TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Lý do chọn đề tài
Kể từ khi Việt Nam mở cửa hội nhập, các nhà đầu tư nước ngoài đã đổ xô vào thị trường đầy tiềm năng nhờ vào nền chính trị ổn định Sự gia tăng các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các công ty và nhà thầu xây dựng Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế trong nước, khiến nhiều dự án đầu tư bị đình trệ và nguồn vốn FDI bị thắt chặt Khi những khách hàng lớn trong thị trường xây dựng gặp khó khăn, thị trường tự nhiên bị thu hẹp, và ngành xây dựng vẫn chưa thể thoát khỏi tình trạng này.
Tình trạng thi công kém chất lượng và không đúng tiến độ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngành xây dựng Việt Nam, đặc biệt là khi quản lý thi công lỏng lẻo tạo điều kiện cho cá nhân rút ruột công trình Năng lực thi công và tài chính của nhiều doanh nghiệp còn hạn chế, dẫn đến việc mất uy tín trong mắt đối tác nước ngoài, nơi mà Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh Để không thua ngay trên “sân nhà”, cần phát huy nội lực của các nhà thầu trong nước và tích lũy kinh nghiệm từ đối tác ngoại Để thực hiện điều này, cần một sự sàng lọc, loại bỏ những nhà thầu, dù là nội hay ngoại, không đủ năng lực.
Ngày càng nhiều công ty xây dựng mới ra đời, nhưng không ít trong số đó phải đối mặt với khó khăn và giải thể do thiếu công trình Để thành công trong đấu thầu, các công ty xây dựng cần hiểu rõ các yếu tố quyết định kết quả đấu thầu, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh Mục tiêu giành chiến thắng trong đấu thầu sẽ là động lực giúp doanh nghiệp xác định các bước cần thực hiện để đạt được thành công.
Để phát huy tính đột phá trong đấu thầu, doanh nghiệp cần tích cực tìm kiếm thông tin đối tác, xây dựng mối quan hệ và nâng cao uy tín thương hiệu Trong quá trình thi công, việc đảm bảo tiến độ và kế hoạch, cùng với việc áp dụng công nghệ tiên tiến, sẽ giúp rút ngắn thời gian thi công Khi thắng thầu, doanh nghiệp không chỉ tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngược lại, nếu trượt thầu, doanh nghiệp sẽ đối mặt với tình trạng không có việc làm, thu nhập giảm sút và hiệu quả kinh doanh thấp, kéo dài có thể dẫn đến thua lỗ và phá sản.
Để tăng cường cơ hội thắng thầu, các công ty xây dựng cần nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc phát triển và nâng cấp năng lực của đơn vị một cách kịp thời và chính xác là rất quan trọng Nhận thấy sự cần thiết này, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh”.
Thành phố Hồ Chí Minh, với vai trò là cái nôi kinh tế của cả nước, không chỉ là trung tâm tập trung nhiều hoạt động kinh tế xã hội mà còn là địa điểm thu hút nguồn vốn FDI lớn nhất và có tốc độ xây dựng cao nhất Hy vọng rằng khi đề tài hoàn thành, nó sẽ giúp các nhà thầu điều chỉnh chiến lược doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các chủ đầu tư trong việc lựa chọn nhà thầu xây dựng chất lượng và hiệu quả Nhà nước cũng sẽ có cái nhìn vĩ mô hơn để hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng vượt qua những khó khăn hiện tại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và đo lường tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, nghiên cứu sẽ đưa ra những gợi ý nhằm cải thiện hiệu quả đấu thầu trong lĩnh vực này.
3 Để thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Hệ thống cơ sở lý luận về đấu thầu và cạnh tranh trong đấu thầu
Khảo sát để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu
Phân tích để tìm ra các yếu tố nào là quan trọng nhất
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu
Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn các doanh nghiệp có công trình xây dựng có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai giai đoạn chính là: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định tính được thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ, sử dụng thông tin thứ cấp từ báo, tạp chí và internet Thông tin sơ cấp được thu thập thông qua thảo luận nhóm với lãnh đạo và nhân viên tại các công ty xây dựng có dự án đầu tư nước ngoài ở TP.HCM Mục tiêu là khám phá và điều chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu, đồng thời phát triển thang đo cho các yếu tố này, làm nền tảng cho phân tích định lượng bằng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy (RA).
Nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định và nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đấu thầu thông qua việc đánh giá giá trị, độ tin cậy và mức độ phù hợp của các thang đo Quá trình này bao gồm kiểm định mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.
Bài viết trình bày quá trình thu thập dữ liệu nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn các nhà quản lý tại các công ty có công trình xây dựng với vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh Bảng câu hỏi được thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ, nhằm đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng trong lĩnh vực này.
Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo được thực hiện thông qua hệ số tin cậy Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng phần mềm SPSS 20 Mục tiêu là xác định độ tin cậy của các thang đo, loại bỏ các biến quan sát không phù hợp với khái niệm nghiên cứu, và tái cấu trúc các biến quan sát còn lại thành các nhân tố thích hợp Điều này tạo nền tảng cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết, cũng như cho các phân tích và kiểm định tiếp theo.
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp phân tích hồi quy bội (RA) để xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình đấu thầu và mức độ tác động của chúng Qua đó, mức độ quan trọng của từng nhân tố được tính toán Ngoài ra, kiểm định T-test và ANOVA được sử dụng để so sánh sự khác biệt về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu giữa các nhóm phỏng vấn có đặc điểm khách hàng và kinh nghiệm khác nhau Ý nghĩa của nghiên cứu không chỉ mang lại giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn cho các công ty và tập đoàn xây dựng.
Nghiên cứu sẽ giúp các công ty xây dựng có cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu, từ đó nhận diện được những điểm mạnh và yếu của mình Các doanh nghiệp có thể xác định các yếu tố cần phát huy và tập trung vào những yếu tố quan trọng để đáp ứng nhu cầu của từng chủ đầu tư, vì mỗi nhà đầu tư có thể ưu tiên các yếu tố khác nhau Điều này sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc hoạch định và nâng cao hiệu quả đấu thầu.
Kết quả nghiên cứu này cung cấp cho các chủ đầu tư những tiêu chí cơ bản để lựa chọn nhà thầu một cách hiệu quả nhất.
5 thầu phù hợp Cũng như hiểu được việc tìm một nhà thầu giỏi, uy tín để “trao tiền gởi công trình” an tâm nhất.
Kết cấu đề tài
Ngoài phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 5 chương có nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu: Trình bày lý do lựa chọn đề tài; mục tiêu; đối tượng; phương pháp và kết cấu của đề tài
Chương 2 của bài viết tập trung vào cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng Bên cạnh đó, chương cũng khái quát về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động tại Tp.Hồ Chí Minh, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về môi trường đầu tư và cạnh tranh trong ngành.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu gồm định tính và định lượng; giới thiệu các thang đo; thực hiện nghiên cứu định lượng
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày phương pháp phân tích, kết quả nghiên cứu
Chương 5 của bài viết trình bày kết luận và các đề xuất quản trị, tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu và khả năng ứng dụng thực tiễn Những thông tin này sẽ hỗ trợ các nhà lãnh đạo trong việc xây dựng chính sách phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, chương cũng nêu rõ những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
Trong bối cảnh hiện nay, sự cạnh tranh trong lĩnh vực xây dựng ngày càng gay gắt do sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp xây dựng trong nước và sự xuất hiện của các công ty nước ngoài Điều này yêu cầu các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu, điều này không chỉ quyết định sự thành công mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành xây dựng.
Để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp xây dựng cần liên tục tìm kiếm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, từ đó cải thiện khả năng hoạt động và vị thế trên thị trường.
Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, đấu thầu là phương thức cạnh tranh chủ yếu và gần như bắt buộc Để thành công trong quá trình này, các doanh nghiệp cần nắm rõ các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu, cũng như xác định những điểm còn thiếu sót của mình so với đối thủ Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng, đặc biệt là trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh, là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết về đề tài nghiên cứu
Để phát triển mô hình các yếu tố tác động đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng, tác giả dựa trên lý thuyết về hành vi mua sắm của tổ chức và nghiên cứu các đặc điểm riêng biệt của quy trình đấu thầu trong ngành xây dựng Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo các nghiên cứu trước đó nhằm xây dựng một mô hình toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu.
Hình 2.1 Quy trình xây dựng mô hình nghiên cứu
2.1.1 Khái quát về công tác đấu thầu chung
2.1.1.1 Các văn bản luật, nghị định
Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu, trách nhiệm của các bên liên quan và các hoạt động đấu thầu Được ban hành vào ngày 26 tháng 11 năm 2013, luật này chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2014 Đặc điểm nổi bật của đấu thầu trong lĩnh vực công trình xây dựng được nêu rõ trong luật này.
Hành vi mua của tổ chức
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Các nghiên cứu trong nước trước đây
Nghị định 63/2014/NĐ-CP, ban hành ngày 26/06/2014, hướng dẫn chi tiết Luật đấu thầu của Chính phủ, quy định về quy trình lựa chọn nhà thầu cho các gói thầu theo quy định của Luật đấu thầu.
Nghị định số 30/2015/NĐ-CP quy định các điều khoản liên quan đến việc lựa chọn nhà đầu tư theo Luật Đấu thầu Nghị định này áp dụng cho tổ chức và cá nhân thực hiện hoạt động lựa chọn nhà đầu tư không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Nghị định Khi quyết định áp dụng, các tổ chức và cá nhân phải tuân thủ các quy định của Luật Đấu thầu và Nghị định này, nhằm đảm bảo tính công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế trong quá trình lựa chọn nhà đầu tư.
Theo luật đấu thầu (2013) và các nghị định (2014) & (2015), đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ và hàng hóa, đảm bảo cạnh tranh, công bằng và minh bạch Đấu thầu trong nước diễn ra giữa các nhà thầu trong nước, trong khi đấu thầu quốc tế bao gồm cả nhà thầu nước ngoài và trong nước, nhằm đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu.
Dự án là một tập hợp các đề xuất nhằm thực hiện một phần hoặc toàn bộ công việc, với mục tiêu cụ thể và yêu cầu rõ ràng trong một khoảng thời gian nhất định, dựa trên nguồn vốn đã được xác định.
Chủ đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ vốn, hoặc được ủy quyền để đại diện cho chủ sở hữu, có trách nhiệm quản lý và thực hiện dự án một cách trực tiếp.
Bên mời thầu là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có năng lực và kinh nghiệm, được chủ đầu tư ủy quyền để tổ chức đấu thầu theo quy định pháp luật về đấu thầu.
Nhà thầu là tổ chức chịu trách nhiệm tham gia đấu thầu, đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được chọn Có hai loại nhà thầu: nhà thầu độc lập, tham gia đấu thầu một cách độc lập, và nhà thầu liên danh, hợp tác với một hoặc nhiều nhà thầu khác trong cùng một đơn dự thầu.
Nhà thầu phụ thực hiện một phần công việc trong gói thầu dựa trên thỏa thuận hoặc hợp đồng với nhà thầu chính, và không chịu trách nhiệm tham gia vào quá trình đấu thầu.
Nhà thầu trong nước là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam
Nhà thầu nước ngoài là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp luật của nước mà nhà thầu mang quốc tịch
Gói thầu là một thành phần quan trọng trong dự án, và trong một số trường hợp đặc biệt, gói thầu có thể đại diện cho toàn bộ dự án Gói thầu thường bao gồm các nội dung mua sắm tương tự từ nhiều dự án khác nhau hoặc khối lượng mua sắm cho các hoạt động thường xuyên.
