CƠ SỞ LÝ LUẬN
Khái quát về NHTM
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng
Ngân hàng đã hình thành và phát triển song song với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá, đặc biệt trong giai đoạn kinh tế thị trường, đã thúc đẩy ngân hàng ngày càng hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính thiết yếu.
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm hoạt động kinh doanh tiền tệ và cung cấp dịch vụ ngân hàng, bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán Ngân hàng, một loại hình tổ chức tín dụng, thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh liên quan, trong đó chủ yếu là nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán, theo quy định tại Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH) ban hành ngày 26/12/1997.
1.1.2 Đặc điểm kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Giống như các loại hình doanh nghiệp khác, ngân hàng thương mại (NHTM) cũng hoạt động với mục tiêu chính là tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, NHTM có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp trong các ngành nghề khác.
Tiền vừa là phương tiện kinh doanh, vừa là mục đích kinh doanh, đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh (Lê Phúc Minh Chuyên, 2015)
Vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn của người khác, hoạt động theo cơ chế “đi vay để cho vay”
Hoạt động chứa nhiểu rủi ro do quan hệ với nhiều khách hàng và trên nhiều lĩnh vực
Sản phẩm của ngân hàng chủ yếu là dịch vụ, trong đó tín dụng là một sản phẩm đặc biệt, tạo ra những điểm khác biệt cho ngân hàng.
Tính liên kết của hệ thống trong quá trình kinh doanh giữa các ngân hàng luôn có mối quan hệ hợp tác liên kết
Các sản phẩm ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ, khiến việc tách riêng từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm để đánh giá kết quả và hiệu quả kinh doanh trở nên khó khăn (Lê Phúc Minh Chuyên, 2015).
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường Hệ thống này giúp huy động các nguồn tiền nhàn rỗi, tạo ra một nguồn vốn tín dụng lớn để hỗ trợ cho vay và phát triển kinh tế.
Ngân hàng thương mại (NHTM) thực hiện ba chức năng chính, bao gồm chức năng trung gian tài chính, chức năng tạo tiền và chức năng cung cấp dịch vụ tài chính Những chức năng này không chỉ giúp tối ưu hóa nguồn lực tài chính mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế (Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn, 2012)
1.1.3.1 Chức năng trung gian tài chính
Chức năng trung gian tài chính của ngân hàng thương mại (NHTM) là yếu tố quan trọng nhất, hoạt động như cầu nối giữa người thừa vốn và người cần vốn NHTM không chỉ là người đi vay mà còn là người cho vay, thu lợi từ chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và tiền vay Chức năng này mang lại lợi ích cho cả người gửi tiền và người vay, tạo ra sự cân bằng trong hệ thống tài chính.
1.1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán Ở đây, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh cùa họ Các NTHM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó (Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn, 2012) Việc các NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian giao dịch lại đảm bảo được việc thanh toán an toàn Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng thương mại (Đặng Thị Việt Đức, Phan Anh Tuấn, 2012)
Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc tạo tiền, từ đó gia tăng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế và đáp ứng nhu cầu chi trả của xã hội Khái niệm về tiền không chỉ giới hạn ở tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành, mà còn bao gồm lượng tiền ghi sổ do các ngân hàng thương mại tạo ra, tạo nên một phần thiết yếu của hệ thống tài chính.
Chức năng của tín dụng ngân hàng thể hiện mối quan hệ chặt chẽ với lưu thông tiền tệ Khi ngân hàng thương mại cho vay một khối lượng tín dụng lớn, khả năng tạo tiền của ngân hàng này được nâng cao, dẫn đến sự gia tăng trong lượng tiền cung ứng trên thị trường.
Ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ giữa các chức năng, trong đó chức năng trung gian tín dụng là cơ bản nhất, tạo nền tảng cho các chức năng khác Việc thực hiện hiệu quả chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền không chỉ nâng cao nguồn vốn tín dụng mà còn mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
1.1.4 Các hoạt động của ngân hàng thương mại
Hoạt động ngân hàng bao gồm việc kinh doanh và cung ứng các dịch vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, và cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản, theo quy định tại khoản 1 điều 6 của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
1.1.4.1 Nhận tiền gửi Đây là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức các hình thức: Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi có kỳ hạn; Tiền gửi tiết kiệm; Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu; Các hình thức nhận tiền gửi khác
Nguyên tắc chính trong hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng là hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi cho người gửi theo thỏa thuận Mặc dù nghiệp vụ huy động vốn không mang lại lợi nhuận trực tiếp, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) NHTM cần huy động vốn từ khách hàng để thực hiện các hoạt động kinh doanh như cấp tín dụng, vì vốn điều lệ chỉ đủ để tài trợ cho tài sản cố định Nghiệp vụ huy động vốn không chỉ cung cấp nguồn vốn cho ngân hàng mà còn giúp đo lường uy tín và sự tín nhiệm của khách hàng Đối với khách hàng, nghiệp vụ này mang lại kênh tiết kiệm và đầu tư, giúp tiền sinh lời và tạo cơ hội gia tăng tiêu dùng trong tương lai.
Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế hàng hóa, tồn tại mối quan hệ tín dụng giữa những người tạm thời thừa vốn và những người thiếu vốn Một số cá nhân có vốn nhàn rỗi và nhu cầu cho vay, trong khi đó, một số khác lại cần vay vốn Hiện tượng này tạo ra sự dịch chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, kèm theo điều kiện hoàn trả vốn và lãi suất Lợi nhuận từ việc chuyển giao quyền sử dụng vốn vay chính là động lực cho quan hệ tín dụng này.
Tín dụng là mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lãi suất, nhằm đáp ứng nhu cầu của cả hai bên Điều này cho thấy tín dụng mang tính chất bình đẳng, với lợi ích chung và sự thỏa thuận rõ ràng giữa các bên liên quan.
Quan hệ tín dụng đã xuất hiện từ lâu, bắt đầu từ giai đoạn tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy Qua thời gian, tín dụng đã phát triển từ những hình thức đơn giản đến phức tạp, đồng hành cùng sự tiến bộ của nền kinh tế thị trường Các hình thức tín dụng mới đã được hình thành, phản ánh sự phát triển của kinh tế và xã hội, bao gồm tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng Mỗi hình thức này đều gắn liền với các điều kiện kinh tế xã hội cụ thể và hiện nay vẫn tồn tại, bổ sung cho nhau, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.
1.2.1.2 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng quan trọng, đóng vai trò chủ yếu trong việc đáp ứng nhu cầu tín dụng cho doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế Với sự phát triển của công nghệ ngân hàng hiện đại, tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên cần thiết và không thể thiếu cả trong nước lẫn quốc tế.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế (Dương Đăng Chinh, 2005)
Tín dụng ngân hàng là quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng đến khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, kèm theo một khoản chi phí cụ thể.
Từ những định nghĩa trên, chúng ta đúc kết được rằng:
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong xã hội Đây không phải là sự chuyển vốn trực tiếp mà là thông qua ngân hàng như một tổ chức trung gian Tín dụng ngân hàng có bản chất của quan hệ tín dụng, bao gồm việc vay mượn với cam kết hoàn trả cả vốn lẫn lãi sau một thời gian nhất định, đồng thời thể hiện sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, mang lại lợi ích cho cả hai bên.
