1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn

128 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Huy Động Vốn Để Xây Dựng Nông Thôn Mới Tại Huyện Bắc Sơn, Tỉnh Lạng Sơn
Tác giả Mai Quỳnh Trọng
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Lan Anh
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 16/8/2016 thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 đưa ra mục tiêu chung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Lan Anh

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Giải pháp huy động vốn để xây

dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi và tôi chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Các số liệu nghiên cứu và nội dung trình bày trong luận vàn là trung thực chưa được bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều nêu rõ xuất xứ tác giả và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo Thông tin được thu thập và điều tra thực tế tại địa phương

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 3 năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Quỳnh Trọng

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt quá trình và hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Trước hết tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đối với Ban giám hiệu nhà trường, Khoa Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

đã tạo mọi điều kiện về tinh thần và vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và nghiên cứu

Có được kết quả này tôi vô cùng biết ơn và bày tỏ lòng kính trọng sâu

sắc đối với TS Nguyễn Thị Lan Anh người đã nhiệt tình hướng dẫn giúp đỡ

tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các đồng chí tại các địa điểm nghiên cứu Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình làm luận văn, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do trình

độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô và các nhà khoa học để tôi hoàn thành tốt hơn

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 3 năm 2019

Tác giả luận văn

Mai Quỳnh Trọng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan lý luận về huy động vốn xây dựng nông thôn mới 5

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản nông thôn và nông thôn mới 5

1.1.2 Tổng quan về vốn và huy động vốn 10

1.1.3 Nội dung của công tác huy động vốn để xây dựng nông thôn mới 18

1.1.4 Sự cần thiết phải huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới 22

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới 23

1.2 Thực tiễn về huy động các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương 30

1.2.1 Công tác huy động vốn để XDNTM tại huyện Sơn Động, Bắc Giang 30

1.2.2 Công tác huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 32

1.2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm cho huyện Bắc Sơn 33

1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Đặc điểm tự nhiên kinh tế, xã hội của huyện Bắc Sơn 37

Trang 6

2.2 Phương pháp nghiên cứu 45

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 45

2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 48

2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 48

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 Các chính sách trong huy động vốn cho xây dựng nông thôn mới ở huyện Bắc Sơn 49

3.1.1 Các chính sách nói chung 49

3.1.2 Chính sách của huyện Bắc Sơn 53

3.1.3 Quá trình triển khai cơ chế huy động vốn 54

3.2 Thực trạng huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 57

3.2.1 Tình hình huy động vốn 58

3.2.2 Kết quả huy động vốn theo các lĩnh vực đầu tư 66

3.2.3 Tình hình xây dựng nông thôn mới tại 03 xã tác giả nghiên cứu điểm 69

3.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn 80

3.2.5 Đánh giá chung về công tác huy động vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn 83

3.3 Mục tiêu thực hiện Chương trình xây dựng nông mới của huyện Bắc Sơn trong thời gian tới 88

3.3.1 Mục tiêu chung 88

3.3.2 Mục tiêu cụ thể 89

3.4 Nhiệm vụ, giải pháp thực hiện 89

3.4.1 Nhiệm vụ trọng tâm 89

3.4.2 Một số nhiệm vụ chủ yếu trong năm 2019 90

3.4.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh huy động vốn xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn 92

KẾT LUẬN 101

ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐND Hội đồng nhân dân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH Bảng:

Bảng 3.1: Cơ cấu vốn trong chương trình xây dựng NTM 50Bảng 3.2: Vốn ngân sách xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn 58Bảng 3.3: Nguồn vốn tín dụng huy động được để xây dựng nông thôn

mới huyện Bắc Sơn 60Bảng 3.4: Nguồn vốn huy động được từ doanh nghiệp để xây dựng nông

thôn mới huyện Bắc Sơn 61Bảng 3.5: Nguồn vốn huy động được từ cộng đồng để xây dựng nông

thôn mới huyện Bắc Sơn 63Bảng 3.6: Vốn huy động từ các nguồn tài trợ khác 65Bảng 3.7: Kết quả xây dựng nông thôn mới của 03 xã nghiên cứu 70Bảng 3.8: Sự hiểu biết của người dân về chương trình xây dựng nông

thôn mới 71Bảng 3.9: Đánh giá của cán bộ và người dân về việc triển khai xây dựng

NTM tại địa phương 72Bảng 3.10: Những công việc người dân tham gia vào xây dựng NTM tại

địa phương mình 73Bảng 3.11: Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của người

dân trong xây dựng NTM 74Bảng 3.12: Giá trị đóng góp bình quân/hộ cho xây dựng các công trình hạ

tầng thuộc chương trình xây dựng NTM của 03 xã nghiên cứu 76Bảng 3.13: Ý kiến của các hộ về việc huy động vốn cho chương trình xây

dựng nông thôn mới 78Bảng 3.14: Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động nguồn

lực đóng góp bằng tiền 79Bảng 3.15: Ý kiến của cán bộ xã, thôn về khó khăn trong huy động nguồn

lực đóng góp bằng đất đai 80

Hình:

Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính huyện Bắc Sơn 37

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Mục đích

- Đánh giá thực trạng huy động, sử dụng nguồn lực trong xây dựng

nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất một số giải pháp huy động nguồn lực trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lang Sơn thời gian tới

2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập từ các Nghị quyết, Quyết định, Kế hoạch, báo cáo…

+ Thu thập số liệu sơ cấp: Qua điều tra, phỏng vấn tại 3 xã Nhất Hòa,

Vũ Lăng, Chiến Thắng với tổng 180 phiếu (trong đó số cán bộ xã và cán bộ thôn điều tra phỏng vấn ở 3 xã là 30 cán bộ; số hộ dân điều tra phỏng vấn ở 3

xã nghiên cứu là 150 hộ)

- Phương pháp phân tích và xử lý:Gồm phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp giám sát đánh giá có sự tham gia, phương pháp tổng hợp tài liệu (thông tin sau khi thu thập được xử lý bằng chương trình Microsoft Excel)

3 Kết quả nghiên cứu

- Đánh giá được kết quả huy động nguồn lực về vốn, đất đai, lao động

so với kế hoạch đề ra Tính được trung bình, độ lệch chuẩn, độ biến động một số vấn đề liên quan đến ngân sách trực tiếp cho xây dựng nông thôn mới

ở địa phương

- Xác định những ảnh hưởng; điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xây dựng nông thôn mới của huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, giai đoạn 2014 - 2018

Trang 10

- Đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới

huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn thời gian tới

4 Kết luận

Luận văn phản ánh thực trạng xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đánh giá phân tích được kết quả đạt được trong huy động nguồn lực và những ảnh hưởng, cơ hội thách thức việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn Từ

đó đề xuất các giải pháp thực hiện chương trình, góp phần cho huyện thấy được một số bất cập, hạn chế việc huy động nguồn lực xây dựng nông thôn

mới những năm qua

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ hàng đầu nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết 26 - NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Thực hiện Nghị quyết 26, Nghị Quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 của Quốc hội về phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ - TTg ngày 16/8/2016 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 (thay thế Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010) Quyết định 1980/QĐ - TTg ngày 17/10/2016 về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã Nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), chính trị và an ninh quốc phòng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn

xã hội, được thực hiện trên phạm vi cả nước Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Do kết cấu hạ tầng nông thôn của nước ta còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ; nhiều hạng mục công trình được đầu tư lâu đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa đảm bảo; cơ

sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá,… còn hạn chế

Bắc Sơn, là huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Lạng Sơn, cách trung tâm thành phố Lạng Sơn 86 km Huyện Bắc Sơn có 19 xã và 01 thị trấn, với 219 thôn và khối phố, trong đó: Theo kết quả phân định khu vực, huyện Bắc Sơn còn 09 xã khu vực III và 10 thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn của khu vực

