng tiêu dùng và các ngành dịch vụ
Hoạt động TMQT tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày cànglớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Việc sản xuất sản phẩmlàm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trường thế giới nhiều hơn so với thịtrường trong nước Do đó, các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh phảidựa vào tiêu chuẩn quốc tế Thị trường thế giới rộng lớn cũng tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp phát huy được hiệu quả của sản xuất quy mô lớn Mặt khác, thôngqua hoạt động TMQT sẽ NK được thiết bị và kỹ thuật tiên tiến, tiếp cận đượcphương thức sản xuất hiện đại, phương pháp quản lý khoa học Những người laođộng, cán bộ kỹ thuật và quản lý có điều kiện để học tập bí quyết công nghệ, nângcao kỹ năng sản xuất và trình độ quản lý
Trang 10Bên cạnh đó, TMQT còn tạo điều kiện nâng cao khả năng tiêu dùng, tăngmức sống của dân cư TMQT cho phép người tiêu dùng có thể được tiêu dùng nhiềuhàng hóa, dịch vụ hơn, chủng loại phong phú hơn, giá rẻ hơn Đó là cơ sở để nângcao mức sống của dân cư các nước và của thế giới nói chung.
3 Các chính sách thương mại quốc tế thường được áp dụng
3.1 Khái niệm chính sách thương mại quốc tế.
Tự do hóa thương mại giúp cho người tiêu dùng được sử dụng sản phẩm chấtlượng cao, giá rẻ, đồng thời kích thích sản xuất trong nước phát triển theo mô hìnhchuyên môn hóa dựa vào sự phân công lao động giữa các quốc gia Tuy nhiên,không phải vì vậy mà các quốc gia mở cửa hoàn toàn thị trường Ngày nay, vì nhiều
lý do khác nhau nên hầu như quốc gia nào cũng đều có những hàng rào bảo hộ mậudịch, hay những chính sách TMQT
Trong các tài liệu tiếng Anh, khái niệm về chính sách TMQT được viết ngắngọn là chính sách thương mại (trade policy) Mạng lưới điện toán của nước Anhđịnh nghĩa chính sách TMQT là “chính sách của chính phủ nhằm kiểm soát hoạtđộng ngoại thương”
Như vậy, “Chính sách TMQT” thường được hiểu là hệ thống các biện pháp
của Chính phủ nhằm điều tiết hoạt động TMQT, để phân phối lại thu nhập và gópphần thúc đẩy kinh tế phát triển Nó là một hệ thống các quan điểm, mục tiêu,nguyên tắc và các công cụ, biện pháp thích hợp mà Nhà nước sử dụng để điều chỉnhhoạt động TMQT của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định, phù hợp với địnhhướng phát triển KTXH của quốc gia đó Để thực hiện các mục tiêu của chính sáchTMQT của mỗi quốc gia, người ta sử dụng nhiều công cụ và biện pháp khác nhau,mang tính kinh tế, tính hành chính, hoặc tính kỹ thuật
3.2 Hệ thống chính sách thương mại quốc tế
Theo Trung tâm Kinh tế quốc tế của Úc (CIE), hệ thống các chính sáchTMQT có thể được phân chia bao gồm các quy định về thương mại, chính sáchXNK, hệ thống thuế và các chính sách hỗ trợ khác
Thông thường, chính sách TMQT được hiểu là những quy định của Chínhphủ nhằm điều chỉnh hoạt động TMQT, được thiết lập thông qua việc vận dụng cáccông cụ để tác động tới hoạt động XK và NK Hai công cụ phổ biến của chính sáchTMQT thường được sử dụng là thuế quan và các công cụ phi thuế quan
Trang 113.2.1 Thuế quan.
Thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ mua bán và vận động qua
“biên giới hải quan của một quốc gia hay vùng lãnh thổ hải quan”
3.2.1.1 Xét theo đối tượng chịu tác động.
Nếu xem xét dưới góc độ đối tượng chịu tác động thì hệ thống thuế đượcxem xét thường bao gồm thuế trực tiếp và thuế gián tiếp Các vấn đề được xem xétthường bao gồm thuế NK và thuế XK theo dòng thuế, mức thuế, cơ cấu tính thuế,thuế theo các ngành, lịch trình cắt giảm thuế theo các chương trình hội nhập…
Thuế quan trực tiếp là thuế đánh vào hàng hoá NK hay XK Các loại thuếnày bao gồm thuế theo số lượng, thuế giá trị và thuế hỗn hợp
Thuế gián tiếp tác động tới thương mại như thuế doanh thu, thuế giá trị giatăng, thuế tiêu thụ đặc biệt
3.2.1.2 Xét theo góc độ thương mại quốc tế.
Nếu xét dưới góc độ TMQT, có thể phân thành thuế NK và thuế XK:
Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa NK Theo đó, người mua trongnước phải trả cho hàng NK một khoản tiền lớn hơn mức mà người XK ngoại quốcnhận được
Thuế xuất khẩu: áp dụng cho hàng hóa XK và làm cho giá cả quốc tế củahàng hóa bị đánh thuế vượt quá giá cả trong nước, làm hạ thấp tương đối mức giá cảtrong nước của hàng hóa có thể XK xuống so với mức giá cả quốc tế
Thuế quan với tính chất là hàng rào mậu dịch chính là thuế NK Ngày nay nhiềunước đã bỏ thuế XK để tăng tính cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế
Thuế được tính theo nhiều phương pháp khác nhau: có thể là một số tiền cốđịnh trên mỗi đơn vị hàng hóa XNK; hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hànghóa XNK; hoặc cũng có thể kết hợp hai cách trên, tức là thuế qun vừa được tínhtheo một tỷ lệ phần trăm so với giá trị hàng hóa, vừa cộng với mức thuế tính theomột đơn vị hàng hóa
3.2.2 Công cụ phi thuế quan.
Các quốc gia có thể dùng thuế quan để bảo hộ sản xuất trong nước Tuynhiên, hiện nay, với xu hướng hội nhập KTQT và toàn cầu hóa, vai trò của thuếquan ngày càng giảm đi Thay vào đó, các nước sẽ chú trọng hơn việc sử dụng hàngrào phi thuế quan
Các hàng rào phi thuế quan bao gồm trợ cấp XK, hạn ngạch NK, hạn chế XK
tự nguyện, các yêu cầu về nội địa hoá, trợ cấp tín dụng xuất khẩu, quy định về mua
Trang 12sắm của Chính phủ, các hàng rào hành chính, hàng rào về kỹ thuật, khuyến khíchdoanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài XK, khu chế xuất, khu côngnghiệp, các quy định về chống bán phá giá và trợ cấp
Tuy nhiên, do tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế khu vực, cácquốc gia tham gia nhiều hơn vào các tổ chức mậu dịch tự do nên cũng đang giảmdần các biện pháp hạn ngạch mà thay vào đó là các quy định về chất lượng hànghóa XNK, các hàng rào kỹ thuật được tăng cường hơn
4 Các loại hình thương mại quốc tế
Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận TMQT là việc bán hàng hóa và dịch
vụ cho nước ngoài XK phụ thuộc vào cầu từ bên ngoài, vào tỷ giá hối đoái
Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào XK được đo bằng tỷ lệ giữa giátrị NK và tổng thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu,thì XK có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế
Nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia khác.Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa vàdịch vụ cho người cư trú trong nước Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong chuyên đềnày chỉ xét tới hoạt động NK hàng hóa
NK phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái.Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hànghóa và dịch vụ NK càng cao Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng NK tính bằng nội tệtrở nên cao hơn, do đó, nhu cầu NK giảm đi
Hoạt động TMQT, hay hoạt động XNK nói riêng, có thể được phân chiathành các hình thức như sau:
4.1 Phân theo hình thức xuất nhập khẩu.
4.1.1 Xuất nhập khẩu trực tiếp
XK (hay NK) trực tiếp là hình thức giao dịch trong đó người bán (nhà XK)bán hàng trực tiếp cho khách hàng của mình (nhà NK) ở thị trường của nước NK
Khi doanh nghiệp có đủ khả năng về tài chính, phát triển đủ mạnh để có thểthành lập 1 tổ chức hay 1 đơn vị bán hàng của riêng mình ở nước ngoài Khi đódoanh nghiệp XK hàng hóa có thể kiểm soát trực tiếp, nắm bắt được nhu cầu của thịtrường về số lượng, chất lượng, giá cả, từ đó có thể làm thỏa mãn tốt nhất nhu cầucủa thị trường Hình thức này mang lại nhiều lợi ích cho cả nước XK (vì chủ độngkiểm soát được thị trường) và cả nước NK (vì người dân nước NK hàng hóa không
Trang 13bị ép giá qua cao do mua hàng từ bên thứ 3, đồng thời các chính sách dịch vụ đốivới hàng hóa cũng tốt hơn).
Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp XK phải có cán bộ nghiệp vụ kinhdoanh XNK có trình độ cao, am hiểu và có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, đặcbiệt là nghiệp vụ thanh toán quốc tế thông thạo Tuy nhiên, hình thức này đòi hỏiphải có chi phí tiếp thị ở nước ngoài cao nên đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ,
ít vốn không nên áp dụng
4.1.2 Xuất nhập khẩu gián tiếp
XNK gián tiếp là hình thức bán hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp ra thịtrường nước ngoài thông qua trung gian (người thứ 3) hay nói cách khác XNK giántiếp là hình thức mà nhà sản xuất tiến hành XK sản phẩm của mình ra nước ngoàithông qua dịch vụ của các tổ chức độc lập đặt tại quốc gia tiếp nhận NK
Đối với nước XK, hình thức này có ưu điểm là: Giảm chi phí bán hàng, chiphí tiếp thị Những người trung gian thường có cơ sở vật chất nhất định, đa phần lànhững người bản địa, am hiểu thị trường, pháp luật, tập quán buôn bán địa phương
vì vậy có thể đẩy mạnh được việc kinh doanh, buôn bán và tránh rủi ro, đồng thờigiảm được chi phí đầu tư vào nước NK cho người ủy thác (doanh nghiệp XK hànghóa)
Còn đối với người dân nước NK, hàng hóa cũng sẽ được bảo đảm về chấtlượng hơn do người trung gian trước khi NK hàng hóa đã qua một giai đoạn sànglọc chất lượng sản phẩm
Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là: chủ thể tham gia kinh doanh XK
sẽ mất đi liên hệ với thị trường, lợi nhuận bị chia sẻ Ngoài ra, bên phía trung gianthường đưa ra những yêu cầu đòi hỏi bên phía chủ thể XK phải đáp ứng, tạo thế bịđộng cho bên XK
Hình thức này thường được sử dụng khi xâm nhập vào thị trường mới hoặckhi mặt hàng khó bảo quản như các mặt hàng tươi sống…
4.1.3 Gia công xuất khẩu
Gia công XK là hình thức bên nhận gia công sẽ NK nguyên liệu bán thảnhphẩm của bên đặt gia công để SX thành phẩm rồi giao lại cho bên gia công vàhưởng phí gia công
Ở Việt Nam hình thức này chủ yếu diễn ra trong lĩnh vực gia công dệt may,giày dép Hình thức này tạo điều kiện cho người lao động có công ăn việc làm, tăngthêm thu nhập và học hỏi kinh nghiệm sản xuất, tiếp cận với công nghệ sản xuất
Trang 14mới của nước ngoài Mặt khác, với hình thức này thị trường tiêu thụ sẵn có vì vậy
nó đem lại lợi ích tương đối lớn, đặc biệt với các nước đang phát triển
Nhược điểm: tính bị động cao do toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp phụthuộc vào bên đặt gia công về thị trường, giá bán, giá đặt gia công, nguyên vật liệu,mẫu mã…
4.1.4 Buôn bán đối lưu
Là hình thức buôn bán mà trong đó XK kết hợp chặt chẽ với NK, người bánđồng thời là người mua và lượng hàng hóa trao đổi luôn tương đương với nhau vềgiá trị Mục đích của việc XK ở đây không phải là thu về một lượng ngoại tệ mànhằm thu về một lượng hàng hóa cần thiết có giá xấp xỉ lô hàng NK
4.1.5 Tạm nhập tái xuất
Đây là hình thức mà hàng hóa XK đi qua 1 nước trung gian rồi mới đến nước
NK và trong đó nước tái xuất sẽ thu được 1 khoản chênh lệch giữa khoản tiền bỏ ra
để NK và số tiền thu về khi XK
4.1.6 Xuất khẩu tại chỗ
XK tại chỗ là hình thức bán hàng cho nước ngoài ngay trên lãnh thổ nước mình.Đây là hình thức XK mới nhưng ngày càng phát triển trong nền kinh tế thịtrường mở cửa Loại hình này ở Việt Nam chủ yếu diễn ra dưới hình thức bán hàngcho các khu chế xuất, bán hàng cho khách du lịch tại Việt Nam, bán hàng cho cácđại sứ quán, cơ quan ngoại giao của nước ngoài tại Việt Nam Hình thức XK này cóđặc điểm là hàng hóa không bắt buộc phải vượt qua biên giới quốc gia mới đến taycủa khách hàng Ngoài ra, các thủ tục XNK thì đơn giản hơn, chi phí XNK cũngnhư rủi ro thấp Tuy nhiên, thị trường đối với lọai hình này là không lớn, chỉ gồmnhững người nước ngoài đi du lịch hoặc làm việc tại nước XK tiêu thụ
4.2 Theo phương thức xuất nhập khẩu
Nếu xét theo phương thức XNK thì TMQT bao gồm các hình thức sau:
Hình thức thứ nhất là “thương mại chính ngạch” Thương mại chính ngạch
là hình thức mà các hàng hóa XNK qua biên giới theo giấy phép của Bộ Côngthương Những hàng hóa XNK phải được thông qua cửa khẩu quốc tế, quốc gia vàphải tuân thủ các thủ tục XNK quốc tế
Hình thức thứ hai là “thương mại tiểu ngạch” Đây là hình thức XNK những
hàng hóa XNK theo giấy phép của UBND các tỉnh biên giới
Hình thức thứ ba là “buôn bán của cư dân biên giới”: Là hoạt động trao đổi
của cư dân biên giới, do nhân dân 2 vùng biên thực hiện Các hàng hóa được trao đổi
Trang 15thường do họ tự sản xuất ra, đem trao đổi trực tiếp Hình thức thương mại này nhằmđáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân vùng biên Do điều kiện địa hình khôngthuận lợi, chi phí vận chuyển hàng hóa từ dưới xuôi lên cao và khó khăn, họ tiến hànhtrao đổi hàng hóa ở những chợ vùng biên với giá cả rẻ hơn và hàng hóa sẵn có hơn.Đối với hình thức này, khối lượng trao đổi hàng hóa thường không nhiều Tuy nhiên,hiện nay hình thức buôn bán này không được kê khai đầy đủ với cơ quan Hải quannên đôi khi ảnh hưởng tới việc đánh giá kết quả của hoạt động biên mậu giữa cácquốc gia
5 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động thương mại quốc tế
5.1 Kim ngạch xuất, nhập khẩu
Kim ngạch XNK hàng hóa của 1 quốc gia cho biết nước đó đã XNK baonhiêu hàng hóa với khối lượng và giá trị bao nhiêu
5.2 Tốc độ tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu
Tăng trưởng kim ngạch XNK hàng hóa là sự gia tăng về khối lượng và giá trịhàng hóa được XNK của 1 nước trong 1 khoảng thời gian nhất định Sự gia tăngđược thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiềuhay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh
sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ
5.3 Sự cân bằng trong cán cân xuất nhập khẩu (hay cán cân thương mại)
Cán cân thương mại (cán cân trao đổi) là bảng đối chiếu giữa tổng giá trị XKhàng hóa với tổng NK hàng hóa của 1 nước với 1 nước khác trong 1 thời kỳ xácđịnh, thường là 1 năm
Tình trạng của cán cân thương mại (thâm hụt hay thặng dư) thể hiện trạngthái của nền kinh tế; dữ liệu trên cán cân thương mại có thể được sử dụng để đánhgiá khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế của nước XK Đối với các nướcđang phát triển trong thời kỳ CNH và mở cửa hội nhập kinh tế, thâm hụt là 1 hiệntượng khá phổ biến Tuy nhiên nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên và với mức