1.2.2 Chức năng và vai trò của tín dụng ngân hàng
1.2.2.1 Chức năng của tín dụng ngân hàng
Chức năng của việc tập trung và phân phối nguồn tài chính trong nền kinh tế được thực hiện thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tập trung trong quá trình mua vốn và phân phối vốn.
Tín dụng là quá trình chuyển giao vốn giữa các cá nhân và doanh nghiệp, trong đó những người hoặc tổ chức có vốn tạm thời chưa sử dụng sẽ cung cấp cho những chủ thể cần vốn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh Nhờ vào tín dụng, các bên vay vốn có thể nhận được nguồn tài chính kịp thời để đáp ứng nhu cầu trong sản xuất và tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong phân phối tín dụng, huy động vốn từ các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi và tiết kiệm của người dân để tạo quỹ cho vay Quá trình này không chỉ giúp cung cấp vốn cho những nhu cầu cần thiết mà còn dựa trên nguyên tắc hoàn trả, đảm bảo sự ổn định và bền vững trong hoạt động tín dụng.
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc tăng tốc độ luân chuyển đồng tiền, từ đó nâng cao hiệu quả sinh lời của vốn và giảm chi phí tiền mặt lưu thông (Phan Thị Cúc, 2008) Bên cạnh việc thúc đẩy dòng tiền, ngân hàng cũng hoạt động như một doanh nghiệp, với mục tiêu sinh lời luôn được đặt lên hàng đầu Mọi quyết định và kế hoạch của ngân hàng đều phải xem xét yếu tố lợi nhuận để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững.
Chức năng kiểm soát và phản ánh hoạt động kinh tế của ngân hàng có thể được nhìn nhận từ hai góc độ Ở cấp độ vi mô, ngân hàng kiểm soát việc sử dụng vốn của khách hàng thông qua tín dụng, từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn Ở cấp độ vĩ mô, thông qua cung tín dụng, Chính phủ có thể theo dõi sự tăng trưởng sản lượng, tạo việc làm và mức lạm phát, đồng thời kiểm soát tình hình tài chính của công dân, đảm bảo sự ổn định của nền kinh tế (Nguyễn Thị Mùi, 2006).
1.2.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một mối quan hệ kinh tế quan trọng, có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Nguồn vốn tín dụng từ ngân hàng giúp doanh nghiệp bổ sung vốn thiếu hụt và mở rộng sản xuất, đảm bảo quy trình sản xuất diễn ra bình thường Ngoài ra, doanh nghiệp có thể cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới để nâng cao tính cạnh tranh Tín dụng còn thúc đẩy nhanh chóng quá trình sản xuất và tiêu thụ, duy trì mối liên hệ chặt chẽ giữa sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, quan hệ quốc tế ngày càng được củng cố, khiến mỗi quốc gia trở thành một phần không thể thiếu của thị trường toàn cầu Tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng quốc tế đóng vai trò quan trọng, hỗ trợ việc kết nối và chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia, từ đó rút ngắn thời gian phát triển.
Như vậy, hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế
Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đó giúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất
Một số vấn đề cho vay dành cho khách hàng cá nhân trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đó bên cho vay cung cấp cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng cho mục đích cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định Khách hàng có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng theo nguyên tắc vô điều kiện (Nguyễn Minh Châu, 2011).
Cho vay là quá trình chuyển nhượng tạm thời giá trị từ ngân hàng thương mại (NHTM) sang người vay, với cam kết rằng sau một thời gian, giá trị này sẽ trở lại với số lượng lớn hơn ban đầu.
Cho vay là hình thức chuyển nhượng vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu trong một khoảng thời gian và chi phí đã thỏa thuận Đối tượng vay vốn bao gồm cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài và hộ gia đình Các hình thức cho vay bao gồm cho vay kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình, thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, và mua sắm hàng hóa, thiết bị gia đình, phương tiện giao thông như ô tô và xe máy.
Cho vay là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng, với nhu cầu vay vốn của khách hàng rất phong phú và đa dạng Để quản lý và kiểm tra hiệu quả, các ngân hàng cần thiết lập các quy trình cho vay phù hợp thông qua việc phân loại tín dụng Có nhiều cách phân loại tín dụng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, nhưng thường được phân loại theo một số tiêu thức nhất định.
1.3.2.1 Căn cứ vào mục đích cho vay
Cho vay phục vụ sản xuất là hình thức hỗ trợ tài chính cho các hộ gia đình nông nghiệp, các cơ sở sản xuất thực phẩm, hàng tiêu dùng và thủ công mỹ nghệ.
Cho vay với mục đích kinh doanh: Đây là các tiều thương kinh doanh nhiều loại hàng hóa
Cho vay với mục đích tiêu dùng: Như mua sắm trang thiết bị, dụng cụ tiện nghi trong gia đình, nhu cầu học tập, du lịch…
Cho vay với mục đích sửa chữa, xây dựng nhà ở
Cho vay khác: Gồm các loại không xếp hạng trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán
1.3.2.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay
1.3.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Cho vay không đảm bảo là hình thức cho vay mà không cần tài sản thế chấp, cầm cố hay sự bảo lãnh từ bên thứ ba Hình thức này hoàn toàn dựa vào uy tín và khả năng tín dụng của khách hàng.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay có sự bảo đảm của tài sản thế chấp, cầm cố hay có bảo lãnh của bên thứ ba
1.3.2.4 Căn cứ vào phương thức cho vay
Cho vay từng lần là hình thức tín dụng mà ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng riêng cho mỗi khoản vay theo nhu cầu Mỗi khi khách hàng cần vay vốn, hợp đồng sẽ được ký kết lại từ đầu.
Cho vay theo hạn mức tín dụng là hình thức mà ngân hàng và khách hàng ký kết hợp đồng tín dụng, cho phép khách hàng sử dụng một khoản vay nhất định trong thời gian quy định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng cung cấp dịch vụ cho vay theo dự án đầu tư, nhằm hỗ trợ khách hàng trong việc thực hiện các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, cũng như các dự án phục vụ đời sống.
1.3.2.5 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Cho vay trực tiếp: Ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng
Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay diễn ra thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và vẫn còn trong thời hạn thanh toán.
1.3.2.6 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Cho vay có thời hạn là hình thức cho vay mà trong đó các bên thỏa thuận một thời gian cụ thể để trả nợ, có thể bao gồm một kỳ hạn duy nhất hoặc nhiều kỳ hạn Hình thức này cũng cho phép hoàn trả nợ nhiều lần mà không cần xác định kỳ hạn cụ thể.
Cho vay không có thời hạn là hình thức cho vay cho phép ngân hàng yêu cầu người vay hoàn trả nợ bất kỳ lúc nào Tuy nhiên, người vay cần thông báo trước một khoảng thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa thuận trong hợp đồng.
