đó có các vấn đề về dân số, việc làm, tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm ngày cànggia tăng.Pháp luật hình sự là một trong những công cụ để đấu tranh phòng ngừa và chốngtội phạm, góp ph
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
-o0o BÀI TẬP CUỐI KỲ
TÊN ĐỀ TÀI : Qui định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam hiện nay
về tội phạm và đánh giá về tình hình tội phạm hiện nay tại địa phương
NHÓM : 5
Thành phố Hồ Chí Minh, 7 tháng 1 năm 2022
Trang 2BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HỒ CHÍ
MINH KHOA CHÍNH TRỊ - LUẬT
TÊN ĐỀ TÀI : Qui định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam hiện nay về tội phạm và đánh giá về tình hình tội phạm hiện nay tại
Trang 3Lời cam đoan
Chúng em xin cam đoan đề tài: Qui định chung của pháp luật Hình sự Việt Namhiện nay về tội phạm và đánh giá về tình hình tội phạm hiện nay tại địa phương donhóm 5 nghiên cứu và thực hiện
Chúng em đã kiểm tra dữ liệu theo quy định hiện hành
Kết quả bài làm của đề tài Qui định chung của pháp luật Hình sự Việt Nam hiệnnay về tội phạm và đánh giá về tình hình tội phạm hiện nay tại địa phương là trungthực và không sao chép từ bất kỳ bài tập của nhóm khác
Các tài liệu được sử dụng trong tiểu luận có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Ký tên Khôi
Phạm Nguyễn Đăng Khôi
Trang 4Lời cảm ơn
Đầu tiên, em xin thay mặt nhóm 5 chúng em gửi lời cảm ơn chân thành và sâusắc nhất đến giảng viên Phan Ái Nhi, đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ hướng dẫn và hỗtrợ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng em trong khoảng thời gian học Mặc dù dịchCovid-19 đã làm thay đổi cách giảng dạy của cô từ giảng dạy trực tiếp chuyển sanggián tiếp là dạy Online, nhưng cô vẫn tận tâm, tận tình giúp đỡ trong suốt quá trìnhgiảng dạy Nhờ vậy chúng em mới có kiến thức, nội dung để hoàn thành nghiên cứu
đề tài:21 này một cách chỉnh chu, hoàn thiện nhất có thể
Và tiếp theo, em cũng xin gửi lời tri ân sâu sắc đối với toàn thể các thầy giáo côgiáo của trường nói chung và thầy giáo cô giáo của khoa Chính Trị - Luật nói riêng Vì
đã tạo điều kiện và tận tình hỗ trợ chúng em về các mặt thiết bị, công nghệ,… trongthời gian dạy và học trực tuyến Online do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 Đểchúng em có thể kết thúc khóa học theo đúng tiến độ đã đề ra và được vận dụng nhữngkiến thức đã học để hoàn thành đề tài cô giao
Cuối cùng, chúng em cũng rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét hay phê bìnhchân thành nhất của các thầy cô về đề tài này Vì chúng em biết rằng kiến thức củachúng em còn nhiều thiếu sót và hạn chế, thời gian nghiên cứu và chuẩn bị của mônhọc có phần gấp rút nên sẽ có những thiếu sót, mong quý thầy cô có thể thông cảm chochúng em về những hạn chế trên
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIỆN NAY VỀ TỘI PHẠM
1.1.Khái niệm Tội phạm (Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 - sửa đổi, bổ sung 2017) : 2 1.2 Các dấu hiệu của tội phạm :
1.2.1 Tính nguy hiểm cho xã hội :
1.2.2 Tính có lỗi :
1.2.3 Tính trái Pháp luật Hình sự :
1.2.4 Tính phải chịu hình phạt :
1.3 Cấu thành tội phạm
1.3.1 Mặt khách quan
1.3.2 Mặt chủ quan
1.3.3 Khách thể
1.3.4 Chủ thể
1.4 Phân loại tội phạm
2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN
3 ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
PHẦN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6đó có các vấn đề về dân số, việc làm, tệ nạn xã hội, tình hình tội phạm ngày cànggia tăng.