độ lớn thì sẽ cho thấy sự yếu kém trong điều tiết vĩ mô của Chính phủ, đặc biệt làyếu kém trong lĩnh vực XK, gây hậu quả đối với nền kinh tế trầm trọng
5.4 Cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu
Thông qua cơ cấu mặt hàng XNK ta cũng có thể đánh giá được hiệu quả hoạtđộng XNK của 1 nước
Khi phần lớn hàng hóa XK là những hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao,
áp dụng khoa học hiện đại, những mặt hàng có giá trị cao, khi đó hoạt động XK sẽ
Trang 16mang lại nguồn thu lớn cho đất nước Ngược lại, nếu hàng XK là các mặt hàng cógiá trị gia tăng, hàm lượng công nghệ ít thì tăng trưởng XK là rất khó Bởi vì, cáchàng hóa dưới dạng thô, chỉ sơ chế thường giá trị thấp, cung cầu không ổn định;hơn nữa nó còn là mầm mống làm cạn kiệt tài nguyên nước XK Và cũng thông qua
cơ cấu mặt hàng này ta có thể thấy được sự phát triển của quốc gia
5.5 Hình thức giao dịch
Khi nước tham gia XNK chủ yếu qua hoạt động buôn bán chính ngạch (làhợp đồng XNK theo giấy phép của Bộ công thương lưu thông qua các cửa khẩuquốc tế và quốc gia, phải chấp hành đầy đủ các thủ tục theo thông lệ và tập quánquốc tế) thì sẽ giảm thiểu được những rủi ro trong thương mại, tránh thiệt hại chonước mình Ngược lại, khi nước tham gia XNK chủ yếu thông qua hoạt động hoạtđộng buôn bán tiểu ngạch (là hình thức XNK theo giấy phép của UBND các tỉnhbiên giới) thì rủi ro mang lại là lớn, và nó có thể làm giảm đi rất nhiều hiệu quả củahoạt động XK
5.6 Thời gian vận chuyển
Thời gian vận chuyển và chi phí của hoạt động XNK cho biết mức độ nhanhgọn của các thủ tục hành chính trong hoạt động XNK Hiện nay, các nước đều đang
cố gắng hoàn thiện, cải cách thủ tục hành chính nhằm giúp các doanh nghiệp XNKgiảm bớt thời gian chờ XNK, cũng như làm giảm chi phí đi kèm (như chi phí lưukho, bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản hàng hóa…)
III Tác động của hành lang kinh tế đến thương mại quốc tế
1 Tác động tới việc gia tăng các chính sách khuyến khích thương mại và hợp tác đầu tư trên khu vực hành lang.
Hành lang kinh tế hình thành đi kèm với nó sẽ là các chính sách nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho sự tự do hóa thương mại, đầu tư, giao thông, nhập cư, thúcđẩy sự phát triển tại khu vực biên giới của các quốc gia Vì vậy, khi xây dựng hànhlang kinh tế, Chính phủ các nước liên quan sẽ có những biện pháp, chính sách nhằmkhuyến khích đầu tư và thương mại trên tuyến hành lang như: xây dựng khu kinh tếcửa khẩu, xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ XNK (như ngân hàng, bến bãi, khochứa, trạm trung chuyển hàng hóa…), cải cách thủ tục hành chính… Thông qua cácchính sách hỗ trợ này sẽ làm gia tăng hoạt động thương mại và góp phần thúc đẩyphát triển kinh tế các địa phương dọc tuyến hành lang
Trang 172 Tác động đến kim ngạch xuất, nhập khẩu
Vì hành lang kinh tế được xây dựng với các chính sách khuyến khích, thúcđẩy TMQT đi kèm, do đó các hoạt động thương mại trên khu vực hành lang thườngdiễn ra mạnh mẽ hơn so với trước khi xây dựng Vì vậy, kim ngạch XNK hàng hóagiữa các quốc gia trên tuyến hành lang thường có xu hướng tăng lên đáng kể
3 Tác động đến cơ cấu xuất, nhập khẩu
Thông qua các chính sách khuyến khích thương mại và đầu tư của Chính phủcác nước trên tuyến hành lang kinh tế sẽ thúc đẩy hoạt động ngoại thương của cácnước, tăng thêm hoặc giảm bớt số lượng các mặt hàng XNK, đồng thời cũng làmthay đổi tỷ trọng trong cơ cấu mặt hàng Ngoài ra, do có sự phát triển mạnh mẽthương mại của tuyến hành lang nên các nước cũng sử dụng nhiều hơn các biệnpháp thương mại phi thuế quan để kiểm soát và bảo vệ thị trường cũng như cácngành sản xuất trong nước Đây cũng là nguyên nhân làm thay đổi cơ cấu mặt hàngXNK
4 Tác động đến thời gian và chi phí vận chuyển
Một mục đích quan trọng khi xây dựng hành lang kinh tế đó là phát triển một
hệ thống giao thông vận tải cho phép giao thương hàng hóa và người dân đi lạitrong vùng mà không tốn kém hay bị trì hoãn Vì vậy, một trong những nhiệm vụquan trọng của các bên khi xây dựng tuyến hành lang là xây dựng mới và cải thiện
hệ thống hạ tầng giao thông liên vùng, cũng như các cơ sở kinh tế phục vụ cho hoạtđộng thương mại và đầu tư
Do đó, khi mà giao thông đã thông suốt, các cơ sở phục vụ thương mại đượcđầu tư thì sẽ giúp rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa và con người giữa cácquốc gia, giúp giảm chi phí vận tải tại các địa phương dọc theo tuyến hành lang,giảm chi phí thương mại do chậm trễ thời gian gây ra, nhờ đó giúp cho việc vậnchuyển hàng hóa và hành khách thuận lợi hơn, đạt hiệu quả cao hơn
Đồng thời, hành lang kinh tế cũng làm giảm chi phí lưu thông hàng hóa nộiđịa và XK thông qua việc hoàn thiện nâng cấp hệ thống hạ tầng theo trục và xungquanh trục hành lang
Trang 18CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HÀNH LANG KINH
TẾ BẮC NAM TRONG HỢP TÁC KINH TẾ TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG MỞ RỘNG TỚI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –
1.1.Tổng quan về tiểu vùng sông Mekong mở rộng
Sông Mekong là một trong những con sông lớn trên thế giới, chảy qua nhiềunước châu Á trước khi đổ ra biển Sông Mekong tạo ra một tiểu vùng (tiểu vùngMekong) gắn kết nhau bởi địa lý, điều kiện tự nhiên, sự đa dạng phong phú về vănhóa và tiềm năng to lớn về phát triển kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng(Greater Mekong Subregion - GMS) là khu vực gồm lãnh thổ của các quốc gia:Campuchia, Lào, Việt Nam, Myanmar, Thái Lan và 2 tỉnh Vân Nam, Quảng Tâycủa Trung Quốc GMS là khu vực kinh tế tự nhiên gắn kết với nhau bởi Sông MêKông, rộng 2,6 triệu km2 và có dân số hơn 300 triệu người Sông Mekong đã manglại lợi ích và cơ hội to lớn cho hàng triệu người ở mỗi quốc gia trong tiểu vùng
Vào năm 1992, với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), sáunước trong GMS đã khởi động chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mekong
mở rộng để đẩy mạnh quan hệ kinh tế, dựa trên nền văn hóa và lịch sử chung Hợptác kinh tế GMS được xây dựng dựa trên điểm chung của các nước GMS Đó là:
Một là, các nước có chung đường biên giới
Hai là, các nước trong GMS hầu đều có xuất phát KTXH thấp
Ba là, CSHT KTXH còn kém phát triển
Bốn là, nền kinh tế các nước còn thiếu vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý
và nguồn nhân lực trình độ cao