1.3.3 Nguyên tắc hoạt động cho vay
Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo:
Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Việc hoàn trả nợ gốc và lãi suất của khoản vay cần được thực hiện đúng thời hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Điều này được quy định rõ ràng theo Điều 6 của Quyết định từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
Nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng ngân hàng
Nguyên tắc sử dụng vốn vay đảm bảo hiệu quả và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng Mỗi lần vay, khách hàng cần làm giấy đề nghị rõ ràng về mục đích sử dụng vốn và kèm theo phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả Việc sử dụng vốn vay đúng mục đích là bắt buộc; nếu ngân hàng phát hiện sai mục đích, họ có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn.
Nguyên tắc hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi
Nguyên tắc tín dụng xuất phát từ bản chất giao dịch cung cầu về vốn, trong đó tín dụng là quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định Trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng và bên vay thỏa thuận rằng ngân hàng sẽ chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định cho bên vay Khi hết thời hạn, bên vay phải hoàn trả quyền này cho ngân hàng (trả nợ gốc) cùng với một khoản chi phí (lãi vay) nhất định Nguyên tắc này đảm bảo rằng tiền vay không bị giảm giá, đồng thời đảm bảo việc thu hồi đầy đủ và có sinh lời từ khoản vay.
Rủi ro khi cho vay
Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng không thể hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn, do các biến cố không lường trước được Nguyên nhân có thể đến từ yếu tố chủ quan hoặc khách quan, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của ngân hàng.
Biểu hiện của rủi ro là khi nợ xấu ngày càng lớn và lãi chưa thu hồi ngày càng tăng
Nguyên nhân phát sinh rủi ro nợ xấu tại các ngân hàng thương mại không chỉ đến từ quy trình xét duyệt cho vay của cán bộ tín dụng mà còn chịu ảnh hưởng từ khách hàng và các yếu tố khách quan bên ngoài Dù quy trình này có cẩn thận đến đâu, rủi ro nợ xấu vẫn có thể xảy ra do các yếu tố chủ quan và khách quan tác động.
1.4.1 Nguyên nhân từ phía các NHTM
Rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ việc phân tích và thẩm định tín dụng không kỹ lưỡng, dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay Ngoài ra, ngay cả khi quyết định cho vay đúng đắn, việc thiếu kiểm tra và kiểm soát sau cho vay cũng có thể khiến ngân hàng không phát hiện kịp thời việc khách hàng sử dụng vốn sai mục đích (Lê Văn Tư, 2008).
Cần chú trọng đến đạo đức của cán bộ tín dụng và người phê duyệt tín dụng, tránh tình trạng thiếu trách nhiệm hoặc cho vay vì lợi ích cá nhân Hệ thống ngân hàng cần cải thiện hiệu quả trong công tác tổ chức, kiểm tra và giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý các vi phạm.
1.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn
Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu từ phía khách hàng bao gồm quản lý nguồn vốn kém, sử dụng không đúng mục đích, hoặc đầu tư quá dàn trải, gây thất thoát và thiếu vốn, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Ngoài ra, việc khách hàng cung cấp thông tin tài chính không trung thực cũng làm tăng rủi ro tín dụng, dẫn đến nợ xấu cho ngân hàng Hơn nữa, sự thiếu thiện chí trong việc trả nợ cùng với biện pháp thu hồi nợ không hiệu quả của ngân hàng càng làm tình hình trở nên nghiêm trọng.
Môi trường tự nhiên có thể mang lại nhiều rủi ro cho khách hàng vay vốn trong hoạt động kinh doanh, như thiên tai, lũ lụt, hỏa hoạn, dịch bệnh và chiến tranh Những yếu tố này có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp, khiến những người đi vay trước đây làm ăn hiệu quả rơi vào tình trạng thua lỗ và mất khả năng trả nợ.
Môi trường kinh tế ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của ngân hàng, vì đây là lĩnh vực nhạy cảm với biến động xã hội Khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng, doanh nghiệp có khả năng hoạt động hiệu quả và dễ dàng trả nợ cho ngân hàng thương mại Ngược lại, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, khả năng trả nợ của doanh nghiệp sẽ giảm sút.
Khi nền kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp đối mặt với thua lỗ và phá sản, dẫn đến sức mua giảm và hàng hóa bị ứ đọng Hệ quả là các khoản vay ngân hàng không được trả, làm gia tăng nợ quá hạn, từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế xã hội.
Khi nền kinh tế đối mặt với lạm phát cao, rủi ro tín dụng gia tăng do người gửi tiền lo ngại về việc đồng tiền mất giá trong ngân hàng Đồng thời, nhu cầu vay vốn của người đi vay cũng tăng lên, kéo dài thời gian vay Tình trạng này ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, khiến các khoản đầu tư trở nên kém hiệu quả và có thể dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng.
Môi trường pháp lý và chính sách vĩ mô của Chính phủ có tác động đáng kể đến hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Những thay đổi trong quy hoạch hạ tầng, cơ chế lãi suất và chính sách thuế sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của người vay, từ đó làm thay đổi năng lực trả nợ của khách hàng đối với ngân hàng.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, mỗi quốc gia đóng vai trò như một tế bào trong nền kinh tế toàn cầu, với hoạt động kinh tế của một nước có ảnh hưởng trực tiếp đến các nước khác Sự hình thành các khu vực kinh tế và khu mậu dịch tự do như NAFTA và AFTA minh chứng cho sự liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia Do đó, bất kỳ biến động nào về kinh tế, chính trị hay quân sự ở một quốc gia đều có khả năng tác động đến các quốc gia khác, dẫn đến sự biến động kinh tế trong khu vực và ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động ngân hàng.
Một số chỉ tiêu phản ánh hoạt động cho vay
Chỉ tiêu này thể hiện tổng số tín dụng mà ngân hàng đã cấp cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm cả số vốn đã được thu hồi và chưa thu hồi.
Là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngân hàng thu về được khi đáo hạn vào một thời điểm nhất định nào đó
Dư nợ ngân hàng là chỉ tiêu thể hiện số tiền mà ngân hàng đã cho vay nhưng chưa thu hồi Để tính toán dư nợ, ngân hàng sẽ so sánh doanh số cho vay với doanh số thu nợ tại một thời điểm cụ thể.
Chỉ tiêu này phản ánh các khoản nợ đến hạn mà khách hàng không thể thanh toán cho ngân hàng mà không có lý do chính đáng Khi đó, ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ từ tài khoản dư nợ sang tài khoản nợ quá hạn.
Các tỷ số đánh giá hiệu quả tín dụng
1.6.1 Vốn huy động trên tổng nguồn vốn
Tỷ số này đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng, với việc tỷ số càng cao cho thấy ngân hàng có khả năng chủ động hơn trong việc thu hút vốn.
1.6.2 Dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ phần trăm (%) dư nợ cho vay trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Qua việc so sánh chỉ tiêu này qua các năm, ta có thể đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu đánh giá khả năng sử dụng vốn cho vay của ngân hàng rất quan trọng; chỉ tiêu càng cao cho thấy khả năng sử dụng vốn hiệu quả, ngược lại, chỉ tiêu thấp cho thấy ngân hàng đang gặp tình trạng trì trệ vốn và lãng phí nguồn lực Điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu và tỷ lệ thu lãi của ngân hàng.
