1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực tế đã chứng minh phát triển kinh tế nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn

21 473 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực tế đã chứng minh phát triển kinh tế nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 142,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển... Sự thành công của chính sách kinh tế mớiTrong giai đoạn NEP, sản lượng nông nghiệp không chỉ hồi

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 2

1 Xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin 3

1.1 Theo Mác 3

1.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 3

1.1.1.1 Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất 3

1.1.1.2 lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất 3

1.1.1.3 Quan hệ sản xuất độc lập tương đối và tác động trở lại lực lượng sản xuất 4

1.1.2 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 5

1.2 Theo Lênin 6

1.2.1 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 6

1.2.2 Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ 6

2 Thực tiễn 6

2.1 Thực tiễn Liên Xô 6

2.1.1 Chính sách kinh tế mới (NEP) 6

2.1.2 Sự thành công của chính sách kinh tế mới 8

2.2 Thực tiễn Trung Quốc 8

2.2.1 Chính sách cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình 8

2.2.2 Thành tựu đạt được sau cải cách 9

2.3 Thực tiễn Việt Nam 11

2.3.1 Hoàn cảnh của Việt Nam 11

2.3.2 Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam11 2.3.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 12

3 Thực tế đã chứng minh phát triển kinh tế nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn 15

3.1 Kinh tế Việt Nam trước đổi mới 15

3.2 Kinh tế Việt Nam sau đổi mới 17

Kết luận 20

Tài liệu tham khảo 21

Trang 2

Mác-Dưới đây chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu cụ thể lý do vì sao Hồ Chí Minhchủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lênchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trang 3

1 Xuất phát từ chủ nghĩa Mác-Lênin

1.1 Theo Mác

1.1.1 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

1.1.1.1 Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sảnxuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cáchbiện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độphát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, pháttriển xã hội

Khuynh hướng chung của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển Sựphát triển đó xét đến cùng là bắt nguồn từ sự biến đổi và phát triển của lựclượng sản xuất, trước hết là công cụ lao động

Trình độ lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn lịch sử thể hiện trình độchinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch sử đó Trình độ lựclượng sản xuất biểu hiện ở trình độ của công cụ lao động, trình độ, kinh nghiệmvà kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao động xãhội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất

Gắn liền với trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sảnxuất Trong lịch sử xã hội, lực lượng sản xuất đã phát triển từ chỗ có tính chấtcá nhân lên tính chất xã hội hóa Khi sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phâncông lao động kém phát triển thì lực lượng sản xuất chủ yếu có tính chất cánhân Khi sản xuất đạt tới trình độ cơ khí, hiện đại, phân công lao động xã hộiphát triển thì lực lượng sản xuất có tính xã hội hóa

1.1.1.2 lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất

Trang 4

Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phùhợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sảnxuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đóquan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực lượng sản xuất Trong trạngthái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản xuất đều tạo địa bàn đầy đủ cho lựclượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là nó tạo điều kiện sử dụng và kếthợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất và do đó lựclượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm choquan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển củalực lượng sản xuất Khi đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lựclượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Yêu cầu khách quan củasự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũbằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượngsản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệsản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuấtcũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế C.Mác đã viết: “Tới mộtgiai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xãhội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có… trong đó từ trước đến naycác lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển củalực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lựclượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội” Nhưng rồiquan hệ sản xuất mới này sẽ lại trở nên không còn phù hợp với lực lượng sảnxuất đã phát triển hơn nữa, sự thay thế phương thức sản xuất lại diễn ra

1.1.1.3 Quan hệ sản xuất độc lập tương đối và tác động trở lại lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độcủa con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội,

Trang 5

đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ,… và do đó tác động đến sựphát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc “tiên tiến” hơn một cách giảtạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triểncủa lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lựclượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thếbằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, việc giải quyết mâuthuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn Nóphải thông qua nhận thức và vận động cải tạo xã hội của con người Trong xãhội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượngsản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại.Sự thay thế, phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thủy, quachế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xãhội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trongđó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất là quy luật cơ bản nhất.