Năm là, thị trường các nước rộng lớn nhưng chưa được khai thác nhiều, cònnhiều tiềm năng phát triển
Trang 19Chương trình hợp tác kinh tế GMS khởi đầu rất thận trọng với các dự án hợptác mang tính thực tế và định hướng kết quả để tạo dựng niềm tin và sự tin tưởnglẫn nhau Chương trình không có hiệp định chính thức hay thể chế chặt chẽ ADBđóng vai trò xúc tác và cầu nối trong giai đoạn đầu, còn vai trò điều phối hợp táckinh tế GMS do Ban thư ký của chương trình đóng tại trụ sở của ADB tại Manilađảm nhiệm Chương trình hợp tác GMS đã góp phần đáng kể trong việc thúc đẩylưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xuyên biên giới trong vùng GMS và gắn kết tiểuvùng với các thị trường khác thông qua sự phát triển CSHT và các hiệp định cần cóđối với việc sử dụng hiệu quả CSHT này Với sự hỗ trợ từ ADB cùng các tổ chứckhác, chương trình GMS đã giúp thực thi các dự án tiểu vùng được ưu tiên caotrong chín lĩnh vực gồm: năng lượng, giao thông vận tải, phát triển hành lang kinh
tế, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông vận tải và thương mại, viễn thông, du lịch,phát triển nguồn nhân lực, nông nghiệp, môi trường
Chiến lược chính của chương trình hợp tác GMS là liên kết các thành viêntrong việc cải thiện CSHT, khắc phục những trở ngại nội địa và đẩy mạnh thươngmại – đầu tư để nhằm thúc đẩy kinh tế của từng nước nói riêng và trên cả khu vựctiểu vùng nói chung Chương trình GMS đã xây dựng khung chiến lược hợp tác 10năm, chiến lược hợp tác ngành và đặc biệt là chiến lược ba mũi nhọn - 3C - để đạtđược tầm nhìn về một tiểu vùng thịnh vượng, hội nhập và đoàn kết Có thể nóichiến lược 3C là trụ cột để GMS tiếp tục dựa vào và thúc đẩy GMS thực hiện mụctiêu của mình trong tương lai Chiến lược 3C này có nghĩa là:
• C1: Tăng cường tính kết nối trong tiểu vùng thông qua phát triển bền vững
CSHT và hành lang kinh tế xuyên quốc gia;
• C2: Nâng cao tính cạnh tranh thông qua việc hình thành và cam kết thực
hiện các hiệp định hợp tác, tạo điều kiện cho đầu tư – thương mại của tiểu vùng; tạođiều kiện thuận lợi cho giao thương hàng hóa và đi lại qua biên giới của người dân,các thị trường hội nhập và quy trình sản xuất, do đó tạo điều kiện dễ dàng cho tiểuvùng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
• C3: Xây dựng tính cộng đồng vững mạnh hơn thông qua các chương trình
giải quyết các vấn đề môi trường và xã hội chung Từ đó nhằm mục đích phát triển
Trang 20một cộng đồng GMS phồn vinh, thịnh vượng, duy trì tính đa dạng và đặc thù củađời sống văn hóa từng nước thành viên.
1.2 Các hành lang kinh tế trong tiểu vùng sông Mekong
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) là tổ chức tài chính quốc tế đi tiênphong trong việc khởi xướng chương trình hợp tác GMS, đồng thời là nhà tài trợchính Gần 20 năm qua với sự trợ giúp của ADB nhiều chương trình, dự án đầu tư
đã được hoàn thành đóng góp rất đáng kể vào hợp tác phát triển kinh tế, xóa đóigiảm nghèo của các nước trong khu vực
Lĩnh vực giao thông vận tải là một trong 9 lĩnh vực được ưu tiên trongchương trình hợp tác này Với sự đầu tư của ADB, rất nhiều hành lang, tuyến giaothông đã được xây dựng, đang triển khai hoặc chuẩn bị triển khai Sau khi hoànthành toàn bộ, các tuyến, hành lang giao thông này sẽ tạo ra mạng lưới giao thôngđồng bộ, liên kết giữa các nước trong khu vực
Chương trình hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mekong mở rộng đã xây dựngđược 3 hành lang giao thông Trong đó, Việt Nam cùng với Thái Lan là hai nước đãtham gia cả vào 3 hành lang này Đó là, hành lang Đông - Tây, Hành lang Bắc –Nam từ Côn Minh (Trung Quốc) qua Lào đến Bangkoc (Thái Lan) và Hành langphía Nam nối thành phố Hồ Chí Minh – PhnomPenh (Campuchia) – Bangkoc (TháiLan) Các tuyến hành lang giao thông này sẽ làm tiền đề cho việc phát triển cáchành lang giao thông đa phương thức, hành lang logistics và cuối cùng là hành langkinh tế
Trang 21Hình 2.1: Các hành lang kinh tế trong GMS
Trang 22Hiện nay trong tiểu vùng sông Mekong có 3 hành lang kinh tế là:
Hành lang Kinh tế Đông Tây (East West Economic Corridor EWEC) là một sáng kiến được nêu ra vào năm 1998 tại Hội nghị Bộ trưởng Tiểuvùng Sông Mekong Mở rộng lần thứ tám tổ chức tại Manila (Philippines) nhằmthúc đẩy phát triển và hội nhập kinh tế giữa bốn nước Lào, Myanma, Thái Lan vàViệt Nam Hành lang này chính thức thông tuyến vào ngày 20 tháng 12 năm 2006,trở thành hành lang kinh tế đi vào hoạt động sớm nhất trong GMS
- Hành lang kinh tế Bắc Nam (North South Economic Corridor NSEC): gồm ba tuyến trục dọc là Côn Minh tới Bangkok qua Lào hoặc Myanmar,Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội –Hải Phòng Tuyến hành lang này dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2010 Trong số batuyến đường của hành lang kinh tế này thì có tới hai tuyến đi qua Việt Nam
- Hành lang kinh tế phía Nam (Southern economic corridor - SEC): dựkiến hoàn thành vào năm 2010 – 2012, gồm ba tuyến đường nối phía Nam của TháiLan qua Campuchia với Việt Nam Khi tuyến hành lang này đi vào hoạt động sẽ làđộng lực phát triển kinh tế giữa ba nước Đông Dương, Thái Lan và Myanmar, đặcbiệt là trong vấn đề hợp tác du lịch
Ban đầu các hành lang kinh tế này vốn là kết quả về hợp tác giao thông vậntải của Chương trình hợp tác GMS, được gọi là các hành lang giao thông liên kếttiểu vùng Sau đó, các hành lang giao thông này được phát triển trở thành hành langkinh tế trên cơ sở kết hợp với các cơ hội kinh tế khác, đó là thương mại, đầu tư và
nỗ lực để giải quyết các tác động xã hội cũng như các tác động khác nảy sinh từ tínhkết nối được tăng cường
Các nước GMS đã lập Diễn đàn Hành lang kinh tế để hỗ trợ những nỗ lựcchuyển đổi các hành lang giao thông GMS sang hành lang kinh tế Diễn đàn này sẽgiúp tăng cường hợp tác giữa các khu vực dọc hành lang, giữa các nhóm công táctheo từng lĩnh vực của GMS và sẽ đóng vai trò là một tổ chức duy nhất tập trungvào phát triển hành lang kinh tế
Trong hành lang kinh tế, trục tuyến giao thông là nhân tố quan trọng nhất.Nghĩa là nói đến hành lang kinh tế trước hết phải nói đến việc đẩy mạnh phát triểncác tuyến giao thông, cả về đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường sông và đườnghàng không Do đó, không phải ngẫu nhiên mà khi bàn đến các hành lang kinh tế
Trang 23trong hợp tác Tiểu vùng sông Mekong mở rộng GMS, người ta nhấn mạnh đến pháttriển các hạ tầng cơ sở giao thông.