Trang 12

II; huyện có 11 xã được công nhận là xã An toàn khu trong thời kỳ kháng chiến chống Thực dân Pháp

Từ năm 2014 đến nay, Bắc Sơn đã triển khai và thực hiện xây dựng nông thôn mới ở tất cả các xã trên địa bàn huyện, trong đó tập trung xây dựng tại 5 xã thí điểm Đến năm 2018 chỉ có 5/19 xã về đích Mặt khác, Bắc Sơn là Huyện ATK theo Quyết định 2475/QĐ-TTg ngày 19/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ và là huyện có nhiều xã thuộc Chương trình 135 Do vậy để triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, huyện Bắc Sơn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc cần giải quyết, đó là nhu cầu vốn đầu tư quá lớn Theo đề án xây dựng nông thôn mới tại 19 xã của

huyện (giai đoạn 2011 - 2015 xây dựng 04 xã, giai đoạn 2016 - 2020 hoàn thành 06 xã) và 09 xã đạt từ 10 - 12 tiêu chí thì tổng nhu cầu vốn đầu tư là

3.392.701,2 triệu đồng Giai đoạn 2016 - 2020 nhu cầu vốn là 1.180.443,7 triệu đồng; trong đó vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ 734.593,1 triệu đồng, vốn tín dụng 234.709,6 triệu đồng, vốn đầu tư của doanh nghiệp 95.130,8 triệu đồng, vốn huy động của nhân dân đóng góp 116.010,2 triệu đồng Trong khi hiện nay Chính phủ đang thực hiện chủ trương thắt chặt chi tiêu công, nên vốn đầu tư của nhà nước vào vùng nông thôn rất hạn chế, theo số liệu tổng hợp vốn nhà nước đầu tư vào 19 xã của huyện trong 03 năm 2016 - 2018 chỉ đạt 620.491 triệu đồng Vì vậy, huy động vốn thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đang trở thành vấn đề bức thiết trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện Xuất phát từ thực tiễn, tác giả quyết định lựa chọn

đề tài: “Giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc

Sơn, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế nông nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá, phân tích thực trạng của việc huy động vốn đầu tư trong chương trình xây dựng nông thôn mới từ đó đưa ra

Trang 13

những giải pháp trong việc huy động vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác huy động vốn để xây dựng nông thôn mới ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn theo hướng hiệu quả, bền vững nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Công tác huy động vốn đầu tư trong xây dựng nông thôn

mới ở huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

- Phạm vi:

Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu tại huyện Bắc Sơn, tỉnh

Lạng Sơn, bao gồm 3 xã trọng điểm của huyện Bắc Sơn: xã Nhất Hòa, xã Vũ Lăng, xã Chiến Thắng

Phạm vi về nội dung: Phân tích thực trạng việc huy động các nguồn vốn

trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; qua đó đề xuất các giải pháp nhằm huy động các nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Trang 14

4 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Nghiên cứu, tìm hiểu các hạn chế còn tồn tại về việc huy động các nguồn vốn dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, cũng như kinh nghiệm của một

số địa phương khác về công tác huy động vốn để xây dựng nông thôn mới

- Trên cơ sở các tài liệu thu thập, tiến hành phân tích thực trạng công tác huy động vốn tại huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn để chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp về công tác huy động vốn XDNTM tai huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan lý luận về huy động vốn xây dựng nông thôn mới

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản nông thôn và nông thôn mới

1.1.1.1 Khái niệm nông thôn

Nông thôn là vùng sinh sống, làm việc của cộng đồng chủ yếu là nông dân, sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, là nơi có mật độ dân cư thấp, môi trường chủ yếu là thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kém phát triển, tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp Nông thôn được xem xét như một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Ở Việt Nam Dân số trung bình năm 2017 của cả nước ước tính 93,7 triệu người; Trong đó dân số nông thôn 60,8 triệu người, chiếm 64,9%;, mật

độ dân cư ít hơn 7.000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 58%, tức là tỷ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 42% trở lên

Có quan điểm lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác; phân biệt với đô thị Phát triển nông thôn: là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn

Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có

thể hiểu "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" [Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT]

Trang 16

1.1.1.2 Khái niệm và đặc trưng của nông thôn mới

* Khái niệm nông thôn mới:

- Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

- Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp

lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội

Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

số 491/QĐ-TTg về bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Ngày 17 tháng 10 năm 2016 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1980/QĐ-TTg về bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Từ bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 thay thế Quyết định số 491/QĐ-TTg chúng ta thấy nông thôn mới là nông thôn toàn diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế,

xã hội đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng

Ngày 16/8/2016 thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 đưa ra mục tiêu chung về xây dựng

mô hình nông thôn mới: “Xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp;

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi

Trang 17

trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững” [Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ]

Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm, giao thông nội đồng, hệ thống thủy lợi nội đồng, trường học, trạm y tế xã, trung tâm thể thao, nhà văn hóa xã, khu thể thao, nhà văn hóa thôn, bản, các công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư, cải tạo nghĩa trang, cảnh quan môi trường nông thôn, cải tạo, mở rộng, nâng cấp hệ thống lưới điện nông thôn; hoàn thiện, xây mới hệ thống chợ, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn theo quy định, hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản, phát triển sản xuất và dịch vụ, nâng cao chất lượng các tiêu chí đã đạt chuẩn, hỗ trợ cho xây dựng các trung tâm bán hàng hiện đại theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ

* Những đặc trưng cơ bản của nông thôn mới:

Một là đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng (xóm, bản),

xã: Làng, xã thực sự là một cộng đồng, trong đó công tác quản lý của nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính

tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hòa; các giá trị truyền thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh, trật tự xã hội,… nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn

Hai là đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những

điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ gắn bó lâu đời Trước hết tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống và canh tác tự cấp, thuần nông

Trang 18

sang sản xuất hàng hóa, dịch vụ, du lịch; để người dân có quyền “ly nông bất

ly hương”

Ba là nông thôn biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, môi trường sinh thái được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Vận dụng các công nghệ cao về quản lý, sinh học, các hoạt động kinh tế đạt hiệu quả Cơ cấu kinh tế nông nghiệp phát triển hài hòa, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế

Bốn là dân chủ nông thôn được mở rộng và đi sâu vào thực chất Các

chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước, tư nhân,…) tham gia tích cực trong mọi quá trình quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng

Người nông dân thực sự “được tự do và tự quyết định trên luống cày, thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho

mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Năm là nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, trí tuệ được nâng

lên, sức lao động được giải phóng, nhiệt tình cách mạng được phát huy Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng nông thôn mới Người nông dân có cuộc sống ổn định, trình độ văn hóa, khoa học - kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc phòng, nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh giàu đẹp [25]

