Để quản lý cáckhoản cho vay các nhà ngân hàng phân loại các khoản cho vay theo nhiều tiêuthức khác nhau như: mức độ tín nhiệm với khách hàng, đối tượng vay, mụcđích sử dụng khoản vay, hì
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, hội nhập quốc tế là xuhướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, là điều kiện tiền đề cần thiết để pháttriển kinh tế quốc gia đi vào quỹ đạo chung của thế giới thông qua việc tậndụng được dòng chảy vốn khổng lồ cùng với công nghệ tiên tiến Hòa chungvới tình hình kinh tế quốc tế luôn biến chuyển với tốc độ ngày càng nhanh, mốiquan hệ giữa các nền kinh tế của các quốc gia ngày càng được gia tăng thì tấtyếu trong lĩnh vực NHTM cũng chịu sự tác động mạnh mẽ và phản ánh nhữngthay đổi của môi trường kinh tế hội nhập Với vai trò là chủ thể quan trọng củathị trường tài chính, ngân hàng có mặt trong tất cả các mối quan hệ kinh tế trongnền kinh tế thị trường Vì vậy, muốn một nền kinh tế ổn định và phát triển thìđòi hỏi bản thân hệ thống ngân hàng cũng phải ổn định và phát triển bởi nếu nókhông ổn định thì nó sẽ phá vỡ sự ổn định trong các mối quan hệ kinh tế, từ đódẫn đến làm suy giảm nền kinh tế
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động kinh doanh tiền tệ củangân hàng mà mang lại lợi nhuận chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng.Muốn tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị trường, ngân hàng cần phải đảmbảo được hoạt động của mình vừa an toàn vừa hiệu quả Để nền kinh tế pháttriển nhanh và bền vững, Chính phủ đang quan tâm đầu tư triển khai nhiều dự
án lớn Các dự án này cần nhiều vốn, được sử dụng trung và dài hạn Tuy nhiên,
về cho vay trung và dài hạn, các NHTM Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế do sốvốn chưa đủ lớn Để có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoàitrong lĩnh vực này, NHTM Việt Nam cần có những biện pháp phù hợp
Trong quá trình thực tập tại PGD Ngọc Lâm - NHTMCP Á Châu, em
đã có thời gian thực tế, tìm hiểu về các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là
Trang 2hoạt động cho vay Kết hợp với kiến thức đã học, em đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung dài hạn tại NHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm” để phần nào đáp ứng mong muốn này.
2 Mục đích nghiên cứu đề tài.
Nghiên cứu một cách có hệ thống và cụ thể về quản lý hoạt động kinhdoanh của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động cho vay TDH Từ đó, rút ra nhữngmặt còn hạn chế tồn tại và tìm ra những giải pháp hoàn thiện nó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: các doanh số huy động vốn, cho vay, dư nợ vàlợi nhuận thu được trong hoạt động cho vay TDH
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng cho vaycủa NHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm những năm 2007, 2008 và 2009
4 Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp so sánh phân tích, phân bổ, thống kê, tổng hợpnhằm nêu ra được những nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng tới hoạtđộng cho vay TDH của ngân hàng
5 Kết cấu khóa luận.
Khóa luận tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan tới công táccho vay trung dài hạn Phạm vi nghiên cứu là công tác cho vay vốn TDH tạiNHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm
Nội dung bài viết của em được chia làm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chất lượng cho vay trung dài hạn
của NHTM
Chương 2: Thực trạng cho vay trung dài hạn tại NHTMCP Á Châu –
PGD Ngọc Lâm
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng cho vay trung dài hạn
tại NHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm
Trang 3CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1.1 NHTM và hoạt động cho vay trung dài hạn của NHTM.
1.1.1 Ngân hàng thương mại.
Hoạt động ngân hàng, với các nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi,cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ra đời khi quan hệsản xuất và trao đổi hàng hóa của xã hội đã phát triển ở mức độ cao Quá trìnhhoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng và sự ra đời của một ngân hàng hoànchỉnh kéo dài hàng nghìn năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vàokhoảng 3.500 năm trước Công nguyên cùng với sự khởi đầu của các thiết chế
tổ chức xã hội
Khái niệm: “NHTM là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp dịch vụ ngân hàng cho nền KTQD”.
1.1.2 Hoạt động cho vay trung dài hạn của NHTM.
1.1.2.1 Khái niệm cho vay.
Cho vay (tín dụng) là hình thức quan hệ giữa hai đối tượng: người đivay và người cho vay, trong đó người cho vay nhượng lại quyền sử dụng vốncho người đi vay dựa trên sự tín nhiệm và theo nguyên tắc có hoàn trả gốc vàlãi sau một thời gian nhất định Sự hoàn trả này không chỉ bảo tồn về mặt giátrị, mà vốn tín dụng còn được tăng thêm dưới hình thức lợi tức, ở đây quátrình vận động mang tính chất hoàn trả của tín dụng là biểu hiện đặc trưngnhất về sự khác biệt giữa tín dụng và hình thức kinh tế khác
Trang 4Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM Để quản lý cáckhoản cho vay các nhà ngân hàng phân loại các khoản cho vay theo nhiều tiêuthức khác nhau như: mức độ tín nhiệm với khách hàng, đối tượng vay, mụcđích sử dụng khoản vay, hình thái giá trị của tín dụng… và theo một tiêu chíkhông thể thiếu được là thời gian khoản vay Theo tiêu chí thời gian cho vay,cho vay được chia thành cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn.
Cho vay ngắn hạn là khoản cho vay có thời hạn vay dưới 12 tháng.Cho vay trung và dài hạn là cho vay có thời hạn trên 1 năm và thời giancho vay không quá thời gian khấu hao của tài sản hình thành từ vốn vay Tuỳtheo từng quốc gia mà thời hạn của khoản vay TDH sẽ được quy định khácnhau, ở Việt nam một khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm được coi là trunghạn và khoản vay có thời hạn 5 năm trở lên được coi là dài hạn Cho vaytrung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiếnhoặc đổi mới thiết bị, công nghệ và mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựngcác dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh Cho vay dàihạn nhằm đáp ứng những nhu cầu về vốn dài hạn như xây dựng nhà ở, cácthiết bị, phương tiện vận tải có giá trị lớn, các công trình có quy mô lớn
1.1.2.2 Đặc điểm của cho vay trung dài hạn.
Một là, vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án.
Cho vay TDH với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn so với cho vay ngắnhạn, để giảm bớt rủi ro ngoài việc quy định vay phải có bảo đảm, ngân hàngcho vay con quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào quátrình sản xuất, kinh doanh và đời sống Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham gia vào dự
án cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án Ở ViệtNam hiện nay tùy thuộc vào từng ngân hàng quy định tỷ lệ vốn chủ sở hữutham gia vào dự án
Hai là, thời hạn trả nợ, cách thanh toán nợ và nguồn trả nợ.
Trang 5- Thời hạn trả nợ vốn phụ thuộc vào tính chất của DAĐT, nhưng thờihạn trả nợ cũng có thể rút ngắn trong trường hợp hiệu quả của dự án mang lạicao Khách hàng có thể trả nợ trước hạn nếu được sự đồng ý của ngân hàngcho vay Việc trả nợ trước hạn sẽ giúp được ngân hàng thu nợ chắc chắnnhưng đôi khi ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng.
- Một số cách thanh toán thường được sử dụng:
+ Một kỳ trả một phần nợ gốc bằng nhau
+ Số tiền gốc trả mỗi kỳ không bằng nhau
- Nguồn trả nợ đối với khoản cho vay TDH nhìn chung khác với chovay ngắn hạn Các khoản cho vay TDH được dùng chủ yếu cho nhu cầu muasắm tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên, cho nên nguồn trả nợchính cho khoản vay này là từ nguồn khấu hao và một phần lợi nhuận do dự
án đầu tư mang lại
Ba là, giải ngân trong cho vay trung và dài hạn.
Đối với khoản cho vay TDH có thể giải ngân một lần, hoặc nhiều lầnnhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích Ngân hàngkhông cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan đến dự án chưa phátsinh
Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận rút hết toàn bộ khoản vay một lầntrong trường hợp vay để mua sắm máy móc thiết bị Đối với các tài sản hìnhthành trong một thời gian dài thì việc giải ngân được thực hiện theo tiến độcông việc hoàn thành
Bốn là, lãi suất cho vay.