Hồ sơ mời thầu là tài liệu quan trọng trong quá trình đấu thầu, bao gồm các yêu cầu cần thiết cho một gói thầu Nó giúp nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và cho phép bên mời thầu đánh giá các hồ sơ này nhằm chọn ra nhà thầu trúng thầu Bên cạnh đó, hồ sơ mời thầu còn là cơ sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng.
Hồ sơ dự thầu bao gồm tất cả tài liệu do nhà thầu chuẩn bị theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định đã nêu trong hồ sơ đó.
Giá gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu dựa trên tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, cùng với dự toán đã được phê duyệt và các quy định hiện hành.
Giá dự thầu là mức giá mà nhà thầu đề xuất trong đơn dự thầu của hồ sơ Nếu nhà thầu cung cấp thư giảm giá, giá thầu sẽ được tính là giá sau khi đã áp dụng mức giảm đó.
Các nghiên cứu trước liên quan
2.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Tác giả đã dành nhiều thời gian để nghiên cứu các công trình trước đây từ nước ngoài, nhưng chỉ tìm thấy thông tin về cạnh tranh ở các khía cạnh như điều kiện thực hiện, môi trường cạnh tranh, cũng như sự cạnh tranh giữa các quốc gia và doanh nghiệp Tuy nhiên, những lý thuyết liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu của tác giả vẫn chưa được phát hiện.
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam cho đến thời điểm này chưa có công trình nghiên cứu nào của các tác giả trong nước bàn luận một cách tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà chỉ có một số nghiên cứu có liên quan sau:
Tác giả Võ Thành Chương (2012) trong bài viết "Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng" đã phân tích một số công cụ cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây dựng, tuy nhiên chưa chỉ ra yếu tố nào là quan trọng nhất Bài viết cũng không đề cập đến việc tham gia đấu thầu quốc tế hay hợp tác liên doanh với các nhà thầu nước ngoài.
Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2006) trong nghiên cứu “Cơ chế cạnh tranh và sự thông đồng trong đấu thầu theo luật cạnh” đã chỉ ra các cơ chế cạnh tranh và thực trạng thông đồng trong đấu thầu, dẫn đến việc triệt tiêu tính cạnh tranh và làm tăng giá trị xây dựng công trình, gây thất thoát nguồn vốn của chủ đầu tư Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc thiết lập một cơ chế cạnh tranh hiệu quả tại Việt Nam.
Trong hoạt động đấu thầu hiện nay, một số vấn đề chưa được đảm bảo như thiếu minh bạch thông tin và hạn chế khả năng tham gia của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh Điều này dẫn đến việc môi trường cạnh tranh không được duy trì, tạo điều kiện cho những hành vi phi cạnh tranh phát triển.
Tác giả Ngô Tấn Hưng (2006) trong đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của công ty xây dựng công trình 545” đã tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luận về cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây dựng Bài viết nêu rõ các nhân tố ảnh hưởng và tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình đấu thầu Tuy nhiên, tác giả chỉ đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty xây dựng 545 mà không đề cập đến các yếu tố tác động đến kết quả đấu thầu chung của tất cả các doanh nghiệp trong ngành.
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên (2010) đã nghiên cứu về "Nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng" nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần tư vấn thiết kế công nghệ xây dựng Nghiên cứu này tập trung vào các chiến lược và biện pháp cần thiết để nâng cao vị thế cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây dựng, từ đó giúp công ty phát triển bền vững và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường.
Bài viết tập trung vào việc phân tích khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực đấu thầu xây dựng, đặc biệt là khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần tư vấn thiết kế công nghệ xây dựng Tác giả cũng đề cập đến các luận điểm chung về việc nâng cao khả năng cạnh tranh, nhưng không đi sâu vào các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu của tất cả các doanh nghiệp.
Các vấn đề pháp lý và thể chế liên quan đến chính sách và kiểm soát độc quyền kinh doanh được phản ánh qua các công trình chuyên khảo như "Qui chế quản lý đầu tư xây dựng" và đấu thầu của Lê Thị Kim Quế và Nguyễn Thị Đức Hạnh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998) cùng với "Cẩm nang về công tác đấu thầu" do Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Trung tâm xuất bản Những tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định và thực tiễn trong lĩnh vực đầu tư và đấu thầu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và kiểm soát trong kinh doanh.