1.1.1.3 Mô hình nông thôn mới và các tiêu chí nông thôn mới

Trang 19

Xây dựng mô hình nông thôn mới là mô hình phát triển cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan

hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí

Sự hình dung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu các thành tựu khoa học

kỹ thuật hiện đại mà vẫn giữ được nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa người dân Nhìn chung mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh

Mô hình nông thôn mới là tập hợp các hoạt động qua lại để cụ thể hóa các chương trình phát triển nông thôn; mô hình nhằm bố trí sử dụng các nguồn lực khan hiếm về tài chính, nhân lực, phương tiện, vật tư, thiết bị để tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ trong một thời gian xác định và thỏa mãn các mục tiêu

về kinh tế, xã hội và môi trường cho sự phát triển bền vững ở nông thôn

Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển, đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường, đạt hiệu quả cao trên tất cả các mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tiến bộ hơn so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước

Qua nghiên cứu cho thấy: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ mang tính tiên tiến về mọi mặt”

* Tiêu chí nông thôn mới:

Căn cứ Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2016

Trang 20

- 2020 Cụ thể bộ tiêu chí về xã nông thôn mới gồm 5 nhóm với 19 tiêu chí cụ thể như sau [19]:

- Nhóm tiêu chí về quy hoạch: Có 01 tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch

- Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội: Gồm 8 tiêu chí là giao thông, thủy lợi, điện, trường học, cơ sở vật chất văn hóa, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, nhà ở dân cư

- Nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất: Gồm 4 tiêu chí là: thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, tổ chức sản xuất

- Nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường: Gồm 4 tiêu chí là giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm

Theo nghĩa rộng vốn bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí

để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình

độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp Quan điểm này

Trang 21

có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường

Theo nghĩa hẹp vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia

Dưới dạng tiền tệ, vốn được định nghĩa là khoản tích lũy, tức là một phần thu nhập chưa được tiêu dùng Dưới dạng vật chất, vốn bao gồm các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, các công trình hạ tầng, các loại nguyên liệu, nhiên liệu, các sản phẩm trung gian, các thành phẩm Ngoài ra, còn có các loại vốn vô hình (bằng phát minh sáng chế, vị trí kinh doanh ), không tồn tại dưới dạng vật chất nhưng có giá trị kinh tế và cũng là những yếu tố vốn cần thiết cho quá trình phát triển Trong quá trình hoạt động của nền kinh tế, vốn luôn luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất cũng như từ hình thái vật chất sang hình thái tiền tệ

Ngày nay, do yêu cầu của sự phát triển, vốn không những là yếu tố quan trọng đối với quá trình sản xuất của các nước có nền kinh tế phát triển mà còn

là yếu tố khan hiếm đối với hầu hết các quốc gia đang và kém phát triển trên thế giới Vì vậy, phạm trù vốn luôn được các nhà kinh tế hiện đại quan tâm nghiên cứu và tiếp cận nó trên những phương diện khác nhau Đó là:

- "Vốn là một loại nhân tố "đầu vào" đồng thời bản thân nó lại là kết quả "đầu ra" của hoạt động kinh tế" [4]

- "Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi" [25]

- "Vốn là những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra Vốn là một trong bốn yếu tố sản xuất, bao gồm máy móc, nhà máy và nhà cửa là cái làm cho sản xuất trở thành hiện thực nhưng trừ nguyên liệu thô và có thể được coi như là giữ giá trị được tích trữ của những cái này" [2]

Từ những những khái niệm về vốn, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Trang 22

Thứ nhất, vốn là một trong những nhân tố không thể thiếu trong quá

trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ Nó góp phần tạo ra thu nhập, đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế

Thứ hai, vốn được biểu hiện bằng tiền Song, không phải tất cả tiền đều

là vốn Tiền là hình thái biểu hiện của vốn Trường hợp tiền để tiêu dùng hàng ngày, tiền để cất trữ không được coi là vốn Đó là các khoản để chi tiêu và tiền tiết kiệm để dành Chỉ có những đồng tiền được đảm bảo bằng tài sản thật, đưa vào đầu tư kinh doanh với mục đích sinh lời mới là vốn

Thứ ba, vốn không chỉ là lượng tiền mặt nhất định trực tiếp đầu tư sinh

lợi nhuận mà còn là đại diện về mặt giá trị cho những tài sản hữu hình và vô hình tham gia vào các quá trình sản xuất - kinh doanh

1.1.2.2 Cơ cấu nguồn vốn

Nguồn vốn trong nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng tựu chung lại có các loại: vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và vốn huy động từ cộng đồng dân cư

- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Được hình thành thông qua việc tiết kiệm của chính phủ Nói cách khác, phần tiết kiệm của chính phủ là phần tiết kiệm của ngân sách nhà nước Tiết kiệm của chính phủ thể hiện ở số chênh lệch giữa tổng số thu so với tổng số chi tiêu thường xuyên của ngân sách nhà nước Về bản chất, đây là nguồn vốn của ngân sách nhà nước chi cho phát triển kinh tế

Trong những năm trở lại đây, nguồn thu thuế từ ngân sách của Nhà nước ta không ngừng tăng lên nhờ mở rộng các nguồn thu Với khả năng huy động vốn trên, ngân sách nhà nước sẽ có điều kiện để tăng lượng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế nói chung và xây dựng nông thôn mới nói riêng

- Nguồn vốn tín dụng: Hình thành từ vốn tự có của ngân hàng, vốn huy động, vốn vay và các nguồn khác Nền kinh tế thị trường càng phát triển, nguồn vốn tín dụng càng trở thành nguồn vốn chủ yếu trong tổng vốn kinh

Trang 23

doanh của các chủ thể kinh tế Ở nước ta, nguồn vốn tín dụng được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng trong nhân dân Các hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm: Ngân hàng trung ương (Ngân hàng nhà nước), Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Trong đó: Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Việt Nam là ngân hàng chủ yếu cung ứng vốn tín dụng cho phát triển lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn Tuy nhiên, khả năng cấp tín dụng của các ngân hàng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được các tài trợ về đầu tư cơ bản Nguồn vốn huy động được chủ yếu mới cho vay ngắn hạn Vốn cho vay trung và dài hạn còn rất khiêm tốn

- Nguồn vốn của doanh nghiệp gồm: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh Nguồn này được hình thành từ tiết kiệm của doanh nghiệp, thể hiện ở phần lãi thuần được để lại dùng làm tăng vốn chủ sở hữu Ngoài ra, phần khấu hao cơ bản hàng năm cũng là nguồn để các doanh nghiệp đầu tư

- Nguồn vốn của dân cư: Đây là nguồn được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập của dân cư Thu nhập của dân cư được hình thành từ thu nhập trong kết quả lao động ở lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của các gia đình, cá nhân người lao động; thu nhập do thừa kế các loại thu nhập khác, như: tiền dư thừa trong quá trình trao đổi mua bán hàng hóa, tiền làm thêm trong khoảng thời gian nông nhàn, tiền trúng xổ số, tài sản của thân nhân từ nước ngoài gửi về Nói cách khác, nguồn vốn của dân cư là khoản tiết kiệm của họ Thực chất đó là phần dôi ra sau khi đã trừ chi tiêu của các hộ gia đình Trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm của dân cư là bộ phận chủ yếu và ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng trong việc hình thành tổng nguồn vốn đầu

tư của các quốc gia

Trang 24

Tóm lại: Cơ cấu nguồn vốn trong nước bao gồm: vốn ngân sách, vốn

tín dụng, vốn của doanh nghiệp, vốn cộng đồng dân cư Mỗi nguồn vốn đều

có đặc điểm, tầm quan trọng riêng Song, bản thân chúng là những yếu tố hợp thành nên tổng nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế Do đó, phải biết cách khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả

1.1.2.3 Các phương thức huy động vốn

Trong nền kinh tế thị trường, để có đủ vốn đầu tư, chủ đầu tư có thể và cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bằng những phương thức khác nhau Trên thực tế, có hai phương thức cơ bản để huy động vốn:

Một là, phương thức huy động vốn trực tiếp: Đó là phương thức chuyển

vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn một cách trực tiếp, thông qua thị trường chứng khoán mà không qua các trung gian tài chính Các nhà đầu tư có thể phát hành các cổ phiếu, trái phiếu thu hút vốn Ngược lại, các nhà đầu tư tài chính mua cổ phiếu, trái phiếu do các công ty hay Chính phủ ban hành, có thể rút vốn thông qua mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán Cụ thể là:

- Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước

Trái phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn, có mệnh giá và có lãi phát hành bao gồm các loại ký danh và vô danh, thời hạn

từ một năm trở lên tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và khả năng thu hồi vốn để trả nợ của doanh nghiệp nhà nước Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp nhà nước được Bộ Tài chính quy định và do doanh nghiệp nhà nước công bố theo từng đợt phát hành đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) với các chỉ số trượt giá và căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn của doanh nghiệp

Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ thừa nhận sự góp vốn và quyền sở hữu về vốn của chủ sở hữu cổ phiếu do doanh nghiệp nhà nước phát hành, nhằm góp vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp mới mà nhà nước là người sáng lập Cổ phiếu bao gồm các

Trang 25

loại ký danh và vô danh, phát hành dưới dạng chứng chỉ do Kho bạc nhà nước quy định theo mẫu Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước chỉ có một loại mệnh giá do doanh nghiệp nhà nước quy định sau khi đã được Bộ Tài chính chấp thuận Lợi tức cổ phần được thanh toán hàng năm vào cuối năm tài chính quy định, tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và theo Điều lệ hoạt động doanh nghiệp Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước được tự do mua bán, chuyển nhượng, thừa kế Việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các loại cổ phiếu,

ký danh và vô danh được thực hiện tại doanh nghiệp nhà nước, nơi phát hành

cổ phiếu và không phải chịu bất cứ khoản phí nào

Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước Về thực chất, đó là nhằm mục tiêu huy động tối đa vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, tạo điều kiện cho những người góp vốn, những người có cổ phần nâng cao vai trò làm chủ, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả Để huy động các nguồn vốn còn có

- Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ Trái phiếu Chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành (trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước không có ý nghĩa tác động trực tiếp đến việc giảm bội chi ngân sách Nhà nước) Trái phiếu Chính phủ được phát hành dưới các dạng: tín phiếu kho bạc Nhà nước, trái phiếu kho bạc Nhà nước

và trái phiếu công trình

+ Tín phiếu kho bạc nhà nước là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách tạm thời trong năm tài chính Số

dư nợ về trái phiếu kho bạc nhà nước đến cuối năm tài chính (31/12) chưa đến hạn thanh toán được tính là khoản vay bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước

và được hoàn trả trong năm tài chính tiếp theo

+ Trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi

Trang 26

+ Trái phiếu công trình có hai loại: trái phiếu chính phủ huy động vốn cho các công trình trung ương do Bộ Tài chính (Ngân sách Trung ương) bảo lãnh thanh toán Trái phiếu chính phủ bao gồm các loại ký danh và vô danh; phát hành dưới dạng chứng chỉ trái phiếu và có nhiều mệnh giá khác nhau, được ghi thu và thanh toán bằng đồng Việt Nam theo thời giá của cơ quan có thẩm quyền quy định

Lãi suất trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính công bố theo từng đợt phát hành, sau khi đã thỏa thuận với Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) có tính đến chỉ số trượt giá Mức lãi suất trái phiếu được xác định trên cơ sở tỷ lệ lạm phát và biến động giá cả theo từng thời kỳ do Tổng cục Thống kê công bố; lãi suất trái phiếu có thời hạn dài được quy định cao hơn lãi suất trái phiếu có thời hạn ngắn; nhu cầu huy động vốn và khả năng huy động trái phiếu

Ngoài ra còn có trái phiếu với lãi suất chỉ đạo, tổ chức đấu thầu chọn lãi suất phát hành là mức lãi suất đặt thầu tối đa cho các trái phiếu mà đơn vị tham gia đấu thầu có thể đặt thầu Mức lãi suất chỉ đạo được Bộ Tài chính công bố trong thông báo đấu thầu

Trong những giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, "Chính phủ chủ trương phát hành trái phiếu là để thực hiện chức năng đi vay (thực hiện tín dụng nhà nước) của Chính phủ, nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế để tạo vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách, tăng cường vốn cho đầu tư phát triển Chính phủ cần phải huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ và giao cho Bộ Tài chính phát hành" [13]

Hai là, phương thức huy động vốn gián tiếp: Đó là phương thức chuyển

vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn thông qua các trung gian tài chính, như: các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia Nội dung của phương thức này là thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi vào các trung gian tài chính, từ đó, các

Trang 27

trung gian tài chính cấp vốn cho những nơi cần vốn Việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn đã từng bước đáp ứng được các nhu cầu về vốn đầu tư Tuy nhiên, ở nước ta, việc huy động vốn thông qua các công ty bảo hiểm, công ty tài chính còn là loại hình mới mẻ Do đó, việc huy động vốn cho phát triển kinh tế nói chung, xây dựng nông thôn mới nói riêng chủ yếu được thực hiện qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín dụng

Các ngân hàng thương mại huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, phát hành kỳ phiếu ngân hàng thương mại, hình thành các quỹ tín dụng nhân dân Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện các phương thức huy động vốn mới, như: huy động vốn cổ phần xác lập và cổ phần thường xuyên từ các hộ sản xuất kinh doanh ở nông thôn Các Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Công thương đã hình thành hình thức huy động tiết kiệm xây dựng nhà ở với số vốn huy động hàng nghìn tỷ đồng Các loại trái phiếu ghi danh của các ngân hàng phát hành trên thị trường theo chủ trương của Nhà nước vào các thời điểm khác nhau đã khai thác được lượng vốn khá lớn

Về lãi suất: cơ chế điều hành lãi suất đã có sự thay đổi theo diễn biến cung cầu vốn trên thị trường Ở đây, thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo, hợp lý trong chính sách huy động các nguồn vốn của Đảng và Nhà nước cũng như của ngành Ngân hàng Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định số 211/QĐ/NH1 ban hành quy chế phát hành tín phiếu ngân hàng nhà nước và Quyết định số 212/QĐ/NH1 ban hành thể lệ phát hành trái phiếu ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn

Ngoài ra tín phiếu Ngân hàng nhà nước có lãi do Ngân hàng nhà nước phát hành nhằm tạo công cụ để điều hành thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách trong từng thời kỳ Đối tượng mua tín phiếu ngân hàng nhà nước

là các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh,… Việc mua tín phiếu Ngân hàng nhà nước, dựa

