Theo nghĩa rộng, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự
Trang 1Tên học phần: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã học phận: 2121POLI200305
Thời gian: Sáng thứ 4 (tiết 1-6)
DANH SÁCH THANH VIÊN NHÓM 6
Trang 2Chủ đề: Trình bày bản sắc văn hoá của các dân tộc ít người ở Việt Nam (chọn 3
dân tộc có bản sắc văn hoá đặc sắc, khác biệt) Những bản sắc đó tạo ra thuận lợi
và khó khăn gì trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta Nêu
ví dụ cụ thể.
I Bản sắc văn hoá dân tộc
1 Dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc
Theo nghĩa rộng, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước
Theo nghĩa hẹp, dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa
Trang 32 Bản sắc văn hóa dân tộc
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là thuật ngữ chỉ sắc thái, vẻ đẹp và tính chất đặc biệt, cái riêng để phân biệt với những nước trên thế giới, bản sắc văn hóa dân tộc là cái gốc của nền văn hóa, những đặc trưng không thể trộn lẫn trong cội nguồn văn hóa dân tộc Việt Nam
3 Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là hành động, việc làm của mỗi người hướng tới mục tiêu bảo vệ, gìn giữ những nét đặc trưng, tài sản vô giá, linh hồn của dân tộc hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, biết bao mồ hôi xương máu máu của dân tộc Việt Nam
4 Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc thể hiện ở những mặt nào?
Bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc thường được thể hiện ở:
+ Phương thức sản xuất
Trang 4II Bản sắc văn hoá của các dân tộc ít người ở Việt Nam
1 Dân tộc Mảng
Dân tộc Mảng sinh sống ở thượng nguồn sông Đà thuôc tinh Lai Châu – Điện Biên, Vân Nam (Trung Quốc) Người Mảng sinh sông chu yêu ven hai con sông lớn
là sông Đà và Nậm Na, địa danh Gium Bai được người Mảng coi là nơi phát tích của dân tộc minh Hiện nay đồng bào sông xen kẽ cung một số dân tộc Mông, Thái, Hà Nhì, Dao, Khơ Mú Đây là một trong những dân tộc còn lưu giữ được nhiều nét văn hóa độc đáo
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ Me (ngữ hệ Nam
-Á) Nhiều người Mảng biết tiếng Thái Người Mảng chưa có chữ viết riêng
- Công việc: Công việc chính của người Mảng là làm nương rẫy, công cụ sản
xuất thô sơ Một số nơi làm ruộng bậc thang, nghề thủ công đan lát
- Phong tục tập quán: Thờ vị thần cao nhất là trời Hôn nhân tự do, lúc đưa
dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và nhà gái để giành cô dâu Cư trú theo dòng
họ, riêng biệt, ở nhà sàn Có trưởng bản cai quản cùng hội đồng già làng
+ Cưới hỏi:
● Lúc đưa dâu có tục đánh nhau giả giữa họ nhà trai và nhà gái để giành
cô dâu, thê hiên sư lưu luyên cua nha gai vơi cô dâu trươc khi vê nha chông
● Người Mảng chọn cưới vào thời điểm mùa màng đã được thu hoạch xong
● Ngày cưới được tổ chức ở nhà gái trước, nhà trai mang lễ vật sang nhà gái theo sự thỏa thuận chung của hai nhà Đám cưới sẽ tổ chức từ 2 - 4 ngày
Trang 5● Người Mảng quan niệm lễ vật họ mang đến là đổi lấy con dâu, nếu đến
và ăn những thức ăn đó sẽ ảnh hưởng đến đôi vợ chồng sau này
+ Nghi lễ vào nhà mới: Lễ vào nhà mới là một hoạt động đặc trưng phản
ánh đậm nét đời sống văn hoá, tín ngưỡng của người Mảng
● Dân tộc Mảng quan niệm trong đời người quan trọng nhất là dựng nhà, lập gia đình và sinh con, phát triển gia đình Dựng nhà là mối quan tâm hàng đầu của mọi người trong dân tộc
Trang 6● Khi nhà làm xong, vào buổi sáng tốt của một ngày đã chọn, gia đình
làm các thủ tục, nghi lễ vào nhà mới
+ Xăm cằm: là một trong những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Mảng.