Hướng dẫn đấu thầu tuyển dụng tư vấn cho các dự án sử dụng vốn của WB, ADB và OECF được xuất bản bởi Nxb Thống kê tại Hà Nội vào năm 1997, là tài liệu quan trọng cung cấp thông tin chi tiết về quy trình đấu thầu và tuyển dụng trong các dự án này.
Trong năm 1999, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và luận văn đã được thực hiện nhằm nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế Một trong những đề tài tiêu biểu là "Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế" do GS.TS Chu Văn cấp làm chủ nhiệm Ngoài ra, đề tài "Sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" do TS Lê Hữu Thành dẫn dắt cũng đã được nghiên cứu Những công trình này đã đề cập đến các vấn đề chung về quy chế pháp lý trong cạnh tranh và xây dựng quy trình nhằm cải thiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
36 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
Hoạt động xây dựng và cạnh tranh đấu thầu xây dựng là những lĩnh vực đặc thù trong nền kinh tế, cần được nghiên cứu thường xuyên để tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế và chính sách Mặc dù các công trình nghiên cứu hiện tại đã đề cập đến những vấn đề chung trong quản lý, nhưng chưa đi sâu vào các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu trong doanh nghiệp xây dựng Việc nghiên cứu này là cần thiết và có ý nghĩa cả về lý thuyết lẫn thực tiễn, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Tác giả đã kế thừa các công cụ cạnh tranh trong đấu thầu để xác định và đo lường những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu Đề tài "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh" là một nghiên cứu mới, chưa từng được thực hiện trước đây.
Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên những lý thuyết đã nêu, chúng ta nhận thấy rằng chúng không hoàn toàn phù hợp với đề tài nghiên cứu hiện tại Vì vậy, để có cái nhìn toàn diện hơn, chúng tôi đã tổng hợp các lý thuyết này và xây dựng một giả thuyết mới, nhằm đảm bảo tính phù hợp với đề tài nghiên cứu.
Hành vi đấu thầu để lựa chọn tổ chức, công ty hoặc doanh nghiệp xây dựng tương tự như quy trình mua sắm của các tổ chức Các chủ đầu tư cần xác định nhà thầu nào sẽ được chọn, và quy trình lựa chọn diễn ra như thế nào giữa các nhà thầu khác nhau Điều này bao gồm việc xác định ai là người đưa ra quyết định và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn của chủ đầu tư.
Tác giả dựa vào Luật đấu thầu, quy trình đấu thầu và cơ sở lý luận từ chương
Tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đấu thầu công trình xây dựng tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở thành phố Hồ Chí Minh Mô hình này sẽ giúp hiểu rõ hơn về các yếu tố quyết định trong quá trình đấu thầu, từ đó nâng cao hiệu quả và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
Biến độc lập định lượng bao gồm các yếu tố quan trọng như giá cả (giá dự thầu), sản phẩm (công trình), công nghệ, môi trường, tổ chức, cá nhân và tỷ lệ chiết khấu (phần trăm lót tay) Những yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến quá trình ra quyết định và kết quả trong các dự án.
- Biến phụ thuộc định lượng là kết quả đấu thầu
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Biến môi trường, tổ chức và cá nhân là những yếu tố mà tác giả kế thừa từ mô hình hành vi mua của tổ chức Trong khi đó, các yếu tố như giá cả, sản phẩm, công nghệ và tỷ lệ chiết khấu được tác giả đề xuất nhằm tối ưu hóa quá trình mua sắm.
2 3.2 Các yếu tố ảnh hưởng
2.3.2.1 Giá cả (giá dự thầu)
Theo Philip Kotler (2001), yếu tố giá cả là mối quan tâm hàng đầu của khách hàng khi đưa ra quyết định mua sắm Khách hàng thường so sánh giá cả của sản phẩm với các đối thủ cạnh tranh để đưa ra lựa chọn tốt nhất.