Lãi suất cho vay TDH thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn, nó cóthể là lãi suất cố định trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là lãi suất biến
Trang 6đổi tùy thuộc vào sự biến động của thị trường Sự biến đổi của lãi suất có thểdựa vào lãi suất cơ bản của ngân hàng, hoặc lãi suất liên ngân hàng của một
số thị trường như: LIBOR, SIBOR,… Việc thu tiền lãi có thể theo kỳ hạntháng, quý, năm tùy thuộc vào số dư của mỗi kỳ hạn trả nợ và lãi suất chovay Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng mợ gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hoặcmỗi kỳ hạn trả tiền lãi vào một ngày nào đó trong kỳ theo thỏa thuận
1.1.2.3 Các hình thức cho vay trung dài hạn của NHTM.
Có nhiều cách phân loại các khoản cho vay TDH tại các ngân hàng.Chúng ta có thể xem xét các khoản cho vay TDH của NHTM qua các khoảnsau đây:
* Cho vay theo dự án đầu tư (DAĐT):
Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư là tập hồ sơ, tài liệu trình bày mộtcách chi tiết và có hệ thống một chương trình hoạt động và các chi phí tươngứng để đạt mục tiêu nhất định trong tương lai Các khoản cho vay dự án cóthể được thế chấp trên cơ sở bảo lãnh theo đó người cho vay có thể khôi phụcvốn từ những tổ chức thực hiện bảo lãnh nếu như dự án không trả đúng nợtheo kế hoạch đã định Tuy nhiên, khoản vay cũng có thể cung cấp không dựatrên cơ sở, không có người đứng ra bảo lãnh, dự án tồn tại hay sụp đổ dựa trênchính giá trị của nó Trong trường hợp này, người cho vay đối mặt với rủi rorất lớn và họ yêu cầu một mức lãi suất cao hơn những khoản cho vay có đảmbảo Những khoản vay như vậy ngân hàng thường đòi hỏi các tổ chức tài trợ
dự án phải thế chấp tài sản cho đến khi dự án hoàn tất
* Cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng TDH thông qua việc chothuê máy móc thiết bị, phương tiện vận tải và các động sản khác trên cơ sởhợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết muamáy móc thiết bị, phương tiện vận tải và các động sản khác theo yêu cầu của
Trang 7bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tàisản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê được hai bên thỏathuận.
Cho thuê tài chính cũng có những đặc trưng riêng biệt Cụ thể là:
- Hình thức cấp tín dụng của cho thuê tài chính là bằng TS, người đithuê chỉ có quyền sử dụng TS, định kỳ thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận
- Thời hạn cho thuê thường chiếm phần lớn thời gian hoạt động của tàisản, trong thời gian này người đi thuê không được hủy ngang hợp đồng Hếtthời hạn của hợp đồng thuê, người thuê có thể được chuyển nhượng quyền sởhữu tài sản hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên
- Bên cho thuê dễ dàng kiểm tra việc sử dụng tài sản và đánh giá hiệuquả sử dụng tài sản thuê, phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn để có nhữngbiện pháp xử lý kịp thời
Tất cả TS cho thuê phải được bảo hiểm trong suốt thời gian cho thuê,việc mua bảo hiểm phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm tại mộtcông ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam do bên cho thuê chỉ định.Quy trình quản lý và theo dõi hồ sơ bảo hiểm tài sản cho thuê do giám đốcbên cho thuê quyết định
* Cho vay tiêu dùng:
Nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn tài chính để trang trải nhu cầu vềnhà ở, đồ dùng gia đình và phương tiện đi lại… NHTM thực hiện cho vay tiêudùng
Căn cứ vào các hình thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể được chialàm ba loại sau:
- Cho vay tiêu dùng trả một lần:
Trang 8Theo cách cho vay này, khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lầnkhi đến hạn Loại cho vay này thường áp dụng đối với khoản vay có giá trịnhỏ, thời hạn cho vay không dài.
- Cho vay tiêu dùng trả góp:
Loại cho vay này thường áp dụng đối với các khoản vay có giá trị lớnhoặc thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết mộtlần số nợ vay
- Cho vay tiêu dùng tuần hoàn:
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là khoản cho vay trong đó ngân hàng chophép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng Trong thời gian thỏa thuận, căn cứ vàonhu cầu chỉ tiêu và thu nhập từng kỳ, khách hàng thực hiện vay và trả nợnhiều kỳ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng Hình thức cho vaynày có rủi ro tương đối thấp nhưng có lãi suất cao, tuy nhiên ngân hàng chịunhững chi phí cao về dịch vụ và quản lý
* Cho vay hợp vốn:
Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có từ hai hay nhiều tổchức tín dụng tham gia vào một DAĐT hoặc phương án sản xuất kinh doanhcủa một khách hàng vay vốn Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chứctín dụng cam kết với nhau để thực hiện đồng tài trợ cho một dự án Bên nhậntài trợ là pháp nhân hay tổ chức có nhu cầu và được bên đồng tài trợ cấp tíndụng để thực hiện dự án
Cho vay hợp vốn có thể được thực hiện đối với khoản cho vay ngắnhạn cũng như các khoản cho vay TDH
Trường hợp có vấn đề phát sinh trong quá trình hợp vốn, các bên thamgia cho vay hợp vốn cùng thỏa thuận và thống nhất với bên nhận tài trợ để xử
lý theo hợp đồng Mọi tranh chấp do vi phạm hợp đồng cho vay hợp vốn vàhợp đồng tín dụng được các bên giải quyết trên cơ sở đàm phán thỏa thuận
Trang 9Trường hợp không giải quyết được các bên có quyền khởi kiện theo quy địnhcủa pháp luật.
1.1.2.4 Nguyên tắc và điều kiện cho vay.
* Nguyên tắc cho vay:
Để đảm bảo an toàn vốn, trong quá trình cho vay các NHTM luôn phảituân thủ các nguyên tắc sau:
- Tiền vay phải sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồngtín dụng Theo nguyên tắc này thì mọi khoản vay đều phải được xác địnhtrước về mục đích kinh tế Khi cho vay, ngân hàng cùng khách hàng lập hợpđồng tín dụng vay vốn và khách hàng phải cam kết sử dụng tiền vay đúngmục đích và điều này được ghi trong hợp đồng tín dụng đó
- Tiền vay phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi:
Tính hoàn trả là thuộc tính vốn có của tín dụng, sự hoàn trả là mối quantâm hàng đầu của ngân hàng khi cho vay, thu hồi nợ đúng hạn là cơ sở để cácngân hàng tồn tại và phát triển Nếu ngân hàng không thu hồi hoặc không thuhồi các khoản cho vay đúng hạn thì có khả năng dẫn đến mất khả năng thanhtoán và phá sản
Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng của mình, ngân hàngphải bù đắp các chi phí như: trả lãi tiền gửi, chi phí ấn chỉ, trả lương cán bộnhân viên, nộp thuế, trích lập các quỹ… Điều này đòi hỏi ngân hàng phải thuthêm khoản chênh lệch ngoài số vốn gốc cho vay
Để có thể thực hiện được nguyên tắc này trong quản lý tín dụng ngânhàng phải xác định thời hạn cho vay và các kỳ hạn nợ của từng khoản chovay, đồng thời thường xuyên theo dõi, đôn đốc khách hàng trong việc trả nợ
* Điều kiện cho vay:
Điều kiện vay vốn thực chất là cụ thể hóa các tiêu thức trong nguyêntắc tín dụng nhằm đảm bảo cho nguyên tắc tín dụng có hiệu lực trong mọi
Trang 10quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Khách hàng chỉ có thể vayvốn của ngân hàng khi họ thỏa mãn tất cả các điều kiện vay vốn Theo luậtpháp Việt Nam, nội dung các điều khoản vay vốn gồm:
Thứ hai, vốn vay phải được sử dụng hợp pháp.
Tức là không vi phạm pháp luật và mục đích sử dụng vốn vay phải phùhợp với đăng ký kinh doanh của DN
Vốn vay phải sử dụng hợp pháp vì: TS hình thành từ vốn vay chủ yếu
là tài sản thuộc sở hữu của khách hàng (trước pháp luật) Vì vậy, khi kháchhàng sử dụng vốn bất hợp pháp thì các TS đó sẽ bị phong tỏa hoặc bị tịch thu
từ đó ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng Ngoài ra, khivốn vay sử dụng bất hợp pháp thì tư cách pháp lý của khách hàng có thể bịmất đi do đó ảnh hưởng tới quan hệ tín dụng hợp pháp giữa ngân hàng vớikhách hàng
Thứ ba, khách hàng phải có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền vay đúng hạn đã cam kết.