Ví dụ:
Hành lang kinh tế Đông Tây (East – West economic corridor) kéo dài từMawlamyine – Myawaddy (Myanmar) đi qua Thái Lan, Lào và đến Đà Nẵng (ViệtNam) đã tập trung phát triển 6 dự án về hạ tầng giao thông Trong đó ở Việt Nam đãthực hiện các dự án: Dự án nâng cấp Quốc lộ 9 có tổng chiều dài 83,5km; Dự ánxây dựng hầm đường bộ Hải Vân; Dự án xây dựng cảng Tiên Sa – Đà Nẵng
Cũng tương tự như vậy, hành lang kinh tế phía Nam bắt đầu từ Bangkok(Thái Lan) đến Vũng Tàu (Việt Nam) được tập trung phát triển các tuyến giaothông thủy, bộ, hàng không trên trục giao thông xuyên qua 3 nước Thái Lan –Campuchia – Việt Nam Nổi bật là các chương trình: Cải tạo đường bộ Bangkoc –Phnompenh – Hồ Chí Minh – Vũng Tàu (trong đó Dự án đường cao tốcPhnomPenh – thành phố Hồ Chí Minh, đã hoàn thành vào năm 2005); tuyến đườngven biển phía Nam; Cải tạo đường bộ Sihanuc Ville (Campuchia) đến Nam Lào;Phát triển dự án hành lang Đông Tây tại Trung Campuchia
Ngoài các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực giao thông vận tải, Chính phủcác nước thành viên GMS, đặc biệt là các quốc gia có hành lang kinh tế đi qua cònhợp tác trên nhiều lĩnh vực khác như: tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác kinh tếthương mại và đầu tư thông qua các Hiệp định thỏa thuận chung (như Khung chiếnlược Hành động về Thương mại và Đầu tư SFA – TFI, Hiệp định về tạo thuận lợicho quá cảnh người và hàng hóa qua biên giới – Hiệp định GMS… ), Tổ chức cáchội chợ triển lãm thương mại, du lịch và đầu tư…
2 Sự hình thành và phát triển của hành lang kinh tế Bắc Nam trong GMS
Sự phát triển của hành lang kinh tế Bắc Nam (NSEC), liên kết các đầu mối kinh
tế chính ở miền Bắc và miền Trung GMS, được các Bộ trưởng GMS tại Hội nghị Bộtrưởng GMS lần thứ 8, tổ chức tại Manila (Philippines) năm 1998 xác định là một trong
ba dự án ưu tiên theo cách tiếp cận hành lang kinh tế, cùng với hành lang kinh tế Đông –Tây và hành lang kinh tế phía Nam Sự phát triển của hành lanh kinh tế Bắc Nam sau đóđược coi là một trong các chương trình tiên phong thuộc Khuôn khổ Chiến lược GMS 10năm, được các nhà lãnh đạo các nước GMS ủng hộ tại Hội nghị Thượng đỉnh GMS lầnthứ nhất tổ chức tại PhnomPenh (Campuchia) năm 2002
Trang 24Hình 2.2: Hành lang kinh tế Bắc – Nam trong GMS
Trang 25Hành lang kinh tế Bắc Nam được xác định bao gồm 3 tuyến đường chính dọctheo trục Bắc – Nam của GMS, kết nối các trung tâm dân cư và kinh tế chính ởmiền Bắc và miền Trung của tiều vùng Đó là các tuyến: Tuyến đường Côn Minh –Chiang Rai – Bangkok qua Lào hoặc Myanmar (được gọi là: “ Tiểu hành lang phíaTây”); Tuyến đường Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội- Hải Phòng (được gọi là “ Tiểuhành lang trung tâm”); Tuyến đường Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng– Quảng Ninh (còn được gọi là “ Tiểu hành lang phía Đông”) Mặc dù hành langCôn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng được coi là có cự ly ngắn nhất và tươngđối có tính khả thi nhưng việc triển khai chúng tỏ ra rất chậm chạp và chưa đượcchú trọng
Đến tháng 5 năm 2004, trong Hội đàm giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam vàTrung Quốc, một lần nữa vấn đề hành lang kinh tế Bắc – Nam thuộc GMS lại đượcnhắc tới trong ý tưởng “hai hành lang, một vành đai” Theo ý tưởng này thì hainước Việt Nam và Trung Quốc sẽ thúc đẩy giao lưu kinh tế - thương mại theohướng hai hành lang và một vành đai kinh tế “Hai hành lang” này là chỉ hai hànhlang kinh tế Côn Minh - Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh và Nam Ninh– Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh “Một vành đai” chỉ “vành đai kinh
tế Vịnh Bắc Bộ” Như vậy, về mặt địa lý, “hai hành lang, một vành đai” bao gồm batỉnh phía Nam của Trung Quốc và các tỉnh miền Bắc ven vịnh Bắc Bộ của ViệtNam Theo đó, chính phủ hai nước đã thể hiện một quyết tâm chính trị chung làđồng ý thiết lập hai hành lang kinh tế trên, nhằm hình thành các quan hệ “cầu nối”trong thúc đẩy hợp tác ASEAN – Trung Quốc Điểm mới của ý tưởng này thể hiện
Trang 26trên hai phương diện: thứ nhất là việc nâng cao vai trò của các tỉnh phía Tây, Nam(Trung Quốc) và Việt Nam nhằm hiện thực hóa khu vực mậu dịch tự do ACFTA;thứ hai, tính hiện thực của các hành lang này nổi bật hơn so với ý tưởng của ADBtrong khuôn khổ hợp tác GMS ở chỗ nó được triển khai đồng thời với việc triểnkhai chương trình thu hoạch sớm EHP trong khuôn khổ ACFTA Do vậy, chínhviệc thúc đẩy thực hiện EHP giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ tạo ra sức ép và điềukiện để đẩy nhanh trên thực tế tiến trình xây dựng các hành lang kinh tế này Hiệnnay thì cả 3 tuyến đường trong hành lang kinh tế Bắc – Nam của GMS đều đã, đangđược xây dựng và đưa vào hoạt động, bao gồm hành lang lang kinh tế Côn Minh -Lào Cai – Hà Nội - Hải Phòng, hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn - Hà Nội -Hải Phòng – Quảng Ninh, và hành lang kinh tế Côn Minh – Bangkok (được đánhdấu bằng việc thông xe tuyến đường cao tốc Côn Minh – Bangkok ngày 21/3/2008).Trong số đó thì có hai hành lang nằm trong khuôn khổ hợp tác Việt – Trung.