38 những sản phẩm khác, giá cả trong giai đoạn hiện nay là thấp nhất, giá cả xứng đáng với giá trị nhận được
Từ lý thuyết trên, tác giả xây dựng thang đo yếu tố giá cả bao gồm các thuộc tính:
- Mức giá phù hợp với khả năng đầu tư
Mức giá này là tối thiểu mà không có nhà thầu nào có thể đưa ra mức giá thấp hơn, đồng thời vẫn đáp ứng đủ các yêu cầu về tài chính và kỹ thuật thi công.
Có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp vật tư giúp đảm bảo giá cả luôn hợp lý nhất tại thời điểm mua Hơn nữa, khả năng dự đoán thời điểm thay đổi giá vật tư cho phép điều chỉnh kịp thời để tối ưu hóa chi phí.
- DN có khả năng thanh khoản cao, tự chủ về tài chính.
- DN thường phải chi khoản phí lót tay để dễ dàng lấy công trình.
Giả thuyết H1 : yếu tố giá cả có ảnh hưởng thuận chiều đến kết quả chọn nhà thầu
Có thể nói công trình xây dựng là một loại sản phẩm đặc biệt, chất lượng sản phẩm chính là chất lượng của công trình xây dựng đó
Theo Phillip Crosby (1999), chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp với nhu cầu Geigenbum (2000) bổ sung rằng chất lượng bao gồm các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sản phẩm, giúp sản phẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Philip Kotler (2001) nhấn mạnh rằng chất lượng thể hiện qua việc khách hàng quay trở lại, trong khi sản phẩm của chúng ta không Sự khác biệt về chất lượng sản phẩm thể hiện ở chất lượng vượt trội, tính độc đáo và khả năng đáp ứng tốt yêu cầu của khách hàng.
Do đó, tác giả xây dựng thang đo cho yếu tố sản phẩm chất lượng công trình:
- Công trình thi công luôn đúng thiết kế, phù hợp với nhu cầu sử dụng
- Công trình có chất lượng tốt, độ bền sử dụng cao
- Vật tư thi công được cung ứng từ những hãng có thương hiệu uy tín, phù hợp với chủng loại vật tư đề nghị trong hồ sơ mời thầu
- Có quy trình kiểm tra chất lượng thi công nghiêm ngặt
- Có đội ngũ bảo hành, bảo trì, kịp thời xử lý những phản ánh của khách hàng
Giả thuyết H2 : Yếu tố chất lượng công trình có ảnh hưởng thuận chiều đến kết quả chọn nhà thầu
Khi lựa chọn nhà thầu thi công, các yếu tố như máy móc thiết bị và công nghệ thi công đóng vai trò quyết định cho sự thành công của dự án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của chủ đầu tư.
Chủ đầu tư thường liên tưởng đến những công trình có tính thẩm mỹ cao và thời gian thi công nhanh, vì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và tiến độ thi công.
Kinh nghiệm là yếu tố quan trọng trong quá trình đấu thầu, vì hầu hết các chủ đầu tư không dám giao công trình cho những nhà thầu chưa từng thực hiện các dự án tương tự.
Từ đó, tác giả xây dựng thang đo cho yếu tố máy móc thiết bị, công nghệ thi công:
DN luôn chú trọng đầu tư vào công nghệ mới, thể hiện sự hiện đại và đồng bộ trong quy trình hoạt động Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn tối ưu hóa nguồn lực máy móc thiết bị sẵn có, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của nhà thầu.
DN cam kết thực hiện đúng tiến độ thi công, đảm bảo an toàn trong quá trình thi công và bảo đảm thời hạn bàn giao công trình.
