Chỉ có một vài năm gần đây các doanh nghiệp bắt đầu phát triển cho nên tiền gửi của tổ chức kinh tế mới bắt đầu phát triển nhưng từ năm 2008 sang năm 2009 thì tiền gửi kinh tế lại giảm m
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: 7
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 7
CHƯƠNG 2 20
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN YÊN LẠC 20
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN YÊN LẠC 20
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của của chi nhánh : 21
(Nguồn : Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo Yên Lạc) 23
Huy động vốn của NH Đồng văn tăng đều hằng năm , năm 2008 tăng 2.25% so năm 2007 và năm 2009 tăng 0.67% so năm 2008 Số dư tiền gửi tiết kiệm cao hơn các hình thức huy động khác , đặc biệt so tiền gửi các tổ chức kinh tế , điều này có lợi cho ngân hàng vì số dư trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm có thời gian dài và ổn định hơn tiền gửi của tổ chức kinh tế Và tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng rất đều đặn qua các năm cho thấy hướng đi đúng đắn trong phương pháp huy động vốn của ngân hang Vì Ngân hang có địa bàn hoạt động ở nông thôn cho nên thường là chỉ có dân cư gửi tiền tiết kiệm và thường là gửi có kì hạn Chỉ có một vài năm gần đây các doanh nghiệp bắt đầu phát triển cho nên tiền gửi của tổ chức kinh tế mới bắt đầu phát triển nhưng từ năm 2008 sang năm 2009 thì tiền gửi kinh tế lại giảm mạnh là do các doanh nghiệp trong thời gian đó vốn lưu động cũng rất khan hiếm do ảnh hưởng có khủng hoảng kinh tế nên tiền mặt của các tổ chức kinh tế được sủ dụng lien tục và gần như không có số dư trong tài khoản 23
Và trong thời điểm hiện nay khi mà nhiều ngân hang thương mại đã mở chi nhánh về tận các địa phương thì việc độc quyền của ngân hang nông nghiệp đã không còn như trước nữa vì vậy để có thể đảm bảo về nguồn vốn huy động được ngân hang đã có những biện pháp rất kịp thời để có thể giữ được tăng trưởng về nguồn vốn như là có những biện pháp khuyến mãi để thu hút tiền gửi của khách hang mới và ưu đãi đối với các khách hang cũ Đặc biệt gần đây bắt đầu từ ngày 19/03/2010 lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hang đã tăng một cách đáng kể từ mức lãi suất 9.0% - 9.8% lên 10% - 10.48% 23
2.1.2.2 : Sử dụng vốn : 23
Bảng 2 : Tình hình sử dụng vốn 23
2.2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng : 25
Bảng 11 : Doanh số cho vay ,thu nợ 30
Đơn vị: Triệu đồng 30
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HIỆN NAY CỦA NHNo&PTNT YÊN LẠC 30
2.3.1 Kết quả đạt được .30
2.3.3 Những tồn tại trong công tác tín dụng 33
2.3.3.1 Nguyên nhân tồn tại: 34
37 CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO
Trang 2CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN YÊN LẠC 37
3.1- PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN YÊN LẠC 37
3.1.1- Phương hướng phát triển kinh tế của địa phương : 37
3.1.2 Định hướng tín dụng của NHNo&PTNT Yên Lạc năm 2010 37
3.2.1 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NHNo&PTNT YÊN LẠC 39
3.2.1.1 Xây dựng chiến lược khách hàng, chiến lược kinh doanh phù hợp tạo cơ sở đầu tư tín dụng .39
3.2.1.2 Đổi mới qui trình thẩm định tín dụng 40
3.2 1.4 Tăng cường công tác quản lý nợ, giải quyết nợ quá hạn (Nợ xấu) 41
3.2.1.5 Đa dạng hoá các hình thức tín dụng, tư vấn cho khách hàng về xây dựng các phương án, dự án SXKD 42
3.2.1.6 Tăng cường hiệu lực công tác kiểm tra, kiểm soát 43
3.2.1.8 Tăng cường mối quan hệ với cấp uỷ, chính quyền địa phương 45
3.2.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 46
3.2.2.1 Với nhà nước và chính quyền địa phương 46
3.2.2.2 Đối với ngân hàng nhà nước 50
3.2.2.3 Đối với Ngân hàng nông nghiệp và phát triển Việt Nam 50
.51
KẾT LUẬN 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Năm 2006 là năm đánh dấu mốc son lịch sử với đất nước ta , đó là năm chúng ta đã thực sự là thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO và Việt nam đã thành công tốt đẹp hội nghị các nhà lãnh đạo cấp cao, các thành viên kinh tế OPEC 14 tại thủ đô Hà nội đã khẳng định được vị thế của mình với bè bạn thế giới Trải qua 20 năm đổi mới đất nước (1986-2006) chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trên các mặt Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ X xác định quá trình công nghiệp hoá , hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế ,với nước ta gần 80% dân số sống ở nông thôn, hơn 68% lao động nông nghiệp sản xuất hàng hoá chưa phát triển Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm sâu sắc tới vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, từng bước đổi mới chuyển dịch cơ cấu , vừa đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của khu vực , vừa tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, đẩy mạnh các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và nâng cao đời sống ở nông thôn Đáp ứng được hội nhập và phát triển kinh tế, nhiệm vụ của mọi ngành với chức năng hoạt động của mình Trong đó NHNo&PTNT Việt Nam là một trong những thành viên cung cấp tín dụng chủ yếu cho đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn.Và trong mây nắm qua thực sự NHNo&PTNT thực sự đã làm tốt nhiệm vụ của mình trong công cuộc giúp phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng chưa an toàn và chất lượng chưa cao đang là mối quan tâm không chỉ đối với các cấp lãnh đạo, các giới quản lý và điều hành của hệ thống Ngân hàng mà còn là mối quan tâm của xã hội
Bởi vậy việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng của các NHTM đạt hiệu quả cao nhất và phục vụ tốt nhất cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đang là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa quan trọng và quyết định cả về mặt thực tiễn
và lý luận hiện nay
Với đề tài "Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Yên Lạc, Huyện Yên lạc , Tỉnh Vĩnh Phúc"qua đó em muốn
đưa ra một số giải pháp và kiến nghị góp phần giải quyết vấn đề bức xúc đó vào công tác kinh doanh để có hiệu quả hơn
Trang 62 Mục đích nghiên cứu của đề tài :
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng của NHTM, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng thực tế ở NHNo&PTNT Yên Lạc, Huyện Yên lạc, Tỉnh Vĩnh phúc, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại địa bàn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn hoạt động tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Yên Lạc, Huyện Yên lạc ,Tỉnh Vĩnh Phúc
4 Kết cấu đề tài gồm:
Nội dung của đề tài được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng về chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Yên Lạc , Huỵện Yên Lạc , Tỉnh Vĩnh phúc
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Yên Lạc , Huyện Yên lạc , Tỉnh Vĩnh Phúc.
