(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
o0o
HOÀNG VĂN HẠNH
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN
VÔ TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
o0o
HOÀNG VĂN HẠNH
BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN
VÔ TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 9.38.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu nêu trong luận án là trung thực Các luận điểm kế thừa trong luận án được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong công trình nào khác
Nghiên cứu sinh
Hoàng Văn Hạnh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 27
1.4 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Chương 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 37
2.1 Khái niệm, ý nghĩa của bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự 37
2.2 Chủ thể có trách nhiệm bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự 50
2.3 Các biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự 57
2.4 Các yếu tố bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
Chương 3 : THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY 70
3.1 Thực trạng quy định về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng Việt Nam hiện nay 70
3.2 Thực tiễn bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 131
Trang 5Chương 4 : QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN NAY 132
4.1 Quan điểm bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự 1324.2 Giải pháp hoàn thiện mô hình tố tụng và pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội 1414.3 Giải pháp tăng cường bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội 151
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 162 KẾT LUẬN CHUNG 163
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 165 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 166
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự luôn là một vấn đề quan tâm của hệ thống tố tụng hình sự bất kỳ quốc gia nào Trong đó, việc quy định và bảo đảm thực hiện trên thực tế nguyên tắc suy đoán vô tội là một nội dung rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền con người tron quá trình giải quyết vụ án hình sự Suy đoán vô tội xuất hiện lần đầu tiên ở thời La Mã cổ đại vào thế kỷ thứ
VI khi Hoàng đế La Mã ban hành bản tóm lược Luật La Mã Người ta đã khẳng định rằng, trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo, thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định, những tư tưởng này chỉ được các quan toà áp dụng trong
tố tụng dân sự Đây được coi là cội nguồn của nguyên tắc suy đoán vô tội (presomtion of innonce) Tuy nhiên, suy đoán vô tội chỉ chính thức được xem như một nguyên tắc mang tính công cụ của pháp luật bởi luật gia người Pháp Jean Lemoine nhằm ủng hộ cho suy luận mang tính pháp lý rằng hầu hết mọi người không phải là tội phạm [44] Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản trong của tố tụng hình sự và được coi như một công cụ để bảo vệ quyền con người ở nhiều nước trên thế giới Nguyên tắc này chính thức được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp năm 1789, theo đó tại Điều 9 quy định “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội, nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc bắt giữ đều bị pháp luật xử phạt nghiêm khắc” Tiếp đó, Điều 11, Tuyên bố chung
về quyền con người (được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948) ghi nhận: “Mỗi bị cáo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên tòa xét xử công khai với mọi đảm bảo biện hộ cần thiết” và Điều 14, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 16/12/1966 cũng ghi nhận “Người bị cáo buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” Cho đến nay, hầu hết pháp luật của các quốc gia đều thừa nhận suy đoán vô tội là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự
Trang 8Để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng hình sự, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề bảo đảm quyền suy đoán vô tội trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự Các quan điểm của Đảng về suy đoán vô tội cũng như bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự được thể hiện trong các Nghị quyết như: Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nội dung các quan điểm này được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước
Dưới góc độ pháp lý, năm 1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 và cam kết thực hiện các nguyên tắc của Công ước này, trong đó có nguyên tắc suy đoán vô tội Lần đầu tiên, suy đoán vô tội được ghi nhận với tư cách là một nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng hình sự đầu tiên (năm 1988) của nước ta (Điều 10), là một quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 72) Tuy nhiên trong những giai đoạn này, nguyên tắc suy đoán vô tội chưa được ghi nhận bằng tên gọi chính xác và cụ thể, mà chỉ là nội sung của suy đoán vô tội được thể hiện trong các quy định của Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và Điều 9, Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Đến năm 2013 Hiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận tại khoản 1
Điều 13 nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, cụ thể là: “Người bị buộc tội được
coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Thể chế hóa quy định của Hiến
pháp 2013, nguyên tắc suy đoán vô tội cũng đã được quy định tại Điều 13 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi
được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ
để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.”