Trang 28

trên cơ sở tự nguyện, nhưng trong trường hợp cần thiết để phục vụ mục tiêu

ổn định tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước có thể quy định tỷ lệ mua tín phiếu ngân hàng nhà nước bắt buộc đối với các ngân hàng trên Tỷ lệ này được tính trên tổng vốn huy động của các ngân hàng [1]

Về bản chất, huy động vốn bằng trái phiếu ngân hàng là nguồn vốn dài hạn của các tổ chức tín dụng, không phải dành để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước mà chủ yếu để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, lao động, cho các dự án kinh tế Vì vậy, lãi suất của trái phiếu do các tổ chức tín dụng quy định phải dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu đồng vốn trên thị trường Nghĩa là lãi suất của trái phiếu phải linh hoạt, mềm dẻo để vừa khuyến khích được người gửi tiền dài hạn, chủ đầu tư (người vay)

có thể chấp nhận được; vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại

Tóm lại: Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại song hành hai

phương thức huy động vốn: trực tiếp và gián tiếp Hai phương thức huy động vốn này luôn hỗ trợ, bổ sung, tác động lẫn nhau nhằm thu hút tối đa và phân

bổ có hiệu quả các nguồn vốn theo tiêu chuẩn thị trường, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, đồng thời tạo ra những công cụ hữu hiệu trong quản lý vĩ

mô nền kinh tế của Nhà nước Ở nước ta, 2 phương thức huy động vốn trên đã được áp dụng Song, trên thực tế, phương thức huy động vốn gián tiếp vẫn là phổ biến Phương thức huy động vốn trực tiếp còn mới mẻ, nhưng theo đà phát triển của nền kinh tế, nó sẽ trở thành kênh huy động vốn quan trọng ở nước ta trong tương lai

1.1.3 Nội dung của công tác huy động vốn để xây dựng nông thôn mới

1.1.3.1 Các nguồn vốn cho công tác xây dựng nông thôn mới

Thực hiện huy động đa dạng hóa và lồng ghép các nguồn vốn để triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới, bao gồm:

- Vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án

hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo gồm: Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo

Trang 29

bền vững giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc; Chương trình quốc gia về du lịch; Chương trình phát triển các hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng giai đoạn 2016 - 2020; Chương trình quốc gia đảm bảo cấp nước an toàn; Chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo; Chương trình hỗ trợ ứng dụng chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi dân tộc thiểu số; Chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động; Chương trình phòng, chống mại dâm; Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới; Chương trình phát triển trí tuệ; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; Chương trình phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng…; đầu tư kiên cố hóa trường, lớp học; kiên cố hóa kênh mương; phát triển đường giao thông nông thôn; phát triển cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp công nghệ cao…

- Vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp của chương trình này, bao gồm cả trái phiếu Chính phủ (nếu có); Huy động tối đa nguồn lực của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức triển khai Chương trình Huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; doanh nghiệp được vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được ngân sách nhà nước hỗ trợ sau đầu tư và được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật; các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân trong xã cho từng dự án cụ thể, do HĐND xã thông qua; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; sử dụng

có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng

- Vốn đầu tư của Nhà nước được Trung ương phân bổ cho các tỉnh, thành phố theo chương trình kiên cố hóa kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp ở nông thôn

Trang 30

1.1.3.2 Cơ chế đầu tư

Chủ đầu tư các dự án xây dựng công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn của các xã là Ban Quản lý đầu tư xây dựng huyện do UBND huyện quyết định Đối với các công trình như hỗ trợ phát triển nhỏ UBND huyện giao cho UBND các xã làm chủ đầu tư có sự hướng dẫn của các phòng, ban chuyên môn của huyện

Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các xã, thôn, các công trình đầu tư cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật, trong đó phải nêu rõ tên công trình, mục tiêu đầu tư, địa điểm xây dựng, quy mô kỹ thuật công trình, thời gian thi công, thời gian hoàn thành, nguồn vốn đầu tư và cơ chế huy động nguồn vốn kèm theo thiết kế, bản vẽ thi công và dự toán; Đối với các công trình do xã làm chủ đầu tư cần lập hồ sơ gửi về Ban quản lý đầu tư xây dựng huyện thẩm định và lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế, bản vẽ thi công và dự toán phải do đơn vị tư vấn có tư cách pháp nhân thực hiện Việc lựa chọn tư vấn phải theo quy định hiện hành

Trong quá trình chuẩn bị đầu tư cần tiến hành lấy ý kiến tham gia của cộng đồng dân cư về báo cáo kinh tế - kỹ thuật và thiết kế, bản vẽ thi công và

dự toán các công trình cơ sở hạ tầng UBND huyện là cấp quyết định đầu tư, phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật

Lựa chọn nhà thầu: Việc lựa chọn nhà thầu xây dựng cơ sở hạ tầng các công trình thực hiện theo đúng Luật đấu thầu

Khuyến khích thực hiện hình thức giao cho cộng đồng dân cư hưởng lợi trực tiếp từ công trình tự thực hiện xây dựng

Ban giám sát cộng đồng gồm đại diện của HĐND, Ủy ban nhân dân,

Ủy ban MTTQ xã, các đoàn thể và đại diện của cộng đồng dân cư hưởng lợi công trình do dân bầu thực hiện giám sát các công trình cơ sở hạ tầng xã theo quy định hiện hành về giám sát đầu tư của cộng đồng

Trang 31

1.1.3.3 Nguyên tắc hỗ trợ

Đối với tất cả các xã, hỗ trợ 100% từ ngân sách nhà nước cho: Công tác quy hoạch; xây dựng trụ sở xã; kinh phí cho công tác đào tạo kiến thức về xây dựng nông thôn mới cho cán bộ xã, cán bộ thôn bản, cán bộ hợp tác xã

Đối với các xã thuộc Chương trình 135, xã An toàn khu, hỗ trợ tối đa 100% từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm

xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung …

Đối với các xã còn lại, hỗ trợ một phần từ ngân sách nhà nước cho: Xây dựng đường giao thông đến trung tâm xã, đường giao thông thôn, xóm; giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng; xây dựng trường học đạt chuẩn; xây dựng trạm y tế xã; xây dựng nhà văn hóa xã, thôn, bản; công trình thể thao thôn, bản; xây dựng công trình cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; phát triển sản xuất và dịch vụ; hạ tầng các khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho từng nội dung, công việc cụ thể, bảo đảm phù hợp với thực tế và yêu cầu hỗ trợ của từng địa phương

Mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho các địa phương căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội để bố trí phù hợp với quy định tại Nghị quyết 26 TW 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ưu tiên hỗ trợ cho các địa phương khó khăn chưa tự cân đối ngân sách, địa bàn đặc biệt khó khăn và những địa phương làm tốt

Chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) không quy định bắt buộc nhân dân đóng góp, chỉ vận động bằng các hình thức thích hợp để nhân dân tự

Trang 32

nguyện đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương Nhân dân trong xã bàn bạc mức tự nguyện đóng góp cụ thể cho từng dự án, đề nghị Hội đồng nhân dân xã thông qua

Hộ nghèo tham gia trực tiếp lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế

- xã hội của địa phương được chính quyền địa phương xem xét, trả thù lao theo mức phù hợp với mức tiền công chung của thị trường lao động tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương Ủy ban nhân dân xã xem xét, quyết định mức thù lao cụ thể