Để hoàn thành đề tài này em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của thầy : Lê Đức Lữ và các cán bộ trong chi nhánh ngân hàng Yên Lạc
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài nghiên cứu trên rộng lớn và phức tạp, bản thân còn nhiều hạn chế về trình độ và kinh nghiệm nên bản đề tài không tránh khỏi những thiếu xót Em rất mong nhận được sự góp ý của các
thầy cô giáo để đề tài này của em được hoàn thiện hơn
Trang 7đà tiến triển kinh tế-xã hội)
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trên thế giới thì NHTM là một doanh nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và tín dụng
Theo Peter S.Rose: ''Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dich vụ tài chính da dạng nhất-đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm
và các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.''
Theo luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày
12/12/1997 “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”
1.1.2 Các hình thức tín dụng của NHTM
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một
số tiêu thức nhất định Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ro tín dụng Trong quá trình phân loại có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại, song thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại tín dụng theo các tiêu thức sau đây:
1.1.2.1.Theo mục đích sử dụng tiền vay và của người vay
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:
- Tín dụng đối với người sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại cấp tín
dụng cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu thông hàng hoá
Trang 8Nguồn trả nợ của hoạt động này là kết quả hoạt động kinh doanh Vì vậy Ngân hàng cần phải có đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng của mình, về
phương án sản xuất kinh doanh của họ Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cho
các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hoá lâu bền như máy giặt, điều hoà, tủ lạnh .ở đây, nguồn trả nợ là thu nhập trong tương lai của người vay
Với cách phân loại này, ngân hàng sẽ có quy trình nghiệp vụ cụ thể để đảm bảo ngân hàng có đủ tiền để cho vay và thu hồi nợ theo đánh giá mức độ rủi ro và mức lãi xuất được đặt ra cho từng loại
1.1.2.2 Theo thời hạn sử dụng tiền vay của người vay
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:
- Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng mà thời điểm trả nợ được xác
định cụ thể Đó có thể là một năm, hai năm,
+Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và được
sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân Với loại tín dụng này, ít có rủi
ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn ít có biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng có thể dự tính được
+Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ một năm đến năm năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh Loại tín dụng này có mức độ rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng
dự đoán được những biến động có thể xảy ra
+Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên năm năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng( đường xá, bến cảng, sân bay ), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không lường trước được
- Tín dụng không thời hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn hoàn trả tiền vay
không được xác định khi ký hợp đồng vay mà thay vào đó là điều kiện về việc thu hồi khoản tiền cho vay của ngân hàng hoặc việc trả nợ của người vay Ví dụ ngân hàng không thu gối theo thời hạn nhất định mà chỉ thu lãi; người vay sẽ trả
nợ cho Ngân hàng khi nhu cầu vay thêm không cần thiết nữa do quy mô sản xuất giảm hoặc doanh nghiệp lấy nguồn khác để tự bổ xung; ngân hàng muốn thu hồi gốc phải báo trước cho người vay Như vậy khi quy mô sản xuất của doanh nghiệp tăng lên, doanh nghiệp sẽ đi vay không thời hạn (vì hết tiền đầu tư cho chu kỳ sản xuất kinh doanh này lại cần tiếp)
1.1.2.3 Theo điều kiện đảm bảo
Trang 9Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:
- Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như
thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba Ngân hàng nắm giữ tài sản của người vay để xử lý thu hồi nợ khi người vay không thực hiện được các nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng tín dụng Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức tín dụng này vẫn có độ rủi ro cao vì tài sản có thể
bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản thế chấp,
cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Muốn vậy, ngân hàng phải đánh giá hiệu quả sử dụng tiền vay của người vay, khách hàng không được phép giao dịch với bất kỳ ngân hàng nào khác Mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng mà không cần đảm bảo
1.1.2.4 Theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay
Căn cứ vào tiêu thức này, tín dụng được chia làm hai loại:
- Cho vay bằng đồng bản tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho
khách hàng bằng VND Nước ta quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì chỉ được vay bằng VND
- Cho vay bằng ngoại tệ: Là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho
khách hàng bằng đồng ngoại tệ Nước ta quy định, cho vay bằng ngoại tệ
chỉphục vụ cho nhập khẩu; đối với khách hàng thu mua hàng xuất khẩu thì Ngân hàng cho vay bằng ngoại tệ nhưng phải bán luôn cho ngân hàng và dùng VND
đi mua hàng xuất khẩu
1.1.2.5 Theo đối tượng tín dụng
Căn cứ vào tiêu thức này, người ta chia tín dụng ra làm hai loại:
- Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: Là loại tín dụng được
sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời Đây là loại tín dụng có mức