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ để đấu tranh phòng ngừa và chốngtội phạm, góp phần vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnhthổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợiích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản
lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội an toàn,lành mạnh, mang tính nhân văn cao Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cựcloại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới vì mưc tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh Chính vì để hiểu rõ hơn pháp luật hình sự về tộiphạm nhóm chúng em đã nghiên cứu đề tài “ Qui định chung của pháp luật Hình sựViệt Nam hiện nay về tội phạm và đánh giá về tình hình tội phạm hiện nay tại địaphương”
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích của đề tài là nghiên cứu những lý luận chung về tội phạm, hiểu rõ hơn
về Bộ Luật hình sự
- Đối tượng nghiên cứu là các quan điểm khoa học về tội quy định và thực tiễn ápdụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội phạm
Phạm vi nghiên cứu
Trang 7Tập trung nghiên cứu về các quy định chung đối với tội phạm trong phápluật hình sự Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ởchương một để đưa ra các cơ sở lý luận và quy định của pháp luật hình sự về tộiphạm
- Phương pháp thống kê: thu thập, tổng hợp các số liệu về tình hình tội phạm hiệnnay
Ý nghĩa của bài nghiên cứu
- Góp phần làm rõ vấn đề lý luận, hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật hình sựViệt Nam về tội phạm
- Hiểu được các dấu hiệu và hình phạt của tội phạm
- Tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của Luật hình sự về tội phạm
Bố cục của bài nghiên cứu
- Quy định chung của pháp luật hình sự hiện nay về tội phạm
- Liên hệ thực tiễn
- Đánh giá về tình hình tội phạm hiện nay
PHẦN NỘI DUNG
1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ HIỆN NAY VỀ TỘI PHẠM
1.1 Khái niệm Tội phạm (Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 - sửa đổi, bổ sung 2017) :
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện mộtcách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổquốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh,trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con
Trang 8người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hộikhông đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác
Từ định nghĩa đầy đủ này, ta có thể định nghĩa tội phạm một cách khái quát nhưsau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi do người có năng lực tráchnhiệm hình sự thực hiện, trái pháp luật hình sự Người thực hiện hành vi nguy hiểmcho xã hội phải có lỗi: lỗi là thái độ tâm lý cố ý hoặc vô ý của người đó đối với hành vinguy hiểm cho xã hội và hậu quả của nó Khoa học luật hình sự coi lỗi là dấu hiệuthuộc mặt chủ quan của tội phạm Nếu hành vi gây nguy hại cho xã hội không bị coi là
có lỗi thì người thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội sẽ không phải chịu tráchnhiệm hình sự (không đủ yếu tố cấu thành tội phạm) Tội phạm là hành vi có lỗi, vàtính có tội là thuộc tính cơ bản của tội phạm, là căn cứ để buộc một người phải chịutrách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi của mìnhgây ra Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận hình thức buộc tội khách quan, tộiphạm là hành vi tổng hợp các yếu tố chủ quan và khách quan, liên quan chặt chẽ vớinhau trong một thể thống nhất, chung quy lại tội phạm là sự thống nhất giữa mặt chủquan và mặt khách quan Và có thể thấy theo quy định pháp luật thì tội phạm trước hếtphải là hành vi có thể hành vi hành động và không hành động Để xác định một hành
vi có phải là tội phạm hay không, người ta cần xem xét hành vi đó có đủ dấu hiệu đểcấu thành tội phạm hay không Trên thực tế, việc xác định các dấu hiệu tội phạm bắtbuộc đối với từng tội phạm thường khó xác định, dẫn đến nhiều vi phạm đáng tiếc
1.2 Các dấu hiệu của tội phạm :
Tội phạm theo Pháp luật Hình sự Việt Nam, phải là hành vi của con người Những