1.1.2 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Theo quan điểm của Mác quá độ lên chủ nghĩa xã hội là loại hình quá độtrực tiếp từ các nước tư bản phát triển ở trình độ cao Đây là loại quá độ phảnánh quá trình phát triển tuần tự của xã hội loài người Thời kỳ này bắt đầu từkhi giai cấp vô sản dành chính quyền, đập tan Nhà nước tư sản, thiết lập Nhànước vô sản (quan hệ sản xuất cũ mâu thuẫn với lực lượng sản xuất nên dẫnđến một cuộc cách mạng xã hội để thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệsản xuất mới phù hợp hơn) Đây là thời kỳ quá độ ngắn và trực tiếp

Trang 6

1.2 Theo Lênin

1.2.1 Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Ngoài loại hình quá độ trực tiếp như Mác đã nghiên cứu, Lênin còn đề cậptới con đường quá độ gián tiếp từ các nước chậm phát triển (các nước tiền tưbản) bỏ qua chủ nghĩa tư bản tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội loại hình quá độnày phản ánh quy luật nhảy vọt với hai điều kiện: Đảng kiểu mới của giai cấp

vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành Đảng cầm quyền) và được một hay nhiềunước tiên tiến giúp đỡ Đây là loại hình quá độ dài trải qua nhiều bước quá độ

1.2.2 Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ

Sự tồn tại khách quan của nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xâydựng chủ nghĩa xã hội đã được V.I.Lênin đề cập ngay từ những ngày đầu củachính quyền Xô viết Theo Lênin, trong nền kinh tế của thời kỳ quá độ có sựxen kẽ của “những yếu tố, những bộ phận nhỏ, những mảnh của chủ nghĩa tưbản và chủ nghĩa xã hội” Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ sẽ không thuần nhấtvà ở đó vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen và tác động lẫn nhau, đó lànhững yếu tố của năm thành phần kinh tế xã hội khác nhau (kinh tế gia trưởng,tiểu sản xuất hàng hóa, chủ nghĩa tư bản tư nhân, chủ nghĩa tư bản nhà nước vàchủ nghĩa xã hội)

2 Thực tiễn

2.1 Thực tiễn Liên Xô

2.1.1 Chính sách kinh tế mới (NEP)

Ngày 8-3-1921, tại Đại hội X Đảng Cộng sản (b) Nga, V.I.Lê-nin - lãnh tụthiên tài của giai cấp công nhân Nga và cách mạng thế giới đã đề xướng vớiĐảng việc áp dụng Chính sách kinh tế mới (NEP) và đã được Đại hội chấpthuận

Trang 7

NEP bao gồm nhiều nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trịvà xã hội, biểu hiện tập trung nhất trên năm vấn đề cơ bản, đó là: 1) Thực hiệnchế độ thu thuế lương thực, cho phép tự do buôn bán lúa mì, coi thương nghiệplà mắt xích chủ yếu, là hình thức cơ bản của các mối liên hệ kinh tế giữa côngnghiệp với nền nông nghiệp hàng hoá, giữa thành thị với nông thôn, và sự liênminh giai cấp về kinh tế giữa công nhân với nông dân; 2) Áp dụng những hìnhthức khác nhau của chủ nghĩa tư bản nhà nước, coi đó là mắt xích trung gian đểxây dựng chủ nghĩa xã hội; 3) Sử dụng các các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thựchiện khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần đối với mọi người lao động, khaithác mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, củng cố và hoàn thiệnquan hệ sản xuất mới; 4) Thực hiện kế hoạch điện khí hoá nước Nga, coi đónhư một trong những điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của chế độ xã hội chủnghĩa; 5) Củng cố Chính quyền Xô viết, tăng cường vai trò của quản lý, kết hợpchặt chẽ các biện pháp hành chính, tổ chức và kinh tế; thực hiện chế độ kiểm kêkiểm soát của nhà nước chuyên chính vô sản đối với đời sống kinh tế - xã hội,trên cơ sở liên minh kinh tế để tăng cường củng cố liên minh công nông vềchính trị.

