1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​

85 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu So Sánh Thành Phần Loài Cá Một Số Vùng Cửa Sông Ven Biển Tây Nam Bộ, Việt Nam
Tác giả Trần Thị Ngọc Ánh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thành Nam
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Động vật học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN --- Trần Thị Ngọc Ánh NGHIÊN CỨU SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI CÁ MỘT SỐ VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN TÂY NAM BỘ, VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Trần Thị Ngọc Ánh

NGHIÊN CỨU SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

MỘT SỐ VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN TÂY NAM BỘ, VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Trần Thị Ngọc Ánh

NGHIÊN CỨU SO SÁNH THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

MỘT SỐ VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN TÂY NAM BỘ, VIỆT NAM

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 8420101.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌCNGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THÀNH NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thành Nam, người thầy

đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cám ơn tới PGS TS Nguyễn Xuân Huấn đã giúp đỡ và truyền cho tôi thêm những kinh nghiệm quý báu về nghiên cứu cá

Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Bộ môn Động vật học

và Bảo tồn, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sự sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội; lãnh đạo và các cán bộ phòng Nghiên cứu Nguồn lợi Hải sản, Viện Nghiên cứu Hải sản đã tạo điều kiện thuận lợi

và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn này

Qua đây tôi cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Nghiên cứu này được sự hỗ trợ từ nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ độc lập

cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng mô hình sinh thái bền vững trên vùng triều ven

biển đồng bằng sông Cửu Long”, mã số 10/2017/HĐ.ĐTĐL.CN.CNN

Hải Phòng, ngày 28 tháng 11 năm 2019

Học viên

Trần Thị Ngọc Ánh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 - TỔNG QUAN 2

1 Khái quát về vùng cửa sông - ven biển 2

1.1 Các khái niệm 2

1.2 Hệ thống cửa sông - ven biển Việt Nam 3

1.3 Khái quát đa dạng sinh học và thành phần loài cá vùng cửa sông - ven biển Việt Nam 5

1.4 Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông - ven biển Việt Nam 6

2 Lịch sử nghiên cứu cá khu vực nghiên cứu 10

3 Điều kiện tự nhiên và nghề cá khu vực nghiên cứu 14

3.1 Điều kiện tự nhiên 14

3.2 Đặc điểm nghề cá 19

Chương 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu 22

2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp 22

2.2 Phương pháp thu mẫu 23

2.3 Phương pháp định loại 24

2.4 Phân tích số liệu 32

Trang 5

Chương 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

1 Đa dạng sinh học khu hệ cá khu vực cửa sông ven biển TNB 33

2 So sánh thành phần loài cá ở các khu vực cửa sông ven biển TNB 52

2.1 Số lượng các bậc phân loại 52

2.2 Sự phong phú trong các bậc phân loại 53

2.3 Sự khác nhau về cấu trúc theo nhóm sinh thái 56

2.4 Độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu 59

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Số lượng và khoảng cách phân bố của hệ thống cửa sông 3

Bảng 2 Cơ cấu nghề khai thác theo nhóm công suất ở vùng biển Tây Nam Bộ 21

Bảng 3 Số lượng và tỷ lệ % các họ, giống, loài có trong các bộ 34

Bảng 4 Thành phần loài cá một số khu vực cửa sông ven biển Tây Nam Bộ 36

Bảng 5 Chỉ số tương đồng Sorensen giữa các khu vực 59

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Sản lượng khai thác cá biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2000-2018

(đơn vị: nghìn tấn) 19

Hình 2 Tổng công suất tàu khai thác thuỷ sản biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2010-2018 (đơn vị: nghìn CV) 20

Hình 3 Vị trí các khu vực nghiên cứu 22

Hình 4 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối 28

Hình 5 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 29

Hình 6 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và các kiểu răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 30

Hình 7 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây đuôi dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 31

Hình 8 Số lượng các bậc phân loại ở các khu vực nghiên cứu 52

Hình 9 Số lượng loài trong các bộ cá ở các khu vực nghiên cứu 54

Hình 10 Các họ có số loài nhiều nhất ở các khu vực nghiên cứu 55

Hình 11 Phân bố loài theo môi trường nước ở các khu vực nghiên cứu 57

Hình 12 Số lượng loài cá phân theo tầng nước ở các khu vực nghiên cứu 59

Hình 13 Mối quan hệ về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu 60

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu

2 FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ

chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)

International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên)

4 SĐVN Sách Đỏ Việt Nam

Trang 9

MỞ ĐẦU

Vùng biển Tây Nam Bộ là một phần của Vịnh Thái Lan, có đới bờ rộng kéo

dài từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên - Kiên Giang với sáu con sông đổ ra vịnh, tạo ra bốn

khu vực cửa sông chính bao gồm khu vực cửa sông Giang Thành, khu vực cửa sông

Cái Lớn - Cái Bé, khu vực cửa sông Ông Đốc và khu vực cửa sông Cửa Lớn - Bảy

Háp Vùng cửa sông ven biển Tây Nam Bộ có tính đa dạng sinh học cao, giàu tiềm

năng về kinh tế biển và có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc xây dựng và phát

triển nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản ven bờ Tuy nhiên trong nhiều năm gần

đây nguồn lợi hải sản ven bờ nói chung và nguồn lợi cá nói riêng đang bị suy giảm

đáng kể bởi áp lực khai thác, đặc biệt là các hình thức khai thác tận diệt Bên cạnh

đó, tác động của ô nhiễm môi trường nước từ các hoạt động công nghiệp, sinh hoạt

cũng là nguy cơ đe dọa đến các loài thủy sinh vật Vấn đề này đặt ra nhiều thách thức

cho ngành thủy sản 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau để có thể vừa khai thác hợp lý,

đồng thời phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản

Trước đây đã có một số nghiên cứu về cá được thực hiện ở khu vực Tây Nam

Bộ, tuy nhiên những nghiên cứu này tập trung ở vùng biển và có rất ít nghiên cứu tại

các khu vực cửa sông Vì vậy để bổ sung dẫn liệu khoa học cho các nhà quản lý,

nghiên cứu “So sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển Tây Nam

Bộ, Việt Nam” được thực hiện với nội dung:

- Xác định thành phần loài cá khu vực cửa sông ven biển Tây Nam Bộ

- Đánh giá mức độ đa dạng sinh học ở các khu vực nghiên cứu

- So sánh mức độ gần gũi của các vùng cửa sông ven biển trong khu vực

Trang 10

Chương 1 - TỔNG QUAN

1 Khái quát về vùng cửa sông - ven biển

1.1 Các khái niệm

Cửa sông (estuary) theo nghĩa La tinh, bao hàm “aestus” là thủy triều, còn

“estuary” là từ chỉ một dạng của lục địa, trong đó thủy triều đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sự phát triển tiến hóa của vùng Bởi vậy, trong các từ điển người ta giải thích “cửa sông là cửa các con sông lớn có thủy triều” (từ điển Oxford) hoặc

“một vùng gần bờ được khống chế bởi nước biển khi triều cao, một vùng biển được tạo thành bởi cửa một con sông” (Larouse) [26]

Theo quan điểm của các nhà địa mạo thì cửa sông là cửa của con sông mà ở

đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không được đền bù hoặc là một thung lũng sông

bị chìm ngập do mực nước biển dâng lên, thường có dạng hình phễu Những định nghĩa dựa trên các quan điểm riêng về địa mạo, địa chất, khí hậu… thường loại bỏ nhiều nguyên tắc và các khuynh hướng thực dụng trong nghiên cứu khoa học ở các nước và các khu vực khác nhau trên thế giới [26]

Theo quan điểm động lực, D.W Pritchard (1967) cho rằng “Cửa sông là một thủy vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với biển và ở trong đó, nước biển hòa trộn có mức độ với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa” Tuy nhiên, theo định nghĩa này, các hệ cửa sông mù (blind estuary) và các cửa sông quá mặn (hyperhaline) bị loại trừ Do đó, J.H Day (1981) đã bổ sung và đề xuất một định nghĩa có nội dung rộng hơn: “Cửa sông là thủy vực ven bờ nửa khép kín về mặt không gian, liên hệ trực tiếp với biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biển đổi do

sự hòa trộn có mức độ của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa” Như vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển, ở đó luôn xảy

ra hai quá trình trái ngược nhau là bồi tụ và bào mòn Hai quá trình này xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông và dòng biển (sóng, thủy triều, hải lưu)