- DN đã thực hiện công trình tương tự như công trình đang đấu thầu
- DN phải lường trước được tất cả những tình huống cần lưu ý khi thi công, nhất là những công trình có tính chất đặc biệt
- DN luôn đầu tư con người để nắm bắt được công nghệ mới
Giả thuyết H3: Yếu tố máy móc thiết bị, công nghệ thi công có ảnh hưởng thuận chiều đến kết quả chọn nhà thầu
Tổ chức là quá trình sắp xếp công việc, phân quyền và phân bổ nguồn lực nhằm đóng góp hiệu quả vào mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Một ý kiến khác, tổ chức là sự tập hợp nhiều người một cách có ý thức để hoàn thành các mục tiêu chung
Một tổ chức luôn luôn có 3 đặc điểm chung:
-Tổ chức bao giờ cũng có nhiều người
Tổng quan về các DN có vốn ĐTNN trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
2.4.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngày nay, các thuyết kinh tế cho thấy đầu tư ra nước ngoài mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia Hoạt động này không chỉ liên quan đến việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật và bí quyết quản lý tiên tiến, mà còn thúc đẩy tính cạnh tranh trên thị trường Việt Nam Các liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài đã khuyến khích doanh nghiệp trong nước nỗ lực đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Thông qua đầu tư nước ngoài, các nguồn lực trong nước như lao động, đất đai và tài nguyên thiên nhiên được huy động và sử dụng hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế.
Đầu tư nước ngoài (FDI) mang lại nhiều lợi ích cho thị trường trong nước, cung cấp sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, giúp giảm áp lực tiêu dùng và ổn định giá cả FDI không chỉ tạo ra việc làm trực tiếp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà còn gián tiếp tạo cơ hội việc làm cho các doanh nghiệp liên quan, như các nhà cung cấp nguyên liệu và doanh nghiệp phân phối sản phẩm Hơn nữa, FDI góp phần nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý cho người lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.
Vào năm 1991, Diễn đàn Đầu tư nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam được tổ chức tại TP.HCM, thu hút khoảng 650 CEO từ các tập đoàn và doanh nghiệp đa quốc gia, cùng lãnh đạo các tổ chức quốc tế và đại diện các đại sứ quán, lãnh sự quán Sự kiện này đã khởi đầu làn sóng FDI đầu tiên tại Việt Nam.
Sự bùng nổ của làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn đầu được cho là nhờ vào Luật Đầu tư nước ngoài ban hành năm 1987, cùng với hai lần sửa đổi quan trọng vào năm 1990 và 1992.
Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) được xem là một bước ngoặt lịch sử, đánh dấu sự chuyển mình từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế Với tư duy cởi mở, Luật ĐTNN của Việt Nam được công nhận là một trong những luật tiến bộ nhất khu vực, thậm chí so với Trung Quốc vào thời điểm đó Tuy nhiên, điều này vẫn chưa đủ để thu hút các nhà đầu tư vào Việt Nam Từ năm 1987 đến 1990, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam vẫn còn dè dặt, chỉ đạt khoảng 1,1 tỷ USD vốn đăng ký và thực hiện được vài trăm triệu USD.
Giai đoạn 1991-1997 được coi là thời kỳ vàng trong thu hút FDI tại Việt Nam, với sự xuất hiện của nhiều tập đoàn lớn như BP, Shell, Total trong ngành dầu khí, Daewoo, Toyota, Ford trong lĩnh vực ô tô, và Sony trong ngành điện tử Phú Mỹ Hưng nổi bật trong lĩnh vực bất động sản, trong khi vốn giải ngân đạt kỷ lục 3,115 tỷ USD vào năm 1997, giữ vững vị trí này trong suốt 10 năm tiếp theo Tốc độ tăng trưởng đầu tư trong giai đoạn 1991-1995 đạt trung bình 72,37%, đóng góp 30% vào tổng vốn đầu tư.
Việt Nam đã đạt được 45% tư xã hội và 40% vào tăng trưởng GDP, tạo nền tảng quan trọng cho việc nối lại quan hệ kinh tế với Trung Quốc vào năm 1991 Đồng thời, những thành tựu này cũng góp phần bình thường hóa quan hệ với Mỹ vào năm 1994 và gia nhập ASEAN, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước.