1.6.3 Dư nợ trên tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này thể hiện tỷ lệ cho vay của ngân hàng so với nguồn vốn huy động, đồng thời phản ánh hiệu quả sử dụng vốn huy động Nó cho thấy ngân hàng đã chủ động và tích cực trong việc tạo ra lợi nhuận từ nguồn vốn huy động hay chưa.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động vốn của ngân hàng; nếu lớn hơn 1, ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, dẫn đến việc vốn huy động tham gia vào cho vay ít Ngược lại, nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 1, ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí.
1.6.4 Nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu nợ quá hạn là một yếu tố quan trọng phản ánh tình hình quản lý tín dụng của ngân hàng, đặc biệt trong việc cho vay và thu hồi nợ Tỷ lệ nợ quá hạn cao cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng kém, đồng thời cũng chỉ ra mức độ rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt Ngược lại, tỷ lệ nợ quá hạn thấp cho thấy ngân hàng có khả năng quản lý tín dụng tốt hơn.
Hệ số đánh giá hiệu quả thu nợ của ngân hàng, phản ánh khả năng thu hồi vốn trong một khoảng thời gian nhất định với doanh số cho vay cụ thể Hệ số này càng cao thì hiệu quả tín dụng càng tốt.
Chương 1 đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động, cách thức mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng tiêu dùng tại các NHTM nói chung và HDBank Phú Nhuận nói riêng Chúng ta cũng đã thấy được hoạt động tín dụng – đặc biệt tín dụng tiêu dùng là một trong những hoạt động quan trọng của các NHTM, nhất là trong điều kiện hiện nay, mức sống của người dân ngày một tăng lên, xu hướng hiện đại hóa và chủ trương đa dạng hóa của hoạt động ngân hàng để khẳng định vị thế trong môi trường cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt
Nghiên cứu thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM - Chi nhánh Phú Nhuận là cần thiết để xác định các vấn đề hiện tại Từ đó, đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện hoạt động cho vay tiêu dùng, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP PHÁT TRIỂN TP.HCM – CHI NHÁNH PHÚ NHUẬN
Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM – Chi nhánh Phú Nhuận
2.1.1.1 Lịch sử hình thành HDBank
Ngân hàng TMCP Phát Triển Thành Phố Hồ Chí Minh, được thành lập theo quyết định số 47/QĐ-UB ngày 11/02/1989 của Ủy ban nhân dân Tp.Hồ Chí Minh, đã nhận giấy phép hoạt động số 00019/NH-GP vào ngày 06/06/1992 từ Ngân hàng Nhà nước Lúc ban đầu, ngân hàng mang tên Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà Thành Phố Hồ Chí Minh.
HDBank, được thành lập vào ngày 04/01/1990, là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên tại Việt Nam với vốn điều lệ ban đầu 3 tỷ đồng Đến cuối năm 2010, vốn điều lệ của HDBank đã tăng lên 3.000 tỷ đồng Ngân hàng này cam kết phát triển nhà ở và chỉnh trang đô thị, góp phần xây dựng thành phố Hồ Chí Minh văn minh và hiện đại HDBank hoạt động đa dạng trong lĩnh vực nhà ở, cung cấp dịch vụ tín dụng và đầu tư vốn, đồng thời huy động và quản lý nguồn vốn để phục vụ cho các chương trình phát triển nhà và chỉnh trang đô thị HDBank cũng tư vấn cho Ủy ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh về các kế hoạch phát triển nhà ở và chỉnh trang đô thị.
Trong 21 năm hoạt động và phát triển, nhờ vào chiến lược kinh doanh lấy khách hàng là trọng tâm, HDBank từng bước xây dựng được vị thế và khẳng định thương hiệu là một trong những ngân hàng hàng đầu Việt Nam với quy mô và chất lượng dịch vụ tốt HDBank đã có nhiều sự đổi mới, cải tiến trong cơ cấu quản trị ngân hàng, nhân sự, dịch vụ, và công nghệ, trong đó nhân sự có được sự đào tạo bài bản, chuyên nghiệp, nhiều vị trí chủ chốt được đảm nhận bởi những cá nhân xuất sắc, giỏi chuyên môn và giàu kinh nghiệm, qua đó đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của ngành tài chính ngân hàng Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu Đây là thành quả của giai đoạn 1 dự án Tái cấu trúc (2009 - 2011) nhằm mục tiêu xây dựng HDBank thành một ngân hàng bán lẻ, đa năng, tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quản lý, công nghệ, nhân lực, tài chính Bên cạnh đó, các gói sản phẩm mới như thẻ tín dụng quốc tế HDBank, E-banking, dịch vụ Topup đang được triển khai, áp dụng và cải tiến liên tục nhằm phục vụ tốt hơn cho khách hàng Song song với việc xây dựng ngân hàng bán lẻ, HDBank bước đầu xây dựng mô hình ngân hàng đầu tư để mở ra một hướng mới trong kinh doanh vốn Mặc dù là một ngân hàng TMCP có qui mô không lớn, nhưng nếu xét về tỷ số đánh giá hiệu quả hoạt động lợi nhuận/vốn cổ phần (ROE), HDBank có thể sánh ngang với các ngân hàng TMCP hàng đầu ở Việt Nam hiện nay
Vào ngày 19/09/2011, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 2096/QĐ-NHNN, cho phép đổi tên Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà thành phố Hồ Chí Minh thành Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh Tên viết tắt bằng tiếng Việt cũng được điều chỉnh thành Ngân hàng Phát triển thành phố Hồ Chí Minh, trong khi tên tiếng Anh đầy đủ trở thành Ho Chi Minh City Development Joint Stock Commercial Bank và tên viết tắt là HDBank Ngày 17/03/2012, HDBank đã tổ chức “Lễ công bố Tên và Thương hiệu mới” trên toàn hệ thống, đánh dấu sự kiện quan trọng trong việc giới thiệu tên mới và tầm vóc mới của ngân hàng đến khách hàng và công chúng.
Với hơn 24 năm hoạt động tại Việt Nam, HDBank đã phát triển mạnh mẽ, đầu tư vào nguồn nhân lực và công nghệ để trở thành ngân hàng đa năng, hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế Năm 2013, HDBank tiên phong trong việc tái cấu trúc ngành ngân hàng thông qua việc sáp nhập DaiABank và mua lại 100% vốn của công ty Tài chính SGVF, đánh dấu bước khởi đầu cho chiến lược phát triển mới HDBank cam kết mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng, đối tác, cán bộ nhân viên và cộng đồng xã hội, đồng thời không ngừng lớn mạnh trong bối cảnh hội nhập.
2.1.1.2 Lịch sử hình thành của HDBank Chi nhánh Phú Nhuận
HDBank - CN Phú Nhuận được thành lập vào ngày 04/04/1994, tọa lạc tại 174 Phan Đăng Lưu, Phường 3, Quận Phú Nhuận, TP.HCM Chi nhánh này là chi nhánh đầu tiên của HDBank, sở hữu con dấu và bảng tổng kết riêng, đồng thời được tự chủ về lợi nhuận với đội ngũ hơn 30 nhân viên, hoạt động theo mục tiêu và định hướng của HDBank Điện thoại liên hệ là (08) 39 954 554 và fax là (08) 39 955 310.
