Tuy nhiên, thực tế trong việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương còn có nhiều khó khăn, thách thức như: Địa hình chia cắt mạnh, dân cư thưa thớt, trình độ dân t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐÀO THANH VÂN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngọc Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, các Thầy, Cô giáo trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Đào Thanh Vân Người
đã dành nhiều thời gian, tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo UBND huyện, Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện, Ban quản lý xây dựng nông thôn mới ở các xã Vân Tùng, Thuần Mang, Trung Hòa, cùng cán bộ liên quan và người dân trong các xã đã tiếp nhận và nhiệt tình giúp cung cấp các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, song khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 3 năm 2019
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngọc Lan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm nông thôn, xây dựng nông thôn mới 4
1.1.2 Nguồn lực xây dựng nông thôn mới 4
1.1.3 Huy động nguồn lực 5
1.1.4 Tiêu chí và nội dung xây dựng nông thôn mới 5
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 8
1.2.1 Kết quả triển khai thí điểm xây dựng nông thôn mới tại 11 xã điểm của ban Bí thư BCH Trung ương Đảng và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và năm 2016, 2017 8
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 16
1.3.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc 16
1.3.2 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại một số tỉnh trong nước 18
1.4 Đánh giá chung 19
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đặc điểm địa bàn 20
Trang 62.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2 Phương pháp phân tích, đánh giá và xử lý 28
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 29
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về nguồn lực tài chính 29
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu về nguồn vật lực (đất đai) 29
2.4.3 Nhóm chỉ tiêu về nguồn nhân lực 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Thực trạng huy động, sử dụng nguồn lực xây dựng Nông thôn mới của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 29
3.1.1 Thực trạng xây dựng Nông thôn mới huyện Ngân Sơn 29
3.1.2 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới của huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 36
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn 60
3.2.1 Ảnh hưởng từ việc chỉ đạo, điều hành và năng lực Ban quản lý chương trình xây dựng nông thôn mới cấp xã 60
3.2.2 Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng 63
3.3 Các giải pháp tăng cường huy động, sử dụng có hiệu quả nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn thời gian tới 68
3.3.1 Giải pháp huy động, sử dụng về nguồn lực tài chính 68
3.3.2 Giải pháp huy động nguồn lực từ nhân dân 69
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 71
1 Kết luận 71
2 Khuyến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 75
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Nguồn vốn huy động thực hiện chương trình năm 2017 12 Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất giai đoạn 2015 - 2017 huyện Ngân
Sơn 21 Bảng 2.2 Thu thập số liệu thứ cấp 26 Bảng 3.1 Kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại huyện
Ngân Sơn đến năm 2017 33 Bảng 3.2 Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện Ngân Sơn (năm 2017 so với năm
2015) 34 Bảng 3.3 Quy định về vốn và nguồn vốn thực hiện xây dựng NTM 36 Bảng 3.4 Kế hoạch tài chính cho việc thực hiện chương trình xây dựng
NTM giai đoạn 2015 - 2017 của huyện Ngân Sơn 37 Bảng 3.5 Tỷ lệ kế hoạch tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới huyện Ngân Sơn giai đoạn 2015 - 2017 39 Bảng 3.6 So sánh kết quả thực hiện với kế hoạch huy động vốn cho xây
dựng nông thôn mới ở huyện Ngân Sơn giai đoạn 2015 -
2017 42 Bảng 3.7 Đánh giá việc huy động nguồn lực cho xây dựng NTM tại huyện
Ngân Sơn thời gian qua 43 Bảng 3.8 Đánh giá kết quả huy động nguồn lực từ ngân sách Nhà nước
cho xây dựng NTM huyện Ngân Sơn 44 Bảng 3.9 Kết quả huy động vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp thực hiện xây
dựng NTM giai đoạn 2015 - 2017 46 Bảng 3.10 Kết quả huy động vốn ngân sách trực tiếp và dân góp thực hiện
xây dựng cơ sở hạ tầng NTM huyện Ngân Sơn giai đoạn 2015
- 2017 47 Bảng 3.11 Kết quả huy động vốn đối ứng của nhân dân cho xây dựng cơ sở
hạ tầng thuộc chương trình NTM ở 3 xã, giai đoạn 2015 - 2017 49 Bảng 3.12 Tính trung bình bê tông hóa đường giao thông 3 xã nghiên cứu
giai đoạn 2015 - 2017 50
Trang 9Bảng 3.13 Kết quả huy động vốn ngân sách trực tiếp và dân góp thực hiện
mô hình, hỗ trợ phát triển sản xuất xây dựng NTM huyện Ngân Sơn, giai đoạn 2015 - 2017 51 Bảng 3.14 Đánh giá kết quả huy động nguồn lực từ sức dân cho xây dựng
NTM 53 Bảng 3.15 Tổng hợp ngân sách trực tiếp (phần vốn sự nghiệp) cho tuyên
truyền, quản lý xây dựng NTM huyện Ngân Sơn, giai đoạn 2015
- 2017 54 Bảng 3.16 Kết quả sử dụng vốn ngân sách trực tiếp cho xây dựngnông
thôn mới giai đoạn 2015 -2017 55 Bảng 3.17 Đánh giá kết quả sử dụng nguồn lực cho xây dựng NTM tại huyện
Ngân Sơn 56 Bảng 3.18 Đánh giá kế hoạch và kết quả huy động nguồn lực đất đaicho
xây dựng NTM huyện giai đoạn 2015 -2017 57 Bảng 3.19 Đánh giá kết quả huy động nguồn nhân lực từ các tổ chức đoàn
thể cho xây dựng NTM 59 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của chỉ đạo, điều hành và năng lực ban quản lý
chương trình xây dựng NTM 63 Bảng 3.21 Ảnh hưởng của các yếu tố về phía cộng đồng đến huy động và
sử dụng nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới 65 Bảng 3.22 Ảnh hưởng của thu nhập người dân đến kết quả huy động vốn
cho xây dựng nông thôn mới 66
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 3.1 Cơ cấu kế hoạch tài chính xây dựng nông thôn mới năm 2015 -
2017 38
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN 1.Mục đích
- Đánh giá thực trạng huy động, sử dụng nguồn lực trong xây dựng nông
thôn mới tại huyện Ngân Sơn
- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Ngân Sơn
- Đề xuất một số giải pháp huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn thời gian tới
2.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu:
+ Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập từ các Quyết định, Nghị quyết, báo cáo… + Thu thập số liệu sơ cấp: Qua điều tra, phỏng vấn tại 3 xã Vân Tùng, Thuần mang, Trung Hòa với tổng 120 phiếu (trong đó 18 phiếu cán bộ các phòng ban ngành chuyên môn, đoàn thể và Ban chỉ đạo cấp huyện; 102 phiếu là Ban chỉ đạo, cán bộ đoàn thể, hộ dân 3 xã)
- Phương pháp phân tích và xử lý: Gồm phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp giám sát đánh giá có sự tham gia, phương pháp tổng hợp tài liệu (thông tin sau khi thu thập được xử lý bằng chương trình Microsoft Excel)