1.1.4 Sự cần thiết phải huy động vốn trong xây dựng nông thôn mới

Huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn là huyện miền núi nghèo có kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự đảm bảo nhu cầu; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở

xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố không đều, kinh tế hộ gia đình kém phát triển

Do sản xuất ngành nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá trong sản xuất chưa đồng bộ

Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn yếu Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có

Trang 33

việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo đạt thấp; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao

Đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn một số nhà tạm Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch

Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần

3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa

Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn chậm phát triển, nông dân chưa được trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật Hiện nay, đòi hỏi phải có sự huy động và gắn kết mạnh mẽ hơn nữa các nguồn vốn để đảm bảo Chương trình XDNTM đạt hiệu quả cao theo kế hoạch

đã đề ra

1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới

1.1.5.1 Các yếu tố tác động bên trong

* Chính sách của Nhà nước và địa phương ban hành

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về kinh tế và xã hội cho phát triển nông nghiệp và nông thôn, nhiều chủ trương, chính sách phù hợp đã phát huy hiệu quả thiết thực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn

- Chính sách về đất đai: Trong các chính sách đối với vùng nông thôn thì chính sách về đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng, Luật Đất đai năm

2013 đã khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý, Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài,

Trang 34

người sử dụng đất có quyền được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp và được bồi thường thiệt hại trong trường hợp đất bị thu hồi, chính sách ruộng đất đã quy định trách nhiệm và quyền sử dụng đất, việc giao quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân đã khơi dậy tính năng động và giải phóng sức sản xuất, tạo cho người nông dân yên tâm, chủ động sản xuất, tạo ra năng xuất cao hơn, tuy nhiên từ việc thực hiện chủ trương giao đất đến hộ sản xuất cũng gây khó khăn cho việc tích tụ đất để có thể sản xuất lớn trong thời gian tới đây

- Chính sách tín dụng: Chính phủ quan tâm có nhiều chính sách về tín dụng cho vùng nông thôn, đặc biệt quan tâm đến hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu

số đặc biệt khó khăn, Nhân dân được tiếp cận các nguồn vốn vay phát triển sản xuất thông qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện, vốn vay cho học sinh, sinh viên Các chính sách tín dụng của Nhà nước góp phần quan trọng giải quyết khó khăn về vốn phát triển sản xuất, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, tuy nhiên

do hạn mức vốn vay trên 01 hộ còn thấp, nên hộ nông dân khó có điều kiện về vốn sản xuất lớn

- Chính sách về đầu tư, hỗ trợ: Chính sách Nhà nước về đầu tư, hỗ trọ cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân đã và đang phát huy những tác dụng tích cực, Nhà nước quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn như đường giao thông, cấp điện, nước sạch nông thôn, thủy lợi, trường lớp học, trạm y tế… Thời gian qua đầu tư hạ tầng vùng nông thôn chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước Tuy nhiên do nhu cầu đầu tư quá lớn, nhất là địa bàn miền núi, đường đi lại khó khăn, dân cư sống thưa thớt; nói chung cơ sở hạ tầng nông thôn còn nhiều bất cập Nhà nước cũng có nhiều chính sách hỗ trợ cho sản xuất đối với đông bào ở khu vực nông thôn nhất là hộ nghèo, hộ cận nghèo; Tuy nhiên qua thực tế một số chính sách còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập như đầu tư cho hạ tầng nông thôn do nhu cầu đầu tư lớn nhất là đối với

Trang 35

địa bàn miền núi nếu theo cách làm vừa qua “Nhà nước và Nhân dân cùng làm” chỉ huy động được một phần rất nhỏ nội lực trong dân, Nhân dân chưa

chủ động làm thì không thể thành công, một số chính sách hỗ trợ trực tiếp đến

hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn tuy đã có tác động giúp đỡ bộ phận dân nghèo bớt khó khăn, có nhiều hộ gia đình đã thoát được nghèo, bên cạnh đó còn có một bộ phận nhân dân sống hưởng thụ chính sách vẫn còn tư tưởng ỷ lại chông chờ Nhà nước, có tư tưởng không muốn thoát nghèo để tiếp tục được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước, hiệu quả thực hiện chính sách này chưa cao; đối với việc doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn, chính sách của Nhà nước chưa thực sự khuyến khích như về tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế giá trị gia tăng; trong huy động sức dân tham gia xây dựng nông thôn mới với các chủ trương, chính sách

trước đây đều thực hiện theo chủ trương “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”

và khi thực hiện chủ yếu thực hiện bằng vốn Nhà nước, người dân có tư tưởng

ỷ lại Nhà nước, thường là huy động đóng góp của Nhân dân rất khó khăn hoặc đạt mức thấp so với tiêu chí đặt ra, vì vậy về cơ chế huy động sức đóng góp

của Nhân dân trong thời gian tới phải xoay theo hai hướng “Nhân dân làm còn Nhà nước hỗ trợ” mới có thể thành công trong xây dựng nông thôn mới

Tóm lại cơ chế, chính sách của Nhà nước có vai trò rất quan trọng , nếu không phù hợp thì có thể kìm hãm, làm chậm sự phát triển, còn nếu phù hợp với yêu cầu thực tiễn thì nó góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khai thông các nguồn lực cho sự phát triển, đòi hỏi trong thời gian tới Nhà nước phải bãi bỏ một số chính sách không phù hợp, tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số chính sách đã có nhưng có nội dung không còn phù hợp hoặc ban hành các cơ chế, chính sách mới cần thiết cho yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn

1.1.5.2 Các yếu tố tác động bên ngoài

Mục tiêu phát triển KT-XH được đặt ra là một trong những yếu tố tác động đến công tác huy động vốn đầu tư ở mỗi địa phương Việc huy động vốn

Trang 36

đầu tư để XDNTM đều phải nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển dài hạn hay ngắn hạn, mục tiêu cao hay thấp Do vậy, các mục tiêu đặt ra phải sát với thực

tế, phù hợp với các nguồn lực của địa phương thì việc huy động vốn đầu tư trong XDNTM có hiệu quả Đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; Khuyến khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất 01 huyện đạt chuẩn nông thôn mới Bình quân cả nước đạt

15 tiêu chí/xã; cả nước không còn xã dưới 5 tiêu chí; Cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn: giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã

Hiện nay, ở nhiều địa phương với mục tiêu kết thúc năm 2020, các xã XDNTM sẽ hoàn thành cơ bản bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Do xuất phát điểm thấp, phần lớn các xã XDNTM trong điều kiện khó khăn, nên bài toán khó đặt ra cho các xã thực hiện thí điểm XDNTM là làm sao phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân một cách bền vững và hiệu quả Cơ sở hạ tầng nông thôn thấp kém, nguồn vốn hạn hẹp khiến việc thực hiện các tiêu chí đòi hỏi nhu cầu cần nhiều vốn rất khó Với những địa phương đang gặp khó khăn như vậy, vấn đề huy động vốn từ người dân hầu như không có, những địa phương này không thu hút được nhà đầu tư trong khi nguồn vốn từ nhà nước hạn chế Do đó mục tiêu đặt ra không thực hiện được không chỉ ảnh hưởng đến quá trình thực hiện nông thôn mới mà còn ảnh hưởng đến tâm lý nhà quản lý cũng như sẽ không có được sự ủng hộ của người dân Vấn đề tiếp tục huy động nguồn lực để thực hiện nông thôn mới sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Do đó khi đặt ra mục tiêu phát triển KT-XH cần phải xác định rõ được những vấn đề tồn tại, những điểm mạnh, những hạn chế để đưa mục tiêu cho phù hợp với từng địa phương Các địa phương cần xác định, xây dựng nông thôn mới là cuộc vận động lâu dài chứ không chỉ là ngày một ngày hai, việc đề ra mục tiêu để dễ phấn đấu chứ không phải mốc cuối cùng của việc XDNTM mà đặt ra