độ rủi ro thấp vì vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu
kỳ sản xuất kinh doanh nên Ngân hàng có thể theo dõi thường xuyên và nếu có biến động xảy ra thì kịp thời thu hồi vốn
- Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định: Là loại tín dụng được sử
dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới Hình thức tín dụng này thường có mức độ rủi ro cao vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn
1.1.2.6 Ngoài ra tín dụng còn được phân chia theo các cách sau
Theo xuất xứ của tín dụng có:
Trang 10- Tín dụng gián tiếp
- Tín dụng trực tiếp
Theo đối tượng được cho vay có:
- Tín dụng cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác vay
- Tín dụng cho nhà nước vay
- Tín dụng cho người tiêu dùng vay
Dựa vào các cách phân loại trên, các nhà phân tích sẽ biết được kết cấu tín dụng của từng loại tín dụng (là tỷ trọng của từng loaị tín dụng trên tổng dư nợ) Từ kết cấu tín dụng đó, so sánh với kết cấu nguồn huy động, so với nhu cầu của nền kinh tế, sẽ giúp cho các nhà phân tích đánh giá, xem xét kết cấutín dụng
đã phù hợp với ngân hàng chưa Từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp
1.2 Chất lượng tín dụng của NHTM
1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng của NHTM
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng là điều tất yếu Trong
ba yếu tố: chất lượng, giá cả và lượng hàng bán thì chất lượng tín dụng là yếu tố quan trọng nhất, vì chất lượng được nâng lên, giá thành sẽ hạ, đảm bảo thỏa mãn cho khách hàng cả về chất lượng, giá cả, tạo điều kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường Các nhà kinh tế nói đến chất lượng bằng nhiều cách: chất lượng
là “sự phù hợp với mục đích hoặc sự sử dụng”, là “ một trình độ dự kiến trước về
độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường”; hoặc theo Hiệp hội tiêu chuẩn hóa Pháp (tiêu chuẩn NFX50-104) thì “ chất lượng là năng
lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu của người sử dụng” Với cách đề cập như vậy, có thể hiểu: Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng( người gửi tiền và người đi vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Chất lượng tín dụng được thể hiện:
- Đối với ngân hàng thương mại: phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng
phải phù hợp với thực lực bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi
- Đối với khách hàng: tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử
dụng vốn của khách hàng, với lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận tiện thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng
- Đối với sự phát triển kinh tế- xã hội: tín dụng phục vụ sản xuất và
lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
Trang 11Qua đó ta có thể rút ra:
• Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể ( thể hiện qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn…) vừa trừu tượng (thể hiện khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế…) Chất lượng tín dụng chịuởng bởi các nhân tố chủ quan ( khả năng quản lý, trình độ cán bộ, sự tuân thủ quy trình nghiệp vụ…) và khách quan ( sự thay đổi của môi trường bên ngoài, sự cố ý của khách hàng…) Khuynh hướng phát triển của nền kinh tế, sự thay đổi của giá cả thị trường cũng như môi trường pháp lý đều ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
• Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại
• Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách hàng tốt; thủ tục đơn giản, thuận tiện; mức độ an toàn của vốn tín dụng; chi phí tổng thể về lãi suất, chi phí nghiệp vụ…
• Chất lượng tín dụng không tư nhiên mà có, nó là kết quả của một quy trình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức với nhau vì một mục đích chung
1.2.2 Các chỉ tiêu biểu hiện chất lượng tín dụng của NHTM
Trang 12Theo qui định của ngân hàng Nhà nước hiện tại thì dư nợ tối đa của một khách hàng không vượt quá 15% vốn chủ sở hữu của Ngân hàng, qui định này nhằm đảm bảo tính an toàn trong hoạt động của Ngân hàng.
Mức dư nợ trung và dài hạn cho chúng ta biết được hiện tại phần vốn mà ngân hàng cho vay chưa thu về Cho biết cơ cấu cho vay của Ngân hàng, nếu tỷ
lệ này quá cao cần phải điều chỉnh phù hợp với năng lực của Ngân hàng Phản ánh khẳ năng đáp ứng các nhu cầu các nguồn vốn của Ngân hàng đối với nhu cầu sử dụng trong nền kinh tế
1.3.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư
Một trong các chỉ tiêu trong khi xem xét và đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại là chỉ tiêu cơ cấu vốn đầu tư Việc phân tích cơ cấu vốn đầu tư chính là việc xem xét đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh
tế chưa Trên cơ sở đó, các ngân hàng thương mại có thể quyết định qui mô, tỷ trọng đàu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an toàn vốn cho vay vừa có thể thu lợi nhuận cao nhất
1.3.2.3.Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Đây là một chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, giải quyết hợp lý giữa ba lợi ích: Nhà nước, khách hàng và ngân hàng
Công thức tính vòng quay vốn tín dụng được xác định như sau:
Vòng quay Doanh số thu nợ
của vốn =
tín dụng Dư nợ bình quân
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng (thường là một năm) Hệ số này càng tăng phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao
Trang 131.3.2.4.Chỉ tiêu lợi nhuận tín dụng
Tỷ lệ đầu tiên chúng ta xét là tỷ lệ lợi nhuận từ tín dụng trên tổng dư nợ tín dụng :
Từ lợi nhuận tín dụng cũng cho thấy vai trò của tín dụng trung và dài hạn trong hoạt động của Ngân hàng:
Lợi nhuận thực tế từ cho vay
Lợi nhuận dư thu từ cho vay