Thứ tư, khách hàng phải có phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi và hiệu quả (đối với khách hàng có dự án, phương án sản xuất kinh doanh).
Trang 11Khách hàng phải có phương án khả thi và hiệu quả vì: bản chất củaNHTM là tổ chức kinh doanh trong đó việc cho vay phải đảm bảo các nguyêntắc sinh lời cơ bản Do đó, dự án và phương án mà ngân hàng tài trợ phải đảmbảo tính khả thi và hiệu quả cao.
Trong hoạt động tín dụng của NHTM, nguồn thu từ phương án và dự
án phải được coi là nguồn thu “thứ nhất” đảm bảo cho việc an toàn vốn cũng
như phát triển của khách hàng và ngân hàng
Thứ năm, khách hàng phải đảm bảo tiền vay theo quy định.
Ngân hàng quan tâm đến đảm bảo tiền vay vì:
Đảm bảo tiền vay là công cụ bảo đảm trong việc thực hiện trách nhiệm
và nghĩa vụ của khách hàng trong quan hệ tín dụng
Đảm bảo tiền vay cũng cung cấp nguồn thanh toán “thứ hai” cho
NHTM (trong trường hợp khách hàng không trả được khoản vay)
1.1.2.5 Quy trình cho vay trung và dài hạn.
Hoạt động cho vay mang tính chất phức tạp và có nhiều rủi ro Đểcho việc quản lý cho vay một cách dễ dàng, giảm thiểu được rủi ro, cácNHTM đều soạn thảo cho mình một quy trình cho vay riêng áp dụng thốngnhất toàn ngân hàng và các chi nhánh thuộc ngân hàng đó dựa vào quy trìnhnày để tiến hành phân tích, thẩm định việc cấp tín dụng từ đó có được quyếtđịnh tín dụng đúng đắn Hoạt động cho vay TDH cũng phải tuân theo nhữngquy định chung đó, tuy nhiên do đặc điểm của cho vay TDH là có thời hạndài, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, do vậy việc soạn thảo ra một quy trình chovay TDH dựa trên quy trình cho vay chung rất có ý nghĩa, đem lại lợi ích caocho ngân hàng Quy trình cho vay TDH gồm 7 bước, các bước trong quy trình
có quan hệ qua lại và hỗ trợ nhau Kết quả của bước trước là nền tảng, cơ sở
để bước tiếp theo thực hiện và tác động đến chất lượng của bước sau:
Trang 12* Bước 1: Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ.
- Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay
+ Đối với khách hàng có quan hệ cho vay lần đầu: cán bộ tín dụnghướng dẫn khách hàng cung cấp những thông tin về khách hàng, các quy địnhcủa ngân hàng mà khách hàng phải đáp ứng về điều kiện vay vốn và tư vấnviệc thiết lập hồ sơ cần thiết để được ngân hàng cho vay
+ Đối với khách hàng đã có quan hệ cho vay: cán bộ tín dụnghướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ, đối chiếu và tiếp nhận hồ sơ
Hồ sơ bao gồm: giấy đề nghị vay vốn; hồ sơ pháp lý về khách hàng; hồ
sơ về tình hình sản xuất kinh doanh tài chính; hồ sơ về dự án vay vốn; hồ sơ
về bảo đảm tiền vay
- Kiểm tra và tiếp nhận hồ sơ
Cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ về số lượng vàtính pháp lý của hồ sơ vay vốn Sau đó cán bộ tín dụng có trách nhiệm báocáo trưởng phòng để xin ý kiến chỉ đạo: nếu đủ, thực hiện các bước tiếp theo;trường hợp khách hàng cung cấp chưa đủ tài kiệu cũng như thông tin thì cán
bộ tín dụng đề nghị khách hàng bổ sung
* Bước 2: Thẩm định hiệu quả và khả năng trả nợ.
Cán bộ tín dụng và cán bộ thẩm định có trách nhiệm tiến hành thẩmđịnh các nội dung sau:
Trang 13- Thẩm định về kinh tế kỹ thuật của dự án theo nội dung hướng dẫnthẩm định ban hành theo quy định thẩm định.
- Thẩm định các biện pháp bảo đảm tiền vay
Sau khi thẩm định các nội dung trên, cán bộ tín dụng làm đầu mối tiếpnhận hồ sơ sẽ chuyển hồ sơ lấy ý kiến tham gia của các phòng chức năngkhác như phòng nguồn vốn, đơn vị thực hiện nghiệp vụ thẩm định Cuối cùngcán bộ tín dụng sẽ tập hợp hồ sơ và báo cáo lên trưởng phòng
* Bước 3: Xác định phương thức cho vay, lãi suất cho vay
Việc lựa chọn phương thức cho vay phải phù hợp với đặc điểm sảnxuất kinh doanh và luân chuyển vốn của khách hàng và yêu cầu kiểm tra,kiểm soát sử dụng vốn của ngân hàng cho vay
Xác định lãi suất cho vay: cán bộ tín dụng tổng hợp số liệu để tính toán
và xác định mức lãi suất có thể áp dụng cho khoản vay
* Bước 4: Quyết định cho vay.
Theo quy định, thời hạn xem xét quyết định cho vay đối với dự ánnhóm A là không quá 25 ngày, nhóm B là 18 ngày và 12 ngày đối với những
dự án còn lại kể từ khi ngân hàng nhận đủ hồ sơ vay vốn hợp lệ và thông tincần thiết từ phía khách hàng Kết thúc bước này được đánh dấu bằng các vănbản thể hiện kết quả ra quyết định là từ chối cho vay hay chấp nhận thông quaviệc ký hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng được lập thành 2 bản chính,một bản ngân hàng giữ và một bản khách hàng giữ
Trang 14* Bước 5: Giải ngân, kiểm tra, giám sát.
- Cán bộ tín dụng phối hợp với các bộ phận có liên quan thực hiện giảingân sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, ngân hàng chịu trách nhiệm thựchiện những điều khoản đã thoả thuận
- Kiểm tra giám sát khoản vay là quá trình thực hiện các công việc saukhi cho vay nhằm đảm bảo người vay sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả sốtiền vay, đôn đốc hoàn trả nợ gốc, lãi vay đúng hạn đồng thời thực hiện các biệnpháp thích hợp nếu người vay không thực hiện đầy đủ, đúng hạn các cam kết
* Bước 6: Thu nợ, thu lãi và xử lý phát sinh.
Cán bộ tín dụng có trách nhiệm theo dõi và thống kê các khoản vay đếnhạn trước 10 ngày, chuẩn bị và gửi phiếu nhắc trả nợ đến đơn vị vay vốntrước thời điểm phải thu ít nhất 5 ngày
Đến kỳ hạn trả nợ, ngân hàng sẽ tiến hành thu vốn gốc và lãi nếu việcthanh toán không đúng hạn đòi hỏi ngân hàng phải xử lý và đưa ra các phánquyết tín dụng mới
* Bước 7: Thanh lý hợp đồng tín dụng.
- Tất toán khoản vay: khi khách hàng trả hết nợ, cán bộ tín dụng tiến
hành phối hợp với bộ phận kế toán đối chiếu, kiểm tra về số tiền trả nợ gốc,lãi để tất toán khoản vay
- Thanh lý hợp đồng tín dụng: thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụngtheo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết khi bên vay trả nợ xong nợgốc, lãi thì hợ đồng tín dụng là hết hiệu lực Theo điều kiện của hợp đồng tíndụng, khi hợp đồng hết hiệu lực, các bên không cần lập biên bản thanh lý hợpđồng, nhưng nếu khách hàng yêu cầu thì cán bộ tín dụng và trưởng phòngphối hợp cùng khách hàng dự thảo biên bản thanh lý hợp đồng tín dụng, sau
đó báo cáo lãnh đạo thống nhất để ký chính thức biên bản
Trang 151.1.2.6 Vai trò của cho vay trung và dài hạn.
* Cho vay TDH đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu, thúc đẩy sự chuyển dịch kinh tế trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới.