Trang 11

và các quá trình địa chất Vùng cửa sông không chỉ là nơi nước ngọt và nước mặn pha trộn với nhau đơn thuần mà tại đây có sự chuyển đổi tính chất của nước, từ ngọt sang mặn Chính vì vậy vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thủy văn sông sang chế độ thủy văn biển [26]

Hệ sinh thái điển hình của vùng cửa sông ven biển bao gồm các thành phần như vùng châu thổ (delta), vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn (rừng sác), đầm phá (lagoon),

và các đặc trưng ven bờ khác Chính những khu hệ khác nhau này cùng sự pha trộn giữa môi trường nước biển và nước ngọt đã tạo ra nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng

và phong phú

1.2 Hệ thống cửa sông - ven biển Việt Nam

Việt Nam với 3.260 km đường bờ biển trải dài trên 13 vĩ độ, qua 28 tỉnh và thành phố dọc bờ biển có 114 cửa sông, cửa lạch đổ ra biển, theo tỷ lệ như sau: Bắc Bộ 28,1%, Bắc Trung Bộ 21,1%, Nam Trung Bộ 27,2% và Nam Bộ 28,6% (Bảng 1) Tính trung bình cho toàn dải ven biển thì cứ 28,6 km đường bờ biển lại có một cửa sông đổ ra biển

Bảng 1 Số lượng và khoảng cách phân bố của hệ thống cửa sông [10]

STT Tên

vùng

Số lượng cửa sông

đổ ra biển

Tỷ lệ (%) số lượng cửa sông của các vùng so với toàn đới bờ

Chiều dài đường bờ của các vùng (km)

Khoảng cách trung bình của các cửa sông trên đường

Trang 12

Theo độ lớn của các lưu vực sông có thể phân các cửa sông ra làm các loại sau: cửa sông có lưu vực rất lớn (>50.000km2) thuộc hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Cửu Long; cửa sông có lưu vực lớn (từ 10.000 đến 50.000km2) thuộc các hệ thống sông: Thái Bình, Đồng Nai, sông Mã, Thu Bồn, Đà Rằng; cửa sông có lưu vực trung bình (1.000 đến 10.000km2) gồm cửa các sông: Lạch Ghép, Gianh, Nhật Lệ, Cửa Việt, Thuận An, Cổ Luỹ, Cửa Lở, sông Kôn, Cái (Nha Trang), Cái (Phan Rang), Lũy, Cái (Phan Thiết),…; cửa sông có lưu vực nhỏ (<1000km2) có số lượng lớn

Theo lịch sử hình thành, hình thái cấu tạo và lực tương tác sông biển thì các

hệ cửa sông nước ta được chia thành các kiểu hệ: các cửa sông châu thổ như hệ cửa sông Hồng và sông Cửu Long; các cửa sông hình phễu như các cửa sông vùng Hải Phòng - Quảng Yên, Đồng Nai; các đầm phá ven biển và các vùng vịnh nông ven bờ nhận một lượng nước ngọt do các sông đổ ra [20]

Sóng ở vùng cửa sông phụ thuộc chủ yếu vào chế độ gió của hai mùa chính (mùa Đông và mùa Hè) và kết hợp với địa hình tạo ra hướng và độ cao sóng khác nhau: về mùa Đông, hướng thay đổi Đông bắc, Đông, Bắc, độ cao sóng trung bình 0,5 - 1,0m; về mùa Hạ, sóng có hướng Nam, Đông Nam, Tây Nam, Tây với độ cao 0,5 - 1,25m

Phân bố dọc theo bờ biển chiều dài đường bờ biển các cửa sông thuộc đủ các chế độ thuỷ triều như nhật triều, nhật triều không đều, bán nhật triều và bán nhật triều không đều, phân bố xen kẽ, kế tiếp nhau: các cửa sông Bắc Bộ và Thanh Hóa thuộc nhật triều, vùng Thuận An - bán nhật triều; các cửa sông có chế độ nhật triều không đều phân bố từ Nghệ An đến Cửa Gianh, từ Quảng Nam tới Bình Thuận, và từ Cà Mau tới Kiên Giang; chế độ bán nhật triều không đều thuộc các cửa sông vùng từ Cửa Gianh đến Bắc Thuận An, từ Nam Thuận An đến Quảng Nam, và Hàm Tân đến

Cà Mau [2]

Trang 13

1.3 Khái quát đa dạng sinh học và thành phần loài cá vùng cửa sông - ven biển Việt Nam

Vùng cửa sông - ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhưng giàu có

về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều loài giáp xác và cá biển Ở vùng ven biển đã xác định được khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển,

4971 loài động vật đáy… [11,13]

Vùng cửa sông - ven biển là nơi có điều kiện sống đặc trưng tạo nên nhiều đặc sản như tôm, cua, sò, rong câu… Nhiều loài là mặt hàng có giá trị kinh tế, làm thực phẩm, làm cảnh… được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Trong số đó

cá, giáp xác, thân mềm và rong biển là những đối tượng có sản lượng lớn và đang được khai thác Cá ở vùng biển nông chiếm tới 80 - 90% tổng sản lượng cá khai thác được Riêng tôm, năm 1995 sản lượng là 19.000 - 24.000 tấn, cua ghẹ chiếm trên 3% tổng sản lượng hải sản khai thác [11]

Theo Vũ Trung Tạng (2009), khu hệ cá của các cửa sông riêng biệt không đa dạng so với những vùng biển kế cận của chúng, dao động từ 70 đến 230 loài Khu hệ

cá toàn cửa sông dọc bờ biển nước ta là 615 loài, 120 họ, thuộc 29 bộ Trong đó có 5

bộ cá sụn (Chondrichthyes) với 11 họ và 26 loài, còn lại là đại diện của các nhóm cá xương, trong đó có trên 50 loài chưa xác định được tên khoa học, còn để ở dạng sp

Bộ cá lớn nhất trong khu vực là cá Vược (Perciformes), gồm 53 họ và 339 loài chiếm 44,17% số lượng họ và 55,12% số lượng loài Theo số lượng họ, bộ đứng sau đó lần lượt là Anguilliformes, Scorpaeniformes, Pleuronectiformes, nhưng giàu loài nhất sau bộ cá Vược là Clupeiformes, Pleuronectiformes, Anguilliformes, Tetraodontiformes, Cypriniformes, Siluriformes, Scorpaeniformes Các bộ chỉ có 1

họ và 1 loài không nhiều, gồm bộ Lamniformes, Albuliformes, Gonorhynchiformes, Osteoglossiformes, Cyprinodontiformes, Beryciformes, Lophiformes, Zeiformes và Gasterosteiformes Những họ giàu loài nhất, từ 47 đến 19 loài theo thứ tự từ cao tới

Trang 14

thấp như sau: Gobiidae (47 loài), Carangidae, Sciaenidae, Serranidae, Cyprinidae, Tetraodontidae, Cynoglossidae, Clupeidae và Engraulidae (19 loài) Những họ có 10 loài trở lên đóng góp 326 loài, chiếm gần 52% tổng số loài Trong thành phần khu hệ

cá có khoảng 42 họ chỉ có 1 loài, chiếm 35% tổng số họ và 6,8% tổng số loài [11] Vùng cửa sông - ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhưng giàu có về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều giáp xác và cá biển Ở vùng ven biển đã xác định được khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển, 4.971 loài động vật đáy… [11, 13]

1.4 Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông - ven biển Việt Nam

* Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám

Những nghiên cứu trong giai đoạn này đều do các tác giả nước ngoài, được tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận về các lĩnh vực khoa học cơ bản như địa chất, hải dương, khí tượng - thủy văn, các quá trình động lực biển, nhất là sự trao đổi nước giữa biển Đông với Thái Bình Dương Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng được coi trọng nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa [22]

* Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay

Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khi miền Bắc được giải phóng, các hoạt động nghiên cứu khoa học được chuyển dần sang các nhà khoa học trong nước Nhiều công trình nghiên cứu lớn được ra đời như: chương trình Thuận Hải Minh Hải, các đề tài thuộc chương trình 52.02, các chương trình Biển và các chương trình nghiên cứu Khoa học cơ bản qua các giai đoạn như 48.06, 48B, KT-03, KHCN-06, …

Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng vào những năm chiến tranh chống Mỹ (1972)

đã tiến hành điều tra thành phần các loài thực vật nổi và động vật nổi ở vùng của sông

Trang 15

thuộc hệ thống sông Hồng: cửa Ba Lạt, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy (Trương Ngọc An

và Hàn Ngọc Lương, 1980; Nguyễn Văn Khôi và Dương Thị Thơm, 1980; Nguyễn Văn Chung và nnk., 1973); nghiên cứu về thành phần các loài cá ở ven biển Quảng Ninh (Nguyễn Nhật Thi,1971); cá ở biển Nam Hà (Hồ Sỹ Bình, 1974) Sau năm 1975, các đề tài nghiên cứu độc lập hay đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước khác do Phân viện Viện Hải dương Hải Phòng hay Viện Tài nguyên và Môi trường biển hiện nay chủ trì cũng được tiến hành trên các địa bàn khác như đầm Cái Tráp (Trương Ngọc An và nnk., 1984), đầm phá Thừa Thiên - Huế (Chương trình KT-03) [22,24]

Các nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng, Viện Hải dương học Nha Trang và các cơ sở khoa học khác trong nước về đa dạng sinh học và các lĩnh vực liên quan đến các quá trình tương tác sông - biển như đặc điểm địa mạo trầm tích (Nguyễn Đức Cự, 1985), hình thái phân bố trầm tích và đặc điểm bồi tụ bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn (Trần Đình Lân và ct, 1991), đặc điểm cơ bản của các bồn tích tụ hiện đại tiêu biểu ở dải ven bờ Tây vịnh Bắc bộ (Trần Đức Thạnh, 1991), hiện trạng và nguyên nhân bồi xói dải ven bờ Việt Nam (Nguyễn Thanh Ngà - Chương trình KT-03) nghiên cứu quy luật và dự đoán xu thế bồi tụ - xói lở vùng ven biển và cửa sông Việt Nam (Lê Phước Trình - Chương trình KHCN-06), các quá trình động lực cửa sông, bờ biển và hệ đầm phá (Nguyễn Văn Điệp, 1986-1990), địa mạo

bờ biển Việt Nam (Lê Xuân Hồng & Lê Thị Kim Thoa, 2007) [22]

Những vấn đề liên quan đến hoạt động của con người như khai thác các dạng tài nguyên (quai đê lấn biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản, nạo vét luồng lạch phát triển giao thông, du lịch sinh thái biển), gây ô nhiễm môi trường vùng cửa sông ven biển được nhiều nhà khoa học quan tâm như hoạt động của đề tài thuộc các chương trình Thuận Hải - Minh Hải, KT-03, KHCN-07, 48-6; Ô nhiễm môi trường do sông thải ra (Phạm Văn Ninh, 1991-1995 - Chương trình KT-03); Dynamics of the landscape and pollution of environment of coastal wetland of Hai Phong - Quang Ninh caused by human activities (Vu Trung Tang, 2000) thuộc chương trình KHCN-

Trang 16

06 do Đặng Trung Thuận chủ trì (1997-1998); khảo sát và đánh giá các dạng tài nguyên sinh học nhằm tạo cơ sở khoa học phụ vụ cho khai thác, duy trì và phát triển tài nguyên (Huỳnh Quang Năng, Vũ Tự Lập & Vũ Trung Tạng - Chương trình Thuận Hải - Minh Hải); Huỳnh Quang Năng, Nguyễn Tác An, Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Đức Cự - Chương trình 48-06; Nguyễn Văn Điệp - Chương trình 48B; Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Chu Hồi; Nguyễn Tác An - Chương trình KHCN

- 06; Nguyễn Văn Tiến, 1999, 2002; Hồ Ngọc Đại, 1998, 1999)…[22]

Sau khi chuyển vào Nha Trang, Viện Nghiên cứu biển nay là Viện Hải dương học, ngoài việc tham gia vào các chương trình Nhà nước, còn tiến hành nhiều đề tài độc lập khác, tập trung chính vào các thủy vực ven bờ như đầm Ô Loan của Bùi Văn Dương, Nguyễn Hữu Sửu năm 1981; Nguyễn Văn Chung và Huỳnh Quang Năng năm 1980; đầm Nha Phu Khánh Hòa (Nguyễn Ngọc Lâm và nnk.,2006); vịnh Bình Cang-Nha Trang (Nguyễn Văn Chung và nnk,1978); Văn Phong và Cam Ranh Khánh Hòa (Thái Ngọc Chiến và nnk.,2006), các rạn san hô ven bờ Nam Việt Nam (Võ Sỹ Tuấn và nnk., 1996)…[26]

Trạm cá biển Hải Phòng hay Viện Nghiên cứu Hải sản hiện nay, ngoài tham gia vào các chương trình khảo sát lớn cấp nhà nước, những năm sau này còn tiến hành nhiều đề tài cấp Bộ có liên quan chặt chẽ với việc đánh giá nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ nhằm tạo cơ sở cho các quy hoạch khai thác, bảo tồn nguồn lợi và bảo vệ môi trường cũng như cho việc thiết lập các khu bảo tồn biển như nghiên cứu về động vật thân mềm (Nguyễn Quang Hùng, 2005); cá rạn san hô biển Cát Bà-Hải Phòng (Lại Duy Phương, 2005); hiện trạng hệ sinh thái san hô và tiềm năng bảo tồn biển quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh (Đỗ Văn Khương và nnk., 2005); rong biển thuộc vùng biển Cát Bà-Cô Tô (Đỗ Văn Khương và nnk., 2005); điều kiện môi trường và nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ tỉnh Thanh Hóa (Chu Tiến Vĩnh và nnk, 2001); nguyên nhân gây tử vong cao cho trứng cá cá con ở một số vùng ven biển Việt Nam (Nguyễn Khắc Bát, 2006); trứng cá cá con, tôm con ở vùng nước ven bờ Đông và Tây bán đảo Cà

Trang 17

Mau (Nguyễn Quang Huy, 2004-2006); đánh giá nguồn lợi và sự phát triển của nghề

cá nổi ven biển miền Trung và Nam bộ (Nguyễn Long và nnk., 2005) [22]

Các trường Đại học là những đơn vị rất tích cực triển khai nhiều đề tài nghiên cứu về khu hệ động vật, thực vật thủy sinh (thực vật nổi, thực vật đáy, động vật nổi, động vật đáy, cá và các nhóm động vật có xương sống khác ), về nguồn lợi thủy sản cũng như các điều kiện môi trường cửa sông, đầm phá thuộc dải ven biển từ Bắc đến Nam nhằm đề xuất cơ sở khoa học cho việc sử dụng tổng hợp tài nguyên cho phát triển bền vững Nghiên cứu đầu tiên về các loài cá nước lợ cửa sông (sông Ninh Cơ, Nam Định) có thể tìm thấy trong công trình của Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1960), cá sông Bạch Đằng (Mai Đình Yên và Trần Định, 1969) Từ đầu những năm

1972, các đề tài khảo sát nghiên cứu về các loài cá cũng như thủy sinh vật và nguồn lợi hải sản cửa sông ven biển được triển khai bởi nhiều tác giả, song tập trung chủ yếu vào các cán bộ khoa học trường Đại học Tổng hơp Hà Nội (Vũ Trung Tạng, 1974-1976, 1977-1980, 1980-1985, 1996-2000, 2006-2008, cùng các công bố vào các năm 1977, 1999a, 1999b, 2005; Vũ Trung Tạng và nnk., 1978, 1981, 1988, 2007,

2008, 2008, 2009; Nguyễn Xuân Huấn, 1999, 2004-2005, 2006-2008, 1999) [22, 24]

1998-Nghiên cứu về thảm thực vật ngập mặn và các nhóm động vật sống trong rừng hoặc các bãi triều lân cận có thể tìm thấy trong công trình của các cán bộ khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn như Phan Nguyên Hồng (1984), Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản (1993), Phan Nguyên Hồng và nnk (1999), Nguyễn Hoàng Trí (1988, 2004), Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc (2004), Do Van Nhuong and Kejti Wada (2004) [22]