3 Kết quả nghiên cứu
- Đánh giá được kết quả huy động nguồn lực về vốn, đất đai, lao động so với
kế hoạch đề ra Tính được trung bình, độ lệch chuẩn, độ biến động một số vấn đề liên quan đến ngân sách trực tiếp cho xây dựng nông thôn mới ở địa phương
-Xác định những ảnh hưởng; điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xây dựng nông thôn mới của huyện Ngân Sơn, giai đoạn 2015 - 2017
- Đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới huyện
Ngân Sơn thời gian tới
xây dựng nông thôn mới những năm qua
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Xác định được vai trò, vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá
X đã ban hành Nghị Quyết 26-NQ/TW, ngày 05/08/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (BCH TW khóa X, 2008)
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, từ khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Chính phủ đã ban hành nhiều Quyết định, văn bản để triển khai, tổ chức thực hiện Sau 5 năm thực hiện,Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, với mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật
tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao” Có thể nói, thực hiện chương trình nông thôn nước ta có nhiều chuyển biến tích cực về các mặt như: Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng tích cực, hạ tầng kinh tế được quan tâm nâng cấp và xây mới; Chính quyền cơ sở từng bước được kiện toàn; Nhiều chính sách xã hội được Nhà nước quan tâm thực hiện; Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân nông thôn ngày càng được cải thiện góp phần ổn định chính trị; Diện mạo nông thôn ngày càng khởi sắc
Ngân Sơn là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, là huyện nghèo mới được Chính phủ công nhận bổ sung là huyện 30a năm 2018 Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 64.588 ha; dân số 30.705 người/7.323 hộ, trong đó có 23.827 người (chiếm 77,6%) dân số sống ở nông thôn; huyện có 174 thôn bản với 6 dân tộc cùng
Trang 14sinh sống Trong những năm qua, huyện Ngân Sơn đã có nhiều biện pháp, giải pháp trong tổ chức triển khai, thực hiện chương trình nông thôn mới ở 10/10 xã của huyện và đã đạt bình quân 8,1 tiêu chí Mục tiêu đến năm 2020 huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn thực hiện hoàn thành 03 xã/10 xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới (UBND huyện Ngân Sơn, 2017)
Tuy nhiên, thực tế trong việc thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương còn có nhiều khó khăn, thách thức như: Địa hình chia cắt mạnh, dân cư thưa thớt, trình độ dân trí không đồng đều; nền kinh tế địa phương chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; tổ chức thực hiện nông thôn mới ở cơ sở thời gian đầu còn lúng túng, huy động mọi nguồn lực để thực hiện còn ít, đầu tư còn dàn trải nên hiệu quả chưa cao; một số nội dung, tiêu chí không cần huy động từ nguồn từ nguồn ngân sách nhưng chưa đạt Tính đến năm 2017 chưa có xã nào trên địa bàn huyện đạt chuẩn trong xây dựng Nông thôn mới (UBND huyện, 2017)
Để hiểu rõ hơn về thực hiện huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở huyện ở huyện Ngân Sơn đã được triển khai như thế nào? Nguồn lực được huy động từ đâu, sử dụng nguồn lực huy động được như thế nào? Việc huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào? Cần có giải pháp gì góp phần nâng cao hiệu quả huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn thời gian tới Với ý nghĩa
lý luận và thực tiễn trên, tôi lựa chọn đề tài“Huy động nguồn lực trong xây dựng
Nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn" để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá thực trạng huy động, sử dụng nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn
- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Ngân Sơn
- Đề xuất một số giải pháp huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Trang 154.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
* Ý nghĩa khoa học:
Đề tài sẽ đưa ra được những cơ sở lý luận về việc huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới Từ đó khuyến nghị được các cơ sở khoa học để lựa chọn những giải pháp hiệu quả trong việc huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo về phát triển nông thôn mới tại huyện nói riêng và các huyện miền núi phía Bắc nói chung
*Ý nghĩa thực tiễn:
Những nghiên cứu mới của đề tài góp phần giúp các xã tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn có thêm giải pháp phù hợp để huy động nguồn lực tốt hơn cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ngân Sơn
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Khái niệm nông thôn, xây dựng nông thôn mới
- Nông thôn: Là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã (Bộ Nông
nghiệp và PTNT, 2010)
- Xây dựng nông thôn mới: Là để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp; gắn phát triển nông nghiệp nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng,
ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)
1.1.2 Nguồn lực xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực xây dựng nông thôn mới bao gồm:
* Nguồn nhân lực (nguồn lực con người): Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực
là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển
* Nguồn tài lực (nguồn lực tài chính) là toàn bộ quá trình huy động và sử
dụng vốn được thể hiện dưới hình thức giá trị Mọi hoạt động đều cần phải có một nguồn lực tài chính nhất định để thực hiện các mục tiêu của hoạt động đó (Dẫn theo Phạm Văn Toàn, 2015)
Nguồn tài lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới được chia thành 4 phần: Ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 30% (gồm cả vốn trực tiếp 24% và vốn lồng ghép 06%), vốn tín dụng khoảng 45%, vốn doanh nghiệp bên ngoài đầu tư khoảng 15%, huy động nguồn vốn trong nhân dân khoảng 10% (Chính phủ, 2016)
* Nguồn vật lực (nguồn lực vật chất)
Nguồn lực vật chất gồm có tài nguyên thiên nhiên (tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước )(Dẫn theo Phạm Văn Toàn, 2015)
Trang 171.1.3 Huy động nguồn lực
1.1.3.1 Khái niệm huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
Huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới là quá trình huy động các yếu tố cần thiết dựa trên mục tiêu để phục vụ cho chương trình xây dựng nông
thôn mới (Dẫn theo Phạm Văn Toàn, 2015)
1.1.3.2 Phương pháp huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
- Huy động nguồn nhân lực: Trong xây dựng nông thôn mới, nguồn nhân lực chủ yếu được huy động bằng việc đóng góp sức lao động của người dân thông qua các tổ chức đoàn thể ở địa phương như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên
- Huy động nguồn vật lực trong xây dựng nông thôn mới: Chủ yếu là những đóng góp về đất đai, nguồn lực này được huy động trực tiếp từ nông dân thông qua các hình thức tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của xây dựng nông thôn mới, về những giá trị đóng góp của người dân trong xây dựng các công trình giao thông nông thôn, giao thông nội đồng và các công trình mở rộng kênh mương nội đồng