Theo các quy định của pháp luật, nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện là người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
Trang 9minh theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và nếu cơ quan có thẩm quyền không chứng minh được căn cứ buộc tội thì phải kết luận người bị buộc tội không có tội Như vậy, trong suốt lịch sử xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam có thể thấy, nhưng quan điểm, tư tưởng về suy đoán vô tội đã dược dần dần hình thành
và ngày càng cụ thể hóa Điều này góp phần quan trọng vào việc bảo đảm quyền co người trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng hình sự cho thấy, việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội thời gian qua cũng còn những bất cập cả về thể chế và quá trình áp dụng, nhất là việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc này được đặt trong mối quan hệ biện chứng với các nguyên tắc tố tụng hình sự khác được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định Đầu tiên phải kể đến các hạn chế, tồn tại của mô hình tố tung hình sự Việt Nam với đặc trưng là mô hình tố tụng thẩm vấn có tăng cường thêm các yếu tố tranh tụng, do đó vai trò của các cơ quan tiến hành tố tụng nhà nước trong việc chứng minh tội phạm là rất rõ nét, trong khi đó vai trò của các chủ thể khác, đặc biệt là bên bị buộc tội là rất mờ nhạt Điều này làm ảnh hưởng đáng kể đến vấn đề bảo đảm suy đoán vô tội Ngoài ra, các quy định cũng như thực hiện quy định về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam còn nhiều hạn chế về nguyên tắc, mọi chứng cứ do người có thẩm quyền thu thập đúng trình tự, thủ tục đều có giá trị pháp lý ngang nhau nên phải được đánh giá, sử dụng như nhau nhưng
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa thể hiện được điều này Vẫn còn sự bất bình đẳng trong thu thập, đánh giá chứng cứ Bộ luật tố tụng hình sự quy định luật sư có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, nhưng lại chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của luật sư Giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật do luật sư thu thập không cao, thậm chí không được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận Điều này cũng làm giảm hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trên thực tế Bên cạnh đó, việc nhận thức, tuân thủ nguyên tắc này cũng còn những hạn chế, bất cập, nhất là trong một số vụ án hình sự, người tiến hành tố tụng bức cung, dùng nhục hình hay xét xử chỉ căn cứ vào hồ sơ vụ án mà không bảo đảm tính tranh trụng trong hoạt động xét xử đã dẫn đến những việc oan, sai cho bị can, bị cáo Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường bị nhìn nhận là người phạm tội, thậm chí,
họ còn bị đối xử một cách thô bạo mặc dù rất nhiều trường hợp sau đó họ được Tòa
Trang 10án tuyên là không phạm tội Như vậy, theo cách suy diễn này, có lẽ việc tiến hành tố tụng đang theo hướng “suy đoán có tội” mà không phải “suy đoán vô tội” Điều này gây ra thiệt hại không nhỏ đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, xâm phạm đến
uy tín, danh dự của họ và dẫn đến tình trạng oan, sai trong tố tụng
Trong những năm trước khi có Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015, khi chưa có qui định chính thức về nguyên tắc này, nên đã xảy ra nhiều vụ án oan sai, xâm phạm thô bạo quyền con người, để lại hậu quả vô cùng nặng nề , sử dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng không đúng, thiếu căn cứ, chà đạp lên quyền con người, sau đó vụ án được xem xét lại thì họ hoàn toàn vô tội Đồng thời ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng, đến đường lối đổi mới và cải cách nền tư pháp nước ta Chính vì tầm quan trọng như vậy, nên nguyên tắc suy đoán vô tội luôn được sự quan tâm của nhà nước, mà còn trở thành một yêu cầu bức thiết trong hoạt động xây dựng pháp luật cũng như hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn Do đó, việc Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội là một điều kiện căn bản để bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật tố tụng hình sự Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm xác định những thiếu sót tồn tại về xây dựng pháp luật, về áp dụng pháp luật và đề ra các giải pháp bảo đảm thực hiện tốt hơn nguyên tắc suy đoán vô tội, đặc biệt là những điều kiện bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, trong các giai đoạn
tố tụng trên thực tế, góp phần đem đến sự bình đẳng trong hoạt động tố tụng hình sự giữa một bên là Nhà nước với bộ máy đầy quyền lực của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hùng hậu với một bên yếu thế là người bị tình nghi, bị can,
bị cáo Với những lý do được phân tích ở trên, nên nghiên cứu sinh đã lựa chọn đề
tài “Bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu và làm Luận án Tiến sĩ luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, luận án đưa ra những đánh giá, nhận