Trang 37

* Tiềm năng của các nguồn lực

Phải có nguồn lực thì mới xây dựng triển khai và thực hiện được các bước trong Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong đó vấn đề huy động vốn đầu tư để thực hiện chương trình phải được đặt lên hàng đầu

Đất đai, tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực dân cư, nguồn lực của doanh nghiệp, nguồn lực của ngân sách địa phương là các nguồn lực có giới hạn

Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp, quỹ đất nhiều, ít, tốt hay xấu, vị trí thuận lợi hay không là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, mặt khác phân bổ quỹ đất để sản xuất thường không đồng đều nhất là ở vùng miền núi làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất nông nghiệp, có vùng rất nhiều đất sản xuất, có vùng về địa hình, thổ nhưỡng khó đổi sang các cây trồng khắc với cây trồng truyền thống

Nguồn lực của doanh nghiệp, nguồn lực dân cư, nguồn lực ngân sách tuy hữu hạn, từng địa phương nguồn lực lại khác nhau, có địa phương nguồn lực này mạnh, địa phương nguồn lực kia yếu, tuy nhiên để nguồn lực phát huy tốt cho sự phát triển kinh tế xã hội địa phương thì phụ thuộc rất nhiều ở khả năng của địa phương đó về đánh giá nguồn lực, giải pháp để phát huy, sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả

Về khí hậu có thể gây tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, đối với những địa phương có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau (như tiểu vùng khí hậu nóng ẩm, tiểu vùng khí hậu mát mẻ,…) nếu biết tranh thủ lợi ích từ yếu tố này thì có thể giúp cho địa phương có thể phát triển đa dạng các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với thời tiết khí hậu và có hiệu quả kinh tế cao như có thể đưa cây trồng ôn đới trồng ở vùng có khí hậu mát mẻ quanh năm sẽ tạo ra sản phẩm lợi thế với những nơi khác, tránh chồng các loại cây chịu lạnh kém ở vùng có khí hậu ôn đới,…

Tiềm năng phải được xác định, nguồn lực nếu có thể phát huy được định lượng, để từ đó xác định khả năng khai thác trong cùng thời kỳ một cách

có hiệu quả, đạt yêu cầu đặt ra

Trang 38

* Năng lực của các cấp tham gia huy động vốn đầu tư để xây dựng nông thôn mới

Chính quyền cấp huyện, xã là chính quyền Nhà nước ở cấp địa phương

có vai trò đặc biệt quan trọng, là nền tảng của bộ máy Nhà nước, là công cụ

để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của cộng đồng dân cư trên địa bàn, thực tế cho thấy đội ngũ cán bộ ở địa phương có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng cầu nối giữa Đảng với Nhân dân, là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức cho Nhân dân thực hiện các đường lối Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thực tế cho thấy đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự phát triển các phong trào Cách mạng của quần chúng nhân dân, có thể nói sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự ổn định xã hội, sự phát triển sâu rộng và hiệu quả của các phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân luôn gắn liền với năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ Trong xây dựng nông thôn mới đòi hỏi nguồn lực rất lớn từ các nguồn nội lực và ngoại lực; trong đó việc huy động nguồn lực trên địa bàn, nguồn lực trong nhân dân đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nếu không có đội ngũ cán bộ nhiệt huyết, có năng lực phẩm chất tốt để chuyền tải và tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến nhân dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn, bất cập, không thể tạo được phong trào mạnh mẽ trong xây dựng nông thôn mới và sẽ rất khó khăn, trong việc huy động các nguồn lực, cũng như việc sử dụng, phát huy hiệu quả các nguồn nội lực cho xây dựng nông thôn

mới, như Bác Hồ nói “Cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”

Trang 39

* Điều kiện phát triển hạ tầng

Cơ sở hạ tầng, như: hệ thống đường, điện, trường, trạm, hệ thống thủy lợi, y tế, giáo dục có ảnh hưởng không nhỉ đến huy động nội lực của địa phương, giao thông vận tại thuận lợi sẽ giúp giảm chi phí vận tải, giảm chi phí đầu vào sản xuất, thuận lợi trong việc lưu thông hàng hóa, Trên thực tế hiện nay hệ thống nông thôn ở nước ta, nhất là ở miền núi còn chậm phát triển, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu, hệ thống thủy lợi cần được đầu tư cho sản xuất nông nghiệp rộng sẽ giúp cho sản xuất bền vững và hiệu quả hơn

Xuất phát điểm là nền nông nghiệp chậm phát triển, nên việc ứng dụng khoa học công nghệ là yếu tố quan trọng hàng đầu để nâng cao năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường, đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới thì việc đưa ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông thôn phải được quan tâm hàng đầu, cùng với việc đưa doanh nghiệp, đưa vốn đầu tư vào vùng nông thôn, sẽ giúp cho việc khai thác

và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực xây dựng nông thôn mới Trong sản xuất nông nghiệp nước ta việc đưa ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất còn chậm, nhất là vùng miền núi, hệ thống giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí thấp, sản xuất chủ yếu theo truyền thống, năng xuất cây trồng thấp, để phát triển sản xuất nhất là trong triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới thì yêu cầu của việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất trong tất cả các khâu, giống, chăm sóc, bảo quản, chế biến

và yêu cầu nâng cao trình độ dân trí để có khả năng tiếp thu và ứng dụng được khoa học kỹ thuật

Xây dựng nông thôn mới yêu cầu phải tập trung các nguồn lực để đầu

tư, nâng cấp, cải tạo cơ sở hạ tầng nông thôn một cách đồng bộ và nghiên cứu úng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ vào sản xuất mới đáp ứng được mục tiêu kế hoạch đề ra

Trang 40

1.2 Thực tiễn về huy động các nguồn vốn để xây dựng nông thôn mới ở một số địa phương

1.2.1 Công tác huy động vốn để XDNTM tại huyện Sơn Động, Bắc Giang

Sơn Động là huyện nằm ở cuối tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp huyện Đình Lập của tỉnh Lạng Sơn và huyện Ba Chẽ của tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp huyện Hoành Bồ, thành phố Uông Bí và thị xã Đông Triều của tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp hai huyện Lục Ngạn và Lục Nam cùng thuộc tỉnh Bắc Giang Có diện tích 845,7717 km² với dân số là 72.930 người Huyện có 2 thị trấn và 21 xã, là huyện giáp vơi vùng kinh tế phát triển của tỉnh Quảng Ninh, (2018)

Từ khi bắt tay vào thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, nhìn chung sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Sơn Động còn manh mún, lạc hậu, hạ tầng nông thôn xuống cấp, thiếu đồng bộ Người dân không mặn mà với sản xuất nông nghiệp, không mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất

để giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và là huyện được đầu tư Nghị quyết số: 30a/2008/NQ-CP Vì thế, khi thực hiện XDNTM, Sơn Động xác định công tác tư tưởng, tuyên truyền để tạo sự đồng thuận trong nhân dân phải đi trước một bước Huyện đã tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền, như các buổi nói chuyện chuyên đề, lồng ghép với các hoạt động văn hóa, văn nghệ; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu XDNTM Cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc Người dân được trực tiếp tham gia góp ý vào quá trình XDNTM, từ xây dựng đề án quy hoạch, lập phương án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển kinh tế đến việc lựa chọn các tiêu chí, dự án cần làm trước, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, khả năng huy động vốn của địa phương để thực hiện, tạo động lực thực hiện các tiêu chí tiếp theo

Sơn Động xác định xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn là tiền đề phát triển KT-XH Huyện đã phát huy dân chủ cơ sở, vận dụng sáng tạo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, người dân hưởng lợi, trong đó mạnh

Ngày đăng: 06/04/2022, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. "Các giải pháp tài chính khuyến khích tăng trưởng kinh tế", Tạp chí Tài chính 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp tài chính khuyến khích tăng trưởng kinh tế
2. Chu Văn Cấp (1994), "Khuyến khích đầu tư trong nước", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến khích đầu tư trong nước
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 1994
4. Trần Văn Chử (chủ biên) (1999), Kinh tế học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học phát triển
Tác giả: Trần Văn Chử (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1999
5. Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung (2012), “Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 262, tháng 8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị”, "Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung
Năm: 2012
6. Mai Thanh Cúc (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc
Năm: 2005
7. Nguyễn Sinh Cúc và CS (2012), Chương trình xây dựng nông thôn mới sau hai năm thí điểm, Báo Hà Nội mới, ngày 26/01/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình xây dựng nông thôn mới sau hai năm thí điểm
Tác giả: Nguyễn Sinh Cúc và CS
Năm: 2012
8. Phạm Vân Đình và CS (1997), Kinh tế nông nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình và CS
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
9. Hồ Xuân Hùng (2012), “Về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Cộng sản, số 832, tháng 2/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 2012
18. Quyết định số 1730/QĐ-TTg, ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới
20. Quyết định số 22/QĐ-TTg, ngày 05/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển văn hóa nông thôn đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
24. Đặng Kim Sơn (Chủ nhiệm đề tài) (2009), Đề tài “Một số vấn đề về nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới”, Hà Nội, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, tháng 12/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài “Một số vấn đề về nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới”
Tác giả: Đặng Kim Sơn (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2009
25. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, năm 2000, 1126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
27. Trần Minh Yến (Chủ biên) (2013), Xây dựng nông thôn mới - Khảo sát và đánh giá, Nxb Khoa học Xã hội, 2013, 192 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới - Khảo sát và đánh giá
Tác giả: Trần Minh Yến (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2013
28. Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh, "Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay (trực tuyến)", Tại chí Cộng sản, Địa chỉ:http://www.tapchicongsan.org.vn/home/nong-nghiep-nong-thon/2008/1625/xây-dụng-mo-hinh-nong-thon-moi-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay (trực tuyến)
3. Chỉ thị số 10-CT/HU ngày 04/4/2013 của BTV Huyện ủy Bắc Sơn về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới Khác
10. Kế hoạch số 30/KH-BCĐTW-VPĐP ngày 20/5/2011 của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới về tuyên truyền Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn giai đoạn 2010-2020 Khác
11. Kế hoạch số 41/KH-UBND, ngày 27/02/2017 của UBND tỉnh Lạng Sơn về thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020 Khác
12. Kế hoạch số 435/KH-BCĐXDNTM ngày 20/9/2010 của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình Mục tiêu Quốc gia XDNTM về việc triển khai Khác
13. Nghị định số 72/NĐ-CP ngày 26/7/1994 của Chính phủ ban hành quy chế phát hành trái phiếu của Chính phủ Khác
14. Nghị quyết số 20-NQ/TU, ngày 12/8/2011 của BTV Tỉnh ủy Lạng Sơn về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ địa giới hành chính huyện Bắc Sơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Hình 2.1 Bản đồ địa giới hành chính huyện Bắc Sơn (Trang 47)
c) Tình hình phát triển kinh tế - xã hội - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
c Tình hình phát triển kinh tế - xã hội (Trang 52)
Bảng 3.1: Cơ cấu vốn trong chương trình xây dựng NTM Nguồn vốn Tỷ lệ %  Phương thức huy động - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.1 Cơ cấu vốn trong chương trình xây dựng NTM Nguồn vốn Tỷ lệ % Phương thức huy động (Trang 60)
- Vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác. - Vốn đóng góp của cộng đồng dân cư - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
n từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác. - Vốn đóng góp của cộng đồng dân cư (Trang 68)
Bảng 3.3: Nguồn vốn tín dụng huy động được để xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.3 Nguồn vốn tín dụng huy động được để xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn (Trang 70)
Bảng 3.4: Nguồn vốn huy động được từ doanh nghiệp để xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.4 Nguồn vốn huy động được từ doanh nghiệp để xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn (Trang 71)
Bảng 3.5: Nguồn vốn huy động được từ cộng đồng để xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.5 Nguồn vốn huy động được từ cộng đồng để xây dựng nông thôn mới huyện Bắc Sơn (Trang 73)
Bảng 3.6: Vốn huy động từ các nguồn tài trợ khác - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.6 Vốn huy động từ các nguồn tài trợ khác (Trang 75)
Bảng 3.7: Kết quả xây dựng nông thôn mới của 03 xã nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.7 Kết quả xây dựng nông thôn mới của 03 xã nghiên cứu (Trang 80)
Bảng 3.8: Sự hiểu biết của người dân về chương trình xây dựng nông thôn mới - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.8 Sự hiểu biết của người dân về chương trình xây dựng nông thôn mới (Trang 81)
Bảng 3.9: Đánh giá của cán bộ và người dân về việc triển khai xây dựng NTM tại địa phương - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.9 Đánh giá của cán bộ và người dân về việc triển khai xây dựng NTM tại địa phương (Trang 82)
Bảng 3.10: Những công việc người dân tham gia vào xây dựng NTM tại địa phương mình (n = 150) - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.10 Những công việc người dân tham gia vào xây dựng NTM tại địa phương mình (n = 150) (Trang 83)
Bảng 3.11: Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM (n = 30) - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.11 Ý kiến đánh giá của cán bộ xã, thôn về sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM (n = 30) (Trang 84)
NTM hiện nay mới chỉ mang tính chất hình thức chứ chưa phải là vì lợi ích của bản thân họ - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
hi ện nay mới chỉ mang tính chất hình thức chứ chưa phải là vì lợi ích của bản thân họ (Trang 86)
Bảng 3.13: Ý kiến của các hộ về việc huy động vốn cho chương trình xây dựng nông thôn mới - (LUẬN văn THẠC sĩ) giải pháp huy động vốn để xây dựng nông thôn mới tại huyện bắc sơn, tỉnh lạng sơn
Bảng 3.13 Ý kiến của các hộ về việc huy động vốn cho chương trình xây dựng nông thôn mới (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w