- Huy động nguồn lực tài chính: Một phần tài chính cho xây dựng nông thôn mới được Nhà nước phân bổ, phần còn lại được huy động từ sức dân, từ sự đầu tư vốn của các doanh nghiệp và vốn từ các chương trình, dự án lồng ghép đang đầu tư cho nông nghiệp, nông dân và nông thôn (Dẫn theo Phạm Văn Toàn, 2015)
1.1.4 Tiêu chí và nội dung xây dựng nông thôn mới
Qua nghiên cứu hệ thống văn bản pháp lý cho thấy: Hiện nay, cả nước đang thực hiện theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định 1980/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn
2016 - 2020 (trừ một số nội dung thuộc tiêu chí 2,3, 6, 7, 8 được giao UBND các tỉnh quy định phù hợp với quy hoạch và điều kiện thực tế) Trên cơ sở đó, được
đề cập về 19 tiêu chí và nội dung xây dựng nông thôn mới của như sau:
Trang 18*Quy hoạch
- Tiêu chí 1: Quy hoạch
Có quy hoạch chung xây dựng xã được phê duyệt và công bố công khai đúng thời hạn Ban hành quy định quản lý quy định chung xây dựng xã và tổ chức thực hiện theo quy hoạch
*Hạ tầng kinh tế - xã hội
- Tiêu chí 2: Giao thông
Đường xã và đường từ trung tâm xã đến đường huyện được nhựa hóa hoặc
bê tông hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm Đường trục thôn, bản, ấp
và đường liên thôn, bản, ấp ít nhất được cứng hóa, đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm Đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa Đường trục chính nội đồng đảm bảo chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm
-Tiêu chí 3: Thủy lợi
Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới và tiêu nước chủ động đạt
từ 80% trở lên Đảm bảo đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu dân sinh và theo quy định
về phòng chống thiên tai tại chỗ
- Tiêu chí 4: Điện
Hệ thống điện đạt chuẩn Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn
- Tiêu chí 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở có
cơ sở vật chất và thiết bị dạy học đạt chuẩn quốc gia
- Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa
Xã có nhà văn hóa hoặc hội trường đa năng và sân thể thao phục vụ sinh hoạt văn hóa, thể thao của toàn xã Xã có điểm vui chơi, giải trí và thể thao cho trẻ em
và người cao tuổi theo quy định Tỷ lệ thôn, bản, ấp có nhà văn hóa hoặc nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng
- Tiêu chí 7: Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
Xã có chợ nông thôn hoặc nơi mua bán, trao đổi hàng hóa
Trang 19- Tiêu chí 8: Thông tin và truyền thông
Xã có điểm phục vụ bưu chính Xã có dịch vụ internet Xã có đài truyền thanh và hệ thống lao đến các thôn Xã có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành
- Tiêu chí 9: Nhà ở dân cư
Nhà tạm, dột nát Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo quy định
* Kinh tế và tổ chức sản xuất
- Tiêu chí 10: Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020
(Trung du miền núi phía Bắc: 36 triệu đồng/ người)
- Tiêu chí 11: Hộ nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 (Trung du miền núi phía Bắc:
Từ 12% trở xuống)
- Tiêu chí 12: Lao động có việc làm
Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động
- Tiêu chí 13: Tổ chức sản xuất
Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm
2012 Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững
* Văn hóa - xã hội - môi trường
- Tiêu chí 14: Giáo dục và đào tạo
Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, trung cấp).Tỷ lệ lao động
có việc làm qua đào tạo
- Tiêu chí 15: Y tế
Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế; Xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế; Tỷ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể thấp còi (chiều cao theo tuổi)
Trang 20- Tiêu chí 16: Văn hóa
Tỷ lệ thôn, bản, ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa theo quy định
- Tiêu chí 17: Môi trường và an toàn thực phẩm
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp hợp vệ sinh và nước sạch theo quy định Tỷ
lệ cơ sở sản xuất - kinh doanh, nuôi trồng thủy sản, làng nghề đảm bảo quy định
và bảo vệ môi trường Xây dựng cảnh quan, môi trường xanh - sạch - đẹp, an toàn Mai táng phù hợp với quy định và theo quy hoạch Chất thải rắn trên địa bàn và nước thải khu dân cư tập trung, cơ sở sản xuất - kinh doanh được thu gom, xử lý theo quy định Tỷ lệ hộ có nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước sinh hoạt hợp vệ sinh
và đảm bảo 3 sạch Tỷ lệ hộ chăn nuôi có chuồng trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường Tỷ lệ hộ gia đình và cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thực phẩm
* Hệ thống chính trị
- Tiêu chí 18: Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật
Cán bộ, công chức xã đạt chuẩn Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị
cơ sở theo quy định Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh” Tổ chức chính trị - xã hội của xã đạt loại khá trở lên Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định Đảm bảo bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình; bảo vệ và hỗ trợ những người dễ bị tổn thương trong các lĩnh vực của gia đình và đời sống xã hội
- Tiêu chí 19: Quốc phòng và An ninh
Xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng Xã đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên: Không có khiếu kiện đông người kéo dài; không để xảy ra trọng án; tội phạm và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) được kiềm chế, giảm liên tục so với những năm trước)(Chính phủ, 2016)
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Kết quả triển khai thí điểm xây dựng nông thôn mới tại 11 xã điểm của
Trang 21ban Bí thư BCH Trung ương Đảng và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011
Để huy động các nguồn lực cho hoạt động thí điểm tại 11 xã điểm, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 174/2009/TT-BTC ngày 08 tháng 09 năm 2009 hướng dẫn cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn tại 11 xã điểm
Cơ chế huy động vốn thực hiện trên nguyên tắc huy động tối đa nguồn lực của địa phương; huy động sức dân (nhân lực, vật lực) đóng góp tự nguyện, tích cực để xây dựng làng quê của mình (với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm); huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp Điểm đáng lưu ý trong cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách nhà nước cho xây dựng NTM là:
Các đối tượng (dự án) ngân sách trung ương hỗ trợ 100% gồm: chi phí cho công tác quy hoạch; đường giao thông đến trung tâm xã; xây dựng trụ sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng NTM cho cán bộ xã, thôn, cán bộ HTX và chủ trang trại Các đối tượng còn lại, căn cứ trên cơ sở điều kiện kinh tế
xã hội, cũng như điều kiện tự nhiên của từng vùng, ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ một phần từ nguồn bổ sung có mục tiêu để thực hiện Đề án; phần còn lại do ngân sách địa phương hỗ trợ, doanh nghiệp đầu tư, nhân dân đóng góp và huy động từ cộng đồng
Mức hỗ trợ cho từng đối tượng (dự án) cụ thể do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định, đảm bảo nguyên tắc số tiền hỗ trợ từ ngân sách trung ương tối đa không quá 70% tổng chi phí thực hiện của từng đối tượng của
Đề án
Trang 22Như vậy, trong Chương trình thí điểm xây dựng NTM của Ban bí thư, ngân sách Trung ương hỗ trợ 100% kinh phí cho các công trình hạ tầng cấp xã đường giao thông, và 02 hoạt động (công tác quy hoạch, công tác đào tạo kiến thức NTM cho cán bộ) Các nội dung khác trong Đề án NTM của mỗi xã, nguyên tắc hỗ trợ
từ ngân sách trung ương tối đa không quá 70% Phần còn lại (30%) các địa phương huy động nguồn lực từ cộng đồng, doanh nghiệp,… Trong thông tư không nêu rõ 30% này có thể quy từ việc hiến đất làm công trình hay công lao động hay tiền mặt (Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2016)
1.2.1.2 Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 và năm 2016, 2017
* Giai đoạn năm 2011- 2015: Trong 5 năm, cả nước đã huy động được khoảng 851.380 tỷ đồng đầu tư cho Chương trình Trong đó, ngân sách nhà nước (bao gồm các chương trình, dự án khác) 266.785 tỷ đồng (31,34%), tín dụng 434.950 tỷ đồng (51%), doanh nghiệp 42.198 tỷ đồng (4,9%), người dân và cộng đồng đóng góp 107.447 tỷ đồng (12,62%)
- Giao thông nông thôn: Cả nước đã xây dựng mới được 47.436 km đường giao thông các loại đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ GTVT, tăng 10.251 km so với cả giai đoạn 2001 - 2010; cải tạo sửa chữa 103.394 km đường, xây dựng mới
và cải tạo sửa chữa 26.997 cầu Có 38,9% số xã đạt tiêu chí số 2 về giao thông nông thôn
- Thủy lợi: Cả nước có 64,6% số xã đạt tiêu chí về thủy lợi Số kênh mương
do xã quản lý đã kiên cố hóa được trên 50.246 km kênh mương các loại; xây dựng,
tu bổ, sửa chữa, nâng cấp được hơn 28.765 công trình thủy lợi gồm bờ bao, cống, trạm bơm phục vụ tưới tiêu và 6.070 km đê bao, bờ bao chống lũ trong phạm vi
xã quản lý
- Điện nông thôn: Đến nay, cả nước có 7.359 xã (82,2%) đạt tiêu chí số 4 về điện nông thôn
- Trường học: Đã có 42,6% số xã đạt tiêu chí số 5 về trường học Chính sách
hỗ trợ học phí cho con em đồng bào dân tộc, miền núi; chính sách cho vay vốn để học tập được điều chỉnh, tạo thuận lợi cho học sinh, sinh viên từ các vùng nông thôn
Trang 23- Cơ sở vật chất văn hóa: Cả nước hiện có 4.998 xã có Trung tâm văn hóa - thể thao, trong đó khoảng 30% đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch; 54.391/118.034 thôn, bản, ấp (46%) có nhà văn hóa, trong đó đã đạt chuẩn là 47% Đến nay đã có khoảng 34,9% số xã đạt tiêu chí số 6 về cơ sở vật chất văn hóa
- Chợ nông thôn: Có 5.177 xã (61,6%) đạt tiêu chí số 7 về chợ nông thôn Nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng chợ trên địa bàn nông thôn, một số địa phương đã có cơ chế ngân sách hỗ trợ một phần vốn (20-30%)
- Hệ thống trạm y tế: Đến nay đã có 68,2% số xã đạt tiêu chí số 15 về y tế Hầu hết các xã đã có trạm y tế; Tại một số địa phương, trạm y tế xã đã có cán bộ
y học dân tộc, cán bộ dược trình độ từ dược tá trở lên Đối với y tế dưới cấp xã (thôn, ấp), khoảng 90% ấp, cụm dân cư có cán bộ y tế
- Bưu điện và hạ tầng công nghệ thông tin nông thôn: Có 93,1% số xã đạt tiêu chí số 8 về Bưu điện Internet tốc độ cao đã đến được hầu hết các điểm bưu điện văn hóa xã, khoảng 55% số xã có điểm truy cập Internet công cộng, vùng phủ sóng 3G
đã đạt trên 80% dân số; tỷ lệ xã có điện thoại công cộng là 97%
- Tổ chức sản xuất: Nhiều mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và lâm nghiệp, mô hình tổ, đội sản xuất trong khai thác thủy sản đã được thiết lập và hoạt động có hiệu quả Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn bước đầu phát huy hiệu quả Đến hết năm 2015 đã có khoảng 2,42 triệu người được hỗ trợ đào tạo nghề, trong đó khoảng 1,02 triệu người học nghề nông nghiệp và 1,4 triệu người học nghề phi nông nghiệp Khoảng 60.000
hộ nghèo có người tham gia học nghề có việc làm đã thoát nghèo và gần 100.000
hộ có người tham gia học nghề và có việc làm với thu nhập cao hơn mức bình quân tại địa phương (trở thành hộ khá)
-Về phát triển giáo dục: Công tác giáo dục các cấp ở cơ sở tiếp tục được chú trọng Đến nay đã có 5.943 xã (78,9%) đạt tiêu chí số 14 về giáo dục
Có 66,7% số xã đạt tiêu chí số 16 về văn hóa và khoản 40,8 triệu lượt người tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, sinh hoạt câu lạc bộ
Trang 24ở nông thôn (các tỉnh đồng bằng có 27% người dân thường xuyên luyện tập thể
dục, thể thao; ở miền núi là 11%)
-Về cảnh quan và môi trường nông thôn: Đã xây dựng được hơn 1.000 công trình nức sạch tập trung, 500 bãi thu gom rác thải, 1.200 cống rãnh thoát nước thải
dự án khác: 4,7%, tín dụng: 78,3%, từ doanh nghiệp: 3,1%, người dân đóng góp: 4,7%)
Cả nước đã có 2.235 (25,07%) xã đạt chuẩn nông thôn mới (Hoàn thành mục tiêu có 25% số xã đạt chuẩn năn 2016); còn 261 xã dưới 5 tiêu chí (3,36%) Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân của cả nước là 13,45 tiêu chí/xã (Bộ Nông nghiệp&PTNT, 2016)
*Năm 2017:
Bảng 1.1 Nguồn vốn huy động thực hiện chương trình năm 2017
Trang 25STT Vốn thực hiện chương trình Đơn vị tính Giá trị Tỷ lệ%
(Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2017)
Qua bảng biểu 1 cho thấy: Tổng nguồn vốn huy động thực hiện chương trình đạt khoảng 269.561 tỷ đồng
* Tính đến hết năm 2017, cả nước có 3.289 xã (36,84%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, tăng 220 xã (2,47%) so với cuối năm 2017 và tăng 929 xã (10,4%) so với cuối năm 2016
- Bình quân cả nước đạt 14,25 tiêu chí/xã, tăng 0,07 tiêu chí so với cuối năm
2017, tăng 0,78 tiêu chí so với cuối năm 2016
- Còn 121 xã dưới 5 tiêu chí, giảm 136 xã so với cuối năm 2016:
* Huyện đạt chuẩn nông thôn mới: Có 49 đơn vị cấp huyện thuộc 26 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thủ tướng chính phủ công nhận đạt chuẩn xây dựng nông thôn mới
* Về phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội: Giao thông nông thôn, trong hơn 07 năm vừa qua đã hoàn thành một khối lượng hơn gấp 5 lần của giai đoạn 2001-
2010, có 99,4% tổng số xã trên cả nước có đường ô tô đến trung tâm xã, đặc biệt
ở những địa bàn vùng núi cao, hệ thống đường giao thông được bê tông hóa đã cơ bản đáp ứng nhu cầu cho người dân đi lại, vận chuyển hàng hóa cho người dân, nhất là ở những khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Mạng lưới điện
Trang 26quốc gia đã bao phủ 100% số xã 97,8% số thôn: 99,7% số xã đã có trường tiểu học và trường mẫu giáo: 99,5% số xã có trạm y tế; 60,8% số xã có chợ; 58,6% số
xã có nhà văn hóa; hệ thống thủy nông có 18.100 trạm bơm phục vụ sản xuất và dân sinh, bình quân mỗi xã có 2,0 trạm bơm, hệ thống cung cấp nước sạch nông thôn được đầu tư xây dựng, có 4.498 xã có công trình nước sạch tập trung Với việc tập trung chỉ tiêu về chống đuối nước trong bộ tiêu chí quốc gia
Đến 31/12/2017 cả nước đã có 4.850 xã đạt tiêu chí giao thông (đạt 54,3%), 7.611 xã đạt tiêu chí thủy lợi (đạt 85,3%), 4.983 xã xã đạt tiêu chí trường học (55,8%) 4.681 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa (đạt 52,4%), 6.330 xã đạt tiêu chí Nhà ở dân cư (đạt 70,9%)
* Phát triển sản xuất, tạo sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn; Các địa phương đã tập trung đầu tư và phát triển được 21.000 mô hình sản xuất liên kết chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trên diện rộng, dần hình thành được một số vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa, trong đó, đã có 744 chuỗi nông sản an toàn
Cả nước có khoảng 4.823 sản phẩm đặc sản cấp xã, huyện có lợi thế, trong
đó mới có 1.086 sản phẩm (khoảng 22,52% có đăng ký/tiêu chuẩn chất lượng; có
695 (14,4%) sản phẩm có đăng ký hộ sở hữu trí tuệ Đây là tiềm năng và dư địa rất lớn để có thể triển khai thành Đề án Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” góp phần tăng thu nhập cho người dân nông thôn và bảo tồn truyền thống văn hóa của từng vùng miền
Về tổ chức sản xuất trong năm 2017, các địa phương đã quan tâm, chú trọng hơn đến nâng cao hoạt động của các HTX gắn liền với sản xuất theo chuỗi giá trị; chủ động bố trí nguồn lực cho chương trình nông thôn mới để hỗ trợ phát triển HTX (vốn ngân sách Trung ương được các địa phương bố trí tăng gấp 7 lần, từ 22 tỷ đồng kên 154 tỷ đồng), trong đó, ưu tiên củng cố những HTX đã có
ở các xã đăng ký đạt chuẩn NTM giai đoạn năm 2017-2020 và tích cực vận động thành lập mới ở những xã chưa có HTX nông nghiệp Đến nay, cả nước có 30 liên hiệp HTX nông nghiệp và 11.668 HTX nông nghiệp Doanh thu khoảng 890
Trang 27triệu đồng/HTX, lợi nhuận bình quân khoảng 200 triệu đồng/HTX, thu nhập bình quân của thành viên và người lao động 1,5 triệu đồng/tháng; số lượng HTX tham gia dịch vụ tiêu thụ nông sản cho xã cũng tăng lên từ dưới 10% trước đây lên 20,5%
* Về bảo vệ và cải thiện môi trường nông thôn mới: Năm 2017, công tác bảo
vệ môi trường nông thôn đã có bước đột phá lớn, nhất là về vấn đề xử lý rác thải khu dân cư và cải tạo cảnh quan nông thôn xanh - sạch đẹp Ngày càng có nhiều các tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt bao bì thuốc bảo vệ thực vật… do cộng đồng thành lập, hoạt động theo hình thức tự nguyện Đặc biệt nhiều địa phương
đã vận dụng các hộ đồng bào dân tộc thiểu số di rời chuồng trại chăn nuôi ra khỏi nhà sàn
* Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa và giữ gìn an ninh trật tự: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới được triển khai hiệu quả Các địa phương đã quan tâm hơn đến nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa cơ sở hoặc theo mô hình xã hội hóa các khu trung tâm thể thao - giải trí Đến nay cả nước đã có 76,7% số xã đạt tiêu chí văn hóa (tăng 7,4% so với cuối năm 2016)
Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc tiếp tục phát huy được hiệu quả Hiện nay, cả nước có trên 500 loại mô hình quần chúng làm công tác bảo vệ an ninh, trận tự ở địa bàn nông thôn; hiện có 61.158 tổ an ninh nhân dân với 306.021 thành viên, 31.392 đội thanh niên xung kích Cả nước có 89,1% số xã đạt tiêu chí
số 19 về quốc phòng và an ninh (Bộ Nông nghiệp &PTNT, 2017)
1.2.1.3 Bài học kinh nghiệm từ huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới
- Công tác tuyên truyền, vận động cộng đồng là bài học quan trọng hàng đầu trong huy động nguồn lực Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng bằng sự tham gia bàn bạc, hiến kế, đóng góp công, của và chủ động thực hiện các nhiệm
vụ của mình là yếu tố quyết định sự thành công của Chương trình và phát huy vai trò chủ thể của người dân, xóa bỏ tư tưởng trông chờ vào nhà nước
Trang 28- Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên sâu sát, quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, sự tham gia tích cực và phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể Trong đó, người đứng đầu cấp ủy và chính quyền có vai trò quan trọng Thực tiễn cho thấy nơi nào các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể thực sự quan tâm vào cuộc thường xuyên, quyết liệt thì trong cùng hoàn cảnh còn nhiều khó khăn vẫn tạo ra sự chuyển biến rõ nét
- Phải có cách làm phù hợp với điều kiện của từng địa phương thông qua lựa chọn nội dung, nhiệm vụ ưu tiên, vận dụng sáng tạo cơ chế chính sách Có phương thức huy động các nguồn lực phù hợp
- Hệ thống chỉ đạo, đồng bộ, hiệu quả; có bộ máy giúp việc đủ năng lực, chuyên nghiệp, sát thực tế sẽ là yếu tố quan trọng đảm bảo cho công tác chỉ đạo
có hiệu quả
- Lồng ghép sử dụng có hiệu quả sự hỗ trợ ngân sách của Nhà nước và các nguồn huy động; việc huy động, đóng góp của người dân phải được thực hiện trên cơ
sở thực sự tự nguyện, bàn bạc dân chủ không gượng ép quá sức dân
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
* Kinh nghiệm của Hàn Quốc, bắt đầu từ thành công phong trào Làng mới - Saemaul Undong
Là đất nước nghèo về tài nguyên và khoáng sản, khí hậu không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, Hàn Quốc là nước chậm phát triển với thu nhập bình quân
là 87 USD/người năm 1962
Hàn Quốc bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1962 - 1971), chủ trương là tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp chưa chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn Công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh đối nghịch với nông thôn lạc hậu, kém phát triển dẫn đến người dân nông thôn tàn phá rừng lấy đất sản xuất lương thực, dân nông thôn đổ ra thành thị kiếm việc làm, tỷ
lệ thất nghiệp tăng cao, tệ nạn xã hội gia tăng Trong bối cảnh nguồn lực tài chính của Chính phủ hạn hẹp, các nhà lãnh đạo của Hàn Quốc nhận thấy rằng người dân tuy nghèo nhưng nếu biết huy động nguồn lực từ số đông người dân và
Trang 29huy động dần từng bước vẫn có thể huy động được một lượng vốn không nhỏ
Để huy động nguồn lực tài chính từ người dân, cần thực hiện bằng được phương thức dân chủ, xác định đúng vai trò của người dân tạo động lực cho người dân trong xây dựng Làng mới (Saemaul Undong) với phương thức người dân tự lực
và hợp lực là chính, Nhà nước chỉ hỗ trợ mang tính khởi đầu và động viên khen thưởng.Vì vậy, Hàn Quốc đã tiến hành nhiều biện pháp cụ thể, bao quát: người dân tham gia vào quá trình ra quyết định; trao quyền ra quyết định cho cộng đồng làng; họp dân của mỗi làng để bàn bạc và chọn công trình ưu tiên làm trước; hàng tháng lãnh đạo các làng được mời tham gia họp với Chính phủ; định kỳ đánh giá kết quả thực hiện phong trào của các làng theo tiêu chuẩn rõ ràng; thực hiện động viên, thưởng phạt công minh, kích thích sự tự hào, tự tin của cộng đồng làng Đến năm 1980, bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… kết quả bắt đầu từ Saemaul Undong thành công phong trào ở nông thôn đã lan ra thành phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc Đến cuối thập kỷ 1990, sau khi triển khai giai đoạn 2, phong trào Làng mới đã đạt kết quả theo các mục tiêu đề ra, kinh tế phát triển vững chắc, thu nhập bình quân đầu người của người dân nông thôn ngang bằng và có nơi cao hơn người dân thành phố (Báo đầu tư điện tử, 2017)
Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, rút ra một số giải pháp cho Việt nam trong huy động xây dựng nông thôn mới:
Một là, tăng cường tuyên truyền, vận động và phối hợp giữa các tổ chức, đoàn thể
Thứ hai, tăng cường bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ cơ sở
Thứ ba, cần phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới
Bốn là, phải thu hút các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, xã hội tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới
Năm là, xây dựng mô hình quản lý, vận hành công trình khi hoàn thành đi vào sử dụng
Sáu là, cần tạo lập sự công bằng trong đóng góp và minh bạch trong quản lý
Trang 30sử dụng nguồn lực
1.3.2 Kinh nghiệm huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại một
số tỉnh trong nước
1.3.2.1 Kinh nghiệm huy động nguồn lực của tỉnh Hà Tĩnh
Hà Tĩnh một trong những tỉnh tiên phong trong việc xây dựng nông thôn mới, trong nhiều năm qua, tỉnh này đã được nhiều địa phương trong cả nước, trong
đó có các tỉnh miền núi như Bắc Kạn đã có nhiều đoàn công tác đến học tập kinh nghiệm Xuất phát từ một tỉnh nghèo nằm trên dải đất miền Trung, dưới chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, Hà Tĩnh đã có bứt phá trong toàn dân trong
xây dựng nông thôn mới với phương châm huy động nguồn lực tại chỗ, tập trung
cả những tiêu chí không từ ngân sách nhà nước ngay từ bước đầu thực hiện:
Năm đầu thực hiện xây dựng nông thôn mới, bình quân Hà Tĩnh mới đạt 3,5 tiêu chí và có đến 52% số xã đạt dưới 5 tiêu chí, trong đó có 20 xã không đạt tiêu chí nào, tỷ lệ hộ nghèo lên đến 23,91%… Sau 8 năm xây dựng, ngoài thực hiện Bộ tiêu chí theo quy định của Trung ương (gồm 19 tiêu chí), tỉnh Hà Tĩnh còn bổ sung tiêu chí thứ 20 (khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu), kết quả triển khai thực hiện đã mang lại hiệu quả thiết thực, trở thành phong trào rộng khắp, được người dân và cộng đồng tích cực hưởng ứng Hiện nay, tỉnh Hà Tĩnh
đã có 158/262, tương ứng tỷ lệ 60,3% xã về đích nông thôn mới
Cách làm ở Hà Tĩnh là xây dựng những địa bàn, đơn vị trọng tâm, trọng điểm, chọn những tiêu chí dễ, tiêu chí ít vốn đầu tư để thực hiện trước, lấy nông dân là hạt nhân thực hiện; tập trung huy động nguồn lực tại chỗ, đẩy mạnh các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thực hiện đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”…
và huy động toàn hệ thống chính trị vào công cuộc xây dựng nông thôn mới của tỉnh (Báo đầu tư điện tử, 2018)
1.3.2.2 Kinh nghiệm huy động nguồn lực của tỉnh Bắc Kạn
Trang 31Là tỉnh miền núi có gần 90% đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; địa bàn rộng, chia cắt, người dân cư trú phân tán (bình quân 64km2/ người), nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu Trong những năm qua, nhiều biện pháp, giải pháp, tỉnh Bắc Kạn đã huy động mọi nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Nhìn chung từ tỉnh đến các địa phương đã ra sức thi đua thực hiện phong trào “Bắc Kạn chung tay xây dựng nông thôn mới” của tỉnh
Với tổng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM là 93.420 tỷ đồng, tỉnh đã huy động người dân trong toàn tỉnh thông qua các tổ chức Hội đoàn thể vận đông nhân dân hiến trên 400.000m2 đất, đóng góp 753.000 ngày công và 2.426 triệu đồng để thực hiện chương trình Các xã đã thực hiện được hàng trăm mô hình chăn nuôi, trồng cam quýt, hồng không hạt, chè,… một số mô hình phát triển sản xuất có hiệu quả được nhân rộng, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp gắn với sản xuất hàng hóa; Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã bước đầu có hiệu quả, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho trên 23.700 lao động Từ thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn tỉnh Bắc Kạn đã được nâng lên
Tính đến hết năm 2017, toàn tỉnh có 9/110 xã đạt chuẩn nông thôn mới
(trong đó, giai đoạn 2011-2015: Tỉnh chưa có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới; Đến năm 2016: đạt 02 xã, xã Quân Bình và xã Cẩm Giàng huyện Bạch Thông; năm 2017: đạt thêm 07 xã, xã Rã Bản huyện Chợ Đồn; xã Như Cố, huyện Chợ
Mới; xã Kim Lư và xã Cường Lợi, huyện Na Rì; xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông; xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể và xã Nông Thượng, thành phố Bắc Kạn) (UBND tỉnh Bắc Kạn, 2015, 2016, 2017)
Tuy nhiên, giai đoạn 2011 - 2015 tỉnh Bắc Kạn đã lựa chọn 12 xã điểm trên tổng 110 xã trên địa bàn toàn tỉnh và phấn đấu đến hết năm 2015 đạt chuẩn 12 xã nông thôn mới, trong đó có xã Vân Tùng (huyện Ngân Sơn) Nhưng đến hết năm
2017 toàn tỉnh mới có 9 xã về đích nông thôn mới nhưng mới, chiếm tỷ lệ 8,18%;
so với các tỉnh khác, nhất là tỉnh Hà Tĩnh thì tỷ lệ xã nông thôn mới của Bắc Kạn còn chênh lệch quá lớn
1.4 Đánh giá chung
Trang 32Xây dựng nông thôn mới là chủ trương có ý nghĩa quan trọng đối với toàn Đảng và nhân dân Để thực hiện đạt mục tiêu, trên cơ sở chính sách, định hướng chung của Nhà nước, mỗi địa phương cần có giải pháp tổ chức thực hiện phù hợp; đồng thời quan tâm đến việc huy động các nguồn lực và sử dụng nguồn lực có hiệu quả
Qua kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới của tỉnh Bắc Kạn những năm qua cho thấy một số khó khăn, hạn chế:
- Nguồn lực đầu tư cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới của tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu đặt ra
- Phát triển sản xuất gặp nhiều khó khăn, ngân sách tỉnh còn eo hẹp, việc huy động nguồn lực đóng góp từ nhân dân còn ít
- Đầu tư dàn trải theo kiểu cào bằng
- Công tác tuyên truyền chưa sâu, chưa hiệu quả nên nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới chuyển biến chậm
- Nhiều địa phương gặp lúng túng bởi các thủ tục lập dự toán, thanh quyết toán, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản còn rườm rà
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 33Ranh giới của huyện: Phía Đông giáp huyện Tràng Định - Lạng Sơn, huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng; Phía Tây giáp huyện Ba Bể - Bắc Kạn; Phía Nam giáp Bạch Thông, Na Rì - Bắc Kạn; Phía Bắc giáp huyện Nguyên Bình - Cao Bằng
Trung tâm huyện nằm trên địa bàn xã Vân Tùng, cách thành phố Bắc Kạn
60 km về phía Bắc, cách thành phố Thái Nguyên 145 km và cách thành phố Cao Bằng 58 km theo quốc lộ 3 Huyện có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận
* Khí hậu, thuỷ văn
Ngân Sơn có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 18- 20,70C, lượng mưa trung bình hàng năm 1.248 mm, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung nhiều vào các tháng 6,7 Độ ẩm không khí trung bình 83% Ngoài ra trên địa bàn huyện hàng năm thường xuất hiện 80- 90 ngày có sương mù, 35 - 37 ngày có mưa phùn, 45 - 50 ngày có giông và một số đợt sương muối Nhìn chung Ngân Sơn có khí hậu thời tiết tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng vật nuôi Tuy nhiên, do địa hình cao, độ dốc lớn dễ gây lũ cuốn, lũ quyết làm sói mòn, trượt lở đất dọc theo các suối và các sườn núi Mặt khác mùa đông trời lạnh, thời tiết hanh khô, gây hạn hán đặc biệt ở vùng sâu, vùng cao và vùng núi đá vôi Tiểu khí hậu có sự khác biệt khá rõ Bắc và Nam của huyện
* Sông ngòi
Ngân Sơn không có sông lớn nhưng có nhiều suối nhỏ và phân bố khá đều trên địa bàn Tuy nhiên, các suối đều có lưu lượng nhỏ, độ dốc lớn Một số không
có nước về mùa khô
* Các nguồn tài nguyên
Đất đai của huyện Ngân Sơn thuộc loại nâu đỏ vàng (Macma trung tính, macma axít) là chủ yếu, phù hợp trồng cây dài ngày và cây nông nghiệp Ngoài ra còn có đất đen và đất phù sa nhưng chiếm tỷ lệ ít
Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất giai đoạn 2015 - 2017
huyện Ngân Sơn
Trang 34Nội dung Năm 2015
(ha)
Năm 2016 (ha)
Năm 2017 (ha)
Tăng(+), giảm(-)
- Đất đồi núi chưa sử dụng 1.517,99 1.517,99 1.517,96 -0,03
- Núi đá không có rừng cây 122,20 122,20 122,20
(UBND huyện Ngân Sơn,2015 đến 2017)
Tài nguyên khoáng sản: Huyện có một số tài nguyên quý nhưđá vôi, quặng sắt, quặng chì kẽm, quặng vàng Đây là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội huyện, vì vậy cần phải có những biện pháp phù hợp trong quá trình khai thác và quản lý
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Ngân Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên là 64.588,23ha Huyện có 11 đơn vị hành chính (gồm 10 xã và 1 thị trấn), 174 thôn bản Dân số của huyện là 30.705
Trang 35người, trong đó dân số nông thôn 23.827 người (chiếm 77,6%); mật độ dân số 47,94 người/km2 Huyện gồm 6 dân tộc cùng chung sống, trong đó đông nhất là dân tộc Tày 12.022 người (chiếm 39,15%), dân tộc Dao 7.745 người (25,22% dân số), dân tộc Nùng 5.543 người (18,05% dân số), dân tộc H’Mông 2.479 người (chiếm 8,07% dân số), dân tộc kinh 1.701 người (chiếm 5,53% dân số), Hoa 712 người (chiếm 2,32%) và các dân tộc khác chiếm khoảng 1,66% dân số Đa số các dân tộc sống bằng nghề nông lâm nghiệp là chủ yếu (Chi cục Thống kê huyện Ngân Sơn, 2017)
Toàn huyện có 3.103/7.323 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 42,37% (Phòng Lao động TB&XH huyện Ngân Sơn,2017)
* Cơ sở hạ tầng
- Giao thông
Hiện nay toàn Huyện có 103km đường liên tỉnh đã được nhựa hóa (Quốc
lộ 3, Quốc lộ 279, Đườn tỉnh ĐT 252); 03 tuyến đường trục xã, liên xã đã được đầu tư có chiều dài 36,9km (Tuy nhiên 22,5km đã được rải cấp phối nhưng xuống cấp, còn lại 14,4m theo tiêu chuẩn đường cấp V miền núi) Hệ thống đường trục thôn, liên thôn đi lại được đầu tư khoảng hơn 60%, tuy nhiên mới có một số tuyến được đầu tư cứng hóa bằng bê tông, xi măng Còn lại là đường đất do người dân
mở với chiều rộng mặt đường là 1,2 đến 1,5m, chỉ đi lại được trong mùa khô, do
đó đường giao thông các thôn vùng cao, vùng sâu đi lại rất khó khăn, nhất là mùa mưa
lũ
- Hệ thống thuỷ lợi toàn huyện có 251 công trình, phần lớn có quy mô nhỏ, phạm vi phục vụ hẹp, phai đập và kênh tưới tiêu trong những năm quacũng được quan tâm cải tạo và nâng cấp Theo đánh giá của ngành nông nghiệp diện tích kênh mương kiên cố chủ động tưới toàn huyện đến nay mới chỉ đạt 70%
- Điện: Toàn huyện có 89 trạm biến áp với tổng công suất 9.383 KVA, tổng chiều dài đường dây 225,75 km Hiện nay 11/11 xã, thị trấn trên địa bàn huyện có điện lưới quốc gia đến trung tâm và các thôn vùng thấp, tỷ lệ hộ được sử dụng điện là 93,6% Còn lại một số hộ dân thôn vùng cao, do sống rải rác, địa hình khó khăn, xa trung tâm xã đồng thời chưa có vốn đầu tư kéo điện vì vậy các hộ tự lắp
Trang 36đặt máy thuỷ điện nhỏ và đèn dầu để thắp sáng (còn 25/174 thôn dân cư chưa có điện lưới)
- Nước sinh hoạt nông thôn: Hệ thống nước sinh hoạt nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng từ nguồn vốn nước sạch nông thôn, 134, 755 của Chính phủ được 127 công trình, tuy nhiên đã đầu tư lâu nên nay còn 103 công tình sử dụng được… tỷ lệ hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 85%
- Bưu chính viễn thông: 100% các xã, thị trấn có Bưu điện văn hóa xã, có
tủ sách nhân dân với nhiều loại sách báo, mạng viễn thông được phủ sóng thông tin liên lạc được thông suốt Toàn huyện có 22.234 thuê bao điện thoại, đường cáp quan, Internet tốc độ cao kết nối đến 11 xã và thị trấn là 1.756 thuê bao
*Giáo dục, Y tế, Văn hóa thể thao
- Giáo dục: Toàn huyện có 33 trường, gồm 02 trường Trung học phổ thông;
01 trường Nội trú; 02 trường phổ thông cơ sở; 03 trường phổ thông Dân tộc bán trú03 trường trung học cơ sở; 10 trường tiểu học; 12 trường mầm non Những năm qua nhờ có chương trình 135, kiên cố hóa lớp học nên hầu hết hệ thống trường lớp được xây cấp IV, có 14/33 trường đã được xây hai tầng Tuy nhiên hệ thống trường học được đầu tư xây dựng từ gia đoạn 2000- 2005 nên trường học cũng đã bị xuống cấp, một số lợp phải học ghép Chất lượng dạy và học nhìn chung đảm bảo chất lượng
- Y tế: Trên địa bàn huyện có 01 bệnh viện trung tâm, 11/11 Trạm y tế xã với quy mô 50 giường bệnh 100% xã, thị trấn có y, bác sĩ đủ để phục vụ tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tuy nhiên trang thiết bị chưa đáp ứng nhu cầu, các ca bệnh hiểm nghèo, phức tạp vẫn phải chuyển lên tuyến trên
- Văn hóa thể thao: Hoạt động văn hóa văn nghệ thể thao được huyện quan tâm tạo điều kiện phát triển ở mọi cấp mọi ngành và các thôn khu, một số khu trung tâm các xã được thành lập câu lạc bộ văn hóa - thể thao; cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư xây dựng như nhà văn hóa thôn
* Nguồn lao động
- Tổng số lao động trong hoạt động các ngành kinh tế tính đến năm 2017 là 19.542 lao động (chiếm 63,64 % tổng dân số), nam 47,2%, nữ 52,8%
Trang 37Trong đó:Lao động nông lâm ngư nghiệp: 16.801người chiếm 85,97 %;Lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng: 229 người, chiếm 1,17%; Lao động dịch vụ, thương mại: 236 người, chiếm 1,2 %; Lao đông khác: 2.276 người, chiếm 11,64%
- Chất lượng nguồn lao động:
Toàn huyện có 14,02% tổng dân số đang theo học các cấp phổ thông với 4.108 học sinh các cấp học Nguồn lao động (từ 15 tuổi trở lên) khá dồi dào (chiếm 59,7% dân số), tuy nhiên tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn cao còn thiếu Lao động qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ thấp(22,2% lực lượng lao động xã hội), đây cũng
là một hạn chế lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ngân Sơn Theo số liệu của Chi cục Thống kê huyện, lực lượng lao động thiếu việc làm hiện nay chiếm khoảng 1,1% (khoảng 300-320 người) Hệ số sử dụng thời gian lao động ở nông thôn mới đạt 75%, năng suất lao động còn thấp
* Thu nhập dân cư
Nguồn thu nhập chính của nhân dân chủ yếu từ trồng trọt, chăn nuôi và trồng rừng Trong những năm gần đây, nhờ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất như cải tạo giống, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã làm cho kinh tế của huyện ngày càng phát triển Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng được nâng cao, nhiều hộ có ti vi, xe máy và tài sản có giá trị kinh tế cao
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng kết quả huy động, sử dụng nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn
- Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Ngân Sơn
- Một số giải pháp huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Trang 38Số liệu và nguồn gốc các số liệu đã được công bố được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.2 Thu thập số liệu thứ cấp
- Các Nghị quyết BCH Trung ương
Đảng, Quyết định Chính phủ, các Bộ
ngành, cơ quan tỉnh; các báo cáo có liên
quan, những báo cáo khoa học đã được
công bố và mạng Internet có nội dung
liên quan đến tài liệu nghiên cứu
- Các thông tin, tài liệu phục vụ cho nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
- UBND huyện Ngân Sơn, phòng chức
năng thuộc huyện; Các xã: bộ phận
chức năng thuộc xã nghiên cứu; Ban
chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở các
xã được chọn điều tra
- Các báo cáo, số liệu, thông tin liên quan đến hoạt động huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại các xã chọn nghiên cứu và những kết quả đã đạt được trong thời gian qua và những định hướng trong thời gian tới
- Các tổ chức đoàn thể, trên địa bàn
huyện
- Các báo cáo liên quan đến đánh giá hiệu quả huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Ngân Sơn trong thời gian qua
2.3.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Các số liệu sơ cấp được tiến hành thu thập qua điều tra, phỏng vấn các cán
bộ có liên quan đến công tác huy động và sử dụng nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ngân Sơn Việc thu thập các thông tin mới được thực hiện thông qua phương pháp PRA (đánh giá có sự tham gia) được phối hợp sử dụng khi tiến hành điều tra Các hình thức thu thập sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: Phỏng vấn trực tiếp, điền phiếu điều tra với sự tham gia của các nhóm đối tượng khác nhau khi tiến hành tại thôn bản
Đối tượng và số phiếu điều tra:
* Cấp huyện: Tổng số 18 phiếu
Nghiên cứu phỏng vấn đại diện: Đoàn thể chính trị - xã hội huyện ở 03 phiếu
cơ quan (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên), 05 phiếu phòng chuyên môn (Phòng Nông nghiệp & PTNT đồng thời là cơ quan thường trực xây dựng nông thôn mới, phòng Lao động thương binh và xã hội, phòng Tài chính- Kế hoạch
Trang 39huyện), 10 phiếu Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Tổng số cán, Ban
chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện được phỏng vấn là 18 người
* Cấp xã:Tống số 102 phiếu
Chọn 03 xã /10 xã thực hiện xây dựng nông thôn mới, gồm:
- Xã Vân Tùng: Vân Tùng nằm ở trung tâm huyện Ngân Sơn, có đường
quốclộ 3 chạy qua địa bàn với chiều dài 12km tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho giao lưu thông thương hàng hóa, trao đổi thông tin, tiếp thu khoa học công nghệ tiên tiến Xã có tổng diện tích tự nhiên 5.110ha, dân số 3.470 người/ 871 hộ, chia thành 13 thôn, khu Địa hình của xã chia cắt phức tạp, núi đá xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo, độ dốc bình quân 250 Tỷ lệ hộ nghèo là 10,91% (UBND xã Vân Tùng, 2012)
Xã Vân Tùng là xã đại diện cho 3 xã điểm xây dựng nông thôn mới của huyện Đây là xã đạt số tiêu chí cao nhất trong 10 xã tính tới tháng 12/2017 (14
tiêu chí) và đại diện cho nhóm xã có mức thu nhập cao của huyện
- Xã Thuần Mang: Thuần Mang nằm về phía nam và cách trung tâm huyện
Ngân Sơn khoảng 16km Tổng diện tích tự nhiên của xã là 5.316 ha, dân số 2.450 người/566 hộ, chia thành 17 thôn bản Có quốc lộ 279 chạy qua nối với quốc lộ 3
và huyện Na Rì và các địa phương khác, đây là tuyến giao thông quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của xã Địa hình của xã chia cắt phức tạp và có độ chia cắt mạnh với nhiều dạng địa hình khác nhau từ hình đồi thoải xen kẽ với thung lũng sâu, độ dốc bình quân 250-300 Tỷ lệ hộ nghèo là 51,06% (UBND xã Thuần Mang, 2012)
Xã Thuần Mang là đại diện cho nhóm xã đạt mức tiêu chí trung bình 07 tiêu
chí và đại diện cho nhóm xã có mức thu nhập trung bình
- Xã Trung Hòa: Trung Hòa nằm về phía Tây nam và cách trung tâm huyện
Ngân Sơn khoảng 25km, giáp huyện Ba Bể.Có tổng diện tích tự nhiên 3.842 ha, dân
số 1.380 người/333 hộ, chia thành 11 thôn bản, kinh tế người dân dựa vào trồng trọt, chăn nuôi là chính nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn Địa hình của xã có độ chia cắt mạnh bởi hệ thống núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu,độ dốc bình quân 260-
300 Tỷ lệ hộ nghèo là 52,55%(UBND xã Trung Hòa, 2012)
Xã Trung Hòa là xã đạt được mức tiêu chí thấp 05 tiêu chí và đại diện cho
Trang 40nhóm xã có mức thu nhập thấp của huyện
● Mỗi xã nghiên cứu phỏng vấn 03 đại diện đoàn thể chính trị - xã hội ở từng
xã (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên), và 04 đại diện Ban chỉ đạo, Ban quản lý, cán bộ tham mưu quản lý xây dựng NTM Tổng số người phỏng vấn là 7
người/xã Tổng số phiếu cán bộ 03 xã nghiên cứu là 21 phiếu
● Tại mỗi xã phỏng vấn 03 thôn Tại mỗi thôn chọn mẫu 09 hộ để điều tra phỏng vấn (03 hộ nghèo, 03 hộ cận nghèo, 03 hộ không nghèo) Tổng số hộ điều
tra phỏng vấn ở mỗi xã là 27 hộ Tổng số hộ dân điều tra phỏng vấn ở 03 xã
nghiên cứu là 81 hộ
* Nội dung điều tra: Lấy ý kiến đánh giá của đoàn thể chính trị, cơ quan chuyên môn, đại diện Ban chỉ đạo và ban quản lý về kết quả, phương pháp huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới thời gian qua trên địa bàn huyện Ngân Sơn; Ý kiến đánh giá của người dân về những đóng góp của họ trong thời gian qua cho xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
Ngoài ra, nghiên cứu còn tham khảo ý kiến của các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, các cấp lãnh đạo trên địa bàn huyện Ngân Sơn để lấy ý kiến đánh giá, ý kiến tư vấn nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới của huyện
2.3.2 Phương pháp phân tích, đánh giá và xử lý
2.3.2.1 Phương pháp thống kê kinh tế
Phương pháp thống kê mô tả, so sánh được sử dụng để phân tích, phản ánh tình hình, thực trạng sự huy động nguồn lực vào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện; xác định tính hiệu quả của công tác huy động các nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới đã đạt được trong thời gian qua
2.3.2.2 Phương pháp giám sát đánh giá có sự tham gia
Phương pháp giám sát đánh giá có sự tham gia là để đánh giá thực trạng công tác huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới; so sánh mức độ hiệu quả của công tác huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới ở các điểm nghiên cứu khác nhau