Như vậy, hành lang kinh tế Bắc – Nam là một “hành lang kinh tế tự nhiên”trong GMS Có nghĩa là giao thông vận tải đa phương thức và mạng lưới CSHTtrong tiểu vùng đều có hướng Bắc – Nam Hành lang này có vị trí chiến lược, liênkết các vùng kinh tế phía Tây Nam rộng lớn của Trung Quốc với các tỉnh miền núiphía Bắc Việt Nam Nó là tuyến thương mại trực tiếp giữa miền Nam Trung Quốcvới miền Bắc Việt Nam và là cửa ngõ cho thương mại ASEAN – Trung Quốc
3 Thương mại Việt Trung trong thời gian qua
3.1.Tổng quan về tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam thời gian qua
Trong những năm vừa qua, sau khi đổi mới đất nước (1986), Việt Nam đã
mở rộng quan hệ kinh tế với nhiều nước trên thế giới, kim ngạch XNK hàng nămliên tục tăng, đặc biệt là trong10 năm trở lại đây
Bảng 2.1: Tổng mức lưu chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam giai
Chỉ số tăng trưởng năm sau
so với năm trước (Năm trước
= 100%) Xuất
khẩu
Nhập khẩu
Tổng số (%)
Xuất khẩu (%)
Nhập khẩu (%)
Trang 27Nguồn: Tổng cục thống kê – Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy, hoạt động XNK của Việt Nam tuycòn có những biến đổi bất thường nhưng xu hướng chung là tăng đều qua các năm,cùng với sự tăng trưởng kinh tế
Trang 28Năm 1997, 1998 do chịu tác động mạnh mẽ của khủng hoảng tài chính khuvực nên tốc độ tăng trưởng kinh tế và hoạt động XNK đều giảm (tốc độ tăng trưởng
1998 là 5,8%, tốc độ tăng XK là 1,9%, NK giảm 0,8% )
Tuy nhiên, bước sang thiên niên kỷ mới tình hình kinh tế Việt Nam đã cónhững bước thay đổi đáng kể Từ năm 2000 đến 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tếcủa Việt Nam liên tục tăng, và đứng trong “top” đầu của khu vực về tăng trưởngkinh tế
Kỳ kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, tổng kim ngạch XK của Việt Nam đạt gần
111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/ năm (trong khi kế hoạch là 16%) Các năm 2006– 2008, XK tiếp tục tăng mạnh, khoảng 22%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDPbình quân trên 2,5 lần Điều này cho thấy tuy XK của Việt Nam tăng nhanh nhưngvẫn chưa có khả năng lôi kéo nền kinh tế phát triển theo Nguyên nhân chủ yếu là
do cơ cấu mặt hàng XK của Việt Nam còn lạc hậu, chủ yếu là các mặt hàng thô.Ngoài ra, các mặt hàng chủ lực như giầy dép, dệt may, điện tử… đa phần là các sảnphẩm gia công cho nước ngoài, hoặc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và bán thànhphẩm của nước ngoài nên chưa tạo được mối liên kết với các ngành sản xuất trongnước, chưa có khả năng tạo chuỗi giá trị sản xuất và giá trị gia tăng tạo ra chưa lớn
Trang 29Qua bảng số liệu trên, ta cũng thấy rằng kim ngạch NK và tốc độ NK tăng
đều qua các năm Quy mô NK đã tăng từ 11,14 tỉ USD (năm 1995) lên 80,4 42 tỷ USD (năm 2008) và 69,95 tỷ USD năm 2009
Cũng như hoạt động XK, kim ngạch NK cũng có những biến động giống nhưkim ngạch XK nói riêng và tổng kim ngạch ngoại thương nói chung, tức là giaiđoạn 1990 – 2001 quy mô NK tăng không nhiều, giai đoạn 2002 – 2008 tăng nhanhhơn giai đoạn trước, và cũng giảm xuống vào năm 2009
Giai đoạn từ cuối nửa năm 1998 đến 1999, hoạt động NK cũng chịu tác độngcủa khủng hoảng tài chính khu vực nên quy mô NK không tăng, do sản xuất trongnước bị thu hẹp
Từ 2007, sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO thì kimngạch NK càng tăng nhanh và nhiều hơn trước
Năm 2009 kim ngạch XNK của Việt Nam đã giảm xuống 11,4%, XK giảm9,2%, kim ngạch NK giảm 13% so với năm 2008 Nguyên nhân là do hoạt độngthương mại nói chung và XK của Việt Nam nói riêng năm 2009 chịu ảnh hưởng rấtlớn từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, làm cho nhu cầu NK hàng hóa của ViệtNam và giá cả quốc tế giảm sút mạnh Đồng thời, các nước gia tăng các biện phápbảo hộ mới, đặt ra nhiều hơn các rào cản phi thuế Do đó, hoạt động XK chịu tácđộng tiêu cực trên cả ba phương diện: (1) đơn đặt hàng ít đi do bạn hàng gặp khókhăn về tài chính, nhu cầu của người tiêu dùng nước NK suy giảm; (2) giá cả nhiềumặt hàng XK chủ lực của Việt Nam như dầu thô, than đá, lúa gạo, cao su, cà phê,hạt tiêu, thủy sản bị sụt giảm mạnh so với năm 2008; (3) các doanh nghiệp kinhdoanh hàng XK gặp khó khăn về vốn và đầu ra, kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài Nhưng đứng trước tình hình đó, ngành công thương đã tích cực phốihợp với các Bộ, ngành hữu quan, các Hiệp hội ngành nghề, các địa phương đề ranhiều giải pháp tích cực, chủ động tạo điều kiện đẩy mạnh XK, nên phần lớn mặthàng đã có khối lượng XK tăng hơn năm 2008 (lượng XK tăng, làm tăng kim ngạchkhoảng 1,5 tỷ USD), nhưng do tốc độ giảm giá lớn hơn (khoảng 11 tỷ USD, tươngđương giảm 17 - 18% kim ngạch XK, trong đó: nhóm nông sản, thủy sản giảm 2,7
tỷ USD; nhóm nhiên liệu khoáng sản giảm 4,6 tỷ USD; nhóm công nghiệp chế biếngiảm 3 - 4 tỷ USD) nên tổng kim ngạch XK cả năm bị giảm 9,2% so với năm 2008.Bên cạnh đó, kim ngạch NK năm 2009 cũng giảm xuống NK hàng hoá giảm chủyếu do sản xuất trong nước giảm và giá hàng hóa NK cũng giảm hơn năm 2008,nhất là trong những tháng đầu năm Tuy nhiên, NK đã tăng dần trong những tháng
Trang 30cuối năm, do sự phục hồi của nền kinh tế và chính sách kích cầu của Chính phủ cótác dụng, bên cạnh đó có tâm lý tranh thủ NK để dự trữ khi giá NK thấp Vì vậy,tổng kim ngạch XNK của cả nước năm 2009 đã giảm xuống so với năm 2008 Tuynhiên, nếu loại trừ yếu tố đột biến về thị trường và giá hàng hoá trên thế giới năm
2008, XK năm 2009 vẫn có tốc độ tăng khá so với dãy số thời gian của các nămtrước: tăng 74,1% so với năm 2005, tăng 41,8% so với năm 2006, tăng 16,3% sovới năm 2007
3.1.2 Về thị trường xuất nhập khẩu
Về thị trường XK: Đến nay, hàng hoá XK nước ta đã vươn tới hầu hết cácquốc gia và vùng lãnh thổ Thị trường XK chủ yếu của Việt Nam là Mỹ, EU,ASEAN, Trung Quốc
Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 ở Mỹ và sau đó lan rộng ra toàn thếgiới năm 2008, đã ảnh hưởng đến XK của nước ta vào EU và Hoa Kỳ khiến tốc độtăng XK vào hai thị trường này giảm so với năm 2007 Nhưng từ năm 2008, nước tatiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hoá thị trường XK, nhiều chủng loại hàng hoá đãvào được các thị trường XK mới, giảm dần XK qua các thị trường trung gian, đặcbiệt XK vào thị trường châu Phi tăng đột biến Năm 2009, tình hình kinh tế thế giớinói chung và Việt Nam nói riêng đã bước đầu có sự hồi phục, Việt Nam thực hiệnchính sách kích cầu và nhiều chính sách khuyến khích, ưu đãi về lãi suất đã giúpcác doanh nghiệp duy trì và thúc đẩy hoạt động XK Tuy nhiên, trong năm 2009 chỉ
có duy nhất XK sang thị trường khu vực Châu Phi có mức tăng trưởng dương, ướckhoảng 17,5% do tăng XK gạo sang thị trường Bờ biển Ngà và tái XK vàng sangNam Phi, còn các thị trường khác đều giảm, giảm mạnh nhất là thị trường châu Đạidương (khoảng 44,8%) do lượng dầu thô XK sang Ôxtrâylia giảm
Biểu đồ 2.2: Kim ngạch XK sang một số thị trường lớn từ năm 2007 - 2009
Trang 31Nguồn: Bộ Công Thương
Về thị trường NK, châu Á vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất Năm 2009 kim ngạch