Đối với khu vực cửa sông ven biển miền Trung có thể gặp các công trình của Đại học Tổng hợp Huế trước đây hay Đại học Huế hiện nay (Hoàng Đức Đạt và Võ Văn Phú, 1977; Phạm văn Miên và Nguyễn Mộng, 1982; Nguyễn Thị Phương Liên

và nnk., 1981; Tôn Thất Pháp, 1993; Võ Văn Phú, 1995, 2001, 2004, 2003 [22, 24]

Trang 18

Trường Đại học Thủy sản Nha Trang hay Đại học Nha Trang hiện nay thường triển khai các nghiên cứu của mình trong các đầm phá Nam Trung Bộ như đầm Thị Nại (Nguyễn Chính, Ngô Anh Tuấn, 1982; Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982), đầm Nha Phu, Phú Khánh (Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982)…[22]

Nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven biển

và đồng bằng Nam Bộ có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Nuôi trồng Thủy sản II cũng như các trường Đại học TP Hồ Chí Minh, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí minh, đại học Cần Thơ, trong đó có các nghiên cứu về “Nguồn lợi động vật Hai vỏ (Bivalvia) ở vùng ven biển thị xã Bạc Liêu” (Dương Trí Dũng và Nguyễn Văn Thường, 2001), “Thực vật nổi (Phytoplankton) hạ lưu sông Cửu Long năm 1976-1979” (Trần Trường Lưu, 1979), về thủy sinh vùng cửa sông ven biển Tây thuộc bán đảo Cà Mau phục vụ yêu cầu phát triển thủy sản (Lương Văn Thanh và Nguyễn Văn Khôi, 2002), “Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lí hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệ nguồn lợi và phát triển nuôi trồng thủy sản” (Trần Thanh Xuân và nnk.,1998) [22]

Các nghiên cứu về địa chất địa mạo thuộc các cửa sông và dải bờ biển Việt Nam được nhiều tác giả quan tâm, có thể gặp trong ấn phẩm của Lê Xuân Hồng &

Lê Thị Kim Thoa, 2007

2 Lịch sử nghiên cứu cá ở khu vực nghiên cứu

Mặc dù vùng biển Tây Nam Bộ có tính đa dạng sinh học cao, trữ lượng nguồn lợi hải sản phong phú và có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế biển, tuy nhiên việc điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học và nguồn lợi hải sản nói chung và nguồn lợi cá nói riêng chưa thực sự được quan tâm nếu so sánh với các vùng biển khác ở Việt Nam như vịnh Bắc Bộ hay Đông Nam Bộ Các chương trình điều tra ở vùng biển Tây Nam

Bộ được thực hiện muộn hơn và tần suất cũng thấp hơn

Trang 19

Một trong những nghiên cứu đầu tiên về sinh vật biển ở vùng biển Tây Nam

Bộ là nghiên cứu về khu hệ cá biển, đã được công bố trong các công trình của Pellegrin (1905) và Chabanaud (1926)

Từ năm 1961 đến 1971 dưới sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) các nghiên cứu ngư nghiệp đã được tiến hành vì mục tiêu phát triển nghề cá Nam Việt Nam Đó là hoạt động khảo sát của Kyokuyo Co Ltd với 2 tầu Kyoshin Maru số 52 (1000CV) và tầu Hữu nghị Kết quả đánh cá thí nghiệm trong những năm 1969-1971

đã chứng minh rằng nguồn lợi cá biển ở phía Đông vịnh Thái Lan, tức vùng thềm lục địa Việt Nam có năng suất đánh bắt thường cao hơn phía thềm lục địa Thái Lan [19] Cùng với các hoạt động trên, sự hợp tác giữa viện Hải dương Scripps California với chính quyền Sài Gòn đã tiến hành điều tra cơ bản về các điều kiện tự nhiên và đánh giá nguồn lợi thủy sinh vật Biển Đông và vịnh Thái Lan Kết quả cũng được tổng kết trong ấn phẩm “Scientific result of marine investigation of the South China Sea and the Gult of Thailand 1959-1961” [41]

Sau năm 1975, những nghiên cứu về nguồn lợi sinh vật ở vùng biển Tây Nam

Bộ được thực hiện ít hơn Rất nhiều chương trình biển đã được triển khai, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu thường không bao gồm vùng biển Tây Nam Bộ Đến năm 1996, dưới sự tài trợ của chính phủ Đan Mạch, dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam, giai đoạn I” (1996-1999) đã được thực hiện Trong năm 1996-1997, dự án đã thực hiện 2 chuyến điều tra nguồn lợi hải sản bằng lưới kéo đáy (trên tàu HL-408 B)

ở vùng biển Việt Nam, tuy nhiên vùng biển Tây Nam Bộ cũng chưa được điều tra, nghiên cứu Một trong những nội dung quan trọng đã được dự án triển khai ở vùng biển Tây Nam Bộ là thí điểm thu thập số liệu sinh học nghề cá, gồm thành phần sản lượng, thành phần loài, các thông tin sinh học của các đối tượng khai thác chính của các loại nghề khai thác ở vùng biển Tây Nam Bộ Kết thúc giai đoạn I của dự án, kết quả điều tra, nghiên cứu đã cung cấp những thông tin cơ bản về hoạt động nghề cá ở vùng biển này Giai đoạn II của dự án được thực hiện từ năm 2000 đến 2005 [1] Dự

Trang 20

án đã kết hợp với đề tài “Nghiên cứu thăm dò nguồn lợi hải sản và lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp phục vụ phát triển nghề cá xa bờ (2000-2002)” [23] và dự án

“Điều tra cơ bản nguồn lợi hải sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục

vụ mục tiêu phát triển lâu bền ngành hải sản vùng gần bờ biển nước ta (1997-2003)” tiến hành điều tra nguồn lợi hải sản tầng đáy và gần đáy bằng tàu lưới kéo đáy (giã tôm và giã cá) ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Kết quả thu được đã đánh giá được hiện trạng nguồn lợi hải sản sống đáy và gần đáy, nguồn lợi giáp xác ở vùng biển vịnh Bắc Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ Có thể nói đây là dự

án điều tra đánh giá nguồn lợi và khai thác hải sản có quy mô lớn nhất từ trước đến nay ở nước ta Danh sách thành phần loài thu được của dự án đã bổ sung một số loài hải sản vào danh mục cá biển Việt Nam, đồng thời kết quả phân tích biến động thành phần sản lượng của loài đã tạo cơ sở khoa học cho việc xác định mức độ nguy cấp của một số loài hải sản ở biển Việt Nam trong đó có vùng biển Tây Nam Bộ

Năm 1997 - 1998, Chương trình hợp tác Việt Nam - Thái Lan đã tiến hành điều tra nguồn lợi sinh vật biển ở vùng chồng lấn vịnh Thái Lan, khu hệ thủy sinh vật

ở khu vực này cũng đã được phân tích Các kết quả này đã đóng góp một phần quan trọng vào việc xây dựng tổng quan nguồn lợi hải sản biển Việt Nam Ngoài ra, nhiều báo cáo khoa học đã được công bố về đánh giá nguồn lợi, khả năng khai thác, đặc điểm sinh học chủ yếu của một số loài hải sản có giá trị kinh tế

Năm 2003, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá nổi nhỏ (chủ yếu là cá nục, cá trích, cá cơm, cá bạc má, ) ở biển Việt Nam”, phạm vi nghiên cứu bao gồm cả vùng biển Tây Nam

Bộ [14]

Năm 2005, Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi” [12] Ở vùng biển Tây Nam Bộ, đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát

Trang 21

đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô tại các đảo Phú Quốc, Hòn Thơm, Nam Du Kết quả điều tra đã cung cấp những thông tin cơ bản về nguồn lợi cá rạn tại các khu vực đã điều tra, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các khu bảo tồn biển ở Tây Nam Bộ Cũng trong thời gian này (2005), Bộ Thủy sản cũng đã phê duyệt thực hiện đề tài

“Đánh giá nguồn lợi cá cơm (Stolephorus spp.) ở vùng biển Tây Nam Bộ và đề xuất

giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý” (Đặng Văn Thi, 2007) Viện Nghiên cứu Hải sản

là đơn vị được giao thực hiện đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đánh giá được trữ lượng nguồn lợi cá cơm ở vùng biển Tây Nam Bộ, ước tính khoảng 120 ngàn tấn