Trang 11xét và đề xuất các định hướng, giải pháp góp phần bảo đảm thực hiện hiệu quả nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu ở trên, luận án xác định các nhiệm
vụ chủ yếu sau đây:
Một là, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
liên quan đến việc bảo đảm thực hiện hiệu quả nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự, từ đó, rút ra những vấn đề cần kế thừa, những vấn đề tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong nội dung luận án
Hai là, nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện
nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự
Ba là, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn bảo đảm thực hiện nguyên
tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay, đánh giá và chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân chủ yếu
Bốn là, đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng bảo đảm thực
hiện hiệu quả nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận cũng như pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự được thể hiện trong các công trình khoa học đã được công bố và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước cũng như thực tiễn bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam trong giai đoạn vừa qua
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo
đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay trong các giai đoạn của tố tụng hình sự
Về không gian, nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật về bảo đảm thực hiện
nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự trong phạm vi cả nước
Về thời gian, Luận án sẽ khảo sát thực trạng bảo đảm thực hiện nguyên tắc
suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở
Trang 12Việt Nam từ thời điểm Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 đến hết năm 2020, đồng thời có sự so sánh với thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự các vụ án hình sự, bị oan, sai các giai đoạn trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp trong lĩnh vực hình sự và
tố tụng hình sự về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình
sự, bảo đảm quyền con người Để thực hiện nghiên cứu đề tài, Luận án cũng sử
dụng nhiều phương pháp nghiên cứu truyền thống, cụ thể là:
- Phương pháp phân tích: được sử dụng để phân tích cũng như luận giải
những vấn đề lý luận và thực trạng quy định pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự, lập luận về các giải pháp tăng cường bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự tại Chương 2, Chương 3, Chương 4 của luận án
- Phương pháp hệ thống: Được sử dụng ở nhiều giai đoạn khác nhau trong
quá trình triển khai nghiên cứu luận án Bước đầu, phương pháp này được sử dụng
để hệ thống hoá các tài liệu, công trình, bài viết để tổng quan tình hình nghiên cứu
và những vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án tại Chương 1 Trong giai đoạn triển khai nghiên cứu, phương pháp này được sử dụng để hệ thống hoá những hiểu biết, tri thức lý luận liên quan đến bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng nhằm mục đích thực hiện thu thập
và xử lý một cách hợp lý, hiệu quả các số liệu thực tiễn liên quan có ý nghĩa phục
vụ luận giải và làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu của luận án tại Chương 3
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng để tìm hiểu quy định của pháp luật và
quá trình sửa đổi bổ sung pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự qua các thời kỳ, vận dụng khi nghiên cứu các quan điểm, học thuyết tại Chương 2
Trang 13- Phương pháp so sánh: Được dùng để so sánh những sự thay đổi về quan
điểm, nhận thức, tư duy về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự qua từng giai đoạn, từng văn bản pháp luật tố tụng hình sự nhằm phục
vụ những mục tiêu cụ thể của luận án Phương pháp này được sử dụng để so sánh tại Chương 2 và 3 của luận án
- Phương pháp thống kê: Được sử dụng trong việc thống kê số liệu, làm rõ
thực tiễn bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình
sự tại Chương 3 của luận án
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Được sử dụng khi nghiên cứu một số
quan điểm, học thuyết điển hình về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự tại Chương 2, nghiên cứu một số trường hợp điển hình
- Phương pháp xã hội học: Được sử dụng điều tra xã hội học phục vụ cho quá
trình nghiên cứu luận án Phương pháp này có ý nghĩa dự báo khoa học, nhằm dự báo
về các xu hướng phát triển và các yêu cầu bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam trong tương lai
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng một số phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, nghiên cứu khác của pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự, bao gồm: Phương pháp quy nạp và diễn dịch,