NK từ khu vực này chiếm 77,8% kim ngạch NK cả nước Trong đó, từ ASEAN chiếmhơn 19,8%, các nước Đông Á chiếm 53,9%, riêng Trung Quốc chiếm hơn 23,2%
3.1.3 Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Hiện nay, các mặt hàng XK chủ yếu của Việt Nam bao gồm: dầu thô, hàngdệt may, giày dép, thủy sản, sản phẩm gỗ, hàng điện tử và linh kiện, cà phê, gạo,cao su, hồ tiêu, than đá
0 2.000
Trang 32Bảng 2.2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam từ 2007 – 2009
Đơn vị: Triệu USD, %
3.1.4 Về cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Về cơ cấu hàng NK, tỷ trọng NK tư liệu sản xuất ngày càng tăng, trong khi
tỷ trọng hàng tiêu dùng NK ngày càng giảm Các mặt hàng NK chủ yếu là: máymóc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, xăng dầu, thép thành phẩm, linh kiện điện tử vàmáy tính, vải, chất dẻo, nguyên phụ liệu dệt may da, hóa chất, sản phẩm hóa chất,thức ăn gia súc và phôi thép
Bảng 2.3: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ 2007 - 2009
Đơn vị: Triệu USD, %
Trang 33Tỷ trọng Tổng kim ngạch NK
62764,7 100 80477,
6 100 69948,8 100 Theo cơ cấu nhóm hàng
1 Máy móc thiết bị & phụ
7 Nguyên phụ liệu dệt may 2152 2355 1931,9
Nguồn: Tổng cục thống kê và tác giả tính toán 3.2 Thương mại Việt Trung giai đoạn 1991 đến nay
Từ sau năm 1978, quan hệ hữu nghị Việt Trung có phần lắng xuống, khu vựcbiên giới trở thành điểm nóng về an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Vì vậyhai nước đã phải đóng cửa hàng loạt các cửa khẩu biên giới Quan hệ kinh tế thươngmại bị ngưng trệ đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ phát triển kinh tế của hainước và đặc biệt là khu vực kinh tế cửa khẩu
Sau nhiều nỗ lực cố gắng, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức bìnhthường hóa quan hệ trở lại vào cuối năm 1991 Từ đó đến nay, quan hệ giữa hainước nói chung và quan hệ kinh tế - thương mại nói riêng đã có những bước pháttriển vượt bậc và đang dần trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đốingoại của cả hai nước
Từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay,kim ngạch thương mại hai chiềugiữa hai nước đã tăng lên nhanh chóng, hàng hóa trao đổi qua các cửa khẩu biêngiới Việt – Trung hết sức nhộn nhịp, thị trường khu vực vùng biên đã nhanh chóngtrở thành một trong những nơi sôi động nhất nước ta, đặc biệt là tại các cửa khẩuLạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hải Phòng và Quảng Ninh Quan hệ thương mại
Trang 34giữa hai nước từ năm 1991 trở lại đây phát triển không ngừng với quy mô khá lớn,tuy nhiên vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của cả hai nước.
Theo số liệu thống kê, tổng giá trị kim ngạch XNK giữa hai nước năm 1991chỉ đạt 37,7 triệu USD đến năm 1993 đã là 221,2 triệu USD, năm 2002 là trên 3,6 tỷUSD, năm 2007 là 15,86 tỷ USD và đến năm 2008 là 20,16 tỷ USD, năm 2009 là20,75 tỷ USD, tăng hơn 550 lần so với năm 1991 Về cơ cấu hàng hóa XNK ngàycàng mở rộng, ngoài những mặt hàng XK truyền thống như dầu thô, cao su, hảisản… hai bên đã bổ sung một số mặt hàng có thế mạnh khác như hàng điện tử, hoaquả tươi…
3.2.1 Về quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc
Bảng 2.4: Kim ngạch XNK của Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 1991 – 2009.
Đơn vị: Triệu USD, %
Năm Tổng kim
ngạch XNK
Kim ngạch XK
Kim ngạch NK
Cán cân thương mại
Tỷ lệ nhập siêu (%)
Trang 35Kể từ năm 1991 khi hai nước tiến hành bình thường hóa quan hệ, quan hệthương mại Việt – Trung luôn có bước phát triển rất ấn tượng Theo số liệu củaTổng Cục Hải Quan Việt Nam tốc độ tăng trưởng bình quân kim ngạch XNK giữahai nước giai đoạn 1996 – 2001 đạt 35,2%/năm Tổng kim ngạch mậu dịch haichiều giai đoạn này đạt 9,49 tỷ USD
Biểu đồ 2.3: Kim ngạch XNK giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2001 – 2009
0 5000 10000 15000 20000 25000
Tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc liên tụctăng trong giai đoạn từ 1991 đến nay, chỉ giảm nhẹ do những dao động của thịtrường hàng năm Từ kim ngạch gần 3 tỷ USD vào năm 2000, hai nước đã đưa ramục tiêu kim ngạch buôn bán hai chiều 5 tỷ USD vào năm 2005 (tăng bình quân11,1%/năm), nhưng mục tiêu này đã đạt được ngay từ năm 2003 bởi kim ngạch đãlên tới 5,02 tỷ USD Đến năm 2005, kim ngạch ngoại thương giữa hai nước đạt 9,13
tỷ USD (cao gấp 1,82 lần so với mục tiêu đặt ra) và đạt nhịp độ tăng trưởng bìnhquân 19,79%/năm Năm 2006, với kim ngạch thương mại hai chiều đạt 10,63 tỷUSD, “ngưỡng” 10 tỷ USD cũng đã bị vượt qua Năm 2007 và 2008, các con sốtương ứng là 16,06 và 20,16 tỷ USD
Năm 2009, kim ngạch XNK đạt 20,75 tỷ USD, thấp hơn so với dự kiến Kimngạch giữa hai nước tăng không nhiều như vậy cũng nằm trong bối cảnh chung củakim ngạch XNK chung của cả nước
Trang 36Ngoài ra, qua bảng số liệu và biểu đồ trên ta cũng có thể nhận thấy rằng, tuytổng kim ngạch XNK liên tục tăng nhưng tỷ lệ kim ngạch XK trên tổng kim ngạchsong phương thì lại liên tục giảm dần từ năm 2001 đến 2007: từ 46,8% năm 2001xuống còn 20,8% năm 2007; từ 2008 – 2009 có tiến triển, tỷ lệ này tăng lên là22,5% năm 2008 và 23% năm 2009 So sánh giữa tốc độ tăng kim ngạch XK và kimngạch NK ta cũng thấy một điều đáng lo ngại nữa trong quan hệ thương mại haichiều giữa Việt Nam và Trung Quốc Đó là, trong khi XK tăng chậm và khôngnhiều thì NK lại tăng rất nhanh Điều này lý giải vì sau trong thời gian gần đây ViệtNam liên tục ở trong tình trạng nhập siêu với Trung Quốc, và mức nhập siêu ngàycàng gia tăng.
Mặc dù vậy, với những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, hiện nayTrung Quốc đã vươn lên thành đối tác XK lớn thứ 3 của Việt Nam (sau Mỹ và NhậtBản) và là đối tác NK lớn nhất của Việt Nam
Trang 373.2.2 Về cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc
Biểu đồ 2.4: Cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc giai đoạn 1991 - 2009
Cán cân thương mại
Cán cân thương mại
Cán cân thương mại Việt Nam – Trung Quốc trong giai đoạn từ 1991 đếnnay chia làm hai xu hướng: luôn dương trong các năm từ 1991 đến 2000 và mangdấu âm từ 2001 – 2009
Giai đoạn 1991 – 1995, tổng xuất siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc là298,7 triệu USD, chiếm 32,9% so với kim ngạch XK của Việt Nam vào TrungQuốc Giai đoạn 1996 – 2000, tổng xuất siêu đạt 214,6 triệu USD, chỉ chiếm 6,1%,thấp hơn cả về số tuyệt đối và số tương đối so với giai đoạn trước (tỷ lệ 6,1% nàychỉ bằng 1/6 so với giai đoạn 1991 – 1995) Như vậy trong suốt thời kỳ 1991 –
2000, Việt Nam liên tục xuất siêu sang Trung Quốc (chỉ trừ năm 1998 có đột biến làcán cân thương mại mang dấu âm -74,9 triệu USD, do ảnh hưởng của khủng hoảngtài chính khu vực Đông Nam Á, chiếm 17% so với kim ngạch XK của Việt Namvào Trung Quốc của năm này) Tổng xuất siêu của Việt Nam vào Trung Quốc cảthời kỳ 1991 – 2000 là 513,3 triệu USD, chiếm 11,5% so với tổng kim ngạch XKgiai đoạn này và chiếm 0,7% so với kim ngạch XK của cả nước thời kỳ này Đây là
Trang 38thời kỳ tốc độ tăng trưởng xuất siêu bình quân của Việt Nam đối với thị trườngTrung Quốc là khá cao (79,5%).