Cá cơm mõm nhọn, cá cơm sọc xanh và cá cơm thường là những loài chiếm ưu thế trong tổng nguồn lợi cá cơm với tỉ lệ tương ứng là 60,1%; 21,2% và 12,1% về trữ lượng Cá cơm ấn độ có trữ lượng ít nhất, ước tính khoảng 3,5 ngàn tấn; chiếm 2,9%

về trữ lượng và 0,3% về số lượng cá thể

Hiện nay, hai dự án nghiên cứu thuộc đề án 47 thực hiện điều tra tổng thể

nguồn lợi hải sản vùng biển Việt Nam bao gồm: “Dự án điều tra hiện trạng và biến

động nguồn lợi thủy sản ven biển Việt Nam”(I.8) và “Dự án điều tra hiện trạng và biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” (I.9) đang trong giai đoạn thực hiện cuối

cùng Phạm vi nghiên cứu của cả hai đề tài này đều bao gồm cả khu vực biển Tây Nam Bộ, trong đó, dự án I.8 nghiên cứu trong khu vực ven bờ và có các khu vực trùng với phạm vi của nghiên cứu này

Trang 22

3 Điều kiện tự nhiên và nghề cá khu vực nghiên cứu

3.1 Điều kiện tự nhiên

Vùng biển miền Tây Nam Bộ cùng nằm trong chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và hoạt động của bão Tây Thái Bình Dương thường phát sinh ở phía Đông Philippines Chế độ gió mùa chịu ảnh hưởng một phần của gió Tây Nam nhưng thời gian có ngắn hơn và ít biến động hơn so với gió mùa đông bắc, đặc biệt là vào thời

kỳ gió mùa Tây Nam, vùng biển này không bị oi bức của hiện tượng gió Lào như ở Bắc Bộ và Trung Bộ [27]

3.1.2 Đặc điểm về khí tượng

a Chế độ gió

Vùng biển Tây Nam Bộ hàng năm chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam; mùa gió Đông Bắc (mùa khô) bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài đến

Trang 23

tháng 4 năm sau, gió mùa Tây Nam (mùa mưa) kéo dài từ tháng 6 cho đến tháng 9 Các tháng 5 và 10 là thời kỳ chuyển tiếp của hai mùa gió

Trong mùa khô, hướng gió chủ yếu là hướng Đông chiếm tần suất lớn nhất Hướng gió thịnh hành trong mùa mưa là hướng Tây và Tây Nam trùng với hướng gió mùa khu vực Tốc độ gió trong mùa gió Đông Bắc trung bình từ 3- 4 m/s, mạnh nhất khoảng 14-16 m/s.Tốc độ đó trung bình trong mùa mưa là 4-5 m/s mạnh nhất là 18-

20 m/s, khi có bão tốc độ có thể lớn hơn Đây là vùng biển rất ít khi có bão, thuận lợi cho công việc khai thác, bảo tồn và phát triển nuôi trông thủy sản [27]

25oC Sang tháng 2, nhiệt độ tăng nhanh và đạt giá trị cực đại vào khoảng từ tháng 4 tháng 5 với nhiệt độ trung bình từ 20,5 oC đến 28,5 oC Từ tháng 5 nhiệt độ bắt đầu giảm chậm cho đến giữa tháng 11, sau đó đạt cực tiểu vào tháng12 [27]

c Chế độ mưa

Mùa mưa ở vùng biển Kiên Giang - Cà Mau bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, trung bình kéo dài từ 170 - 200 ngày Nhìn chung ở vùng biển ven biển Tây Nam Bộ mùa mưa thường bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn các vùng khác

từ 10 đến 15 ngày Lượng mưa trong năm tập trung chủ yếu trong mùa mưa, trong thời kỳ này trung bình lượng mưa và từ 100 đến 150 ngày mưa với lượng mưa từ

1500 – 2300 nm, chiếm 90% tổng lượng mưa của cả năm [27]

Trang 24

3.1.3 Đặc điểm thủy văn biển

a Dòng chảy

Về tổng thể, hoàn lưu trong vịnh Thái Lan có cấu trúc phức tạp, trong đó hình thái cuộn xoáy là phổ biến nhất Sự tồn tại ổn định của các xoáy trong vịnh chứng tỏ chế độ hoàn lưu trong vịnh Thái Lan có tính độc lập và khép kín

Ảnh hưởng của Biển Đông đến vịnh Thái Lan trong mùa gió Đông Bắc là rất đáng kể so với mùa gió Tây Nam Chính ảnh hưởng này đã phá vỡ tính đối xứng trong chế độ hoàn lưu trong nước của vịnh Thái Lan trong hai mùa khí hậu mùa nói trên Tháng 4 là tháng chuyển tiếp từ hoàn lưu thuộc mùa gió Đông Bắc sang mùa gió Tây Nam và tháng 10 là tháng chuyển tiếp hoàn lưu thuộc mùa gió Tây Nam trong mùa gió Đông Bắc

* Mùa gió Tây Nam

Hướng dòng chảy tầng mặt và tầng đáy tại phần phía Tây Bắc vịnh gần trùng nhau Điều này có nghĩa khả năng tải vật chất (trong đó có các chất bẩn) từ phía Tây sang phía Đông vịnh vào mùa này là rất lớn

Dòng chảy có hướng Tây Bắc - Đông Nam tới gần mũi Cà Mau một phần nước được đưa vào vùng biển phía Đông Nam Bộ còn phần lớn được đưa lại vịnh tạo nên hoàn lưu phép kín ở trong vịnh theo chiều kim đồng hồ

* Mùa gió Đông Bắc

Vào mùa khô, trừ dải ven sát bờ biển tỉnh Kiên Giang - Cà Mau hoàn lưu tại vùng biển Tây Việt Nam có chiều ngược kim đồng hồ

Gió mùa Đông Bắc và dòng chảy triều đã tạo nên một vòng tuần hoàn khép kín bao gồm vùng nước trồi và vùng nước chìm địa phương Nước từ vùng biển miền

Trang 25

Đông Nam Bộ một phần đi vào Vịnh Thái Lan có hướng Đông Nam- Tây Bắc tạo thành hoàn lưu có chiều ngược với gió mùa Tây Nam [27]

b Nhiệt độ nước biển

Vịnh Thái Lan nói chung và biển Kiên Giang - Cà Mau nói riêng đều nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Hai hệ thống gió mùa chính nằm trong năm

là Đông Bắc và Tây Nam đã có ảnh hưởng đến sự biến động chế độ nhiệt không khí

và nước vùng ven biển

Dưới tác động của nhiệt khí quyển, chế độ nhiệt nước biển cũng phụ thuộc vào các mùa thời tiết trong năm Chế độ nước biển trong vùng này ngoài sự chịu tác động trực tiếp của việc hấp thụ nhiệt khí quyển thì ảnh hưởng của hoàn lưu nước cũng rất đáng kể Vào thời kỳ mùa khô nước từ biển Đông đi vào vịnh Thái Lan dọc theo bờ biển Cà Mau - Kiên Giang đi lên phía Bắc dòng nước mang theo nhiệt độ thấp, độ mặn cao đã làm cho vùng biển ven bờ có nhiệt độ giảm và càng ra giữa Vịnh thì nhiệt

- 1,5oC Vào thời kì mùa khô nhiệt độ tầng mặt dao động khá lớn, thấp nhất quan trắc được vào khoảng 26oC và cao nhất là 30,6 oC, nhiệt độ trung bình khoảng từ 27 - 28

oC Nhìn chung, các đường đẳng nhiệt gần như đồng nhất từ mặt xuống đáy

Trang 26

Vào thời kỳ cuối mùa khô vào đầu mùa mưa nhiệt độ nước tại vùng biển Kiên Giang - Cà Mau dao động trong khoảng từ 20oC đến 30 oC Cá biệt có nơi có lúc nhiệt

độ đạt tới 30oC và thấp nhất là khoảng 28,5oC Số liệu mới nhất đo được tại mặt cắt

Cà Mau vào tháng 7/2013 là vào khoảng 30,1oC đến 30,5oC Nhìn chung nhiệt độ nước ở Vịnh Thái Lan thường từ 28oC đến 30 oC Có thể nói rằng mọi sự biến đổi về điều kiện thời tiết đều có ảnh hưởng trực tiếp tới hình sự hình thành và phát triển và biến đổi của các khối nước từ đó làm thay đổi điều kiện môi trường như các đặc trưng

về vật lý hóa học của vùng biển [27]