mô tả, nghiên cứu văn bản, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, quan sát để chọn lọc tri thức khoa học và kinh nghiệm ở trong và ngoài nước
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
Đây là công trình ở cấp độ luận án tiến sĩ tiếp cận hệ thống và toàn diện vấn
đề bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Luận án có những đóng góp mới như sau:
Thứ nhất, luận án xây dựng hệ thống lý luận về bảo đảm pháp lý thực hiện
nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự như: Khái niệm, đặc điểm nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự; khái niệm, đặc điểm của bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự; chủ thể, phạm vi, tầm quan trọng và các biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự, khái quát các chuẩn mực pháp
Trang 14luật quốc tế về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự
Thứ hai, đánh giá mức độ bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội
trong tố tụng hình sự qua các quy định pháp luật Việt Nam kể từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành Có so sánh, đối chiếu mức độ tương thích của quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và pháp luật của một số quốc gia Bên cạnh đó, Luận án cũng đánh giá thực tiễn thực hiện việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam, từ đó, chỉ ra những kết quả tích cực, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân
Thứ ba, luận án xác định các quan điểm định hướng và đề xuất hệ thống các
giải pháp có tính toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả thực hiện việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, Luận án góp phần vào việc luận giải các cơ sở lý luận về bảo
đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự vừa có tính đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị của Việt Nam, vừa phù hợp với các tiêu chí pháp lý quốc tế về quyền con người, đặc biệt là những vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Kết quả nghiên cứu của Luận án đóng góp cho sự phát triển lý luận chung về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam với các nội dung như khái niệm, nội dung bảo đảm, phương thức, hệ thống tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự
Về mặt thực tiễn, về mặt lập pháp, kết quả nghiên cứu của luận án có những
đóng góp trong việc đưa ra các kiến giải lập pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đặc biệt là pháp luật tố tụng hình sự có liên quan đến bảo đảm thực hiệ nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Về hoạt động thực tiễn các kết quả nghiên cứu của luận án có những đề xuất nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả về tổ chức và thực hiện pháp luật về bảo đảm
Trang 15nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thời gian tới
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu pháp luật về tố tụng hình sự cũng như pháp luật về quyền con người, quyền công dân tại các trường đào tạo luật cũng như các cơ sở nghiên cduwus pháp luật tại Việt Nam
7 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phần phụ lục, luận án được kết cấu gồm 04 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm thực hiện nguyên
tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự
Chương 3: Thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn bảo đảm thực hiện
nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay
Chương 4: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
Trang 36tâm và còn nhiều vấn đề cần bàn luận Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên nào đề cập được mối liên hệ mật thiết giữa hai nội dung này
Về mặt thực tiễn, qua nghiên cứu thực tiễn các quy định của pháp luật về bảo
đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội cho thấy, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 chỉ quy định quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội và Điều 13 Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2015 qui định nguyên tắc suy đoán vô tội; trên đây là hai văn bản ghi nhận cụ thể về nguyên tắc suy đoán vô tội; còn Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 chưa có sự ghi nhận chính thức Các công trình chủ yếu nghiên cứu quy định, Điều 9 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 nên chưa thể hiện được hết nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội Đồng thời, trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung thêm nhiều điều luật cụ thể hóa nội dung của nguyên tắc suy đoán
vô tội Do đó cần thiết phải nghiên cứu, làm rõ hơn để bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội của pháp luật tố tụng hiện nay tại Việt Nam Xuất phát từ hạn chế trong quy định của pháp luật nên thực tiễn áp dụng nguyên tắc như thế nào và thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội còn chưa thực sự hiệu quả Sự cần thiết phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016,