1995, ký Hiệp định khung hợp tác với EU cũng vào năm 1995
Trong đánh giá về FDI của Việt Nam, Micheal Porter cho rằng FDI là động lực tăng trưởng quan trọng nhưng chính sách thu hút đầu tư còn thụ động và chú trọng vào vốn đăng ký hơn là giá trị thực sự mà FDI mang lại Việt Nam luôn coi trọng chất lượng hơn số lượng, và việc đánh giá dòng vốn FDI cần xem xét theo từng giai đoạn lịch sử Hai mươi năm trước, khi GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 150 USD và ngân sách nhà nước chỉ khoảng 150 triệu USD, một dự án vài triệu USD đã tạo ra hàng trăm việc làm và được xem là thành công lớn.
Với sự phát triển kinh tế Việt Nam, thu nhập bình quân đầu người đã đạt 2.200 USD vào năm 2015 Khu vực doanh nghiệp tư nhân ngày càng đông đảo và mạnh mẽ, với hơn 500.000 doanh nghiệp hoạt động Nhiều thương hiệu lớn đã bắt đầu cạnh tranh trên thị trường quốc tế, điều này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo một cách khác.
2.4.2 Thực trạng về các DN có vốn ĐTNN trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Theo Cục Thống kê TPHCM, từ năm 1988 đến đầu năm 2013, tổng vốn FDI đăng ký đạt 31,622 tỷ USD với tỷ lệ thực hiện 41,8% Kể từ năm 2001, FDI đã tăng gần 5 lần, từ 885,7 triệu USD lên 38 tỷ USD vào năm 2014.
Tính đến cuối năm 2014, TPHCM đã ghi nhận 5.310 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 36,28 tỷ USD Con số này chiếm 14,4% tổng vốn đăng ký và 30,1% tổng số dự án còn hiệu lực trên toàn quốc, theo thống kê của Sở KH & ĐT TPHCM.
Bảng 2.2 Dự án đầu tư nước ngoài tính đến hết năm 2014
Dự án NN còn hiệu lực Vốn đầu tư đăng ký
Dự án Tỷ lệ (%) Vốn (tỷ USD) Tỷ lệ (%)
(Nguồn : Sở KH & ĐT Tp.HCM)
Từ đầu năm đến ngày 15/11/2015, tình hình đăng ký cụ thể như sau :
Bảng 2.3 Dự án đầu tư nước ngoài từ đầu năm đến 15/11/ 2015
Hình thức đăng ký Dự án Vốn đăng ký (triệu USD) Đăng ký mới 496 2.480,4 Điều chỉnh tăng vốn 131 672
(Nguồn : Sở KH & ĐT Tp.HCM)
Theo nhận định của các chuyên gia, nguồn vốn FDI tại TP.HCM dự kiến sẽ tiếp tục gia tăng nhờ vào các dự án đầu tư mới quy mô lớn được cấp phép gần đây Một ví dụ điển hình là dự án Khu phức hợp tháp quan sát Thủ Thiêm trị giá 1,2 tỷ USD do Công ty liên doanh Empire City thực hiện, với kế hoạch xây dựng tòa nhà đa chức năng cao 86 tầng Bên cạnh đó, Tập đoàn Jabil (Hoa Kỳ) cũng đã ký kết bản ghi nhớ với UBND TP.HCM để đầu tư thêm 500 triệu USD nhằm mở rộng sản xuất tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP).
Trong 11 tháng đầu năm, ngoài điểm sáng nổi bật là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thì hầu hết các chỉ tiêu kinh tế quan trọng khác cũng đều đạt kết quả tích cực
Tại TP.HCM, các ngành nghề thu hút vốn đầu tư mới chủ yếu là bất động sản, tư vấn, công nghiệp, thương mại, khách sạn, nhà hàng, vận tải và xây dựng Những quốc gia và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư lớn vào thành phố này bao gồm Singapore, Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản.
Hình 2.5 Tháp quan sát Thủ Thiêm (Empire City)