Vùng biển Kiên Giang - Cà Mau vào thời kì mùa khô nước từ biển Đông đổ vào vịnh Thái Lan men theo bờ biển Cà Mau - Kiên Giang lên phía Bắc Còn vào thời

kì mùa mưa thì nước từ Vịnh Thái Lan lại theo chiều ngược lại, tức là men theo bờ biển Kiên Giang - Cà Mau đi xuống phía Nam Ngoài sự ảnh hưởng của hoàn lưu nước trong vịnh thì trong các mùa mưa và mùa khô lưu lượng nước từ lục địa đổ vào vùng này cũng khác nhau rất nhiều Vì vậy mà chế độ mặn của vùng ven biển phía Tây Nam Bộ cũng có những thay đổi nhất định [27]

Trang 27

3.2 Đặc điểm nghề cá

3.2.1 Kinh tế nghề cá

Vùng biển Tây Nam Bộ là khu vực có nền đáy bằng phẳng và tương đối nông

vì thế đây đã là nơi khai thác hải sản của ngư dân địa phương cũng như ngư dân các vùng lân cận từ xa xưa Nghề cá ở vùng biển này cũng được đánh giá là có tốc độ phát triển phát triển nhanh, trở thành khu vực trọng điểm nghề cá của cả nước Theo

số liệu của Tổng cục Thống kê giai đoạn 2000-2018 cho thấy, sản lượng khai thác cá biển không ngừng tăng qua các năm, đặc biệt là sản lượng khai thác cá biển của Kiên Giang (Hình 1)

Hình 1 Sản lượng khai thác cá biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn

2000-2018 (đơn vị: nghìn tấn) - Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê [28]

Năm 2000, sản lượng khai thác của Kiên Giang lần lượt là 168,9 nghìn tấn Năm 2010 sản lượng khai thác cá biển của tỉnh này tăng gần 1,5 lần, đạt 252,7 nghìn tấn Đến năm 2018, kết quả thống kê sơ bộ cho thấy tổng sản lượng khai thác cá biển

đã đạt 429,4 nghìn tấn, bằng 16,26% tổng sản lượng khai thác cá biển của cả nước Sản lượng khai thác cá biển của Cà Mau năm 2000 đạt 93,5 nghìn tấn, đến năm 2018,

Trang 28

sản lượng khai thác đạt 167,6 nghìn tấn, chiếm 6,45% tổng sản lượng khai thác cá biển cả nước Như vậy tổng sản lượng cá biển khai thác của hai tỉnh này đã chiếm tới khoảng hơn 22% sản lượng của cả nước

Hình 2 Tổng công suất tàu khai thác thuỷ sản biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2010-2018 (đơn vị: nghìn CV) - Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê [28]

Giá trị ngành thủy sản của tỉnh Kiên Giang tăng 33,28 lần trong vòng 20 năm,

từ 1.045 tỷ đồng năm 1995, lên 5.157 tỷ đồng năm 2006 và đạt 34.787 tỷ đồng năm

2016 Trong đó, ngành khai thác thủy sản ghi nhận mức tăng khá nhanh từ 814 tỷ đồng năm 1995 lên 2.882 tỷ đồng năm 2006 và đạt 20.553 tỷ đồng năm 2016; ngành nuôi trồng thủy sản tăng từ 231 tỷ đồng năm 1995, lên 2.275 tỷ đồng năm 2006 và đạt 14.234 tỷ đồng năm 2016 Sự phát triển của ngành thủy sản đã đóng góp phần lớn trong tổng giá trị kinh tế biển trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 1995 – 2016 Năm 1995, giá trị kinh tế ngành thủy sản đạt 1.045 tỷ đồng, chiếm 69,15% tổng giá trị kinh tế biển Giá trị này tiếp tục tăng lên và đạt 5.157 tỷ đồng, chiếm 61,52% vào năm 2006 và 34.787 tỷ đồng, chiếm 70,95% năm 2016 Đến năm 2020, tỉnh đặt mục tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất thủy sản đạt trên 9,1%/năm, cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản đạt trên 51,1%; trong đó, giữ ổn định sản lượng khai thác thủy sản khoảng

Trang 29

thác ven bờ (35%), tăng sản lượng khai thác xa bờ (65%); bảo đảm diện tích nuôi trồng thủy sản 211.430 ha, sản lượng 265.505 tấn (Theo Tổng cục Thuỷ sản)

3.2.2 Cơ cấu đội tàu và hoạt động khai thác

Theo số liệu thống kê 2017 của Chi cục Thuỷ sản các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, vùng biển Tây Nam Bộ có 14760 phương tiện hoạt động khai thác hải sản (Bảng 2) Trong đó, số tàu có công suất <90CV là 8648 chiếc, chiếm 57% số tàu khai thác

và 43% số phương tiện còn lại có công suất trên 90CV Số tàu có công suất nhỏ

<20CV là 3933 chiếc, chiếm tới 26,65% tổng số tàu

Bảng 2 Cơ cấu nghề khai thác theo nhóm công suất ở vùng biển Tây Nam Bộ

Tổng cường lực khai thác trong 1 năm (từ 7/2016 - 6/2017) ở vùng biển Tây Nam Bộ ước đạt 1,53 triệu ngày tàu Sản lượng khai thác hải sản cũng trong năm này đạt 501 ngàn tấn bao gồm các nhóm cá, chân đầu, tôm, cua, ghẹ, ốc, Nghề lưới kéo

có sản lượng đánh bắt lớn nhất chiếm 76% sản lượng khai thác toàn vùng, trong đó, nghề lưới kéo đôi chiếm tới 71% Nghề lưới vây chiếm 18% tổng sản lượng, các nghề còn lại chỉ chiếm 6% [6]

Trang 30

Chương 2 - ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, TÀI LIỆU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện ở 4 vùng cửa sông ven biển Tây Nam Bộ bao gồm: cửa sông Giang Thành (khu vực I) và cửa sông Cái Lớn (khu vực II) thuộc tỉnh Kiên Giang; cửa sông Ông Đốc (khu vực III) và Cửa sông Cửa lớn (khu vực IV) thuộc tỉnh

Cà Mau (Hình 3) Các chuyến khảo sát được thực hiện trong 3 đợt thu mẫu: đợt 1 từ ngày 18 - 28/4/2018, đợt 2 từ ngày 14 - 23/7/2018 và đợt 3 từ ngày 24/10 - 4/11/2018 Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài cá ở các khu vực nghiên cứu

Hình 3 Vị trí các khu vực nghiên cứu (Nguồn: Google map)

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp

Trong quá trình thực hiện, luận văn có sử dụng ảnh chụp tại thực địa, tư liệu

Trang 31

nghiên cứu như tên địa phương, sự có mặt, giá trị kinh tế, mùa vụ khai thác, thời gian sinh sản, sự biến động về thành phần loài, số lượng các loài cá, phương tiện đánh bắt, do các cán bộ nghiên cứu tiến hành trong quá trình thu mẫu

Bên cạnh đó, luận văn cũng tham khảo thêm các tài liệu khoa học liên quan đến phân loại, đánh giá nguồn lợi cá, lịch sử nghiên cứu, điều kiện tự nhiên, kinh tế

xã hội của các tỉnh thành trong khu vực nghiên cứu bao gồm các bài báo, khóa luận, luận văn, luận án, kết quả các công trình nghiên cứu, đã được công bố của các tác giả trong và ngoài nước, các chuyên gia và báo cáo chuyên đề của các đề tài, dự án

2.2 Phương pháp thu mẫu

Tổng số 611 mẫu vật được thu thập tại các khu vực nghiên cứu Trong đó, 233 mẫu vật thuộc khu vực cửa sông Giang Thành, 211 mẫu vật thu tại cửa sông Cái Lớn,

72 mẫu vật thuộc cửa sông Ông Đốc và 95 mẫu vật thuộc cửa sông Cửa Lớn

* Phương pháp thu mẫu

- Chúng tôi thực hiện việc thu mẫu đối với tất cả các loài bắt gặp, ở nhiều kích thước, thu số lượng nhiều đối với loài lạ Việc thu mẫu được tiến hành vào nhiều thời điểm trong ngày, ở các loại nghề khác nhau tại nhiều địa điểm thuộc phạm vi khu vực nghiên cứu