gì mới chỉ trong tư tưởng chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì không thể là tộiphạm Theo Luật Hình sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt vớinhững hành vi khác không phải là tội phạm thông qua 4 dấu hiệu:
Trang 91.2.1 Tính nguy hiểm cho xã hội :
Là dấu hiệu cơ bản nhất, quan trọng nhất quyết định những dấu hiệu khác của tộiphạm Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong Luật Hình sự là tội phạm và phải chịutrách nhiệm hình sự vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm cho xã hộicủa tội phạm có tính khách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làmluật Do vậy khi khẳng định hành vi nhất định là hành vi nguy hiểm cho xã hội thìkhông có nghĩa đó là sự áp đặt theo ý muốn chủ quan của những con người mà đó chỉ
là sự xác nhận thực tế khách quan đã được nhận thức qua việc đánh giá nhiều tình tiếtkhác nhau của hành vi hay có liên quan đến hành vi
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là thuộc tính khách quan Một hành vi cónguy hiểm cho xã hội hay không và mức độ nguy hại cho xã hội như thế nào hoàn toànphụ thuộc vào các yếu tố khách quan Những tình tiết đó, trước hết phải kể đến là:
Tính chất của quan hệ xã hội bị xâm hại
Tính chất của hành vi khách quan trong đó bao gồm cả tính chất của phươngpháp thủ đoạn, của công cụ và phương tiện phạm tội
Mức độ thiệt hai gây ra hoặc đe dọa gây ra cho quan hệ xã hội bị xâm hại
Tính chất và mức độ lỗi
Động cơ, mục đích của người có hành vi phạm tội
Hoàn cảnh chính trị - xã hội lúc và nơi hành vi phạm tội xảy ra
Nhân thân của người có hành vi phạm tội
1.2.2 Tính có lỗi :
Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội củamình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hay vô ý Nhữngngười làm những hành vi có hại cho xã hội bị đánh giá là đáng trách nếu họ đã quyếtđịnh và hành động khi họ có cơ hội lựa chọn những hành vi khác không gây nguy hạicho xã hội Bộ luật Hình sự dự định nhấn mạnh khái niệm có tội bằng cách phân biệt
"có tội" là dấu hiệu của tội phạm cùng với dấu hiệu của "nguy hiểm cho xã hội" Luật
Trang 10hình sự Việt Nam không thừa nhận quy kết khách quan, việc truy cứu trách nhiệmhình sự chỉ dựa trên thực tế là một người đã thực hiện một hành vi gây tổn hại cho xãhội, chứ không phải dựa trên hành vi phạm tội của họ Hình phạt không chỉ được sửdụng để trừng phạt mà còn để dạy mọi người về tầm quan trọng của việc tuân theopháp luật và ngăn ngừa tội phạm Mục tiêu giáo dục này chỉ có thể được đáp ứng nếu
cá nhân có lỗi bị trừng phạt Hình phạt không thể mang tính hướng dẫn cho nhữngngười không có lỗi Do đó, "có lỗi" phải được xác định là một điều cơ bản của luậthình sự và được coi là một dấu hiệu đáng kể của hành vi sai trái
1.2.3 Tính trái Pháp luật Hình sự :
Theo Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì hành vi nguy hiểmcho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu được quy định trong Bộ luật Hình sự Nếuhành vi đó rất nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật hình sự hiện hành chưa quy định thìvẫn không được xem là tội phạm Nếu Bộ luật Hình sự trước quy định là tội phạmnhưng Bộ luật Hình sự hiện hành không còn quy định nữa thì cũng không được xem làtội phạm Việc xác định “được quy định trong bộ luật hình sự” là dấu hiệu của tộiphạm không chỉ là cơ sở bảo đảm đồng bộ chống tội phạm, tránh tùy tiện mà còn làđộng lực để các cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi pháp luật theo sự chuyểnbiến của tình hình tội phạm chặt chẽ Tuy chỉ là dấu hiệu về mặt hình thức pháp lýnhưng tính chất được quy định trong luật hình sự, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội,
là dấu hiệu thuộc nội dung chính trị - xã hội của tội phạm thì vẫn có tính độc lập nhưnhau Và có ý nghĩa lớn, nếu chỉ coi trọng tính nguy hiểm cho xã hội sẽ dễ dẫn đến sựtùy tiện trong việc xác định tội phạm Ngược lại, nếu quá coi trọng tính chất được quyđịnh trong luật hình sự thì sẽ dễ định tội một cách hình thức, máy móc Để tránhnhững trường hợp đó, khoản 2 Điều 8 BLHS quy định: “Những hành vi tuy có dấuhiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải
là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”
Trang 111.2.4 Tính phải chịu hình phạt :
Đây là dấu hiệu đặc trưng của tội phạm vì chỉ khi nào là tội phạm mới có tính chịuhình phạt Các vi phạm pháp luật khác chỉ phải chịu các biện pháp xử phạt như cảnhcáo, phạt tiền Riêng tội phạm sẽ bị đe dọa có thể phải chịu biện pháp cưỡng chế Nhànước nghiêm khắc nhất là hình phạt Hình phạt là một dấu hiệu của một tội phạm,nhưng nó không phải là một đặc điểm thuộc tính của tội phạm, như các dấu hiệu khác.Một hành vi bị coi là tội phạm vì nó nguy hiểm cho xã hội về bản chất và hình thức,theo quy định của pháp luật hình sự, chứ không phải bị xử lý hình sự Ngược lại, hành
vi đó bị trừng phạt vì nó là tội phạm - nguy hiểm cho xã hội và được điều chỉnh bởiluật hình sự Do đó, loại hình phạt được quy định trong luật hình sự như một dấu hiệukèm theo của tính chất nguy hiểm cho xã hội Nguy hiểm đối với xã hội là nền tảngcho cả việc phân chia hình phạt trong pháp luật và cá thể hoá hình phạt trong việc ápdụng pháp luật hình sự Hình phạt được coi là một dấu hiệu của tội phạm vì các đặcđiểm khách quan vốn có của tội phạm quyết định nó Chỉ những hành vi phạm tội mới
bị trừng phạt bằng một biện pháp trách nhiệm, không có hình phạt nếu không có tộiphạm Đây là lý do tại sao "phải chịu hình phạt" được coi là một đặc điểm xác định tộiphạm Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đưa đặc điểm "phải chịu hình phạt" trong phần
mô tả ý tưởng tội phạm tại Điều 8 mà không sử dụng cụm từ "phải chịu hình phạt" vìcho rằng các biện pháp xử lý hình sự không chỉ bao gồm hình phạt mà còn cả các biệnpháp hình sự phi hình phạt Mặt khác, hình phạt vẫn là một biện pháp xử lý hình sự cơbản và có tính phân biệt Về bản chất, các thuật ngữ "phải bị xử lí hình sự" và "phảichịu hình phạt" có thể hoán đổi cho nhau Yếu tố “phải bị xử lí hình sự” thể hiện rộngrãi hơn, nhưng đặc điểm “phải chịu hình phạt” phản ánh nội dung chính, cụ thể củabiện pháp hình sự
Lập luận rằng một tội phạm chịu hình phạt có nghĩa là bất kỳ tội phạm nào cũng bị
đe dọa chịu hình phạt vì nó nguy hiểm cho xã hội, đây là biện pháp cưỡng chế nhànước nghiêm khắc nhất trong hệ thống Các biện pháp cưỡng chế của nhà nước không
có nghĩa là phải áp dụng và thi hành một hình phạt nào đó trên thực tế đối với mọihành vi phạm tội Trên thực tế, vẫn có những trường hợp người phạm tội không bị
Trang 12trừng phạt Đây là những tội phạm được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hìnhphạt, được miễn chấp hành hình phạt tù Bởi vì hình phạt như vậy là không cần thiết,một số người có thể cho rằng không nên coi đó là đúng Hình phạt là một dấu hiệu củamột tội ác Một quan điểm như vậy sẽ không nhận ra mối liên hệ giữa tội phạm vàhình phạt Tội duy nhất là một hành vi có thể chịu hình phạt trong số những việc làmcủa con người Có thể có tội mà không phải nhận hình phạt, nhưng không thể tưởngtượng được việc chịu hình phạt trong khi không có tội Nếu chúng ta bỏ qua tính chủquan của hình phạt như một dấu hiệu của tội phạm, chúng ta sẽ bỏ lỡ thực tế rằng hìnhphạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất liên quan đến tội phạm Trong trườnghợp được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt, thì người phạm tội khôngphải chịu hình phạt, nhưng điều này không thể hiện rằng tội phạm mà họ thực hiệnkhông chịu hình phạt, đúng hơn, khả năng phạm tội không chịu hình phạt Mối đe dọaphải chịu hình phạt vẫn còn Người phạm tội không phải chịu hình phạt vì họ đượcmiễn vì nhiều lý do khác nhau Đây là những căn cứ được nêu tại các Điều 29, 59, 62,
65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Như vậy, tội phạm phải chịu hình phạt có nghĩa là bất kỳ hành vi phạm tội nàocũng bị đe dọa và có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất củanhà nước, đặc biệt là hình phạt
- Về hành vi khách quan
Dấu hiệu bắt buộc phải có ở tất cả tội phạm đó là hành vi khách quan, tức phải cóhành vi nguy hiểm cho xã hội Nếu một người thực hiện hành vi không gây nguy hiểm