Đây là vai trò lớn nhất của cho vay TDH Nền kinh tế càng phát triển,hàng hóa được sản xuất ngày càng nhiều thì nhu cầu của con người cũngkhông ngừng được nâng cao Một DN muốn tồn tại và phát triển thì phải biếtnắm bắt và thỏa mãn nhu cầu luôn thay đổi và nâng cao đó Điều đó có nghĩa
là DN cũng phải không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm, đưa ranhững loại sản phẩm mới đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị hiếu của người tiêudùng Muốn làm được điều đó DN phải có vốn Nguồn vốn ngắn hạn sẽ chỉđáp ứng được nhu cầu vốn tạm thời trong ngắn hạn để tài trợ cho tài sản lưuđộng chứ không thể giúp DN trong việc mua sắm dây chuyền sản xuất mới,hiện đại hay đổi mới dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất để đápứng với nhu cầu thay đổi của xã hội Để làm được điều đó DN cần có nhiềuvốn và việc thu hồi vốn phải kéo dài trong nhiều năm và loại vốn có thể giúp
DN trong việc này chính là vốn TDH
Có nhiều cách để tài trợ vốn dài hạn cho DN như phát hành cổ phiếu,trái phiếu, tự tích lũy… nhưng phổ biến nhất ở Việt Nam hiện nay vẫn là vayvốn thông qua các trung gian tài chính, và vốn ngân hàng chính là lối thoátlớn nhất cho các DN
Hiện nay, nước ta đã hội nhập kinh tế thế giới với các nước phát triển
và để có thể theo kịp các nền kinh tế phát triển đó thì chúng ta phải khôngngừng mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm kịpthời thỏa mãn nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng Bởi vậy, cần phải tậptrung vốn đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới vànâng cao trình độ công nghệ máy móc để tạo ra sự chuyển dịch trong nền kinh
tế, phát triển kinh tế theo cả chiều rộng và chiều sâu… Như vậy, việc cho vay
Trang 16trung và dài hạn của các NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc hội nhậpkinh tế quốc tế như hiện nay.
* Cho vay trung và dài hạn góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
Việc cho vay TDH theo dự án đóng vài trò rất lớn trong việc chuyểndịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa làm cho nềnkinh tế tăng trưởng mạnh đạt hiệu quả cao, làm cho thu nhập của người laođộng tăng nhanh, từ đó ngân hàng mở rộng được quy mô cả về hoạt động đầuvào và đầu ra giảm được rủi ro trong kinh doanh
* Cho vay TDH tạo thị trường cho cho vay ngắn hạn phát triển.
Nguồn vốn TDH sẽ được các DN đầu tư vào mua sắm tài sản cố địnhnhư: máy móc thiết bị, xây dựng cơ bản… Khi đó, DN sẽ cần nhiều vốn lưuđộng hơn để hoạt động, điều đó có nghĩa là cho vay TDH đã tạo thị trườngcho cho vay ngắn hạn
Cho vay TDH cung cấp vốn cho các DN có tiềm năng mở rộng quy mô sản xuất nhưng thiếu vốn.
Đối với DN, cho vay TDH thực sự là một cứu cánh khi DN có tiềmnăng mở rộng phát triển mà không có đủ vốn Đối với DN, có thể huy độngvốn dài hạn thông qua ngân hàng hay phát hành trái phiếu trên thị trường vốnsong việc vay vốn qua ngân hàng có thể được coi là hiệu quả nhất vì việc vayvốn sẽ tiết kiệm được chi phí nhất
1.2 Chất lượng cho vay trung dài hạn của NHTM.
1.2.1 Khái niệm chất lượng cho vay trung dài hạn.
Trong nền kinh tế thị trường, với sức cạnh tranh gay gắt giữa các DN,các ngành nghề như hiện nay, các DN muốn đứng vững và phát triển tronghoạt động kinh doanh thì việc không ngừng nâng cao chất lượng là điều tấtyếu Trong các yếu tố mà DN phải không ngừng cạnh tranh trên thị trường
Trang 17như chất lượng, mẫu mã, giá cả… thì chất lượng là yếu tố quan trọng nhất vìchất lượng được nâng cao thì giá thành sẽ hạ, đảm bảo thoả mãn cho kháchhàng cả về chất lượng và giá cả, tạo điều kiện nâng cao khả năng chiếm lĩnhthị trường Chất lượng được các nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách Chất
lượng là “sự phù hợp với mục đích sử dụng”, là “một trình độ được dự kiến trước về độ đồng đều và sự tin cậy với chi phí thấp nhất và phù hợp với thị trường” hoặc “chất lượng là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của người sử dụng”.
Các khoản cho vay có chất lượng khi vốn vay được khách hàng sửdụng hiệu quả, đúng mục đích, tạo ra số tiền lớn hơn, thông qua đó ngân hàngthu hồi được gốc và lãi, còn DN có thể trả được nợ, bù đắp chi phí và thuđược lợi nhuận Điều này có nghĩa là ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả
kinh tế vừa tạo ra được hiệu quả xã hội Chất lượng cho vay TDH được hiểu theo đúng nghĩa là vốn cho vay TDH của ngân hàng được khách hàng đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ… để tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn trả ngân hàng gốc và lãi vừa trang trải chi phí khác và có lợi nhuận Chất lượng cho vay TDH là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức
độ thích nghi của ngân hàng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thểhiện sức mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại
Chất lượng cho vay TDH còn được xác định qua nhiều yếu tố như: thuhút khách hàng, cung cấp kịp thời với thủ tục thuận tiện nhưng phải chặt chẽchi phí về tổng thể lãi suất, chi phí về nghiệp vụ, độ an toàn cao, ngân hàngphải thu hồi đủ vốn, đủ lãi đúng thời hạn, không có tình trạng nợ quá hạn, nợkhó đòi
Hiểu đúng bản chất chất lượng cho vay TDH, phân tích và đánh giáđúng chất lượng cho vay TDH hiện tại cũng như xác định chính xác nguyênnhân của những tồn tại về chất lượng cho vay TDH sẽ giúp cho ngân hàng tìm
Trang 18được biện pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thịtrường có sự cạnh tranh gay gắt.
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao chất lượng cho vay TDH của NHTM.
* Nâng cao chất lượng cho vay TDH là cần thiết để phát triển kinh tế.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, hoạt độngcho vay cũng ngày càng phát triển nhằm cung cấp các phương tiện giao dịch
để đáp ứng mọi nhu cầu sản xuất kinh doanh của xã hội Trong điều kiện đó,chất lượng cho vay ngày càng được quan tâm
Đảm bảo chất lượng cho vay là điều kiện để ngân hàng làm tốt vai tròtrung tâm thanh toán: khi chất lượng cho vay được đảm bảo sẽ tăng vòngquay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ có thể thực hiện số lần giao dịchlớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu thông, củng cố sức mua củađồng tiền
Chất lượng cho vay góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăngtrưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia Điều này xuất phát từ chức năng tạo tiềncủa NHTM, thông qua cho vay chuyển khoản, thực hiện thanh toán khôngdùng tiền mặt, NHTM có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với số tiềnthực có, hoặc vì lý do nào đó, các chủ tài khoản có khả năng phát hành séc vàthanh toán bằng các phương tiện khác cho khách vượt quá số tiền gửi thực có,hay khi ngân hàng xử lý nghiệp vụ thanh toán cho khách hàng đã cung cấp
cho DN một khối lượng thanh toán bằng cách ghi “có” trước ghi “nợ” sau.
Như vậy, đảm bảo chất lượng cho vay sẽ tạo khả năng giảm bớt tiền thừatrong lưu thông, góp phần hạn chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng uy tín quốcgia bằng việc phát huy tác dụng của các sản phẩm, dịch vụ trong tương lai củacác công trình đầu tư
Trang 19Hoạt động cho vay là công cụ thực hiện chủ trương của Đảng và Nhànước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực Mặt khác,thông qua sự đánh giá phân tích khả năng phát triển của các đối tượng địnhđầu tư để có những quyết định đúng đắn nhằm khai thác khả năng tiềm tàng
về tài nguyên, lao động, tiền vốn… để tăng cường năng lực sản xuất, cungcấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăngthu nhập cho người lao động… Chất lượng cho vay TDH được nâng cao sẽgóp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữacác vùng, các ngành trong cả nước, ổn định và phát triển kinh tế
* Nâng cao chất lượng cho vay quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM.
Chất lượng cho vay TDH làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của cácNHTM do tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng vòng quay vốn cho vay và thu hútđược nhiều khách hàng bởi các hình thức của sản phẩm, dịch vụ tạo ra mộthình ảnh tốt đẹp về biểu tượng, uy tín của ngân hàng và sự gắn bó trung thànhcủa khách hàng đối với ngân hàng
Chất lượng cho vay TDH làm tăng khả năng sinh lời của các sản phẩm,dịch vụ ngân hàng do giảm được sự chậm trễ, giảm chi phí nghiệp vụ, chi phíquản lý, các chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay
Chất lượng cho vay TDH đảm bảo khả năng thanh toán và lợi nhuậncủa ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh
Chất lượng cho vay TDH tạo thuận lợi cho sự tồn tại lâu dài của ngânhàng bởi vì chất lượng cho vay cho phép ngân hàng có những khách hàngtrung thành và uy tín đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng Chất lượng chovay sẽ củng cố thêm mối quan hệ xã hội của ngân hàng và điều này là rất cầnthiết ở các NHTM
Trang 20Với những ưu thế trên, việc củng cố và tăng cường chất lượng cho vayTDH là sự cần thiết khách quan vì sự tồn tại và phát triển lâu dài của NHTM.
Và cũng chính vì vậy, chất lượng cho vay luôn luôn đòi hỏi sự cải tiến
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay TDH.
* Tổng doanh số cho vay:
Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngânhàng đối với nền kinh tế Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác về hoạt động chovay của ngân hàng trong một thời gian dài, nó cho thấy khả năng hoạt độngqua các năm, do đó nếu kết hợp được doanh số cho vay của nhiều thời kỳ thì
sẽ thấy được phần nào xu hướng hoạt động cho vay của ngân hàng Con sốnày thể hiện xu hướng hoạt động tín dụng TDH mở rộng hay thu hẹp Tuynhiên, việc doanh số cho vay tăng không phải lúc nào cũng là tốt và ngược lạidoanh số cho vay thu hẹp không phải lúc nào cũng là xấu, vấn đề này còn phụthuộc vào nhiều yếu tố như tiềm lực của ngân hàng, điều kiện của nền kinh tếtrong một thời kỳ nhất định Doanh số cho vay TDH của ngân hàng cho thấyngân hàng có nhiều uy tín với khách hàng, cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng,phong phú đồng thời cũng cho thấy chất lượng các khoản vay TDH, bởi chấtlượng tốt là cơ sở để tăng doanh số cho vay Vì vậy, chỉ tiêu doanh số cho biếtchất lượng cho vay là tốt hay xấu
* Chỉ tiêu cơ cấu cho vay trung và dài hạn.
Dư nợ cho vay TDH
Tỷ lệ cho vay TDH =
Tổng dư nợ
Trong phân tích sử dụng chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đáp ứngyêu cầu trong quản lý cho vay của ngân hàng về thời gian để ngân hàng cóchiến lược phát triển phù hợp
Trang 21* Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn vay trung và dài hạn.
Dư nợ của hoạt động cho vay TDH
=
Tổng nguồn vốn huy đông TDH
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả tín dụng của ngân hàng càng tốt
* Vòng quay vốn trung và dài hạn:
Chỉ tiêu này cho biết ngân hàng thu được bao nhiêu để có thể lại chovay dự án mới Vòng quay của vốn càng tăng lên tức là ngân hàng cũng thuđược nhiều nợ và càng chứng tỏ rằng nguồn vốn TDH mà ngân hàng đầu tư
có hiệu quả
Doanh số thu nợ TDH trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ cho vay TDH bình quân
* Tỷ lệ nợ quá hạn trung và dài hạn :
Nợ quá hạn là khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời giancho vay theo thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian giahạn thêm nếu khách hàng yêu cầu Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn trung dài hạn chothấy trong tổng dư nợ cho vay TDH có bao nhiêu % là nợ quá hạn
Nợ quá hạn của cho vay TDH
Tỷ lệ nợ quá hạn c =
cho vay TDH(%) Tổng dư nợ cho vay TDH
Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh độ an toàn của hoạt động cho vaycũng như chất lượng hoạt động này Khi ngân hàng có quá nhiều khoản chovay quá hạn, phản ánh chất lượng cho vay và trình độ của cán bộ tín dụng củangân hàng có vấn đề Ngân hàng gặp phải nguy cơ mất vốn và có thể dẫn đếnnhững hậu quả lớn hơn như phá sản Vì thế, các ngân hàng luôn cố gắng giảm
Trang 22chỉ tiêu này tới mức thấp nhất và luôn đưa ra sẵn những phương pháp xử lý
nợ quá hạn trong chính sách tín dụng của mình
Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có vấn đề,
có khả năng mất vốn nên nợ quá hạn TDH càng cao thì ngân hàng càng gặpkhó khăn trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, giảm lợi nhuận, ảnhhưởng đến kế hoạch thu nợ, tăng thêm chi phí quản lý và ngân hàng phảidùng rất nhiều vốn tự có để bù đắp lại
* Chỉ tiêu nợ xấu:
Quyết định số 18/2007/QĐ – NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốcNHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 493, nợ của cácNHTM được chia thành 5 nhóm:
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn.
Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năngthu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn
Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã
cơ cấu lại
Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Các khoản nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thờihạn đã cơ cấu lại
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Các khoản nợ quá hạn từ 180 – 360 ngày
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 – 180 ngày theothời hạn đã cơ cấu lại
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Trang 23Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theothời hại đã được cơ cấu lại
Các loại nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5 là nợ xấu; còn nợ nhóm 1 – nợ đủtiêu chuẩn – trích dự phòng 0%; nợ nhóm 2 – nợ cần chú ý – trích dự phòng5%
Tổng nợ xấu của cho vay TDH
Tỷ lệ nợ xấu của =
cho vay TDH (%) Tổng dư nợ cho vay TDH
* Chỉ tiêu lợi nhuận:
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của các khoản cho vay TDH Lợi nhuận cho vay TDH
Chỉ tiêu lợi nhuận =
(%) Tổng dư nợ TDH
Thông thường đối với một khoản cho vay TDH thành công thì chỉ tiêunày rất cao nhưng do các khoản cho vay TDH có mức rủi ro cao (rủi ro mấtvốn và rủi ro thanh khoản) nên phần lợi nhuận thu được nay phải trích mộtphần cho quỹ bù đắp rủi ro Vì vậy, chỉ tiêu lợi nhuận của các khoản cho vayTDH là chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh chất lượng các khoản cho vay TDH.Chỉ tiêu này càng cao thì càng tốt
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay TDH.
Muốn có biện pháp nâng cao chất lượng cho vay TDH ta phải xem xétcác nhân tố ảnh hưởng đến nó Chúng ta có thể chia các nhân tố đó theo 3nhóm như sau:
Trang 241.2.3.1 Nhóm nhân tố thuộc về phía ngân hàng.
Ngân hàng là một trong những chủ thể cung cấp dịch vụ cho kháchhàng trong nền kinh tế Vì vậy, ngân hàng có tác động trực tiếp và quyết địnhrất lớn đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng cho vay
* Chiến lược kinh doanh.
NHTM trong hoạt động cho vay với mục đích cung cấp các sản phẩm
để tài trợ và thoả mãn nhu cầu vốn cho nền các DN trong nền kinh tế, trên cơ
sở đó tìm kiếm lợi nhuận cho mình Đối với ngân hàng mà chiến lược kinhdoanh nghiêng về lợi nhuận, thì sẽ không ngừng thúc đẩy tăng trưởng dư nợ,
mở rộng hoạt động cho vay nhằm mục đích đem lại nhiều lợi nhuận Việc này
có thể dẫn đến vệc có thể ngân hàng phải đối mặt với khả năng không thu hồiđược toàn bộ vốn và lãi trong tương lai Đối với ngân hàng mà chiến lượckinh doanh là đảm bảo sự an toàn hoạt động, thì chất lượng cho vay mới làđiều ngân hàng quan tâm Do đó chiến lược kinh doanh là nhân tố tác độngmạnh đến hoạt động cho vay của ngân hàng trong đó tất nhiên bao gồm hoạtđộng cho vay TDH
* Lãi suất cho vay trung và dài hạn.
Cho vay TDH với thời gian dài, lãi suất sẽ chịu ảnh hưởng của nhiềuyếu tố, đặc biệt là yếu tố lạm phát Vì vậy, lãi suất cho vay trung, dài hạn phảiđược tính toán kỹ lưỡng để vừa hấp dẫn được khách hàng, vừa mang lại lợinhuận cho ngân hàng Ngân hàng áp dụng nhiều loại lãi suất khác nhau, phùhợp với từng khoản vay sẽ là một trong những điều kiện thúc đẩy khách hàngđến vay ngân hàng
* Chính sách tín dụng trung và dài hạn của ngân hàng.
Chính sách tín dụng là một hệ thống các chỉ tiêu mà ngân hàng đặt ra
và các biện pháp cụ thể để thực hiện các chỉ tiêu đó, nó có ý nghĩa quyết địnhđến sự thành công hay thất bại của một ngân hàng
Trang 25- Hoạt động cho vay luôn ẩn chứa nhiều rủi ro Chính sách của ngânhàng với việc quản lý những rủi ro đó cũng là yếu tố quan trọng tác động tớiviệc cung cấp tín dụng cho khách hàng Thật vậy, với ngân hàng mà cáchnhìn nhận về rủi ro khắt khe hơn thì rõ ràng việc cung cấp tín dụng sẽ rất dèdặt.
- Tài sản đảm bảo là một trong những cơ sở để đảm bảo cho các giao dịchtín dụng an toàn, đảm bảo khách hàng sẽ trả nợ hoặc đảm bảo ngân hàng sẽ thuđược nợ Nếu chính sách của ngân hàng là có hay không chấp nhận tài sản đảmbảo cũng sẽ ảnh hưởng tới quy mô và chất lượng cấp tín dụng của ngân hàng
* Hệ thống thông tin.
Thông tin luôn đóng vai trò quan trọng và xuyên suốt trong mọi hoạtđộng Thông tin đầu tiên mà ngân hàng cần nắm bắt là thông tin về kháchhàng, về ngành và về môi trường kinh tế pháp lý mà trong đó khách hàngđang hoạt động Với bước đầu tiên là tìm kiếm khách hàng, hệ thống thông tin
về các DN hoạt động trong nền kinh tế là cơ sở để ngân hàng khoanh vùng vàtiếp cận tới các khách hàng tiềm năng của mình Khi ra quyết định tín dụng,những thông tin về tình hình kinh doanh của khách hàng, triển vọng phát triểncủa ngành và môi trường pháp lý là những thông tin mà ngân hàng không thểkhông nắm bắt Ngay cả sau khi cho vay, ngân hàng vẫn phải thu thập thêmthông tin để biết xem khách hàng của mình có sử dụng vốn đúng mục đíchhay có sử dụng hiệu quả hay không
Ngoài thông tin về khách hàng, ngân hàng phải luôn chú ý tìm kiếmthông tin về các đối thủ cạnh tranh cũng như các thông tin về kế hoạch pháttriển kinh tế của thành phố, của tỉnh…
* Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng.
Hoạt động cho vay nói chung và cho vay TDH nói riêng luôn ẩn chứanhiều rủi ro Vì vậy, một ngân hàng có năng lực quản trị rủi ro tốt sẽ mạnh
Trang 26dạn hơn trong việc cho vay, đặc biệt với những khoản cho vay với thời hạncho vay dài Hiện nay tại Việt Nam, năng lực quản trị rủi ro của các NHTMcòn rất thấp.
* Quy trình phân tích tín dụng.
Để đưa ra quyết định cho vay hay không, ngân hàng phải có quá trìnhnghiên cứu và phân tích khách hàng - quá trình phân tích tín dụng Nếu ngânhàng xây dựng cho mình một quy trình tín dụng rõ ràng, rành mạch sẽ giúpgiảm thiểu những sai sót và tạo cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm soát rõ ràng vànhanh chóng Do đó, với ngân hàng đã xây dựng cho mình quy trình tín dụngtốt sẽ dễ dàng cho hoạt động của các nhân viên và nâng cao hiệu quả tín dụng,
và từ đó quy mô tín dụng sẽ được mở rộng
* Trình độ cán bộ quản lý và đội ngũ nhân viên.
Giống như tất cả các mảng hoạt động khác, trong mảng hoạt động chovay, yếu tố con người luôn có vai trò chủ chốt Tất cả các quy trình, quy định,chính sách tín dụng là do con người đặt ra và thực hiện Cán bộ quản lý chính
là những người trực tiếp đưa ra các quy định, chính sách đó Vì vậy, họ phải
là những người có tài, có tầm nhìn xa, dự đoán trước được xu hướng pháttriển, từ đó đưa ra những chiến lược kinh doanh phù hợp
Trong hoạt động cho vay không thể thiếu những cán bộ tín dụng.Những người này sẽ vừa phân tích vừa đưa ra quyết định cho vay và đồngthời theo dõi các khoản vay Từ đó, họ sẽ là những người trực tiếp tạo ra mốiquan hệ giữa khách hàng và ngân hàng; đồng thời cán bộ tín dụng cũng là mộtkênh cung cấp thông tin từ thị trường, từ khách hàng đến các nhà hoạch địnhchính sách của ngân hàng Vì thế, trình độ chuyên môn và đạo đức nghềnghiệp của người cán bộ tín dụng có ảnh hưởng lớn tới hoạt động tín dụngngân hàng
Trang 27Ngoài ra, chất lượng đội ngũ giao dịch viên cũng ảnh hưởng không nhỏtới hoạt động cho vay của ngân hàng Đội ngũ giao dịch viên là những ngườitiếp xúc với khách hàng gửi tiền tại ngân hàng Thái độ phụ vục nhiệt tình, cởi
mở, dễ chịu, làm hài lòng tất cả các khách hàng đến gửi tiền sẽ mang lại kếtquả tốt đẹp, đó là giữ chân được khách hàng cũ, thu hút các khách hàng mới.Lượng tiền gửi tăng với những kỳ hạn ổn định sẽ là những yếu tố quan trọnggiúp ngân hàng có thể mở rộng cho vay một cách dễ dàng hơn
* Hệ thống kênh phân phối.
Kênh phân phối là một tập hợp các yếu tố tham gia trực tiếp vào quátrình đưa sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến khách hàng Hệ thống kênhphân phối tạo nên dòng chảy sản phẩm dịch vụ từ ngân hàng đến khách hàng.Hơn nữa, hệ thống này còn giúp ngân hàng nắm bắt được nhu cầu kháchhàng, từ đó ngân hàng chủ động được trong việc cải tiến, hoàn thiện sản phẩmdịch vụ
* Công nghệ ngân hàng.
Cơ sở công nghệ hiện đại tạo thuận lợi cho việc nâng cao chất lượngdịch vụ ngân hàng, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phức tạp của khách hàng Bêncạnh đó, ngân hàng có cơ sở công nghệ hiện đại không chỉ giúp cho các cán
bộ ngân hàng tiết kiệm thời gian và công sức mà còn thúc đẩy nâng cao chấtlượng công việc về tính chính xác và nhanh chóng Điều đó sẽ làm kháchhàng cảm thấy hài lòng khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng hơn
1.2.3.2 Các nhân tố thuộc về phía khách hàng.
Khách hàng là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cho vay TDHbởi hiệu quả và chất lượng cho vay dựa trên hiệu quả sản xuất kinh doanh củakhách hàng mà điều đó phụ thuộc vào năng lực của khách hàng
Trang 28Xuất phát từ vai trò quan trọng của khách hàng trong việc quản lý tiềnvay nên trước khi cho vay ngân hàng cần đánh giá được năng lực của kháchhàng trên các khía cạnh sau:
* Chiến lược kinh doanh của khách hàng.
Đây là yếu tố quan trọng trong việc xem xét DN của ngân hàng Khi
DN có chiến lược kinh doanh, chiến lược sử dụng vốn có khả năng hiện thựchóa và hiệu quả, đó sẽ là sự đảm bảo việc doanh nghiệp sử dụng vốn ngânhàng đúng mục đích vay và đảm bảo cho khả năng thanh toán nợ của DN.Nếu chiến lược kinh doanh không rõ ràng và có dấu hiệu thay đổi nó sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến chính sách tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng đó
* Năng lực tài chính:
Năng lực tài chính của DN được thể hiện ở khả năng độc lập tự chủ tàichính trong kinh doanh, khả năng thanh toán và trả nợ Nó còn thể hiện ở sốvốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng số vốn DN sử dụng
* Năng lực sản xuất:
Năng lực của sản xuất thể hiện ở giá trị của công cụ lao động mà chủyếu là tài sản cố định biểu hiện cụ thể qua các quá trình sản xuất sản phẩm,công nghệ sản xuất… Nghiên cứu năng lực sản xuất cho biết quy mô sản xuấtkinh doanh của DN và sự phù hợp của quy mô đó trên thị trường
* Năng lực quản lý:
Năng lực quản lý của DN thể hiện ở khả năng thích nghi của bộ máyquản lý DN trước những biến động của cơ chế thị trường, thể hiện ở trình độcủa cán bộ quản lý Một DN có bộ máy quản lý tốt sẽ phân bố kế hoạch sảnxuất hợp lý, tiết kiệm được các chi phí hoạt động, sử dụng hợp lý các nguồnlực, là cơ sở để DN làm ăn có lãi và trả được nợ cho ngân hàng
* Uy tín của khách hàng:
Trang 29Ngân hàng có thể xem xét quan hệ kinh doanh của khách hàng với các
tổ chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh giá uy tín của kháchhàng Tránh chọn phải những khách hàng vay vốn sử dụng sai mục đích, khi
có tiền thì không chịu trả cho ngân hàng hay cố tình chây ỳ, trì hoãn
* Quyền sở hữu tài sản:
Ngay từ đầu, tất cả các khoản cho vay phải có 2 phương án trả nợ táchbiệt Nếu hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì kết quả kinh doanh sẽ manglại nguồn thu, khách hàng sử dụng nguồn thu đó để trả nợ cho ngân hàng, nếu
dự án hoạt động không có hiệu quả thì khách phải lấy tài sản của họ trả nợthay hay đi vay để trả nợ Việc xem xét quyền sở hữu hợp pháp của TS đảmbảo là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng ra quyết định chovay, đồng thời nó cũng là mối ràng buộc đối với khách hàng trong việc sửdụng hợp lý, hiệu quả vốn vay vì nếu thua lỗ họ sẽ mất tài sản thế chấp
* Trình độ tổ chức quản lý, trình độ của cán bộ công nhân viên.
Trình độ tổ chức quản lý và trình độ cán bộ công nhân viên đóng vai trò
vô cùng quan trọng, quyết định đến khả năng phát triển của DN Ngân hàng
xem xét yếu tố đó trong khi đưa ra chính sách tín dụng cho khách hàng
Đặc trưng cơ bản của hệ thống cho vay là do tính chất và cơ cấu quản
lý kinh tế quyết định do đó môt khoản cho vay TDH được đầu tư phù hợp vớichủ trương phát triển kinh tế của Đảng, của Nhà nước và địa phương sẽ có sự
an toàn và hiệu quả hơn
* Môi trường kinh tế.
Trang 30Môi trường kinh tế bao gồm rất nhiều yếu tố: tốc độ phát triển, sự ổnđịnh của kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, sức cạnh tranh của các ngànhkinh tế… Môi trường kinh tế ảnh hưởng trực tiếp tới triển vọng phát triển củacác DN sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình, nghĩa là ảnh hưởngtrực tiếp tới các khách hàng của NHTM và bản thân các NHTM.
* Sự quản lý của các cơ quan Nhà nước.
Các cơ quan quản lý Nhà nước làm nhiệm vụ quản lý hành chính đốivới các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế để đảm bảo các chủ thể hoạt độngtheo đúng pháp luật Khi có sự tham gia tích cực và hiệu quả của các cơ quannày, nền kinh tế sẽ phát triển lành mạnh, các DN kinh doanh theo đúng phápluật Do đó, các ngân hàng sẽ an tâm chủ động hỗ trợ các khách hàng vay vốn
kể cả đối với các DN vừa và nhỏ
Bên cạnh đó, với các chương trình phát triển kinh tế lớn, Nhà nước cóthể hỗ trợ các DN, khuyến khích các DN đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao
uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường Dưới sự khuyến khích và hỗ trợcủa Nhà nước, các ngân hàng cũng mạnh dạn hơn khi cấp tín dụng
Hơn nữa, sự hướng dẫn chỉ đạo của các cơ quan quản lý như NHNN,
Bộ tài chính và các cơ quan chức năng khác của Nhà nước sẽ có tác dụng trựctiếp đến hoạt động tín dụng
* Môi trường pháp lý.
Bản thân các ngân hàng và khách hàng đều chịu sự quản lý của phápluật Hành lang pháp lý hoàn thiện sẽ là cơ sở tốt cho sự phát triển của ngânhàng và các DN, và như vậy sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng và quy môcủa hoạt động tín dụng
Ngoài các nhân tố trên còn phải kể đến những nhân tố bất khả khángnhư thiên tai, hoả hoạn,… những nhân tố này khi xảy ra thường gây hậu quảrất lớn cho cả ngân hàng và khách hàng Trước sự tác động của những nhân tố
Trang 31này, ngân hàng khi đầu tư cần phải dự báo, nắm bắt tình hình để chủ độngphòng ngừa giảm thiểu rủi ro.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY TRUNG DÀI HẠN
TẠI NHTMCP Á CHÂU – PGD NGỌC LÂM.
2.1 Tổng quan về NHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm.
2.1.1 Lịch sử hình thành và cơ cấu tổ chức của NHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm.
Lịch sử hình thành:
Pháp lệnh về NHNN và pháp lệnh về NHTM, hợp tác xã tín dụng vàcông ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990 đã tạo dựng mộtkhung pháp lý cho NHTM tại Việt Nam Trong bối cảnh đó NHTMCP ÁChâu (ACB) đã được thành lập theo giấy phép số 0032/NH-GP do NHNNViệt Nam cấp ngày 24/04/1993, giấy phép số 533/GP-UB do ủy ban nhân dânthành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993 Ngày 04/06/1993 ACB chínhthức đi vào hoạt động ACB có hội sở chính tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai –Q.3 – TP.Hồ Chí Minh Gồm 246 chi nhánh và PGD tại những vùng kinh tếphát triển trên toàn quốc Với số vốn điều lệ kể từ ngày 27/11/2009 là7.814.137.550.000 đồng (Bảy nghìn tám trăm mười bốn tỷ một trăm ba mươibảy triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng)
PGD Ngọc Lâm thành lập ngày 28/11/2005 tại 225 Nguyễn Văn Cừ,phường Bồ Đề, Quận Long Biên, TP.Hà Nội, đến ngày 23/11/2009 ACB đã tổchức khánh thành trụ sở mới PGD Ngọc Lâm tại địa chỉ số 398 Nguyễn Văn
Cừ PGD Ngọc Lâm thực hiện với các chức năng: nhận tiền gửi bằng VND,ngoại tệ, vàng, cho vay hoạt động sản xuất và tiêu dùng, dịch vụ thanh toán,
Trang 32chuyển tiến, chuyển tiền nhanh Western Union, thu đổi ngoại tệ, các dich vụthẻ quốc tế và thẻ nội địa (ACB card), các dịch vụ ngân hàng khác PGDNgọc Lâm được kết nối trực tuyến với hội sở và tất cả các đơn vị trong hệthống ngân hàng Á Châu, khách hàng của PGD Ngọc Lâm có thể gửi tiền vàrút tiền ở mọi nơi trong toàn hệ thống Ngân hàng Á Châu, được cung cấp cácdịch vụ qua ngân hàng điện tử (home banking, phone banking, internetbanking, mobile banking).
Tổ chức bộ máy:
Về cơ cấu tổ chức cơ cấu bộ máy của PGD Ngọc Lâm được thể hiệnqua sơ đồ sau:
Trang 332.1.2 Các hoạt động cơ bản.
- Nhận tiền gửi: một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiềngửi Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi của người có tiền với cam kết hoàntrả đúng hạn Khách hàng sẽ nhận được một khoản tiền lãi với lãi suất theoquy định tuỳ thuộc vào từng hình thức và thời hạn của các khoản tiền gửi củakhách hàng
- Cho vay: bằng những khoản tiền huy động được ngân hàng sẽ cho các
tổ chức kinh tế và cá nhân vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động Ngân
Trang 34hàng sẽ nhận được phần chênh lệch để bù đắp những chi phí của mình và mộtphần lợi nhuận Đây là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng.
- Mua bán ngoại tệ: một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên là traođổi ngoại tệ, ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiềnkhác và hưởng phí dịch vụ
- Bảo lãnh: ngân hàng có thể đứng ra bảo lãnh cho khách hàng về khảnăng thanh toán đối với đối tác của họ, nhất là đối tác nước ngoài Ngân hàngthực hiện bảo lãnh, đồng bảo lãnh, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợpđồng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh đối ứng
- Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán: ngân hàng
mở tài khoản cho khách hàng bằng nhiều hình thức Khách hàng sẽ nhận đượcséc và khi trao đổi khách hàng không cần tiền mặt, việc thanh toán sẽ đượcngân hàng thực hiện
- Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế: chuyển tiền, nhờ thu, mở vàthanh toán L/C phục vụ khách hàng trong và ngoài nước
- Sản phẩm, dịch vụ đối với khách hàng DN: dịch vụ tài khoản; gửi mộtnơi, rút nhiều nơi; trả lương tự động, hoa hồng đại lý, chi hộ khác; thu tiền đạilý; dịch vụ quản lý vốn; thanh toán định kỳ theo yêu cầu; thanh toán hóa đơn;chuyển tiền trong nước; thanh toán xuất nhập khẩu; tín dụng doanh nghiệp;bảo lãnh; các dịch vụ khác
- Sản phẩm dịch vụ đối với khách hàng cá nhân: dịch vụ tài khoản; dịch
vụ kỳ phiếu; dịch vụ thẻ; phát hành giấy tờ có giá dài hạn; tiền gửi tiết kiệm;tiết kiệm dự thưởng; tiết kiệm bậc thang; gửi một nơi rút nhiều nơi; thanhtoán định kỳ theo yêu cầu; thanh toán hóa đơn; tín dụng cá nhân; chuyển tiềntrong nước, quốc tế, kiều hối
Trang 352.1.3 Khái quát hoạt động kinh doanh của PGD Ngọc Lâm thời gian qua.
So sánh2009/2008(%)
Trang 36Được sự chỉ đạo đúng đắn và kịp thời của ban lãnh đạo cùng với sự nỗlực không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên, hoạt động huy động vốncủa PGD đã đạt được những kết quả tốt Kết quả đó được thể hiện ở bảng 2.1.
Nguồn vốn huy động của NHTMCP Á Châu bao gồm tiền gửi thanhtoán của các tổ chức kinh tế và cá nhân, tiền gửi tiết kiệm, các khoản ký quỹ,bảo lãnh và tiền gửi của các tổ chức tín dụng Năm 2008, tổng huy động vốn
là 214.056 triệu đồng, tăng 16,16% so với năm 2007 Đến năm 2009, tổngnguồn vốn huy động của PGD đạt 289.731 triệu đồng, tăng 35,35% so vớinăm 2008, đạt 51,77% trên tổng tài sản Trong đó, tổng nguồn vốn huy độngngắn hạn luôn cao hơn rất nhiều so với nguồn vốn huy động TDH Cụ thể,nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm 65,92% trên tổng nguồn vốn huy động.Còn nguồn vốn huy động TDH chiếm 30.08% tổng nguồn vốn huy động Đây
là mức tăng, trong đó tiền gửi khách hàng và dân cư đều tăng tương ứng Điềunày chứng tỏ PGD đã cố gắng và phát huy những khả năng của mình trongviệc huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và cũng cho thấy người dân đãngày càng tín nhiệm ngân hàng, ngày càng gửi nhiều tiền vào ngân hàng.Đồng thời, đó là việc vận dụng linh hoạt các mức lãi suất hợp lý phù hợp vớilợi ích của khách hàng và các hình thức huy động vốn Nguồn vốn huy động
đã góp phần tích cực đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo đủ vốn phục vụgiải ngân các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, đảm bảo khả năng thanhtoán Đó cũng là dấu hiệu tốt cho PGD Ngọc Lâm có thể có nhiều vốn hơnđáp ứng ngày càng tốt cho nhu cầu vốn phục vụ đầu tư và phát triển
2.1.3.2 Hoạt động cho vay.
Từ những kết quả đạt được của hoạt động huy động vốn đã thúc đẩyhoạt động cho vay của PGD Ngọc Lâm cũng có được những tiến bộ Cụ thể,qua bảng phân tích sau:
Bảng 2.2: Tình hình cho vay của PGD Ngọc Lâm.
Trang 37Tỷ trọng(%)1.Tổng doanh số
2008 là 116.109 triệu đồng, đến năm 2009 tăng lên khá lớn và đạt 207.860triệu đồng Trong hai năm 2008 và 2009 tỷ trọng cho vay TDH tăng lên cao
và chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng doanh số cho vay Cụ thể, năm 2008doanh số cho vay TDH đạt 62.962 triệu đồng, chiếm 54,23% tổng doanh sốcho vay Năm 2009, doanh số cho vay TDH đạt 119.811 triệu đồng, chiếm57,64% tổng doanh số cho vay Như vậy, trong hai năm 2008 và 2009 PGD
đã đẩy mạnh hoạt động cho vay TDH
Qua bảng trên, chúng ta đã có được cái nhìn tổng quát về tình hình nợquá hạn tại PGD Ngọc Lâm thời gian gần đây Cụ thể là:
Trang 38Năm 2007, nợ quá hạn là 1.619 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 2,32% trongtổng dư nợ Năm 2008, nợ quá hạn là 1.775 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 2,31%trong tổng dư nợ Năm 2009, con số này tăng lên là 3.104 triệu đồng, chiếm
tỷ trọng 2,28% trong tổng dư nợ Như vậy, tỷ trọng nợ quá hạn tương đối cao,điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Do đó, ngân hàng cần phải kịp thời có những giải pháp chấn chỉnh trong thờigian tới nhằm đưa hoạt động cho vay có hiệu quả cao – an toàn vốn
2.1.3.3 Hoạt động dịch vụ.
Kết quả các hoạt động dịch vụ được thể hiện thông qua bảng 2.3
Trang 39Bảng 2.3: Tình hình dịch vụ của PGD Ngọc Lâm.
Đơn vị: Triệu VND
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
So sánh2008/2007(%)
So sánh2009/2008(%)
- Thu dịch vụ bảo lãnh 19,1 24,5 32,7 28,27 33,47
- Thu dịch vụ thanh
- Thu dịch vụ ngân quỹ 12,5 25,1 42,8 100,8 76,52
- Thu dịch vụ môi giới
- Thu dịch vụ khác 199,8 720,3 894,1 260,5 24,13
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NHTMCP Á Châu – PGD Ngọc Lâm.)
Bên cạnh các sản phẩm truyền thống, PGD còn cung cấp các dịch vụ
ngân hàng như thanh toán, ngân quỹ, bảo lãnh, thẻ ATM… Ngân hàng không
ngừng dịch chuyển cơ cấu các hoạt động, nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ
ngân hàng, mở rộng quan hệ thanh toán với các tổ chức tín dụng, đặt biệt là
mối quan hệ với các đối tác nước ngoài nhằm tăng cường khả năng thanh toán
quốc tế
Trong thời gian qua, PGD Ngọc Lâm đã đẩy mạnh, mở rộng các hoạt
động dịch vụ ngân hàng Thông qua bảng 2.3 ta thấy, năm 2008 so với năm
2007 mức tăng tổng thu dịch vụ là 91,47%, năm 2009 so với 2008 là 18,24%
Cụ thể các dịch vụ ngân hàng được thể hiện qua các thông số sau:
Trang 40* Dịch vụ bảo lãnh:
Các hoạt động bảo lãnh của PGD cho các DN, các tổ chức tín dụngkhác gồm: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh hoàn trảtiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh đảm bảo chất lượng theo hợpđồng, bảo lãnh hoàn trả vốn vay Hoạt động dịch vụ bảo lãnh đã không ngừngtăng lên theo từng năm Năm 2008 đạt 24,5 triệu đồng tăng 28,27% so vớinăm 2007 và năm 2009 tăng lên 32,7 triệu đồng, tăng 33,47% so với năm2008
* Dịch vụ thanh toán:
Bên cạnh sự tăng trưởng đáng kể của dịch vụ thanh toán trong nước,hoạt động thanh toán quốc tế của ACB Ngọc Lâm ngày càng được củng cố vàphát triển Các sản phẩm dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế cho phép ACB đápứng mọi nhu cầu của khách hàng trong giao dịch ngoại thương như: mở,thông báo xác nhận, thanh toán L/C trả ngay và trả chậm; các hình thức thanhtoán D/A, D/P… Ngoài ra, với loại thẻ tín dụng quốc tế thông dụng nhưMaster Card khách hàng có thể nhận tiền Việt Nam hay ngoại tệ với mức phíhợp lý Kết quả thu dịch vụ thanh toán năm 2009 đạt 573,2 triệu đồng, tăng1,9% so với năm 2008
* Dịch vụ ngân quỹ:
Với đội ngũ nhân viên lành nghề được đào tạo chu đáo và hệ thống khotàng đáp ứng được các quy định về an toàn chặt chẽ nhất, ACB Ngọc Lâmcòn đáp ứng các dịch vụ về ngân quỹ như:
- Dịch vụ kiểm đếm, phân loại, đóng gói các loại tiền mặt VND, tiềnmặt ngoại tệ, ngân phiếu thanh toán, công trái
- Kiểm định ngoại tệ và cấp giấy chứng nhận ngoại tệ
- Thu đổi các loại ngoại tệ mạnh, séc du lịch