HDBank – CN Phú Nhuận là một phần quan trọng trong hệ thống HDBank, phục vụ khu vực quận Phú Nhuận với chiến lược mở rộng mạng lưới và cung cấp đa dạng sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng Nằm gần chợ Bà Chiểu, chợ Tân Định và khu dân cư trên đường Phan Xích Long, chi nhánh sở hữu đội ngũ nhân viên trẻ trung, năng động, chuyên nghiệp và nhiệt tình, tạo nên sức hút lớn đối với khách hàng.
Việc đặt chi nhánh gần các khu vực kinh tế phát triển và ổn định mang lại lợi thế lớn, giúp tiếp cận dễ dàng với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như khách hàng cá nhân tiềm năng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Trong những năm gần đây, HDBank đã thu hút sự chú ý nhờ vào các chương trình hoạt động xã hội, dẫn đến sự gia tăng lượng khách hàng và lợi nhuận Mặc dù là một ngân hàng nhỏ, HDBank đã nâng cao khả năng cạnh tranh với chất lượng sản phẩm cải thiện, chi phí dịch vụ thấp và sự phục vụ tận tình HDBank – CN Phú Nhuận đã hoàn thành tốt nhiệm vụ và đạt các chỉ tiêu đề ra, mặc dù phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại khác trong khu vực.
2.1.2 Nhiệm vụ của HDBank Phú Nhuận
HDBank Phú Nhuận, một chi nhánh lớn của Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM, hoạt động đa năng và tuân thủ đầy đủ quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng đảm nhận các nhiệm vụ quan trọng như huy động vốn, nhận tiền gửi tiết kiệm và phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu HDBank cũng chú trọng phát triển quan hệ đối ngoại để thu hút vốn ủy thác đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, đồng thời đầu tư theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Chúng tôi cung cấp các sản phẩm tín dụng và dịch vụ ngân hàng đa dạng nhằm phục vụ nhiều đối tượng khách hàng, từ đó tăng cường tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ Đặc biệt, chúng tôi chú trọng nâng cao chất lượng tín dụng và thực hiện các chính sách phù hợp để phòng ngừa rủi ro tín dụng hiệu quả.
Tăng cường năng lực tài chính, áp dụng lãi suất huy động vốn và cho vay linh hoạt theo tín hiệu cung cầu của thị trường
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của HDBank Phú Nhuận
2.1.3.1 Bộ máy tổ chức của HDBank – Chi nhánh Phú Nhuận
Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức của HDBank – CN Phú Nhuận hiện nay
(Nguồn: HDBank CN Phú Nhuận)
Giám Đốc Dịch vụ Khách hàng
Trưởng phòng Kế toán, Giao dịch, Kho quỹ
Giao dịch viên Kiểm ngân
Bảo vệ, Tạp vụ Hành chính,
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban
HDBank – Chi nhánh Phú Nhuận được cấu trúc thành 4 bộ phận chính: Phòng Kế toán – Kho quỹ, Phòng Quản lý Khách hàng Cá nhân, Phòng Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp và Phòng Hành chính, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quan trọng.
Phòng kế toán – Kho quỹ bao gồm các bộ phận như kế toán tiền gửi, kế toán cho vay và bộ phận ngân quỹ Phòng kế toán thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong việc quản lý tài chính và đảm bảo sự minh bạch trong các giao dịch.
Giao dịch bao gồm việc giao tiếp với khách hàng, tiếp nhận yêu cầu và tư vấn, cũng như thu thập hồ sơ và thông tin liên quan đến khách hàng Ngoài ra, nhân viên còn thực hiện trực tiếp các giao dịch và quản lý tài khoản của khách hàng một cách hiệu quả.
Kế toán là quá trình xuất và quản lý hồ sơ, chứng từ liên quan đến giao dịch Nó bao gồm thống kê, hạch toán các nghiệp vụ, kiểm soát và xử lý các giao dịch phát sinh, cũng như thực hiện các báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu.
Thực trạng cho vay tiêu dùng tại HDBank Phú Nhuận
2.2.1 Giới thiệu sản phẩm cho vay cá nhân
Cho vay mua nhà dự án
Cho vay đối với người lao động VN đi làm ở nước ngoài
Cho vay kinh doanh tại chợ
Cho vay tiêu dùng có bảo đảm bằng số dư tài khoản, số thẻ tiết kiệm
Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán
Cho vay hộ sản xuất kinh doanh cá thể: hỗ trợ vốn lưu động
Cho vay thực hiện phương án sản xuất kinh doanh phục vụ đời sống khác
2.2.2 Chính sách và quy chế cho vay cá nhân
Khách hàng sẽ được hỗ trợ nhanh chóng và thuận lợi trong việc giải quyết thủ tục vay vốn nhờ vào đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình và chu đáo.
Cán bộ HDBank sẽ tư vấn miễn phí cho khách hàng các thủ tục liên quan đến khoản vay
Số tiền cho vay, thời hạn cho vay và lãi suất cho vay linh hoạt, hợp lý, phù hợp với nhu cầu của khách hàng hiện nay
Ngân hàng sẽ hỗ trợ tối đa đến 70% tổng nhu cầu vốn của khách hàng
Sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
Hoàn trả nợ gốc và lãi vay đúng thời hạn đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hay trong khế ước nhận nợ
Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo quy định của Hội đồng quản trị Điều kện vay vốn
Có năng lực pháp luật dân sự, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Dự án đầu tư cần có phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và hiệu quả, hoặc dự án phục vụ đời sống phù hợp với quy định pháp luật Đồng thời, cần xây dựng kế hoạch vay vốn và trả nợ hợp lý.
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Các trường hợp cấp tín dụng không có tài sản đảm bảo có quy định riêng
Một số điều kiện khác tùy theo hình thức cho vay được quy định cụ thể tại các hướng dẫn
HDBank và khách hàng thống nhất thời gian vay dựa trên chu kỳ sản xuất kinh doanh, đảm bảo phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng cũng như thời gian thu hồi vốn của dự án đầu tư.
Cho vay ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng
Cho vay trung hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng
Cho vay dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên
Lãi suất cho vay tối thiểu cho từng loại hình cho vay được Tổng Giám đốc quy định theo từng thời kỳ, sau khi có sự chấp thuận của Hội đồng Quản trị Việc xác định lãi suất này dựa trên giá thành vốn, tình hình thị trường, lợi thế cạnh tranh và phải tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Các đơn vị trực thuộc Ngân hàng không được phép cho vay với lãi suất thấp hơn mức tối thiểu đã được quy định Trong trường hợp cần cho vay với lãi suất dưới mức tối thiểu nhằm thực hiện các chính sách ưu đãi cho khách hàng, cần phải có sự chấp thuận của Hội đồng Quản trị.
Cho vay theo hạn mức tín dụng;
Cho vay theo dự án đầu tư;
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng;
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ;
Cho vay theo hạn mức thấu chi;
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm;
Kiểm tra, giám sát vốn vay
Sau khi cấp tín dụng, ngân hàng cần thường xuyên kiểm tra và giám sát khách hàng để kịp thời phát hiện và xử lý các tình huống tiêu cực có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ Các vấn đề quan trọng cần được theo dõi bao gồm tình hình tài chính, khả năng thanh toán và các yếu tố rủi ro liên quan đến khách hàng.