- Mẫu vật được thu trực tiếp bằng việc tham gia đánh bắt cùng ngư dân khai thác hoặc thu mua mẫu ở các điểm tập kết cá trong khu vực nghiên cứu Đối với phương pháp thu mẫu tại bến cá, điểm tập kết cá, thực hiện phỏng vấn chi tiết về địa điểm và ngư cụ đánh bắt Trong suốt quá trình thu mẫu, mẫu cá được bảo quản lạnh

để đảm bảo giữ nguyên màu sắc của mẫu vật

- Ghi nhật ký thực địa: thu thập và ghi chép các thông tin về nhiệt độ, thời tiết,

độ sâu, tốc độ dòng chảy, sinh cảnh xung quanh, màu sắc, tập tính của cá tại môi trường tự nhiên

Trang 32

* Quy trình xử lý và bảo quản mẫu vật được thực hiện theo các bước sau:

- Làm chết mẫu vật (nếu cá còn sống): cá được làm chết bằng cách thả trực tiếp vào dung dịch formalin 10%

- Rửa sạch sau đó định hình mẫu vật bằng dung dịch formalin 8-10% Đối với

cá có kích thước lớn hơn 0,5kg được tiêm dung dịch định hình vào gốc các tia vây, ổ bụng và các cơ lớn

- Chụp ảnh mẫu vật với phông ảnh tối và thước chuẩn

- Ghi nhãn bao gồm các thông tin: Tên loài (tên khoa học, tên phổ thông, tên địa phương (nếu có thông tin), số thứ tự, thời gian, địa điểm, người thu mẫu

- Sau khi định hình, chụp ảnh, ghi nhãn, mẫu được bảo quản trong dung dịch formalin 8% và chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích mẫu

2.3 Phương pháp định loại

Mẫu cá sau khi thu thập sẽ được tiến hành định loại ngay tại hiện trường hoặc trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp phân tích, so sánh hình thái hướng dẫn bởi Fravdin [21]

Các tài liệu chính sử dụng trong định loại tại phòng thí nghiệm là: “FAO

species identification guide for fishery purposes - The living marine resources of

Western Central Pacific Vol 2, 3, 4, 5, 6” của FAO (1999 - 2001) [29-32] và “Fishes

of Japan - with pictorial keys to the species, English edition - vol I, II” của Tetsuji

Nakabo (2002) [38]; “Ngư loại phân loại học” của Vương Dĩ Khang, “Cá nước ngọt

Việt Nam” của Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sĩ Vân [7-9] Bên cạnh đó, khóa luận cũng

tham khảo thêm các tài liệu nghiên cứu cá ở khu vực ĐBSCL như “Mô tả định loại

cá Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam - Fishes of the Mekong delta, Viet Nam” do

nhóm nghiên cứu thuộc dự án NEF - CTU thực hiện [5], “Fishes of the greater

Trang 33

Mekong ecosystem with species list and photographic atlas” và “Fishes of Cambodia” [39,40]

Trang web fishbase.org được sử dụng để tham khảo, so sánh, kiểm tra lại tên khoa học, khu vực phân bố, các nhóm sinh thái của các loài cá đã được phân tích [36]

Tên Tiếng Việt (tên phổ thông) của các loài cá được xác định chủ yếu theo

“Danh lục cá biển Việt Nam - Tập 1, 2, 3, 4, 5 của Nguyễn Hữu Phụng và các tác giả

khác [15-19]

Danh sách cá sau khi xác định tên khoa học, tên Tiếng Việt được sắp xếp theo

hệ thống phân loại của William N Eschmeyer được cập nhật 12/2019 [35]

* Một số chỉ tiêu dùng trong phân loại:

Phương pháp phân tích, so sánh hình thái thường sử dụng khóa phân loại dựa trên các chỉ tiêu đếm và chỉ tiêu đo Các số đo và đếm được xác định trên nhiều cá thể của cùng một loài Sử dụng các dụng cụ: thước đo, compa, kim mũi mác khi định loại mẫu cá

Các chỉ tiêu đếm

- Vây: thường đếm số lượng tia vây phân nhánh hay không phân nhánh; số lượng các tia vây cứng, tia vây mềm

- Vảy: Số lượng các vảy đường bên, số hàng vảy trên và dưới đường bên

- Chỉ tiêu đếm khác: Số hàng răng, số lượng râu, số lược mang (thường là cung mang đầu tiên), số gai ở bụng, số các lỗ dưới cằm,…

Trang 34

Các kí hiệu trong chỉ tiêu đếm:

- D: Vây lưng (Dorsal fin) Với cá có 2 vây lưng, D1 kí hiệu cho vây lưng thứ nhất, D2 kí hiệu cho vây lưng thứ 2

- A: Vây hậu môn (Anal fin)

- P: Vây ngực (Pectoral fin)

- V: Vây bụng (Ventral fin)

- C: Vây đuôi (Caudal fin)

- L1: Vảy đường bên (với cá có đường bên)

- Squ: Vảy dọc thân (với cá không có đường bên)

Các chỉ tiêu đo

Các chỉ tiêu đo thường dùng bao gồm: Chiều dài thân, đầu và mõm, khoảng cách trước vây lưng, giữa hai ổ mắt, đường kính mắt, chiều dài cuống đuôi, chiều cao thân lớn nhất và nhỏ nhất,… và tỷ lệ chiều dài giữa các phần của cơ thể

Kí hiệu các chỉ tiêu đo:

- L0: Chiều dài mình bỏ vây đuôi

- L: Chiều dài toàn thân cá

- Lc: Chiều dài Smith, từ mõm đến chẻ vây đuôi

- H: Chiều cao lớn nhất của thân

- h: Chiều cao nhỏ nhất của thân

Trang 35

- hD: Chiều cao vây lưng

- hA: Chiều cao vây hậu môn

- hP: Chiều cao vây ngực

- hV: Chiều cao vây bụng

- lD: Chiều dài gốc vây lưng

- lA: Chiều dài gốc vây hậu môn

- a: Chiều dài đầu

- b: Chiều dài mõm

- c: Đường kính mắt

- e: Chiều dài cuống đuôi

Ngoài các chỉ tiêu đo và chỉ tiêu đếm, trong phân loại còn sử dụng một số tiêu chí khác về hình dạng như kiểu miệng, vảy, răng, hình dạng vây đuôi, đường bên,

Các chỉ tiêu chính sử dụng trong định loại các nhóm cá được mô tả trong Hình

4, 5, 6, 7

Trang 36

Hình 4 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại

cá Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối

Nguồn: Fao species identification guide for fishery purposes - The living marine

Trang 37

Hình 5 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại

cá Vây tia (cá Xương)

Nguồn: Fao species identification guide for fishery purposes - The living marine

resources of Western Central Pacific (Dịch: Nguyễn Thành Nam)

Trang 38

Hình 6 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và

các kiểu răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương)

Nguồn: Fao species identification guide for fishery purposes - The living marine

Trang 39

Hình 7 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và

vây đuôi dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương)

Nguồn: Fao species identification guide for fishery purposes - The living marine

resources of Western Central Pacific (Dịch: Nguyễn Thành Nam)

Trang 40

2.4 Phân tích số liệu

Số liệu của luận văn được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả thông thường Mức độ tương đồng giữa các khu vực cửa sông ven biển được xác định dựa trên công thức mức tương đồng của Sorensen (1948) [34]

𝑆 = 2𝐶

A + BTrong đó: S là hệ số gần gũi giữa hai khu hệ

A là số loài riêng của khu hệ A

B là số loài riêng của khu hệ B

C là số loài chung của hai khu hệ A và B

Hệ số gần gũi S biến thiên từ 0 tới 1 Mối quan hệ giữa hai khu hệ càng lớn thì

S càng dần tiến tới 1, thành phần loài của hai khu vực càng giống nhau và ngược lại

S < 0,35: quan hệ ít gần gũi 0,35 ≤ S < 0,7: quan hệ gần gũi 0,7 ≤ S ≤ 1: quan hệ rất gần gũi