Xét một cách tổng quát, NEP chính là sự thực hiện những nguyên lý củachủ nghĩa Mác về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện của mộtnước tiểu nông, ở đó những quan hệ kinh tế tư sản tuy đã hình thành nhưngchưa đạt đến độ chín muồi để chiến thắng các quan hệ kinh tế cũ, các quan hệkinh tế của nền sản xuất tiểu nông còn chiếm đại bộ phận trong nền sản xuất xãhội Muốn thực hiện tư tưởng xoá bỏ chế độ tư hữu với tính cách là "chế độ sởhữu cổ truyền" không thể "tiến công trực diện", phải có cách làm khác Theocách diễn đạt của V.I.Lê-nin, đó là "thực hiện những bước lùi cần thiết" Bướclùi đó chính là việc thiết lập một hệ thống sở hữu hợp quy luật làm cơ sở chocác thành phần kinh tế còn tồn tại khách quan, giải phóng tối đa sức sản xuấtcủa xã hội đang bị kìm hãm…

Trang 8

2.1.2 Sự thành công của chính sách kinh tế mới

Trong giai đoạn NEP, sản lượng nông nghiệp không chỉ hồi phục ở mức

đã đạt được trước cách mạng Bolshevik mà còn tăng trưởng mạnh Việc phá bỏcác lãnh địa gần như phong kiến tại các vùng nông thôn ở thời Sa Hoàng trướcđây cho phép nông dân có được sự khích lệ lớn nhất từ trước tới nay để tăngcao sản xuất Khi đã có thể bán thặng dư của họ ra thị trường tự do, sự chi tiêucủa nông dân tạo ra một sự bùng nổ trong các lĩnh vực sản xuất tại các vùng đôthị Kết quả của NEP và sự xoá bỏ lãnh địa trong thời gian Đảng cộng sản củngcố quyền lực từ 1917-1921 là Liên bang sô viết trở thành nhà sản xuất lúa gạolớn nhất thế giới

Ở vào thời điểm đó, thực hiện NEP tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Xô viết Nga là một quyết định dũng cảm, táo bạo, sáng suốt của V.I.Lê-nin vànhững người Cộng sản Nga NEP không thuần tuý là một chính sách kinh tế với

ý nghĩa là một công cụ quản lý vĩ mô về kinh tế - xã hội của Chính quyền Xôviết, nó có tầm rộng lớn mang tính chất một giải pháp cơ bản có tính tổng thể

về kinh tế, chính trị, xã hội, để cải cách kinh tế Nhờ NEP, nước Cộng hoà đượcgiải thoát khỏi một cuộc khủng hoảng để thực hiện những công việc của mộtđất nước vừa thoát khỏi chiến tranh bắt tay vào công việc cải tạo và xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật của chế độ mới, xây dựng nhà nước chuyên chính vôsản, củng cố liên minh công nông… những công việc chủ yếu của một đất nướckhi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

2.2 Thực tiễn Trung Quốc

2.2.1 Chính sách cải cách kinh tế của Đặng Tiểu Bình

Đặng Tiểu Bình là người đầu tiên đề xuất rằng Trung Quốc nên tiến hànhcải cách, thừa nhận chính sách mở cửa và tiếp thêm sinh lực cho nền kinh tế.Từ năm 1978, ông đã thúc đẩy việc cải cách Trong khi còn khoảng 80% dân sốTrung Quốc sống ở vùng nông thôn, ông chỉ ra rằng: việc cải cách nên tiến

Trang 9

hành ở nông thôn trước khi tiến hành ở các thành phố Công cuộc cải cách cáckhu đô thị thường phức tạp hơn ở vùng nông thôn, ông khuyến khích nên khámphá các tiềm năng này một cách táo bạo nhưng cũng bằng sự quan tâm và cẩntrọng

Theo đề xuất của ông, 4 đặc khu kinh tế đã được hình thành và 14 thànhphố duyên hải mở cửa với thế giới Trên cơ sở bình đẳng đôi bên cùng có lợi,ông tuyên bố Trung Quốc nên mở rộng hợp tác kinh tế với các nước bên ngoài,thu hút vốn và giới thiệu các kỹ thuật và kỹ năng quản lý tiên tiến của họ đểthúc đẩy việc phát triển kinh tế riêng của mình Các thành phần tư nhân nênđược phát triển như là một phần phụ trợ cho các thành phần xã hội vốn dĩ sẽchiếm ưu thế trong nền kinh tế Trung Quốc Ông cũng cho rằng một số khu vựcvà một số người được phép làm giàu, sau đó những người khác sẽ theo gươnghọ Sự phát triển của Trung Quốc trong hơn 20 năm qua đã chứng minh chínhsách cải cách và mở cửa của Đặng Tiểu Bình là hoàn toàn đúng đắn