Qua công thức trên ta có thể so sánh được tỷ lệ lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay so với hoạt động tín dụng trong Ngân hàng Ta có thể biết được hiệu quả của việc cho vay khoản vay của Ngân hàng và tỷ trọng của cho vay trong tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng của ngân hàng
xử lý với một mức lãi suất cao hơn bình thường Trên thực tế những khoản vay quá hạn thường có vấn đề, có khả năng mất vốn, có tính an toàn thấp
Với hoạt động chính là cho vay thì việc gặp rủi ro là điều không thể tránh khỏi trong quá trình hoạt động của ngân hàng Tuy nhiên nếu khoản nợ quá hạn vượt quá một mức độ nào đó thì nó đã gây ra nguy hiểm trong hoạt động của ngân hàng Ngân hàng sẽ không thu được nợ điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khẳ năng thanh khoản, nếu nhẹ thì ngân hàng bị
Trang 14giảm thu nhập mất uy tín với khách hàng( một điều quan trọng của ngân hàng), nếu tình trạng mất khả năng thanh khoản kéo dài ngân hàng sẽ bị phá sản Nếu
tổ chức tín dụng nào có khoản vay được xếp vào nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá
là có chất lượng tín dụng thấp
1.3.2.6 Chỉ tiêu huy động vốn của ngân hàng
Chỉ tiêu này được tính như sau:
1.2.3.1 Những nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Trong thực tế quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại, chúng ta thấy trong cùng một thời gian, ở cùng một thị trường nhưng có ngân hàng thương mại chất lượng tín dụng cao, tổn thất ít nhưng có ngân hàng thương mại gặp khó khăn, tổn thất tín dụng lớn và mức độ khó khăn cũng rất khác nhau Thậm chí có ngân hàng thương mại tổn thất tín dụng quá lớn, không khắc phục được buộc phải phá sản Trong khi đó có một số ngân hàng thương mại khác lại tăng trưởng tín dụng chiếm lĩnh thị trường, hiệu quả tín dụng cao Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, nhưng nhân tố quyết định phải có khả năng lớn nhất, có tính quyết định trong việc phòng ngừa, ngăn chặn được rủi
ro tín dụng do các nhóm nguyên nhân gây ra Có hai nhân tố cơ bản, đó là:
- Chất lượng cán bộ tín dụng
Trong mọi lĩnh vực, con người là yếu tố quyết định Vâng đó là một chân
lý song ở đây xin được cụ thể là việc đảm bảo chất lượng tín dụng trước hết phải
do chính những người trực tiếp làm tín dụng ( cán bộ tín dụng) quyết định Cán
bộ tín dụng hàng ngày phải xử lý nghiệp vụ có tính biến động liên quan đến nhiều lĩnh vực, nghành nghề kinh tế; gặp gỡ trực tiếp với nhiều loại khách hàng; đối mặt với nhiều loại cám dỗ; có nhiều cơ hội có thể thực hiện được những hành vi để vụ lợi… Vì vậy, người cán bộ tín dụng cần phải được tuyển chọn cẩn thận, được bố trí hợp lý, được quan tâm giáo dục rèn luyện… và phải đảm bảo một số tiêu chuẩn cơ bản sau:
+ Phải có kiến thức, trình độ nghiệp vụ cơ bản:
Trang 15Cán bộ tín dụng cần phải được đào tạo kiến thức nghiệp vụ cơ bản về tín dụng ngân hàng một cách chính quy ở trình độ đại học hoặc cao đẳng Hiện nay chúng ta có rất nhiều loại hình đào tạo ở các hình thức, chương trình, thời gian khác nhau nên tất yếu có nhiều loại chất lượng khác nhau Vì vậy khi tuyển chọn cán bôn tín dụng cần có sự phân biệt rõ ràng và cần chọn những người học chính quy dài hạn vì: Một mặt để được học hệ chính quy, những người đó cần phải có chỉ số thông minh nhất định Mặt khác, phương pháp và chất lượng đào tạo ở cấp học chính quy dài hạn sẽ tạo cho người học có lượng kiên thức cơ bản nhiều hơn, sâu hơn các loại đào tạo khác.
Trong quá trình làm việc, cán bộ tín dụng cần phải có tinh thần học hỏi, nghiên cứu học tập nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức để phù hợp được sự vận động và phát triển của xã hội Nhiều cán bộ tín dụng yếu cả về nghiệp vụ chuyên môn, cả về kiến thức xã hội, pháp luật nên xử lý nghiệp vụ còn lúng túng, đại khái
+ Phải có đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp cao:
Người cán bọ tín dụng hơn bao giờ hết phải có đạo đức tốt, không thể bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, phải có sự nghiệp, danh dự bản thân và lợi ích của ngân hàng là trên hết Bên cạnh đó, còn phải có trách nhiệm nghề nghiệp rất cao mới có thể xử lý tốt công việc được giao Thể hiện có trách nhiệm cao trong việc tìm tòi, học hỏi nghiệp vụ, trách nhiệm cao trong từng công việc dám làm dám chịu trách nhiệm với cách xử lý của mình
Thực tế đã có một số cán bộ tín dụng đã không có đạo đức nghề nghiệp, lợi dụng cương vị, quyền hạn để lừa đảo, cấu kết với khách hàng để lừa đảo lấy tiền ngân hàng Cũng có một số cán bộ mặc dù không vụ lợi nhưng thiếu tinh thần trách nhiệm trong xử lý nghiệp vụ, làm theo chỉ đạo của người khác hoặc vì tình cảm của cá nhân mà bỏ qua các quy trình, tiêu chuẩn tín dụng nên gây thất thoát, chất lượng tín dụng kém
+ Phải có lản lĩnh, kinh nghiệm nghề nghiệp:
Nhưng để có kinh nghiệm và xác định được bản lĩnh của một cán bộ cần phải có thời gian Vấn đề này đề cập đến việc cán bộ tín dụng cần phải có tinh thần tự học hỏi, rèn luyện và ngân hàng thương mại phải có chính sách đào tạo trong quá trình hoạt động thực tế Đồng thời khi giao việc cho cán bộ tín dụng cần chú ý đến kinh nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp tương xứng với tính khó khăn, phức tạp của công việc cán bộ tín dụng phụ trách
Trong thời gian vừa qua, khi nhiều vụ tiêu cực trong hoạt động tín dụng
bị xử lý, đã có không ít cán bộ tín dụng có tư tưởng co cụm, không muốn đầu tư,
an phận thủ thường Đó là những người bản lĩnh kém, là một trong những nguyên nhân làm cho các ngân hàng thương mại không tăng trưởng được tín
Trang 16dụng, thậm chí có khả năng giảm sút Trong khi đó, có một số chi nhánh của tổ chức tín dụng, cán bộ tín dụng vẫn tự tin, cẩn trọng mở rộng đầu tư tín dụng, thu hút khách hàng và đảm bảo chất lượng tín dụng, mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh, mở rộng thị trường và nâng cao được uy tín trên thương trường.
- Chất lượng thông tin.
Trong nền kinh tế thị trường, ai nắm bắt được nhiều thông tin chính xác, kịp thời hơn, người đó sẽ chiến thắng trong cạnh tranh Tronh hoạt động tín dụng, ngân hàng bỏ tiền ra chủ yếu dựa trên lòng tin Lòng tin đó có chính xác hay không phụ thuộc vào chất lượng các thông tin có được Để việc đầu tư tín dụng có chất lượng, hiệu quả, giảm thiểu rủi ro, ngân hàng phải có được và phân tích, xử lý chính xác rất nhiều thông tin liên quan Có hai loại nhóm thông tin sau:
+ Thông tin phi tài chính: là những thông tin không phải từ những cuốn
sổ sách, số hiệu tài chính Chúng có rất nhiều loại phong phú và bao gồm cả thông tin trực tiếp và thông tin gián tiếp Loại thông tin trực tiếp như quy cách,
uy tín, năng lực quản lý, năng lực sản xuất- kinh doanh, quan hệ xã hội, gia đình kinh tế… của người vay( hoặc người được bảo lãnh); cung cầu, giá cả, thị trường… của đối tượng được cấp tín dụng Loại thông tin gián tiếp như tình hình kinh tế, xã hội, thông tin về xu hướng phát triển khả năng cạnh tranh của nghành nghề Những yếu tố có thể thay đổi hay ảnh hưởng đến khu vực, dự án…trong tương lai
+ Thông tin tài chính: bao gồm các thông tin liên quan đến tình hình tài
chính như: khả năng tài chính, kết quả kinh doanh trong quá khứ, công nợ, nhu cầu vốn hợp lý, kết quả sản xuất- kinh doanh của phương án, khả năng trả nợ, giá trị tài sản thế chấp…
Yêu cầu của thông tin là chính xác, đầy đủ, kịp thời Để đạt được yêu cầu đó, phải có rất nhiều kênh thông tin khác nhau Trong thực tế, ở Việt Nam chúng ta rất khó khăn trong việc tìm thông tin một cách chính xác, kịp thời Đã
có nhiều khoản đầu tư bị rủi ro,thất thoát do thiếu thông tin như khách hàng dùng một tài sản, thậm chí một dự án để đi vay cùng một lúc nhiều ngân hàng thương mại; khách hàng dùng giấy tờ giả, phương án giả để xin vay; khách hàng thông đồng với nhau để đảo nợ, thành lập các công ty con hoặc công ty chỉ có danh nghĩa để lqà đảo vay vốn ngân hàng…
Một ngân hàng có được hai yếu tố cơ bản trên, tức là có đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, có tư cách đạo đức, bản lĩnh, kinh nghiệm nghề nghiệp và nắm được mạng lưới thông tin có chất lượng cao, chắc chắn sẽ phát triển tốt Song để
có được chúng, không phải là công việc một sớm một chiều mà phải trải qua quá
Trang 17trình lâu dài với bao khó khăn, vướng mắc Thành công chỉ đến với các ngân hàng thương mại coi đó là chiến lược lâu dài, thường xuyên, phải được đầu tư xứng đáng và phải có các bước thực hiện phù hợp.
1.2.3.2 Nhóm nhân tố thuộc về phía khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng sử dụng có hiệu quả, mang lại lợi ích cho ngân hàng góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng Một khách hàng có đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàn trả đầy đủ những khoản vốn vay của Ngân hàng kho đến hạn, qua đó đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng và tín dụng Những nhân tố này bao gồm:
- Trình độ khả năng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của doanh nghiệp
Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, đạo đức tốt sẽ có khả năng đưa
ra chiến lược kinh doanh, cạnh tranh phù hợp giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển Doanh nghiệp làm ăn tốt là điều kiện để bù đắp chi phí kinh doanh và trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi đúng hạn, qua đó giảm rủi ro và nâng cao chất lựng tín dụng trình độ năng lực cán bộ của doanh nghiệp là điều kiện quan trọng và được ngân hàng xem xét kỹ trước khi cấp tín dụng
- Tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Hiện nay, các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh bó hẹp trong một phạm
vi nhỏ, số lượng mặt hàng ít mà họ thường kinh doanh đa dạng các mặt hàng,
mở rộng mạng lưới tiêu thụ ra nhiều khu vực lãnh thổ, từ các tỉnh thành phố trong nước ra các nước trong khu vực và thế giới Sự hình thành mạng lưới hoạt động phức tạp như thế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự tổ chức srn xuất và tiêu thụ hợp lý Tổ chức tốt việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm la yếu tố giúp quá trình tái sản xuất diễn ra được thông suốt, nhanh chóng, tăng khả năng quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là sự đảm bảo cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trên cơ sở nhận định một cách khách quan, chính xác khả năng phát triển sản xuất của doanh nghiệp, thị hiếu của người tiêu dùng với sản phẩm của doanh nghiệp mình cùng với những yếu tố thuận lợi, khó khăn của môi trường, doanh nghiệp sẽ quyết định kế hoạch chiến lược mở rộng thu hẹp hay ổn định sản xuất,
từ đó xây dựng các kế hoạch cụ thể về sản xuất, tiêu thụ Việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh đúng đắn quyết định đến sự thành công hay thất bại của một doanh nghiệp
- Vốn- khả năng tài chính của doanh nghiệp
Trang 18Có nhiều nhóm chỉ tiêu khác nhau biểu hiện tình hình tài chính, khả năng độc lập tài chính của doanh nghiệp như nhóm chỉ tiêu về khă năng thanh toán, nhóm chỉ tiêu hoạt động, nhóm chỉ tiêu cơ cấu vốn, nhóm chỉ tiêu về lợi nhuận Ngoài ra khi xem xét về tình hình tài chính ngân hàng còn quan tâm đến luồng tiền vào, luồng tiền ra, dự trữ ngân quỹ… Khả năng tài chính tốt là điều kiện để doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư mua sắm thiết bị tiên tiến, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, chiếm lĩnh thị trường và đem lại lợi nhuận lớn, hoạt động tốt là điều kiện để doanh nghiệp trả nợ cho ngân hàng.
- Tư cách, đạo đức của người vay
Tư cách đạo đức xét trên phương diện ý muốn hoàn trả khoản nợ vay, trong nhiều trường hợp người vay có ý muốn chiếm đoạt vốn, không hoàn trả nợ vay mặc dù có khả năng trả nợ, điều này đã gây ra những rủi ro không nhỏ cho ngân hàng
Tóm lại qua việc xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
ta thấy tùy theo điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện về pháp lý của từng nước mà những nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng tín dụng Vấn đề là phải nắm vững những nhân tố ảnh hưởng và vận dụng sáng tạo trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể thì sẽ nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố khách quan
1.2.3.3 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Khi nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tín dụng ngân hàng pháp triển Nền kinh tế ổn định, lạm phát thấp không có khủng hoảng, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành tốt, có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao, doanh nghiệp hoàn trả được vốn vay ngân hàng cả gốc và lãi thì hoạt động tín dụng của ngân hàng phát triển, chất lượng tín dụng được nâng cao Ngược lại trong thời kỳ suy thoái kinh tế, sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm sút, lạm phát cao, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Hoạt động tín dụng ngân hàng giảm sút về quy mô và chất lượng
Mức độ phù hợp giữa lãi suất ngân hàng với mức lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, lợi tức của ngân hàng thu được bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay ngân hàng, nên với mức lãi suất cao các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng không có khả năng trả nợ ảnh hưởng tới sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng và tới toàn bộ nền kinh tế nói chung Hoạt động tín dụng ngân hàng lúc này không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và chất lượng tín dụng cũng giảm sút
Trang 19Ngoài ra những sự biến động về lãi suất thị trường, tỷ giá thị trường cũng ảnh hưởng trực tiếp đến lãi suất của ngân hàng Bài học tư cuộc khủng hoảng tài chính Đông Nam Á cho thấy sự mất giá của đồng nội tệ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng ngân hàng.
1.2.3.4 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý được hiểu là một hệ thống luật và văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
Trong nền kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước, pháp luật có vai trò quan trọng, là một hàng rào pháp lý tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh tế, nhà nước, cá nhân công dân, bắt buộc các chủ thể tuân theo
Nhân tố pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, đó là sự đồng bộ thống nhất của hệ thống pháp luật, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật và cơ chế đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh triệt để
Quan hệ tín dụng phải được pháp luật thừa nhận, pháp luật quy định cơ chế hoạt động tín dụng, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng lành mạnh, phát huy vai trò đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời duy trì hoạt động tín dụng được ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tham gia tín dụng Những quy định pháp luật về tín dụng phải phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế xã hội, trên cơ sở đó kích thích hoạt động tín dụng có hiệu quả hơn
Hiện nay, hệ thông văn bản pháp luật chưa đồng bộ, gây khó khăn cho ngân hàng khi kí kết thực hiện hợp đồng tín dụng luật ngân hàng còn nhiều sơ
hở, chưa đồng bộ với các văn bản luật khác Điều này nhr hưởng đến việc quản
lý chất lượng tín dụng ngân hàng
Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước cũng gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp Cơ cấu kinh tế, chính sách xuất nhập khẩu, do thay đổi đột ngột, gây xáo động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm hay chưa có phương án sản xuất kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi, chất lượng tín dụng giảm sút
Trang 20CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN YÊN LẠC
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN YÊN LẠC.
2.1.1 Sơ lược tình hình phát triển của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Yên Lạc.
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ)trên cơ sở tiếp nhận từ Ngân hàng Nhà nước tát cả các chi nhánh của Ngân hàng nhà nước huyện, Phòng tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng nhà nước tỉnh, thành phố.Đội Ngũ Ngân hàng nông nghiệp được hình thành trên cơ sở tiếp nhân Vụ Tín dụng Nông Nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ vụ tín dụng thương nghiệp.Khi thành lập Ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn so với các ngân hàng thương mại khác, cơ sở vật chất và công cụ làm việc còn nghèo nàn lạc hậu Ngân hàng nông nghiệp khi đó được coi là một ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật
Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quyết định số 603/NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc ngân hàng nông nghiệp gồm co 3 Sở giao dịch( Sở giao dịch 1 tại
Hà Nôi, Sở giao dịch 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Sở giao dịch 3 tại Văn phòng Miền Trung) và 43 chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp Tỉnh Vĩnh Phúc đã được thành lập trong thời gian này.Và sau
đó 4 năm thì NHNo&PTNT Huyện Yên Lạc đã được thành lập
NHNo&PTNT huyện Yên Lạc được thành lập theo quyết định 498 của tổng giám đốc NHNo Việt Nam, là chi nhánh trực thuộc đơn vị thành viên(NHNo tỉnh Vĩnh Phúc), bước vào hoạt động từ ngày 01/01/1996 với biên chế có 35 CBNV, nguồn vốn 3,1 tỉ, dư nợ 12,7 tỉ, cơ sở vật chất nghèo nàn(trước đây vốn là trụ sở của một Phòng giao dịch thuộc NHNo Vĩnh Lạc cũ)
Trang 21Môi trường hoạt động trong địa bàn huyện có 17 xã(trong đó có 1 thị trấn
và 16 xã) với diện tích tự nhiên gần 10.670 ha, dân số 143 ngàn người, với 31 ngàn hộ, 78 ngàn lao động Tuy là huyện thuần nông, khó khăn về cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông Song là một huyện ổn định về An ninh – Chính trị, có sự phát triển kinh tế với tốc độ khá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế tích cực, có 4 tụ điểm kinh tế lớn ( So tại huyện ) và giao thương kinh tế phát triển Đặc biệt là trong một vài năm gần đây khi mà giao thông đường bộ được chú ý cải tạo và phát triển,nhiều con đường liên huyện được nâng cấp to đẹp hơn thì giao thương kinh tế lại càng phát triển mạnh mẽ Điều này đã kích thích quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện trở nên nhanh hơn, nhiều người đã chuyển từ kinh
tế thuần nông sang trồng trọt kết hợp với chăn nuôi Nhiều gia đình tại các làng nghề chuyên tâm vào sản xuất sản phẩm chuyên biệt mà không phải chỉ là làm vào ngày nông nhàn rỗi như trước vì vậy nhu cầu sử dụng vốn đã tăng một cách nhanh chóng trong những năm qua
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của của chi nhánh :
Khách hàng của NHNo&PTNT đồng văn chủ yếu là hộ nông dân với số lượng lớn nhưng suất đầu tư nhỏ Vài năm gần đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế số lượng khách hàng vay vốn đã tăng lên , mức đầu tư cũng đã tăng dần vì trên địa bàn đã bắt đầu xuất hiện các doanh nghiệp làm ăn kinh doanh có nhu cầu vay vốn rất lớn
Tuy vậy, hoạt động TD chủ yếu là trên địa bàn nông thôn, các sản phẩm sản xuất ra đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố tự nhiên như : đất đai, thời tiết, khí hậu Điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh thường xuyên đe doạ cuộc sống , mùa màng và chăn nuôi của nông dân.Vì vậy rủi ro trong quá trình hoạt động tín dụng ngân hàng là rất lớn
Tổng nguồn vốn hoạt động đến 31/12/2009 đạt tổng nguồn vốn (không kể ngoại tệ) của NHNo&PTNT Yên Lạc đạt 232.244.5 tỷ đồng,tăng 0.67 tỷ so với cùng kì năm trước Tổng dư nợ đến 31/12/2009 đạt 411.530 tỷ bằng 102,9% kế hoạch, tăng so với đầu năm 101.763 tỷ, tốc độ tăng trưởng 32,85%.(Dư nợ cho vay Hỗ trợ lãi suất là 25 tỷ, trong đó dư nợ trung và dài hạn 350 triệu Số tiền lãi được hỗ trợ 562 triệu, trong đó số tiền lãi trung và dài hạn được hỗ trợ 2 triệu) Với mục tiêu và giải pháp kinh doanh năm 2010 tổng nguồn vốn huy động tăng từ 20%- 25%, tổng dư nợ tăng từ 18%- 22%
Hoạt động tín dụng vẫn là nghiệp vụ chính, chủ yếu và tạo ra trên 90% thu nhập của NHNo&PTNT Yên Lạc Trong những năm qua, đầu tư tín dụng đã tăng khá và từng bước ổn định, chất lượng tín dụng được củng cố, đảm bảo đủ
thu nhập theo chế độ và ngày càng cải thiện cho cán bộ nhân viên
Trang 222.1.2.1 Nguồn vốn Bảng 1: Nguồn vốn
2 32.244
Tiền gửi tổ chức kinh
tế
13.258
5.78
28.322
12.23
9
944
4.28
326
80.81
200.252
86.47
213.000
91.71
4
13.41
3.000
1.3
9
300
4.01
Trang 23(Nguồn : Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo Yên Lạc)
Huy động vốn của NH Đồng văn tăng đều hằng năm , năm 2008 tăng 2.25% so năm 2007 và năm 2009 tăng 0.67% so năm 2008 Số dư tiền gửi tiết kiệm cao hơn các hình thức huy động khác , đặc biệt so tiền gửi các tổ chức kinh
tế , điều này có lợi cho ngân hàng vì số dư trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm có thời gian dài và ổn định hơn tiền gửi của tổ chức kinh tế Và tiền gửi tiết kiệm dân cư tăng rất đều đặn qua các năm cho thấy hướng đi đúng đắn trong phương pháp huy động vốn của ngân hang Vì Ngân hang có địa bàn hoạt động ở nông thôn cho nên thường là chỉ có dân cư gửi tiền tiết kiệm và thường là gửi có kì hạn Chỉ có một vài năm gần đây các doanh nghiệp bắt đầu phát triển cho nên tiền gửi của tổ chức kinh tế mới bắt đầu phát triển nhưng từ năm 2008 sang năm
2009 thì tiền gửi kinh tế lại giảm mạnh là do các doanh nghiệp trong thời gian
đó vốn lưu động cũng rất khan hiếm do ảnh hưởng có khủng hoảng kinh tế nên tiền mặt của các tổ chức kinh tế được sủ dụng lien tục và gần như không có số
dư trong tài khoản
Và trong thời điểm hiện nay khi mà nhiều ngân hang thương mại đã mở chi nhánh về tận các địa phương thì việc độc quyền của ngân hang nông nghiệp
đã không còn như trước nữa vì vậy để có thể đảm bảo về nguồn vốn huy động được ngân hang đã có những biện pháp rất kịp thời để có thể giữ được tăng trưởng về nguồn vốn như là có những biện pháp khuyến mãi để thu hút tiền gửi của khách hang mới và ưu đãi đối với các khách hang cũ Đặc biệt gần đây bắt đầu từ ngày 19/03/2010 lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ngân hang đã tăng một cách đáng kể từ mức lãi suất 9.0% - 9.8% lên 10% - 10.48%
(Nguồn: Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo Yên Lạc)
Hoạt động tín dụng các năm đều tăng năm 2007 tăng 30% năm 2008 sang năm 2008 chỉ tăng só 2009 là 32.85% như vậy mức tăng sử dụng nguồn vốn có chiều hướng tăng, mức tăng trưởng dư nợ hang năm tăng đều trên 30%
Trang 24Đây là một con số đáng kinh ngạc khi mà mức tăng trưởng bình quân tổng dư nợ của các ngân hang thương mại trong 2 năm 2008 và 2009 chỉ ở mức 22% đến 25% Nhưng tăng trưởng nguồn vốn huy động lại ở mức thấp Đây là điều không tốt đối với một ngân hang thương mại điều này dẫn đến ngân hang phải sử dụng vốn của ngân hang cấp trên là nguồn vốn đi mượn không phải tự chủ của ngân hang.
2.1.2.3 Kinh doanh khác:
Bên cạnh hoạt động kinh doanh chủ yếu là tín dụng, ngân hàng nông nghiệp đã tích cực mở rộng các hoạt động khác theo hướng kinh doanh đa năng như dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, ngân quĩ, kinh doanh ngoại tệ…Kết quả năm 2009 phát triển tương đối tốt khi cơ chế chính sách của nhà nước cho các
hộ có lao động đủ điều kiện đi lao động có thời hạn ở nước ngoài đã chuyển tiền thông qua mở các tài khoản ngoại tệ Từ đó các giao dịch chuyển tiền kiều hối
đã phát triển mạnh , đi theo khối lượng tiền chuyển về đã có nhiều giao dịch mua ngoại tệ và được bán lại cho ngân hàng cấp trên Tuy nhiên, các hoạt động khác của ngân hàng Yên Lạc mới tạo ra 5% trong tổng thu nhập Vì vậy phải tiếp tục mở rộng kinh doanh theo hướng đa năng trong thời gian tới
Trang 25(Nguồn : Phòng kế hoach kinh doanh NHNo&PTNT Huyện Yên Lạc)
Từ bảng số liệu trên ta có thẻ thấy được nguồn vốn đầu tư vào cho vay trung và dài hạn của ngân hang là khá lớn , điều này là do đặc trưng của ngân hang nông nghiệp là cho vay phát triển nông thôn nên thời gian cho vay để các
hộ gia đình kinh doanh phát triển kinh tế thường là dài Vì vậy rủi ro tín dụng là rất lớn nhưng ngân hang vẫn phải chấp nhận vì mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn nước nhà
Trong 2 năm 2007 và 2008 cho vay trung và dài hạn luôn chiếm trên 20% tổng dư nợ nhưng đến năm 2009 thì chỉ còn 17.07% Điều này là do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nên các ngân hang đã cho vay trung hạn ít hơn
để tránh rủi ro
Ngoài ra thì còn một số yếu tố khách quan như :
+ Nhà nước đã quy định mức lãi suất cho vay phù hợp với thông lệ quốc
tế, tức là lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn mức lãi suất cho vay trung hạn.Ngân hàng tránh được rủi ro trong kinh doanh ( rủi ro lãi suất, và biến động của thị trường)
+ NHNo&PTNT Yên Lạc được tham gia vào nhiều chương trình dự án Tính đến 31/12/2006 đã tiếp nhận 9 tỷ đồng nguồn vốn trung hạn từ các chương trình dự án ADB, RDFII Đầu tư vào trương trình phát triển kinh tế của địa phương như trương trình chăn nuôi lợn hướng nạc , nuôi bò cao sản , đưa máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, phát triển các làng nghề truyền thống vv
Trang 262.2.2.2 Cơ cấu vốn đầu tư
Bảng 4 : Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế.
(Nguồn : Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo Yên Lạc)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy rất rõ ngành kinh tế mà ngân hang chủ yếu khai thác là ngành nông nghiệp Điều này cũng là do đặc trưng của NHNo%PTNT là ngân hang có nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Việt Nam cho nên lượng tiền được giải ngân cho nganh nông
nghiệp là rất lớn, hai địa phương Thị trấn Yên Lạc và Tam Hồng chuyển mạnh
sang làng nghề kinh doanh sản xuất gỗ và kết hợp chăn nuôi đã tạo cho sự tăng trưởng mạnh cho đầu tư tín dụng ngắn hạn , chủ yếu vay theo hạn mức tín dụng Tuy vậy trong mấy năm gần đây khi mà NHNo có xu hướng chuyển sang là một NHTM thì các ngành kinh tế khác cũng đã được NHNo chú ý và bắt đầu khai thác cho vay tuy tỷ trọng vẫn chỉ ở mức nhỏ
(Nguồn : Phòng kế hoạch kinh doanh NHNo Yên Lạc)
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy một năm thì vốn của NHNo Yên Lạc quay được trên dưới một vòng Năm 2008 và 2009 vốn của NHNo Yên Lạc
quay được 1.4 và 1.11 vòng Đây là một con số đáng nể vì đây là thời điểm mà
các NHTM rất khan hiếm vốn mà NHNo Yên Lạc lại có vòng quay vốn hơn 1 vòng trên 1 năm Năm 2008 là 1.4 tức là NHNo Yên Lạc đã cho vay ngắn hạn nhiều hơn so với năm 2009 Điều này là do năm 2009 để phục hồi nền kinh tế bị
Trang 27ảnh hưởng bởi khủng hoảng đặc biệt là ngành ngân hang thì nhà nước đã quyết định đưa ra nhiều gói kích cầu trong đó có gói kích cầu hỗ trợ lãi suất cho các khoản vay trung hạn của các doanh nghiệp và hộ gia đình Điều này làm cho dư
nợ cho vay trung hạn của NHNo Yên Lạc tăng nhanh hơn so với dư nợ cho vay ngắn hạn
2.2.2.4.Chỉ tiêu lợi nhuận tín dụng
Bảng 6 : Lợi nhuận từ tín dụng qua các năm.
(Nguồn : Phòng kế toán ngân quỹ NHNo Yên Lạc)
Qua bảng số liệu ta có thê thấy được lợi nhuận dự thu từ lãi cho vay cao hơn nhiều so với lợi nhuận thực tế mà NHNo YênLạc thu được, điều này nói lên rằng đang có một số lượng không nhỏ các khoản nợ nhóm 1 chưa được trả lãi Đây là một điều hết sức không tốt đối với 1 NHTM vì đặc biệt là NHNo Yên Lạc vì lợi nhuận từ tín dụng vẫn chiếm đến 90% tổng lợi nhuận từ kinh doanh của NHNo Yên Lạc
2.2.2.5.Chỉ tiêu về nợ quá hạn
Bảng 7: Nợ quá hạn
Đơn vi : Triệu đồng