Tình hình sử dụng vốn vay và thực hiện phương án vay vốn của khách hàng;
Tình hình trả nợ gốc, lãi vay của Ngân hàng;
Tình trạng của tài sản đảm bảo tiền vay;
Tình hình tài chính của Ngân hàng;
Tình hình sản xuất kinh doanh khả năng cạnh tranh của khách hàng;
Các thông tin về thị trường mà khách hàng đang hoạt động;
Những trường hợp không được cho vay:
Thành viên Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc của Ngân hàng và các chức danh tương đương;
Cán bộ, nhân viên của Ngân hàng thực hiện thẩm định và xét duyệt cấp tín dụng;
Bố, mẹ, vợ, chồng và con của các thành viên trong Hội đồng Quản trị, Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc và Phó Tổng Giám đốc của Ngân hàng cùng các chức danh tương đương đều được đề cập đến trong quy định.
Cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của Ngân hàng), cổ đông sáng lập;
2.2.3 Quy trình cho vay tiêu dùng cá nhân
Trước khi đi vào phân tích tình hình cho vay tiêu dùng, chúng ta cần tìm hiểu quy trình cho vay tiêu dùng nói chung, cũng như quy trình cho vay tiêu dùng cụ thể tại HDBank Phú Nhuận.
Quy trình cho vay tiêu dùng bắt đầu khi cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ của khách hàng và kết thúc khi kế toán viên thực hiện việc tất toán và thanh lý hợp đồng tín dụng.
Sau khi tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ và thông tin cần thiết từ khách hàng, cán bộ sẽ xem xét và thông báo kết quả phê duyệt hoặc không phê duyệt trong thời gian sớm nhất, nhưng không quá thời hạn quy định.
10 ngày Trường hợp phức tạp có thể kéo dài theo sự thỏa thuận với khách hàng Quy trình cho vay gồm các bước sau:
Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về lập hồ sơ vay vốn
Thẩm định các điều kiện vay vốn
Xác định phương thức cho vay
Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện vay vốn và lãi suất cho vay của ngân hàng
Lập tờ trình thẩm định cho vay
Tái thẩm định cho vay
Ký kết hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay, giao nhận giấy tờ và TSĐB
Kiểm tra, giám sát khoản vay
Thu nợ lãi và gốc; xử lý những phát sinh
Thanh lý hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay
Lưu giữ hồ sơ tín dụng và hồ sơ đảm bảo tiền vay
Tiếp nhận và hướng dẫn KH lập hồ sơ vay vốn
Quy trình cho vay tiêu dùng của HDBank
Bước 1: Tiếp nhận yêu cầu của khách hàng
Tiếp xúc, tư vấn và tiếp nhận nhu cầu cấp tín dụng:
CV QHKH thực hiện việc trao đổi với khách hàng thông qua các cuộc gặp trực tiếp hoặc theo kế hoạch tiếp thị Trong quá trình này, nhân viên ngân hàng giới thiệu về các dịch vụ của ngân hàng, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và tư vấn về các sản phẩm tín dụng phù hợp, dựa trên tài liệu hướng dẫn "Sản phẩm tín dụng".
CV QHKH thực hiện việc cập nhật thông tin liên hệ của khách hàng Nếu khách hàng đồng ý sử dụng sản phẩm tín dụng, họ sẽ được hướng dẫn lập “Giấy đề nghị vay vốn” và “Phương án vay vốn” theo mẫu Khách hàng cần cung cấp tài liệu liên quan đến Dự án đầu tư (đối với dự án vay trung dài hạn) Sau đó, sẽ lập “Phiếu đề nghị cung cấp hồ sơ tín dụng” để yêu cầu khách hàng cung cấp bộ hồ sơ vay vốn phù hợp Cuối cùng, thực hiện đánh giá sơ bộ hồ sơ cấp tín dụng.
CV QHKH thực hiện việc đánh giá hồ sơ vay để xác định xem liệu hồ sơ có đáp ứng các yêu cầu cơ bản của sản phẩm hay không, bao gồm điều kiện khách hàng, mục đích vay và tài sản bảo đảm Nếu hồ sơ chưa đáp ứng các yêu cầu này, khách hàng sẽ được đề nghị bổ sung thông tin hoặc lựa chọn sản phẩm vay phù hợp hơn.
Trường hợp đáp ứng các yêu cầu trên thì tiếp tục thực hiện các bước kế tiếp
Bước 2: Kiểm tra trước cấp tín dụng
Tra soát thông tin lịch sử tín dụng của khách hàng:
CV QHKH sử dụng thông tin trong hồ sơ vay vốn, thực hiện tra cứu đến Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)
Nếu khách hàng có nợ quá hạn không đáp ứng tiêu chí của sản phẩm tín dụng, sẽ có thông báo từ chối cấp tín dụng gửi đến khách hàng.
Nếu khách hàng không có nợ quá hạn hoặc lịch sử nợ quá hạn nằm trong giới hạn cho phép theo quy định của sản phẩm tín dụng, thì có thể tiến hành các bước tiếp theo.
CV TĐ đi thẩm định thực tế tại nơi cư trú, cơ sở sản xuất kinh doanh
CV TĐ chụp ảnh thực tế của sơ sở sản xuất kinh doanh
Trường hợp cần thiết (hồ sơ lớn, phức tạp…), CV TĐ có đề xuất với
Phân tích thực trạng cho vay tiêu dùng cá nhân tại HDBank – Chi nhánh Phú Nhuận
2.3.1 Tình hình cho vay khách hàng cá nhân
Bảng 2.2 : Tình hình cho vay KHCN
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
Số tiền % Số tiền % Số tiền %
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Bảng 2.3: So sánh tình hình cho vay KHCN qua các năm
(Đơn vị tính: Tỷ đồng)
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013) Biểu đồ 2.2: Tình hình cho vay KHCN
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Từ năm 2011 đến 2013, doanh số cho vay và thu nợ có xu hướng tăng, tuy nhiên, tình hình dư nợ lại cho thấy sự tăng trưởng không ổn định trong giai đoạn này.
Doanh số cho vay khách hàng cá nhân đã có sự gia tăng đáng kể qua các năm, với tỷ trọng đạt 45,75% vào năm 2011, tương ứng với doanh số 181.634 triệu đồng.
2012, cho vay khách hàng cá nhân chiếm tỷ trọng 49,19% (tăng 3,44%), đạt 240.312 triệu đồng, tăng 58.678 triệu đồng với lượng tương đối là 32,31% so với năm 2011 Đến
Doanh số Cho Vay Doanh số Thu Nợ
Đến năm 2013, dư nợ của HDBank Phú Nhuận đạt 384.403 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 57,92% và tăng 144.091 triệu đồng, tương ứng 59,96% so với năm trước Trong giai đoạn 2011 – 2013, mặc dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tình hình tín dụng đình trệ vào năm 2012, HDBank Phú Nhuận vẫn duy trì tốc độ phát triển tích cực Thành công này là nhờ nỗ lực của đội ngũ HDBank trong việc khai thác nhu cầu tín dụng tiêu dùng của khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng và đưa chuyên viên đến tận nơi để tiếp thị các gói vay mới với lãi suất thấp và thủ tục nhanh chóng.