2.2.2 Thành tựu đạt được sau cải cách

Trong nửa thế kỷ tồn tại của nước CHND Trung Hoa, chỉ từ khi đất nướcthực hiện quốc sách chiến lược cải cách - mở cửa đồ Hội nghị Trung ương lầnthứ 3 khoá XI ĐCS Trung Quốc (họp tháng 12-1978) vạch ra, Trung Quốc mớithực sự bước vào con đường xây đựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đạihoá, thực hiện dân giàu nước mạnh, đạt được nhiều thành tựu huy hoàng và đểlại những bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền kinh tế chuTừ chế độ cônghữu đơn nhất chuyển sang chế độ kinh tế lấy công hữu làm chủ thể, kinh tếnhiều loại sở hữu cùng phát triển

Trước cải cách, kinh tế Trung Quốc gần như hoàn toàn thuộc sở hữu côngcộng, chiếm tới 99,1% tổng sản phẩm trong nước vào năm 1978 Cùng với tiếntrình cải cách, nhận thức về kinh tế công hữu ngày càng có sự thay đổi sâu sắc,

đã tiến tới khẳng định rằng nguồn vốn trong chế độ công hữu không chỉ thểhiện ở số lượng mà còn ở chất lượng, và quan trọng hơn nữa, ở vai trò khống

Trang 10

chế của Nhà nước, ở vai trò chủ đạo của kinh tế công hữu Với chủ trươngnhiều loại hình kinh tế cùng phát triển, không chỉ có các doanh nghiệp cá thể,

tư nhân, mà còn có cả các doanh nghiệp "3 loại vốn", các doanh nghiệp theochế độ sở hữu hỗn hợp như chế độ cổ phần và chế độ hợp tác cổ phần

Kinh tế cá thể và kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển, nên đếncuối năm 1979, số hộ đăng ký kinh doanh là 29,47 triệu, với 67,91 triệu laođộng Sự lớn mạnh của các loại hình kinh tế này ngày càng có tác dụng tích cực

rõ trong việc đáp ứng đòi hỏi về đời sống cho nhân dân, làm cho đời sống kinhtế xã hội của cả nước thêm sôi động, từ chỗ được coi là sự "bổ sung" cho kinhtế công hữu, nay các loại hình kinh tế này đã được Quốc hội Trung Quốc dựkiến đưa vào Hiến pháp sửa đổi, quy định đó “là bộ phận cấu thành quan trọngcủa nền kinh tế thị trường XHCN” được Nhà nước bảo hộ quyền lợi và lợi íchhợp pháp Điều đó cho phép các loại hình kinh tế phi công hữu này sẽ còn pháthuy được tiềm nàng to lớn của mình trong phát triển kinh tế

Các doanh nghiệp ba loại vốn" ở Trung Quốc đã phát triển rất nhanh Đếncuối năm 1997, đã có tới 236 ngàn xí nghiệp loại này với số vốn nước ngoài lêntới 30,3 tỷ USD Điều này không những bổ sung cho nguồn vốn còn thiếu củaTrung Quốc, mà quan trọng hơn, còn đưa vào đất nước những thứ quý giá hơn,đó là những quan niệm mới và kinh nghiệm quản lý mới

Chế độ cổ phần và hợp tác cổ phần trước đây bị coi là những sản phẩmcủa CNTB, nay đã được cho phép hình thành và đưa vào nề nếp Đến cuối năm

1997, trong cả nước đã có 680 ngàn doanh nghiệp thí điểm thực hiện chế độnày với số vốn đăng ký là 1730,2 tỷ NDT

Với chủ trương đa dạng hoá các loại hình kinh tế như trên, đến cuối năm

1997, tỷ trọng của các loại hình kinh tế phi công hữu trong tổng sản phẩm trongnước đã từ 0,9% vào năm 1978 tăng lên 24,20% còn mức giảm tương ứng củakinh tế công hữu thời gian trên đã từ 99,1% xuống 75,8% Tuy nhiên, vai tròchủ thể của kinh tế công hữu không vì thế mà giảm đi Được thực hiện tách rời

Ngày đăng: 17/02/2014, 12:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w