do đó, các công trình nghiên cứu đã công bố mới chỉ nghiên cứu được nội dung thực trạng áp dụng nguyên tắc theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, hơn nữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có hiệu lực, nguyên tắc suy đoán vô tội đã được ghi nhận tại Điều 13; nên cần thiết nghiên cứu sao cho nguyên tắc này được bảo đảm thực hiện trong thực tiễn của hoạt động tố tụng
Về các giải pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự năm2003 chưa ghi nhận nội dung
nguyên tắc suy đoán vô tội một cách đầy đủ, do đó các kiến nghị trong các công trình nghiên cứu khoa học trước đây chủ yếu tập trung đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện nguyên tắc về mặt nội dung Trong khi đó, về cơ bản, những thiếu sót trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã được Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 khắc phục Do đó, các giải pháp này đã không còn tính cập nhật Ngoài
ra, các công trình khoa học khác có nghiên cứu về việc đưa ra giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội không nhiều và cũng chưa thể hiện được hết đòi hỏi của thực tiễn
Trang 371.3.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
Qua việc khảo cứu và đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, tác giả tiếp thu, kế thừa những kết quả đã được làm sáng tỏ
và thừa nhận, đồng thời tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:
Một là, tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý
nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội, các vấn đề lý luận về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự trên thực tế theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Hai là, tiếp tục nghiên cứu, làm rõ thực trạng các quy định pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
Ba là, tiếp tục nghiên cứu và khảo sát toàn diện, tổng kết thực tiễn dưới góc
độ khoa học về việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự Việt Nam để đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc
và nguyên nhân của nó
Bốn là, nghiên cứu, làm rõ các yêu cầu mới đặt, và xây dựng các giải pháp
có tính chiến lược, phù hợp với bối cảnh Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu bảo vệ quyền con người nói chung và quyền con người trong tố tụng hình sự nói riêng đối với việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội
1.4 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
1.4.1 Lý thuyết nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án, tác giả luận án dựa trên các lý thuyết nghiên cứu sau đây:
- Lý thuyết về bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự:
Phát hiện, xử lý tội phạm là công việc của bất kỳ Nhà nước nào nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của cá nhân trong xã hội đó Tuy nhiên, con người khi sinh ra ai cũng có quyền sống trong môi trường an toàn trong đó có sự an toàn
về pháp lý Vừa đảm bảo việc phát hiện xử lý tội phạm, vừa phải đảm bảo không xâm phạm quyền con người là một mâu thuẫn, để giải quyết hài hòa mâu thuẫn này
đó chính là biểu hiện của một kiểu tố tụng hình sự trong một Nhà nước văn minh
Trang 38Công việc đầu tiên ở đâu cũng đòi hỏi và Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ phải làm là: Ghi nhận cụ thể những quyền con người nào trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự của mình Việc ghi nhận này không phải là sự ban phát từ phía Nhà nước,
mà bắt nguồn từ nhiều yếu tố trong đó có việc thừa nhận những giá trị cao của quý nhân loại đã thừa nhận chung Những giá trị đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, không ngừng nghỉ của loài người mới đạt được Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn kiện quốc tế về quyền con người trong tố tụng hình sự như: Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948 (UHDR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR); Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân; Công ước chống tra tấn, đối xử vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1985…
Nghiên cứu các văn bản này đưa đến một khẳng định quyền con người trong
tố tụng hình sự chẳng qua là sự cụ thể quyền được sống, quyền được tự do trong lĩnh vực tố tụng hình sự Đây được coi là tiêu chuẩn về nhân quyền trong tố tụng hình sự Theo đó, quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm những quyền được quy định tại Điều 10, 11 UHDR và Điều 14, 15 ICCPR, bao gồm: Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục tố tụng hình sự; quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác; mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế trách nhiệm hình sự phải trên cơ sở luật định; quyền được suy đoán vô tội; quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chậm trễ; quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm; quyền được nhanh chóng minh oan; quyền không bị kết tội hai lần về cùng một hành vi…; các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử… Có thể nói, suy đoán vô tội được ghi nhận là quyền con người và là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự
- Lý thuyết về cải cách tư pháp:
Xây dựng nền tư pháp văn minh, tiến bộ là nội dung quan trọng để không ngừng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nhiệm vụ chiến lược trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét
Trang 39xử được tiến hành có hiệu quả, Chiến lược cải cách tư pháp đã được tiến hành đồng
bộ với đổi mới lập pháp, kiện toàn bộ máy nhà nước pháp quyền và xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, chuyên nghiệp và tận tụy Trên thực tế, Chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng; giải quyết được nhiều vấn đề bức xúc trong hoạt động tư pháp; kế thừa các giá trị truyền thống pháp
lý tích cực của Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc nhiều giá trị phổ biến của các nền tư pháp hiện đại; đặt nền tảng quan trọng và tạo đà cho sự phát triển của nền tư pháp nước nhà trong dài hạn, tiệm cận gần hơn với nền tư pháp tiên tiến trên thế giới Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ XII tiếp tục khẳng định và có sự
kế thừa mục tiêu về cải cách tư pháp, hướng đến “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, lợi ích của Nhà nước quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân”
- Lý thuyết về tính đồng bộ trong các nguyên tắc của tố tụng hình sự:
Dân chủ hóa tố tụng hình sự, bảo đảm sự bình đẳng của các bên trong tố tụng hình sự, triệt để tôn trọng quyền con người, quyền công dân trong quá trình tiến hành tố tụng là xu hướng không thể đảo ngược của tố tụng hình sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Pháp luật tố tụng hình sự đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền trước hết, thể hiện ở hệ thống nguyên tắc của nó với tư cách là các nguyêntắc cơ bản, cốt lõi và quan trọng, là những quan điểm chỉ đạo làm nền tảng và xuyên suốt các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động tố tụng hình sự cần được thể hiện đầy đủ, toàn diện và đồng bộ Trong hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình
sự, nguyên tắc suy đoán vô tội đóng vai trò hết sức quan trọng và có thể nói đây là một trong những nguyên tắc cơ bản và là trụ cột chính kiến tạo hệ thống pháp luật
Trang 40nhận và bảo vệ; khi nó phù hợp với mô hình tố tụng đảm bảo được các tiêu chuẩn
về xét xử công bằng Đặc biệt, nguyên tắc suy đoán vô tội chỉ được thực hiện khi nó kết hợp với các nguyên tắc khác trong hệ thống nguyên tắc tố tụng hình sự Việt nam Bởi lẽ nguyên tắc suy đoán vô tội là một trong nhiều các nguyên tắc hợp thành
hệ thống nguyên tắc của luật tố tụng hình sự
Hệ thống nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự được chia làm nhiều nguyên tắc song các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự đều là sự cụ thể hóa các nguyên tắc chung của pháp luật và các nguyên tắc của hiến pháp Giữa các nguyên tắc này có mối liên hệ mật thiết với nhau tác động qua lại lẫn nhau Đó là sự thực hiện nguyên tắc này là tiền đề để thực hiện nguyên tắc kia hoặc nguyên tắc này cụ thể hóa nguyên tắc kia Nguyên tắc suy đoán vô tội có quan hệ mật thiết với nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa, nguyên tắc bảo đảm tranh tụng, nguyên tắc xác định sự thật vụ
án, nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật và các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự
… Vì vậy, việc bảo đảm thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nguyên tắc của pháp luật
tố tụng hình sự cũng góp phần to lớn trong bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc suy đoán vô tội
1.4.2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.4.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung vào việc giải quyết một số câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Thế nào là nguyên tắc suy đoán vô tội? Khái niệm và các biện pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội?
- Có những quan điểm khoa học nào về bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự và sự tồn tại của nguyên tắc này trong khoa học pháp lý? Để bảo đảm thực hiện hiệu quả nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự, cần có những phương thức, điều kiện gì?
- Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay đã quy định về nguyên tắc suy
đoán vô tội và bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội như thế nào? Thực tiễn việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội đã đạt được mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân hay chưa? Những hạn chế, tồn tại