Doanh số cho vay có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của ngân hàng, và trong giai đoạn 2011 – 2013, doanh số cho vay liên tục tăng, cho thấy sự tăng trưởng tín dụng khả quan Bên cạnh đó, nghiệp vụ quản lý nợ vay cũng có những tiến triển tích cực, với doanh số cho vay tăng, nợ xấu giảm và tốc độ lưu chuyển vốn nhanh hơn Những yếu tố này đã góp phần nâng cao doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng trong giai đoạn này.
Doanh số thu nợ KHCN của HDBank Phú Nhuận đã có sự tăng trưởng đáng kể từ năm 2011 đến 2013, với doanh số đạt 137.675 triệu đồng vào năm 2011, tăng lên 228.770 triệu đồng vào năm 2012 (tăng 4.17%), và tiếp tục đạt 42.403 triệu đồng trong năm 2013 Sự gia tăng này cho thấy ngân hàng đã cải thiện hiệu quả trong công tác quản lý và thu hồi nợ Ngoài việc phát triển các gói vay hấp dẫn, HDBank Phú Nhuận còn chú trọng quản lý tình hình tín dụng của khách hàng, thường xuyên nhắc nhở khách hàng về việc trả nợ đúng hạn và kiểm tra lịch sử tín dụng qua hệ thống CIC Những biện pháp này đã góp phần quan trọng vào sự gia tăng doanh số thu nợ hàng năm của ngân hàng.
Doanh số cho vay chỉ phản ánh quy mô tín dụng của ngân hàng, nhưng không thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của cả ngân hàng và khách hàng Hiệu quả này được đánh giá qua khả năng trả nợ đúng hạn của khách hàng; nếu khách hàng luôn trả nợ đúng hạn, điều đó chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng vốn vay một cách hiệu quả và có khả năng luân chuyển nguồn vốn dễ dàng Do đó, doanh số thu nợ cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả công tác tín dụng trong từng giai đoạn Theo số liệu, HDBank – CN Phú Nhuận đã sử dụng tốt nguồn vốn huy động để cho vay cá nhân.
2.3.2 Doanh số cho vay cá nhân theo mục đích sử dụng vốn
Khái niệm: dựa vào mục đích sử dụng vốn, ta phân loại như sau:
Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: mục đích là tài trợ cho hoạt động sản xuất ở các lĩnh vực công thương, nông nghiệp
Cho vay tiêu dùng cá nhân: mục đích là giúp người tiêu dùng có tài chính để trang trải nhu cầu nhà ở, phương tiện đi lại,…
Bảng 2.4: Doanh số cho vay cá nhân theo mục đích sử dụng
( Đơn vị tính: Tỷ đồng)
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Cho vay cá nhân theo mục đích sử dụng vốn là hình thức vay tiền từ ngân hàng để phục vụ cho nhiều nhu cầu khác nhau, chủ yếu là sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và nhà ở Trong ba năm qua, doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn đã có sự gia tăng liên tục qua từng năm.
Biểu đồ 2.3: Doanh số cho vay theo mục đích sử dụng vốn
(Nguồn: KQ HĐKD HDBank – CN Phú Nhuận các năm 2011, 2012 và 2013)
Cho vay sản xuất kinh doanh – dịch vụ bao gồm các cơ sở sản xuất hàng tiêu dùng và hộ cá thể kinh doanh tại các chợ lớn, shop giày dép, quần áo thời trang Dữ liệu cho thấy nguồn vốn vay từ lĩnh vực này luôn chiếm tỷ trọng lớn so với các khoản vay khác Sự phát triển kinh tế đã thúc đẩy tăng trưởng các cơ sở sản xuất và hộ gia đình kinh doanh, dẫn đến nhu cầu vốn ngày càng cao, khiến cho tín dụng từ khoản vay này luôn giữ vị trí quan trọng.
Trong năm 2011, suy thoái kinh tế toàn cầu đã làm giảm mạnh doanh số cho vay, đặc biệt là nhóm vay sản xuất kinh doanh - dịch vụ, chỉ đạt 42.4 tỷ đồng, thấp nhất trong 3 năm Năm 2012, doanh số cho vay tăng lên 101.2 tỷ đồng, nhưng vẫn thấp so với kỳ vọng Đến năm 2013, khi nền kinh tế thế giới hồi phục, doanh số cho vay đã tăng trưởng vượt bậc, đạt 253.1 tỷ đồng, cao nhất trong giai đoạn 2011 - 2013 với mức tăng 150.1% so với năm 2012 Cho vay sản xuất kinh doanh - dịch vụ không chỉ ảnh hưởng đến tình hình tín dụng mà còn tác động lớn đến lợi nhuận ngân hàng, đồng thời chịu sự tác động trực tiếp từ nền kinh tế trong và ngoài nước Năm 2012 là thời điểm mà nhóm vay này bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi suy thoái kinh tế toàn cầu.
SXKD - DV Nhà ở Ô tô Tiêu dùng lãnh đạo luôn chủ động nắm bắt xu hướng thị trường và điều chỉnh lãi suất để tối ưu hóa lợi ích cho ngân hàng, từ đó gia tăng lợi nhuận cho tổ chức.
Cho vay nhà ở đã trở thành một giải pháp phổ biến cho người dân khi có nhu cầu xây dựng hoặc sửa chữa nhà cửa Trước đây, nhiều người thường vay mượn từ bạn bè, người thân hoặc tiết kiệm tiền riêng Tuy nhiên, từ năm 2004, sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ ngân hàng đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng để cải thiện cuộc sống Các ngân hàng và chi nhánh đang tích cực cung cấp tín dụng để đáp ứng nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà cho hộ gia đình và cá nhân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo bảng số liệu, năm 2011, ngân hàng chỉ dành 26.8 tỷ đồng cho khoản vay do nền kinh tế gặp khó khăn, dẫn đến nhu cầu sửa chữa và xây dựng nhà ở hạn chế Tuy nhiên, đến năm 2012, doanh số khoản vay này đã tăng lên 52.2 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 94.7%.
2011) và vào năm 2013, mức vay đạt 87.2 tỷ đồng Có thể nói, trong giai đoạn 2011 –
Năm 2013, thị trường bất động sản trong nước rơi vào tình trạng ảm đạm, với giá nhà đất sụt giảm rõ rệt và diễn biến phức tạp Hiện tượng "đóng băng" trên thị trường bất động sản xuất hiện, khiến HDBank Phú Nhuận thận trọng hơn trong việc cấp các khoản vay Do đó, doanh số cho vay trong giai đoạn 2011 – 2013 ở mức thấp.
Năm 2007 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, khi thị trường ô tô nội địa và nhập khẩu đều ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ Sự kiện này diễn ra đồng thời với việc Việt Nam thực hiện các cam kết thương mại quốc tế, trong đó nổi bật là việc mở cửa thị trường cho xe nhập khẩu và giảm thuế nhập khẩu Những biện pháp kích thích tăng trưởng ngành ô tô đã làm gia tăng sức mua trên thị trường, dẫn đến việc các ngân hàng trong nước, đặc biệt là các chi nhánh, trở nên thoáng hơn trong chính sách cho vay mua ô tô.