Ngày đăng: 06/04/2022, 21:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Trần Đức Thạnh, Võ Thịnh (2011), “Tài nguyên vị thế hệ thống cửa sông Việt Nam”, Tuyển tập Tài nguyên và Môi trường biển, tập XVI, trang 20-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên vị thế hệ thống cửa sông Việt Nam”", Tuyển tập Tài nguyên và Môi trường biển
Tác giả: Lê Đức An, Uông Đình Khanh, Trần Đức Thạnh, Võ Thịnh
Năm: 2011
3. Bộ khoa học và công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách Đỏ Việt Nam, phần I. Động Vật, NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Đỏ Việt Nam, phần I. Động Vật
Tác giả: Bộ khoa học và công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: NXB Khoa học tự nhiên và công nghệ
Năm: 2007
4. Bộ Thuỷ sản (1996), Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lợi thuỷ sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
5. Trần Đắc Định, Shibukawa Koichi, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn Hiếu, Utsugi Kenzo (2013), Mô tả định loại cá đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, NXB Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả định loại cá đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam
Tác giả: Trần Đắc Định, Shibukawa Koichi, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn Hiếu, Utsugi Kenzo
Nhà XB: NXB Đại học Cần Thơ
Năm: 2013
6. Nguyễn Văn Hải (2019), "Hiện trạng hoạt động khai thác của một số đội tàu ở vùng biển Tây Nam Bộ", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.Chuyên đề Nghiên cứu Nghề cá biển, trang 152-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng hoạt động khai thác của một số đội tàu ở vùng biển Tây Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn Hải
Năm: 2019
7. Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sĩ Vân (2001), Cá nước ngọt Việt Nam, tập 1, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sĩ Vân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
8. Nguyễn Văn Hảo (2005), Cá nước ngọt Việt Nam, tập 2, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Hảo (2005), Cá nước ngọt Việt Nam, tập 3, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá nước ngọt Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
10. Nguyễn Xuân Huấn và nnk (2010), Báo cáo tổng quan đa dạng sinh học các hệ sinh thái cửa sông ven biển Việt Nam, Tài liệu lưu giữ tại Tổng cục Thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan đa dạng sinh học các hệ sinh thái cửa sông ven biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Huấn và nnk
Năm: 2010
11. Uông Đình Khanh, Lê Đức An, Đinh Văn Huy (2011), Đánh giá các giá trị tài nguyên vị thế hệ thống cửa sông ven biển Việt Nam, Báo cáo chuyên đề Dự án số 14, lưu Viện TN&amp;MTB, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các giá trị tài nguyên vị thế hệ thống cửa sông ven biển Việt Nam
Tác giả: Uông Đình Khanh, Lê Đức An, Đinh Văn Huy
Năm: 2011
12. Đỗ Văn Khương (2007). Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thành lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng nguồn lợi. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thành lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng nguồn lợi
Tác giả: Đỗ Văn Khương
Năm: 2007
13. Nguyễn Thành Nam (2014), Nghiên cứu khu hệ cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận và đề xuất giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi, Luận án tiến sĩ Sinh học trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khu hệ cá biển ven bờ tỉnh Bình Thuận và đề xuất giải pháp khai thác hợp lý, bảo vệ nguồn lợi
Tác giả: Nguyễn Thành Nam
Năm: 2014
14. Nguyễn Viết Nghĩa (2007). Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác các loài cá nổi nhỏ chủ yếu là cá Nục, cá Trích, cá Bạc má ở biển Việt Nam”. Hải Phòng, Viện Nghiên cứu Hải sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu trữ lượng và khả năng khai thác các loài cá nổi nhỏ chủ yếu là cá Nục, cá Trích, cá Bạc má ở biển Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Viết Nghĩa
Năm: 2007
15. Nguyễn Hữu Phụng và Trần Hoài Lan (1994), Danh lục cá biển Việt Nam, Tập I, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục cá biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng và Trần Hoài Lan
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
16. Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật Thi (1994), Danh lục cá biển Việt Nam, Tập II. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục cá biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng và Nguyễn Nhật Thi
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1994
17. Nguyễn Hữu Phụng, Lê Trọng Phấn, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính, Đỗ Thị Như Nhung và Nguyễn Văn Lục (1995), Danh lục cá biển Việt Nam, Tập III, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục cá biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng, Lê Trọng Phấn, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính, Đỗ Thị Như Nhung và Nguyễn Văn Lục
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
18. Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính và Đỗ Thị Như Nhung (1997), Danh lục cá biển Việt Nam, Tập IV, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục cá biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Nhật Thi, Nguyễn Phi Đính và Đỗ Thị Như Nhung
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1997
19. Nguyễn Hữu Phụng (1999), Danh lục cá biển Việt Nam, Tập V, NXB Nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục cá biển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hữu Phụng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
20. Lê Thị Như Phương (2014), Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An, Luận văn Thạc sỹ Sinh học trường ĐH Khoa học Tự Nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An
Tác giả: Lê Thị Như Phương
Năm: 2014
21. Pravdin. I. F. (1973), Hướng dẫn nghiên cứu cá - Bản dịch của Phạm Thị Minh Giang, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn nghiên cứu cá
Tác giả: Pravdin. I. F
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1973

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

laéng ñoïng KT MD tuaàn hoaøn ôû gian baøo thöôïng bì hình maïng löôùi maøu xanh laù, ñaây laø loaïi KT khaùng gian baøo thöôïng bì - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
la éng ñoïng KT MD tuaàn hoaøn ôû gian baøo thöôïng bì hình maïng löôùi maøu xanh laù, ñaây laø loaïi KT khaùng gian baøo thöôïng bì (Trang 23)
Hình 1. Sản lượng khai thác cá biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2000- 2000-2018 (đơn vị: nghìn tấn) - Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê [28] - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 1. Sản lượng khai thác cá biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2000- 2000-2018 (đơn vị: nghìn tấn) - Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê [28] (Trang 27)
Hình 2. Tổng công suất tàu khai thác thuỷ sản biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2010-2018 (đơn vị: nghìn CV) - Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê [28] - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 2. Tổng công suất tàu khai thác thuỷ sản biển của Cà Mau và Kiên Giang giai đoạn 2010-2018 (đơn vị: nghìn CV) - Nguồn số liệu từ Tổng cục Thống kê [28] (Trang 28)
Hình 4. Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 4. Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối (Trang 36)
Hình 5. Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 5. Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) (Trang 37)
Hình 6. Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 6. Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và (Trang 38)
Bảng 3. Số lượng và tỷ lệ % các họ, giống, loài có trong các bộ - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Bảng 3. Số lượng và tỷ lệ % các họ, giống, loài có trong các bộ (Trang 42)
Bảng 4. Thành phần loài cá một số khu vực cửa sông ven biển Tây Nam Bộ - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Bảng 4. Thành phần loài cá một số khu vực cửa sông ven biển Tây Nam Bộ (Trang 44)
V Anguilliformes Bộ cá Chình 21 03 5 - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
nguilliformes Bộ cá Chình 21 03 5 (Trang 45)
Hình 8. Số lượng các bậc phân loại ở các khu vực nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 8. Số lượng các bậc phân loại ở các khu vực nghiên cứu (Trang 60)
Hình 9. Số lượng loài trong các bộ cá ở các khu vực nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 9. Số lượng loài trong các bộ cá ở các khu vực nghiên cứu (Trang 62)
Hình 10. Các họ có số loài nhiều nhất ở các khu vực nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 10. Các họ có số loài nhiều nhất ở các khu vực nghiên cứu (Trang 63)
Hình 11. Phân bố loài theo môi trường nước ở các khu vực nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 11. Phân bố loài theo môi trường nước ở các khu vực nghiên cứu (Trang 65)
Hình 12. Số lượng loài cá phân theo tầng nước ở các khu vực nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
Hình 12. Số lượng loài cá phân theo tầng nước ở các khu vực nghiên cứu (Trang 67)
(Các hình ảnh trong phụ lục thuộc sở hữu của tác giả luận văn này) - (LUẬN văn THẠC sĩ) nghiên cứu so sánh thành phần loài cá một số vùng cửa sông ven biển tây nam bộ, việt nam​
c hình ảnh trong phụ lục thuộc sở hữu của tác giả luận văn này) (Trang 75)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm