1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn hương nuôi tại trại lợn khu khởi nghiệp khoa chăn nuôi thú y trường đại học nông lâm thái nguyên​

56 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC Tên chuyên đề: “ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN HƯƠNG NUÔI TẠI TRẠI LỢN KHU KHỞ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC

Tên chuyên đề:

“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG, TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN HƯƠNG NUÔI TẠI TRẠI LỢN

KHU KHỞI NGHIỆP KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Dược Thú y Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2014 – 2019

Thái Nguyên, 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC

Tên chuyên đề:

“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN HƯƠNG NUÔI TẠI TRẠI LỢN KHU KHỞI NGHIỆP KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG

ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Dược thú y

Khóa học: 2014 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Phạm Thị Trang

Thái Nguyên, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực tập tốt nghiệp được sự giúp đỡ, giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi thú y, đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp tại cơ sở thực tập

Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:

Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy

cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo cho em trong suốt thời gian học tập tại trường

Em xin chân thành cảm ơn tới người quản lý trại là thầy giáo TS La Văn Công cùng các anh chị, các bạn làm việc tại trại

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn: TS Phạm Thị Trang đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận này

Một lần nữa em xin gửi tới các thầy giáo, cô giáo, tất cả các bạn bè, người thân đã luôn bên em, giúp đỡ động viên và khuyến khích em trong quá trình hoàn thành khóa luận lời cảm ơn và lời chúc sức khỏe, cùng mọi điều tốt đẹp nhất

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 06 tháng 12 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ngọc

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 37 Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại năm 2018 39 Bảng 4.2 Số lượng lợn nái đẻ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại

qua 6 tháng thực tập 40 Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 40 Bảng 4.4 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 41 Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh lợn nái sinh sản và lợn con

tại trại 42 Bảng 4.6 Kết quả chuẩn đoán bệnh ở đàn lợn nái sinh sản của trại 43 Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 43

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục tiêu 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Đánh giá chung 7

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 10

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 14

2.2.4 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ 18

2.2.5.Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 22

2.2.6 Những hiểu biết về một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái đẻ nuôi con và lợn con 25

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 33

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 33

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 34

Trang 7

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 36

3.1 Đối tượng 36

3.2 Địa điểm và thời gian thực hiện 36

3.3 Nội dung thực hiện 36

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 36

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi thực hiện 36

3.4.2 Phương pháp thực hiện 37

3.4.3 Công thức tính và các chỉ tiêu 38

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu: 38

Phần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại năm 2018 39

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 39 4.2.1 Số lượng nái đẻ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 39

4.2.2 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 40

4.3.Kết quả thực hiện quy trình phòng trị bệnh cho lợn nái tại trại 41

4.3.1 Kết quả công tác vệ sinh phòng bệnh 41

4.3.2 Kết quả công tác tiêm phòng bằng vắc xin 42

4.3.3 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản của trại 43

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

Trang 8

Ngành chăn nuôi lợn có một vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta Nó là nguồn cung cấp thực phẩm với tỷ trọng và chất lượng tốt cho con người Hiện nay, nhu cầu người tiêu dùng ngày càng cao, đòi hỏi ngành chăn nuôi lợn không ngừng nâng cao về số lượng và chất lượng của sản phẩm, đem lại nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm Để đạt được như vậy các nhà khoa học đã nghiên cứu ra các giống sản xuất tốt, chế biến các loại thức ăn nghiên cứu bổ sung chăm sóc nuôi dưỡng kết hợp với thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng cùng vitamin, và khoáng chất ngoài ra trong chăn nuôi thì công tác thú y không thể thiếu được Tuy vậy trong chăn nuôi còn gặp nhiều trở ngại và hạn chế đó là: thông tin khoa học, kỹ thuật chăn nuôi lợn chưa nhanh chóng, kịp thời đến người chăn nuôi, những hiểu biết về dịch bệnh còn hạn chế Đặc biệt là trong quá

trình đẻ lợn nái hay bị nhiễm các loại vi khuẩn như: Streptococcus,

E.coli xâm nhập và gây một số bệnh ở cơ quan sinh dục như: viêm âm đạo,

viêm tử cung, viêm vú, mất sữa…Các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn lợn nái

Trang 9

Để nắm bắt được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho lợn

trong thực tiễn sản xuất, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình

chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại lợn Khu Khởi nghiệp Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên“

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục tiêu

- Nắm được tình hình chăn nuôi lợn tại trại

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái tại cơ sở thực tập

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi Khởi Nghiệp nằm trên địa phận xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên Trại bắt đầu hoạt động từ năm 2018dưới sự quản lý của thầy giáo TS La Văn Công

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Quyết Thắng là một xã thuộc thành phố Thái Nguyên trong vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Do đó trại Khởi Nghiệp cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng

Nhiệt độ: Trại có nhiệt độ cao, chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và mùa hạ khá lớn.Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 23 - 240C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 150C Có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng : 1.450 giờ

Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1400 - 1700mm nhưng lượng mưa phân bố không đều trong năm, phân thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa: Từ tháng 4 - tháng 10, lượng mưa chiếm từ 80 - 82% tổng lượng mưa của cả năm Lượng mưa bình quân là 75 mm/tháng

+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô trùng với các tháng có nhiệt độ thấp trong năm Lượng mưa bình quân là 25mm/tháng Độ ẩm không khí ở trại tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%, tháng cao nhất là 88% (tập trung vào các tháng 3 và tháng 4), tháng thấp nhất là: 65% (tập trung vào tháng 12)

Trang 11

- Chế độ gió mùa : hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về mùa hè là Đông – Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s;

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Trại có đội ngũ cán bộ kĩ thuật giỏi, giàu kinh nghiệm thực tế và có

nhiều năm trong nghề

2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, nhà bếp, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng ra, cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Trong khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 10 nái sinh sản Khu chăn nuôi gồm: 1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng cai sữa và 4 ô chuồng thịt nhỏ Một số công trình khác phục

vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, kho chứa vật liệu

+- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín Trang thiết bị trong chuồng được đầu tư Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được

đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt

- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm

- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng

Trang 12

2.1.1.5 Tình hình chăn nuôi tại cơ sở trong những năm qua

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất theo hướng lấy thịt.Số con sơ sinh là 5,25 con/đàn, số con cai sữa là 5 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến

21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển từcác chuồng úm sang các chuồng thịt

* Công tác vệ sinh thú y của trại

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trạiluôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên tại trại

- Công tác vệ sinh:

Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự nhiên

Hàng ngày luôn quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định

- Công tác phòng bệnh:

Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và đến lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

Trang 13

*Lịch tiêm phòng cho lợn tại trại cụ thể theo giai đoạn sau:

Thời điểm

phòng bệnh

Bệnh được phòng Loại vacxin Liều dùng Đường tiêm

Mang thai

tuần thứ 10

Dịch tả Vacxin Dịch

tả lợn nhược độc đông khô

1 ml/con Tiêm bắp

tuần thứ 12 Khô thai

Suvaxyn Parvo

2 ml/con Tiêm bắp Trước đẻ 1

tuần Kí sinh trùng Ivermectin 1ml/30kgTT

Tiêm dưới

da

14 - 21 ngày

tuổi

Hội chứng còi

28 – 30 ngày

tuổi Dịch tả lần 1

Vacxin Dịch tả lợn nhược độc đông khô

1 ml/con Tiêm bắp

35 ngày tuổi Lở mồm long

2 ml/con Tiêm bắp

40 – 45 ngày

tuổi Dịch tả lần 2

Vacxin Dịch tả lợn nhược độc đông khô

1 ml/con Tiêm bắp

- Công tác trị bệnh: cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu, vì vậy hiệu quả điều trị thường cao, không gây thiệt hại nhiều cho trang trại

Trang 14

2.1.2 Đánh giá chung

2.1.2.1 Thuận lợi

- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, tránh ô nhiễm môi trường và tiếng ồn, thuận tiện đường giao thông

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [22] Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, dưới tác dụng của thần kinh nội tiết tố con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Khi đó ở con cái các noãn bào chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày) (Võ Trọng Hốt và cs., 2000 [9])

Tuy nhiên thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể

+ Giống

Trang 15

Các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 - 55 kg Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4

- 5 tháng tuổi Cụ thể lợn Landrace nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày

Tùy theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý mà lợn có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại Yorkshire, Landrace muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

+ Điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém

Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến sự thành thục là do sự tích lũy xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của trứng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng đến hoocmôn oestrogen và progesteron trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng:

Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng cũng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt đến tuổi động dục Mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu – đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và

17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so

Trang 16

với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính

so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112 giờ mỗi ngày (Dwane và cs, (2000) [7])

+ Mật độ nuôi nhốt:

Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn cái được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu cái hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn cái dự bị không tiếp xúc với lợn đực giống Lợn cái hậu bị ngoài 90kg thể trọng ở

165 ngày tuổi cho tiếp xúc 2 lần trên ngày với lợn đực, mỗi lần cho tiếp xúc

15 - 20 phút thì tới 83% lơn cái hậu bị động dục lần đầu

*Sự thành thục về thể vóc

Sự thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc Tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, xương đã được cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên.Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt Vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém Đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng khối

Trang 17

lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối

2.2.1.2 Những hiểu biết về sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài

Đẻ là quá trình đưa thai đã phát triển thành thục theo đường sinh dục của mẹ ra ngoài Nếu không đủ hai điều kiện trên tức là đẻ không bình thường

Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ

25 - 30% so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung mở, sữa bắt đầu tiết

Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch.Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ Khi lợn đẻ toàn thân co bóp, thường gọi là cơn đau, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Khi thai ra rốn thai tự đứt, lợn là một loài đa thai nên đẻ từng con một, cách khoảng 10 - 15 hoặc 20 phút đẻ 1 con Thời gian đẻ của lợn trung bình kéo dài từ 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động ngay

2.2.2 Những hiểu biết về đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

* Sinh lý tiết sữa của lợn nái

Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2005) [22], sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người

Trang 18

Đối với heo bầu vú không có bể sữa Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh, thể dịch và theo ba pha

Sự tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp Khi heo con mút bú, đầu tiên heo con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung động hưng phấn thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm truyền về vỏ não, rồi tới vùng dưới đồi, tiết các yếu tố giải phóng, các yếu tố giải phóng tác động lên thùy sau tuyến yên, kích thích tiết kích tố oxytoxin, oxytoxin đi tới tuyến vú

và làm co bóp tế bào biểu mô, cơ tuyến bào và cơ tuyến vú Nhờ vậy sữa được thải ra từ các xoang tuyến bào, qua ống dẫn sữa nhỏ, rồi ống dẫn sữa lớn và chảy

ra ngoài theo ống tiết sữa, từ đó heo con mới bú được Do vậy, khi heo con bú sữa, chúng được thực hiện theo ba pha như sau: Pha ngậm và thúc vú (80 – 100 giây), pha nằm im (20 giây) và pha mút vú (20 giây) Do tác động của oxytoxin trong máu khác nhau cho nên các vú khác nhau và cho sản lượng sữa khác nhau Sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng không giống nhau: các vú trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các vú phía sau nhìn chung kém (Nguyễn Khánh Quắc và cs., 1995) [19] Theo Trương Lăng (2000) [10], vú nằm ở trước ngực sản lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời kỳ tiết sữa lợn con bú ở vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa vì oxytoxin theo máu đến vú trước sớm hơn Vì vậy để đảm bảo tính đồng đều của toàn ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước, nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là 2 giờ sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong năm đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng với ngoại cảnh Theo Phan Đình Thắm (1996) [21] thì nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu vì trong sữa đầu có hàm lượng globulin cao hơn sữa thường và đây là chất chủ yếu giúp lợn con có sức đề kháng

Trang 19

Lượng sữa của lợn nái tiết sữa tăng cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc

21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần Do đó ở tuần thứ tư có sự khủng hoảng

vì thiếu sữa mẹ khi đàn heo con đangsức tăng trưởng cao Để tránh hiện tượng đàn con tăng trưởng chậm lại, tập cho heo con ăn sớm là một biện pháp

kỹ thuật cần thiết

* Sữa lợn mẹ

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con Để heo con phát triển tốt thì cần rất nhiều sữa, lượng sữa mẹ sau khi sinh đến khoảng 3 tuần sẽ đạt mức cao nhất, sau đó sẽ từ từ giảm dần Việc cai sữa cho lợn con có thể thực hiện được ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, phải có một máu rất lớn chảy qua bầu vú mới đảm bảo cho nhu cầu tạo sữa: khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú mới tạo được thành 1 lít sữa lợn mẹ Sữa lợn mẹ tiết ra trong vòng 2-3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [23] cho rằng, thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,3 %, cao hơn sữa thường chỉ có 19,6 % Hàm lượng protein cũng cao hơn là 11,5 % so với 6,8 % của sữa thường, tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn

Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể globulin (gama globulin)

và các chất khác bảo vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các vi rút, vi trùng gây bệnh Lượng globulin chiếm khoảng 50% tổng số protein của sữa đầu, sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng 24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ

Trang 20

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái

Theo Trương Lăng (2000) [10], khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức ăn, giống lợn và số lượng lợn con và một số yếu tố khác

+ Giống và cá thể

Các giống lợn khác nhau có khả năng tiết sữa khác nhau Các giống lợn được cải tạo có năng suất sữa cao hơn các giống lợn chưa được cải tạo Ví như lợn Ỉ có sản lượng sữa bình quân là 20,1 - 25 kg, lợn Móng Cái là 27,5 - 29,1 kg, lợn Đại Bạch nuôi tại Việt Nam có sản lượng sữa bình quân là 40 - 50 kg Các tài liệu gần đây cho biết heo nái Yorkshire và Landrace có thể tiết >10 lít sữa/ngày Thể trạng của lợn mẹ cũng ảnh hưởng đến năng suất sữa trong thời kỳ đầu của quá trình tiết sữa Lợn mẹ gầy yếu thì khả năng tiết sữa kém hơn lợn mẹ có thể trạng trung bình Chúng ta có thể tăng lượng thức ăn sử dụng cho lợn mẹ trong những ngày đầu tiên sau khi đẻ, tuy nhiên nếu lợn mẹ gầy yếu được ăn thức ăn cao chỉ có thể làm tăng tỷ lệ mỡ sữa mà không làm tăng sản lượng sữa Đối với lợn có thể trạng trung bình, nếu cho ăn nhiều thức ăn trong giai đoạn đầu của quá trình tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa và có xu hướng làm giảm hao hụt của lợn mẹ trong quá trình tiết sữa

+ Tuổi và lứa đẻ lợn mẹ

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [4], lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6-7 Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm đẻ thứ 5 lợn có thể đẻ tốt nhưng con đẻ ra bị còi cọc, chậm lớn, nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con

Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 -3, ổn định từ lứa 3 -8, sau đó giảm dần theo sự tăng lên của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào chưa phát dục hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú nên sản lượng sữa ở lứa đầu thấp nhất Còn ở lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng, đạt đỉnh cao ở lứa thứ 3, sau đó ổn định và giảm dần từ lứa thứ 8,9 trở đi Do vậy hiện nay nhiều nước loại thải heo mẹ sau khi đẻ 7 - 8 lứa

Trang 21

Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần đến tuần thứ 8

+ Nuôi dưỡng và chăm sóc

Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sữa vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Tỷ lệ nuôi sống ở lợn con được tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo ở giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kỳ tiết sữa đầu Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn

Khẩu phần ăn của lợn nái trong quá trình có chửa và tiết sữa có ảnh hưởng đến các thành phần hóa học của sữa Khi cho lợn nái ăn tăng khẩu phần ăn, sẽ làm tăng thành phần hóa học của sữa thông qua tăng quá trình trao đổi đến bầu

vú lợn mẹ Quá trình hình thành các chất dinh dưỡng của sữa lợn mẹ được thông qua quá trình tổng hợp, một số thông qua quá trình lọc và một số chuyển thẳng trực tiếp từ máu Hàm lượng các vitamin của sữa phụ thuộc vào hàm lượng các vitamin trong thức ăn và cả lượng vitamin dự trữ ở gan hoặc các tế bào

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao,dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Trước khi sinh 3 ngày phải giảm thức ăn xuống từ 3 - 1kg/ngày Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức

Trang 22

khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Lợn nái sắp đẻ có những biểu hiện: ỉa đái vặt, bầu vú căng mọng, bóp đầu vú sữa chảy ra, khi thấy có nước ối và phân xu, lợn nái rặn từng cơn là lợn con sắp ra Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2- 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Cần phải vệ sinh chuồng trại, tắm chải heo mẹ sạch sẽ, diệt ký sinh trùng ngoài da Cần giữ vệ sinh sạch sẽ vùng giữa âm hộ với hậu môn, vùng này thường chứa nhiều lớp nhăn, da chết bẩn hoặc dính phân, chúng dễ vấy nhiễm vào âm đạo khi can thiệp móc thai Cần giữ không khí yên tĩnh, thoáng mát vì khi nhiệt độ cao, không khí nóng, không thông thoáng sẽ làm nái thở mệt, lười rặn, đẻ chậm gây ngộp thở nhiều heo con Bên cạnh đó sự ồn ào, lạ người chăm sóc sẽ làm nái hoảng sợ hoặc hung dữ, ngưng đẻhoặc đẻ chậm dẫn đến số lợn con tử vong lúc đẻ tăng cao Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con

và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ những đất hoặc phân bám dính trên người, tắm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh

Trang 23

Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó cũng là một quá trình quan trọng trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ Ô úm có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện đểkhống chế nhiệt độ thích hợp, giúp giữ ấm nhiệt độ cho heo con đặc biệt vào mùa đông

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú ,thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng

Lợn nái đẻ xong nên cho ăn tăng dần, từ ngày thứ 3 hoặc thứ 4 trở đi cho

ăn tự do (4 - 6 kg/ngày/nái) Đảm bảo đủ nước uống cho nái vì lợn tiết sữa sẽ uống rất nhiều nước, từ 30 - 50 lít nước mát, sạch/ngày/nái

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải đủ và cân bằng dưỡng chất, phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Máng ăn phải sạch sẽ, không để thức ăn mốc, thừa, không nên thay đổi thức ăn của lợn nái Vì trong thời gian nuôi con, lớp mỡ bọc thân của nái bị mất đi do phải rút lượng canxi, phospho, chất béo dự trữ trong cơ thể để hỗ trợ cho sự tiết sữa,

do đó sau khi đẻ nái nhanh gầy, xương trở nên xốp, chân dễ bại liệt Nếu cung cấp dư thừa sắt trong khẩu phần ăn của nái nuôi con cũng không đảm bảo đủ lượng sắt mà lợn con nhận được, mà còn dẫn đến tình trạng lợn conthiếu sắt ở tuần tuổi thứ 2, thứ 3 trở đi Vì vậy cần bổ sung đầy đủ sắt trong khẩu phần ăn của heo nái từ giai đoạn mang thai để đảm bảo cung cấp đủ sắt cho lợn con sau khi sinh Việc bổ sung chế phẩm iod cho nái để tăng hoạt động của tuyến giáp cũng giúp cho nái tiết sữa nhiều, nhưng cần phải thận trọng vì nếu dùng quá liều sẽ dẫn đến các triệu chứng viêm vú, sốt sữa, tuyến sữa bị teo, tắc sữa

Có thể tiêm thêm các vitamin ADE, cho nái sau khi đẻ, thức ăn nái nuôi con

Trang 24

cần có crom hữu cơ giúp nái hấp thu tốt tối đa lượng đường, bảo toàn thể trạng khi nuôi con Cần bổ sung các loại thức ăn là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, các loại thức ăn bổ sung đạm thực vật, khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1-2-3kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,40 kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 3 (sáng, chiều và đêm)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn

- Đối với lợn nái nội

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/1 ngày đêm Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày đêm được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + ( số lợn con theo mẹ x 0,18 kg )

Thức ăn thô xanh: 0,3 đơn vị

Trang 25

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg)

Thức ăn thô xanh: 0,4 đơn vị

- Quy trình chăm sóc

Sau khi nái đẻ xong cần theo dõi nhiệt độ cơ thể (giai đoạn sau đẻ 7 ngày), thường thì thân nhiệt nái ở khoảng 390C, nếu thân nhiệt trên 400C nái sốt cao,bỏ

ăn là tình trạng báo động có viêm nhiễm trùng sau đẻ (cần phân biệt hội chứng viêm vú- viêm tử cung- mất sữa (MMA) với sốt sữa- milk fever).Vì vậy giai đoạn này cần phải có biện pháp vệ sinh sát trùng khu vực nái đẻ, theo dỗi để phát hiện kịp thời và điều trị bệnh một cách thích hợp Cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

là 18 - 200C, độ ẩm 70 - 75% và ánh sáng phải chiếu 24/24 giờ

2.2.4 Những đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

2.2.4.1 Đặc điểm về sinh trưởng và phát dục

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kì gia súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con khoẻ mạnh Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1995) [19] so với khối lượng sơ sinh thì khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5-6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7-8 lần, lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12-14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần Có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và

Trang 26

hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng mạnh

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích luỹ được 9-14 gam protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích luỹ được 0,3-0,4 gam protein/1kg khối lượng cơ thể theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[18]

Hơn nữa để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần rất ít năng lượng, nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành Vì vậy, cơ thể lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1kg thịt nạc thì cần ít năng lượng hơn để sản xuất ra 1kg mỡ

2.2.4.2 Đặc điểm về cơ quan tiêu hoá

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hoá của lợn: Miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn

Cơ quan tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh, các tuyến tiêu hoá phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hoá còn nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần

Dung tích bộ máy tiêu hoá tăng nhanh trong 60 ngày đầu : Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) Còn dung tích ruột già lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc

sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 2,5 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng 0,04 lít) theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[18] Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hoá giúp lợn con tích luỹ được nhiều thức

ăn và tăng khả năng tiêu hoá các chất

Trang 27

Mặc dù vậy, ở lợn con các cơ quan chưa thành thục về chức năng , đặc biệt là hệ thần kinh Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hoá của lợn con cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hoá

Khả năng tiêu hoá của lợn con rất hạn chế Theo Hoàng Toàn Thắng và

cs (2005) [22] cho rằng: Lợn con dưới 1 tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự

do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và nhanh chóng kết hợp với dịch nhày của dạ dày, hiện tượng đó gọi là hypohydric Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn chưa có khả năng tiêu hoá protein của thức ăn Vì HCl tự do có tác dụng kích hoạt men pepsinnogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá protein

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hoá thực tế của dịch vị có enzym, sự tiêu hao của dịch vi tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh Hơn nữa dịch vị thu được khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hoá nhanh hơn dịch vị thu được khi cho uống sữa Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai sữa sớm cho lợn con

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh đường tiêu hoá

2.2.4.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não của lợn con chưa phát triển hoàn thiện Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường ( nhiệt độ, đổ ẩm)

Trang 28

Ở lợn con, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao Trong khi đó sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả về chất và lượng Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều lợn con mắc bệnh Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phúc tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa cân bằng

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau thai, điều kiện sống tương đối ổn định Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự trữ trong cơ thể lợn con còn thấp, trên cơ thể lợn lông còn thưa, mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng toả nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ Vì thế ở nước ta vào cuối mùa đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh Đây là điều kiện thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá

Cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ, phun sát trùng, rắc vôi theo định

Ngày đăng: 06/04/2022, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên (2016), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Đại học Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học thú y
Tác giả: Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên
Nhà XB: Nxb Đại học Hùng Vương
Năm: 2016
15. Popkov (1999), “Điều trị bệnh viêm tử cung”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều trị bệnh viêm tử cung”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Popkov
Năm: 1999
16. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
17. Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Văn Phùng (1995),Giáo trình chăn nuôi lợn, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Khánh Quắc, Từ Quang Hiển, Nguyễn Quang Tuyên, Trần Văn Phùng
Năm: 1995
18. Nguyễn Văn Thanh (2004), Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở giasúc, gia cầm, Nxb Lao động và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị một số bệnh thường gặp ở giasúc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Lao động và xã hội
Năm: 2004
19. Phan Đình Thắm (1996), Giáo trình chăn nuôi lợn cao học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn cao học
Tác giả: Phan Đình Thắm
Năm: 1996
20. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học động vật nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học động vật nuôi
Tác giả: Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
21. Trịnh Văn Thịnh (1978), Sổ tay chăn nuôi thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. II. Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay chăn nuôi thú y
Tác giả: Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1978
22. Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C. (1990), “Metritis - Mastitis - Agalactia”, in Pig production in Autralia. Butterworths, Sydney, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Metritis - Mastitis - Agalactia”, "in Pig production in Autralia. Butterworths
Tác giả: Gardner J.A.A., Dunkin A.C., Lloyd L.C
Năm: 1990
23. Smith B.B., Martineau G., BisaillonA. (1995), “Mammary gland and lactaion problems”, In disease of swine, 7 th edition, Iowa state university press, pp. 40- 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mammary gland and lactaion problems”, "In disease of swine," 7th"edition
Tác giả: Smith B.B., Martineau G., BisaillonA
Năm: 1995

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w