Các số liệu thống kê XNK hàng hóa của Việt Nam với Trung Quốc trong 9năm gần đây cho thấy, từ xuất phát điểm xuất siêu 135,3 triệu USD năm 2000, bằng8,8% kim ngạch XK và bằng 9,7% kim ngạch NK năm này thì đến 2001 đã chuyểnsang nhập siêu gần gấp rưỡi (-188,8 triệu USD), bằng 14,8% kim ngạch XK và liêntục tăng trong các năm tiếp theo Như vậy, giai đoạn 2001 - 2009 cán cân thươngmại Việt Nam – Trung Quốc luôn mang dấu âm và mức độ thâm hụt thương mạicủa Việt Nam trong quan hệ thương mại với Trung Quốc ngày càng lớn và tăng khánhanh: năm 2008 thâm hụt thương mại của Việt Nam là trên 11,1 tỷ USD, tốc độthâm hụt bình quân cả thời kỳ này tới 73,5%/năm, năm 2009 con số thâm hụtthương mại đã là 11,2 tỷ USD Một điểm đáng chú ý là mức độ thâm hụt giữa cácnăm gần đây đang ở mức báo động Nếu như năm 2001 mức thâm hụt của chúng tamới chỉ là 188,8 triệu USD thì năm 2002 đã là 640,5 triệu USD, năm 2003 là 1,25
tỷ USD, năm 2004 là 1,7 tỷ USD, năm 2005 là 2,7 tỷ USD, thâm hụt năm 2006 tăngđến mức 4,1 tỷ USD, năm 2007 với mức thâm hụt trên 9 tỷ USD và đến 2 năm gầnđây thì mức thâm hụt đã là con số có hai chữ số (hơn 11 tỷ USD) Đây thực sự làmức nhập siêu rất cao, bởi chỉ riêng nhập siêu từ thị trường này đã chiếm tỷ trọngkhá lớn trong tổng mức nhập siêu của nước ta
Bảng 2.5: Tỷ lệ nhập siêu từ thị trường Trung Quốc so với tổng mức nhập siêu
của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2009
Đơn vị: Triệu USD, %
Trang 39Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng nhập siêu từ thị trường Trung Quốc ngày càng lớn cả về giá trị và tỷ lệ tương đối Năm 2001 nhập siêu từ Trung Quốc
là 188,8 triệu USD, năm 2009 đã lên tới 11,19 tỷ USD, gấp 59,3 lần, đó là hệ quảtất yếu do XK của Việt Nam sang Trung Quốc cũng trong thời gian đó chỉ tăng 3,37lần, còn NK tăng tới 9,94 lần Tỷ lệ nhập siêu từ thị trường Trung Quốc năm 2001
là 13,32%; năm 2007, tỷ lệ đó đã vọt lên 280% và đến năm 2009 là 234%
Tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc luôn lớn hơn tỷ lệ nhập siêu của cả nước.
Năm 2001 tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc là 13,32% trong khi tỷ lệ nhập siêu của cảnước là 7,91% Từ năm 2006, các cặp số tương ứng vẫn “tuân thủ quy luật” đónhưng độ dãn cách lớn hơn Năm 2006 là 127,93% và 12,72%; năm 2007 là: 279,85
và 29,25%; năm 2008 là 244,49% và 27,84%; năm 2009 là 234,03% và 22,51%
Nhập siêu từ Trung Quốc chiếm phần lớn tổng nhập siêu của Việt Nam.
Năm 2001, tỷ trọng nhập siêu từ Trung Quốc chiếm là 15,58% nhập siêu của cảnước Tỷ trọng đó bình quân 4 năm 2006 -2009 lên 74,55%, trong đó năm 2008thấp nhất là 63,33% và năm 2009 cao nhất là 87,06%
Khi chiến lược “một trục hai cánh” của Chính phủ Trung Quốc được cácquốc gia liên quan phê chuẩn và chính thức có hiệu lực thì hàng hóa từ Trung Quốcvới cơ cấu đa dạng, mẫu mã phong phú, giá cả cạnh tranh sẽ dễ dàng chiếm lĩnh vàthâm nhập thị trường Việt Nam Đồng thời, khi mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều
đã là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới WTO và khu mực mậu dịch tự doASEAN – Trung Quốc chính thức đi vào hoạt động vào năm 2010, các rào cảnthương mại giữa hai nước được dỡ bỏ, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng chocác doanh nghiệp của hai nước thì hàng loạt hàng hóa XNK sẽ được miễn, giảmthuế Khi đó hàng hóa Trung Quốc lại càng dễ dàng thâm nhập vào thị trường ViệtNam Vì vậy, nếu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam không đủ sức thâm nhập vào thịtrường Trung Quốc thì mức thâm hụt thương mại hàng năm của Việt Nam trongquan hệ thương mại với Trung Quốc sẽ rất lớn, gấp khoảng 5 - 6 lần tổng giá trịhàng hóa XK của Việt Nam sang Trung Quốc hàng năm
Trang 403.2.3 Về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
Hiện nay, Trung Quốc đang là bạn hàng NK số 1 về cao su, than đá Ngoài
ra, thủy sản, rau quả tươi cũng là mặt hàng có tỷ trọng đáng kể Một số mặt hàngtiêu dùng của Việt Nam cũng bắt đầu thâm nhập và từng bước mở rộng thị phầntrên thị trường Trung Quốc như: giầy dép, hàng dệt may, linh kiện điện tử… Than
đá đứng đầu trong các mặt hàng Việt Nam bán sang Trung Quốc, mang về thu nhậpcho ngân sách 935,84 triệu USD, tiếp theo là cao su (856,71 triệu USD) và dầu thô(462,62 triệu USD) (năm 2009)
Trong 9 năm gần đây, nhìn chung cơ cấu hàng hóa XK sang thị trường TrungQuốc đã không ngừng được mở rộng Cụ thể, ở thời điểm năm 2001, trong danhmục những mặt hàng chủ yếu của nước ta XK sang thị trường Trung Quốc đạt kimngạch từ 1 triệu USD trở lên tuy gồm 15 mặt hàng, nhưng tổng cộng cũng chỉ đạt1,156 tỷ USD và chiếm 81,52% tổng kim ngạch XK của năm này ở thị trườngTrung Quốc; thì đến năm 2008, các con số tương ứng lần lượt là 22 mặt hàng vớitổng trị giá là 3,407 tỷ USD và chiếm 75,13% tổng kim ngạch XK với Trung Quốc
Số mặt hàng đạt quy mô XK 10 triệu USD trở lên năm 2001 chỉ gồm 8 mặt hàng thìđến năm 2008 là 15 mặt hàng
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế, đó là hiện nay, hàng Việt Nam
XK sang Trung Quốc chủ yếu là hàng thô, hàm lượng công nghệ thấp hoặc là hàngtươi sống, khó bảo quan Vì vậy, khi mà nước bạn thay đổi chính sách NK của mìnhthường dẫn đến tình trạng hàng Việt Nam không thể xuất đi được, gây ùn tắc ở khuvực cửa khẩu biên giới, và sau đó rất nhiều mặt hàng phải bỏ đi, không sử dụng tiếpđược (ví dụ như: dưa hấu, vải thiều…)
Bảng 2.6: Các mặt hàng XK chủ yếu của Việt Nam sang Trung Quốc
Đơn vị: Triệu USD