Năm 2011, do nền kinh tế khó khăn, ngân hàng siết chặt khoản vay và nhu cầu mua sắm ô tô giảm, dẫn đến doanh số cho vay ô tô chỉ đạt 5.3 tỷ đồng Tuy nhiên, năm 2012, kinh tế có dấu hiệu khởi sắc, nhu cầu mua ô tô tăng cao, doanh số cho vay đạt 26.1 tỷ đồng, tăng 390% so với năm trước Đến năm 2013, doanh số tiếp tục tăng lên 44.3 tỷ đồng, mặc dù tốc độ tăng chỉ đạt 69.73%.
Phân tích các chỉ tiêu trong hoạt động cho vay
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay tại chi nhánh Phú Nhuận
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2011 2012 2013
1 Tổng nguồn vốn Tỷ đồng 2738.74 3111.94 3578.73
2 Vốn huy động Tỷ đồng 2408.44 2806.54 3255.59
3 Doanh số thu nợ Tỷ đồng 40.02 274 301.4
4 Tổng dư nợ Tỷ đồng 629.98 1060 1706.6
5 Nợ quá hạn Tỷ đồng 2.59 1.32 1.27
6 Dư nợ bình quân Tỷ đồng 606.2 845 1022.45
7 Tổng dư nợ / Tổng nguồn vốn % 23 34 47.68
9 Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ % 0.41 0.12 0.07
10 Doanh số thu nợ/ Dư nợ bình quân
2.4.1 Phân tích tỷ lệ dư nợ trên tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ cho vay của ngân hàng so với tổng vốn huy động, đồng thời đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng (Lê Quyết Tâm, 2010).
Sau ba năm hoạt động đầy thách thức, đặc biệt là năm 2012 với nhiều biến cố ảnh hưởng đến tín dụng, tổng dư nợ của chi nhánh vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong tổng nguồn vốn ngân hàng Mặc dù chỉ tiêu này phản ánh tình hình cho vay chưa tốt, nhưng cũng cho thấy khả năng huy động vốn hiệu quả (Lê Quyết Tâm, 2010) Đặc biệt, năm 2013, tỷ lệ dư nợ đã tăng lên 47.68%, so với 23% năm 2011 và 34% năm 2012, cho thấy dấu hiệu tích cực cho HDBank Phú Nhuận trong bối cảnh khó khăn chung của ngành ngân hàng trong giai đoạn 2011 – 2013.
DN nói chung và NH nói riêng lâm vào nguy cơ lỗ nặng hoặc phá sản
2.4.2 Phân tích tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động
Chỉ tiêu này không chỉ phản ánh mức độ cho vay của ngân hàng so với nguồn vốn huy động mà còn cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng Khi chỉ tiêu lớn, ngân hàng có khả năng tận dụng vốn huy động tốt; ngược lại, nếu chỉ tiêu lớn hơn 1, ngân hàng chưa thực hiện hiệu quả việc huy động vốn, dẫn đến việc vốn huy động tham gia vào cho vay ít Nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 1, điều này cho thấy ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí.
Trong ba năm qua, ngân hàng đã không tận dụng hiệu quả nguồn vốn huy động, với tỷ lệ khai thác chỉ đạt 26% vào năm 2011, 38% vào năm 2012 và 52,42% vào năm 2013 Những con số này cho thấy mức độ khai thác vốn còn khá thấp, cần được xem xét và cải thiện trong thời gian tới.
Từ năm 2011 đến 2013, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến cả sản xuất và tiêu dùng Khách hàng hạn chế vay vốn, trong khi các ngân hàng cũng thận trọng hơn trong việc phê duyệt khoản vay, dẫn đến việc không khai thác tối đa nguồn vốn huy động để sinh lời.
2.4.3 Phân tích tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Chỉ tiêu nợ quá hạn tại ngân hàng phản ánh tình hình quản lý tín dụng và khả năng thu hồi nợ của ngân hàng Đây là một yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng và rủi ro tín dụng Tỷ lệ nợ quá hạn cao cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng kém, trong khi tỷ lệ thấp cho thấy tình hình tín dụng tốt hơn (Lê Quyết Tâm, 2010).
Theo bảng số liệu, dư nợ của ngân hàng tăng qua các năm, trong khi tỷ lệ nợ quá hạn lại giảm và luôn duy trì ở mức thấp Cụ thể, năm 2011, tỷ lệ nợ quá hạn đạt 0.41%, giảm xuống còn 0.12% vào năm 2012, và tiếp tục giảm trong năm 2013, tất cả đều dưới mức cho phép 5% của NHNN Kết quả này có được nhờ vào việc chi nhánh đã rút ra kinh nghiệm từ các khủng hoảng tín dụng toàn cầu, từ đó thực hiện các biện pháp phòng ngừa, cẩn trọng hơn trong việc cho vay, không cho vay ồ ạt mà tiến hành xem xét kỹ lưỡng, đồng thời đề ra các giải pháp hiệu quả và kiên quyết trong xử lý nợ, nhằm giảm thiểu rủi ro.
2.4.4 Phân tích vòng quay vốn tín dụng (doanh số thu nợ/ dư nợ bình quân)
Chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, phản ánh thời gian thu hồi nợ nhanh hay chậm Vòng quay vốn nhanh cho thấy tình hình tài chính tốt và đầu tư an toàn hơn (Nguyễn Giang, 2012).
Vòng quay vốn tín dụng của HDBank Phú Nhuận trong ba năm qua diễn ra chậm do các khoản vay chưa đến hạn thu hồi, dẫn đến dư nợ bình quân tăng cao Mặc dù doanh số thu nợ có gia tăng, nhưng tốc độ này không đủ để bắt kịp với sự gia tăng của dư nợ bình quân, làm cho vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng vẫn chậm Trong định hướng sắp tới, ngân hàng cần có những biện pháp cải thiện tình hình này.
Ngân hàng cần chú trọng hơn đến việc thu hồi các khoản nợ đã đến hạn, áp dụng các biện pháp hiệu quả để khuyến khích khách hàng thanh toán đúng hạn Điều này sẽ giúp tăng doanh thu thu nợ, cải thiện tốc độ quay vòng vốn tín dụng, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ tín dụng của chi nhánh.
Chương 2 dựa trên những số liệu thực tế và cụ thể về hoạt động tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Phát triển TP.HCM – chi nhánh Phú Nhuận, từ đó đưa ra những phân tích tổng quan về tình hình hoạt động, đối tượng khách hàng vay vốn, doanh số cho vay và dư nợ tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh Hơn nữa, dựa trên các chỉ tiêu nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng đã đưa ra ở chương 1, chương 2 đã tiến hành đánh giá thực trạng mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh thời gian qua Mặc dù đã thu được những kết quả rất đáng khích lệ, song chi nhánh Phú Nhuận vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế làm giảm khả năng phát triển hoạt động tín dụng tiêu dùng tại chi nhánh
Chương 3 sẽ trình bày các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và củng cố thành tựu trong việc mở rộng và nâng cao hiệu quả tín dụng tiêu dùng tại Ngân hàng Phát triển TP.HCM.