Hình xăm trên cằm mỗi người không chỉ thể hiện sự trưởng thành của người đó, mà còn thể hiện quan niệm tâm linh của dân tộc Mảng
● Ngày xưa khi nam, nữ người Mảng đến tuổi 12 đều thực hiện nghi thức xăm cằm Ngày được chọn để tổ chức lễ xăm cằm phải là ngày đẹp trong tháng 10
âm lịch hàng năm
● Chọn được ngày tốt, người xăm cằm và gia đình mang lễ vật đến nhà thầy cúng nhờ làm lễ, khi mọi người đến nhà thì thầy cúng xuống tận đầu cầu thang đón tiếp niềm nở
Trang 7● Lên nhà, đại diện gia đình rót nước, rượu trình bày lý do đến nhà thầy
cúng, người xăm cằm cúi lạy thầy cúng ba lạy, nhờ thầy đứng ra làm lễ giúp
+ Trang phục: Vùng đất cư trú của người Mảng thuận lợi cho cây bông phát
triển, song do điều kiện kinh tế bấp bênh, không có truyền thống trồng bông dệt vải Họ thường mua vải của người Thái Trắng, người Hà Nhì hoặc vải công nghiệp về cắt khâu y phục theo phong cách riêng của mình
Trang 8Trang phục của phụ nữ Mảng ở Mường Tè Lai Châu gồm có: dây quấn tóc,
áo, váy, yếm, xà cạp…
Dây quấn tóc (păng chư út) là một dải dây dài, gồm nhiều sợi chỉ bông màu trắng tết lại Độ dài ngắn của dây tuỳ ý người sử dụng, thường từ 150 – 200cm Hai đầu dây kết tua, tua là những chuỗi cườm nhỏ bằng nhựa màu xanh, đỏ, đen,
trắng, vàng; đuôi tua là những sợi vải màu đỏ
- Lễ hội: Một số lễ hội tiêu biểu của người Mảng có thể kể đến là lễ cơm mới,
lễ cúng hồn lúa,
+ Lễ cơm mới: Cũng giống như một số dân tộc khác trong vùng Tây Bắc,
vào mỗi mùa thu hoạch lúa, người Mảng thường tổ chức lễ cúng cơm mới
● Lễ cúng cơm mới có thể làm khi mới thu hoạch hoặc đã thu hoạch xong lúa trên nương
● Việc cúng cơm mới của những nương lúa thu hoạch vụ đầu có ý nghĩa quan trọng, nó liên quan đến sản xuất, thu hoạch của những vụ tiếp theo
Trang 9● Lễ do phụ nữ đứng ra chủ trì, người nhà và anh em họ hàng của người phụ nữ cùng tham gia, riêng người chồng lại không được tham gia
● Trong mâm cúng cơm mới, người Mảng cố gắng săn bắn hoặc đánh bắt để có thêm một món cá hoặc thịt thú rừng
+ Lễ cúng hồn lúa: Trước khi gặt, chủ nhà chọn ngày tốt để làm lễ cúng hồn
lúa
● Vào ngày đã chọn, chủ nhà mang theo lễ vật (gồm một nắm xôi nếp, đuôi cá suối nướng hoặc một miếng thịt gà, hay một quả trứng gà luộc) lên nương lúa
để làm lễ cúng
Trang 10● Người Mảng quan niệm: Nếu gặt hết thì hồn lúa sẽ theo về nhà và sẽ thất lạc, năm sau mùa màng sẽ thất bát nên phải để lại mấy khóm lúa cạnh nương bên lối đi về nhà,
2 Dân tộc Tà - ôi
Dân tộc Tà - ôi gồm có 3 nhóm địa phương còn gọi là kan tua, Pa Cô,Ba Hi hay
Pa Hi, là một dân tộc cư trú ở miền trung Việt Nam và nam Lào
- Nơi ở: Làng người Tà Ôi theo kiểu làng tròn, làng phòng thủ, làng hình
móng ngựa… công trình công cộng đều xây dựng giữa làng, nhà dân vây quanh nhưng đảm bảo nguyên tắc các cây đòn nóc nhà không có hướng đâm vào nhau Nhà ở của người Tà ôi là loại nhà sàn tổng hợp, riêng người Pa hi ở nhà đất (có nhà
ở riêng và nhà chứa lương thực riêng), nhưng cả nhà sàn và nhà đất đều có mái tròn ở hai đầu hồi nhà và đều có “khau cút”(làm bằng gỗ có hai hình đầu chim cu chéo nhau, tượng trưng cho tình yêu quê hương và tâm tính hiền hoà của dân tộc trên phần mái hồi tiếp giáp với đầu nóc) - đây là đặc điểm để phân biệt ngôi nhà của người Tà Ôi với các dân tộc khác cùng ngữ hệ ở vùng này
- Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), Ít nhiều
gần gũi với tiếng Cơ Tu và Bru - Vân Kiều Giữa các nhóm có một số khác biệt nhỏ về từ vựng
- Phong tục tập quán:
+ Cưới hỏi: Trai gái lớn lên sau khi đã cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên thì
được tìm hiểu nhau và lấy vợ, lấy chồng Nhà gái cho con đi làm dâu và được nhận của cải dẫn cưới gồm cồng, chiêng, ché, nồi đồng, trâu, lợn Cùng với đám cưới, cô dâu chú
rể phải làm lễ "đạp bếp" tại nhà bố mẹ cô gái để đánh dấu từ đó cô ta sẽ thực sự là người nhà chồng, và ít năm sau phải tổ chức lễ tạ ơn "thần linh" đã cho hai người sống yên ổn với nhau
+ Người Tà ôi còn có tục đi sim: Nét đặc sắc trong tục đi sim của người Pa
Kô đó là, những đôi trai gái dù cùng ăn, ở, sống bên nhau, cùng đắp tấm zèng ấm
Trang 11áp qua đêm trong nhà Xu – căn chòi cách biệt bên ngoài, trong khung cảnh lãng mạn một thời gian dài nhưng họ vẫn giữ gìn tình yêu trong sáng, không sa vào chuyện “chăn gối” Bởi người Pa Kô quan niệm đó là điều thiêng liêng, khi yêu nhau phạm chuyện đó thật xấu hổ Già làng biết chuyện thì cha mẹ, gia đình, họ tộc sẽ bị phạt nặng Theo già làng dân tộc Pa Kô, Pộôc xu (đi sim) có mục đích để các đôi tìm hiểu nhau, các chàng trai cô gái Pa Kô đến tuổi trăng tròn sau một
ngày lên nương làm rẫy, đêm đêm vào mùa trăng sáng đẹp trời, họ lại nô nức rủ nhau đi sim
- Thờ cúng: Người Tà Ôi tin mọi vật đều có siêu linh, từ trời, đất, núi, rừng,
suối nước, cây cối cho đến lúa gạo, con người, con vật đều có "thần" hoặc hồn Mỗi dòng họ có một bàn thờ ở nhà trưởng họ, mọi gia đình đều có thể tới đó làm lễ cúng khi
ốm yếu, rủi ro, cần khẩn một điều gì đó
- Trang Phục: Nữ mặc váy ống loại ngắn và áo, hoặc váy loại dài che luôn cả
từ ngực trở xuống (ở nhóm Tà Ôi phía biên giới thuộc A Lưới), có nơi dùng thắt lưng sợi dệt, năm quấn khố mặc áo, thường hay ở trần Xưa kia, có những nơi phải dùng đồ mặc chế tác từ vỏ cây Hình thức đeo trang sức cổ truyền là các loại vòng tay, vòng chân, vòng cổ, khuyên tai, bằng đồng, bạc hay hạt cườm, mã não Phụ nữ đeo cả loại vòng dây đồng quấn thành hình ống ôm quanh đoạn ống chân và cẳng tay Tục cà răng, xăm trên da và đeo trang sức làm căng rộng lỗ xâu ở dái tai chỉ còn số ít ở các cụ già
Trang 12- Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khoẻ, tài sản, việc ngăn chặn
dịch bệnh, việc làm rẫy Những lễ lớn đều có đâm trâu tế thần và trở thành ngày hội trong làng Gắn với chu kỳ canh tác có những lễ thức quan trọng nhằm cúng cầu thần lúa, mong bội thu, no đủ Tết cổ truyền vào thời kỳ nghỉ ngơi sau khi tuốt lúa, trước mùa rẫy mới
- Phương thức sản xuất: Nguồn sống chủ yếu của đồng bào Tà Ôi từ làm
nương rẫy, riêng người Pa hi làm ruộng, có thu nhập hoa lợi trên vườn Ngoài ra, đồng bào Tà Ôi có truyền thống chăn nuôi gia súc trâu, bò, lợn, dê…
3 Dân tộc Mông hay H’Mông (người Mèo)
Dân tộc Mông có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốc và các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam Á là Lào, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar Ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở Trung du và miền núi Bắc Bộ và một số tỉnh Bắc Trung Bộ Tên gọi dân tộc được ông Cư Hòa Vần nêu ra là "Mông" hoặc "Hmôngz”
- Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của người Mông là tiếng H’Mông.
- Nghề nghiệp: Nghề dệt vải lanh là một trong những hoạt động sản xuất đặc
sắc của người H’mông
- Trang Phục: Quần áo của người Mông chủ yếu may bằng vải lanh tự dệt.
Một bộ y phục cổ truyền của phụ nữ gồm có: váy, áo xẻ ngực, tạp dề trước và sau, xà cạp quấn chân Áo phụ nữ mông có cổ là một miếng vải treo trên bả vai được thêu sặc
sỡ Váy may và trang trí công phu, là váy mở xếp nếp xoè rộng
Ngày nay, trang phục phụ nữ H’mông có những thay đổi: phụ nữ H’mông Sa Pa mặc quần ống ngắn và hẹp, áo khoác ngoài kép xẻ ngực cổ cứng thiêu hoa văn Phụ nữ H’mông Trắng Sơn La mặc quần ống dài, mặc áo cánh trắng bên trong, mặc
áo cổ truyền bên ngoài Phụ nữ H’mông Hoa mặc áo hở nách
- Phong tục tập quán:
+ Hôn nhân:
Trang 13● Hôn nhân của dân tộc Mông cũng giống các dân tộc khác trong nước
về cơ bản là một vợ một chồng
● Hôn nhân của người Mông được tiến hành theo ba bước: Dạm ngõ; Lễ hỏi; Lễ cưới
● Song hôn nhân của người Mông lại lệ thuộc vào nhiều lễ nghi, nhiều tập tục từ xưa để lại Trong tập tục ấy có nhiều nét đẹp, tuy nhiên ít nhiều cũng có
hạn chế
● Một tục lệ cưới hỏi của người Mông có thể kế đến là tục "háy pù", tức
là trong trường hợp trai gái yêu nhau, cha mẹ thuận tình nhưng kinh tế khó khăn, trai gái hò hẹn nhau tại một địa điểm, từ địa điểm đó chàng trai dắt tay cô gái về làm vợ
● Vợ chồng người Mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn, cùng lên nương, xuống chợ và đi hội hè, …
Trang 14+ Tục kéo vợ: Tục kéo vợ hình thành từ rất sớm, được gìn giữ và thực
hành, trở thành một phong tục độc đáo chỉ có ở dân tộc Mông
Hơn nữa, nhiều gia đình đã ép gả con gái cho nhà giàu với mong muốn con mình được hưởng giàu sang phú quý, nhiều đôi trai gái tuy yêu nhau nhưng không lấy được nhau, tình yêu bị tan vỡ Các đôi trai gái người Mông yêu nhau hẹn nhau ngày về sống chung một nhà nhưng do tự trọng cô gái người Mông không thể tự vào nhà chồng trong khi chưa dạm hỏi Vì thế, người Mông mới nghĩ đến việc kéo
vợ, một trong những điểm khởi đầu cho câu chuyện hôn nhân
Đó là thường vào ngày hội xuân, chợ phiên, các chàng trai, cô gái người Mông đến tuổi trưởng thành cùng nhau xuống dự hội, đi chợ phiên Khi đi, họ mặc những bộ trang phục mới nhất, đẹp nhất để làm duyên Mục đích đi hội không chỉ
để vui, giao lưu mà các chàng trai, cô gái Mông mong muốn tìm được người mà mình yêu, mình mong đợi
Ngày nay, có nhiều thông tin đăng tải trên mạng xã hội đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến việc bảo tồn nét đẹp và dẫn đến những cách hiểu chưa đúng về tục kéo
vợ cổ truyền của đồng bào Mông Nên ở mỗi chúng ta phải nên biết chọn lọc thông tin và đặc biệt là phải hiểu đúng tập tục này tục “Kéo vợ”
- Tập quán ăn và ở:
Trang 15Lương thực chính của người Mông là ngô, người Mông chế biến thành hai loại một là mèn mén (dùng thay cơm), hai là bánh ngô (làm trong những ngày lễ tết, hội hè)
Thức ăn hàng ngày của người Mông gồm rau cải, đậu, bí đỏ Ngày mùa, ngày tết, ngày lễ có thêm thịt gà, dê, lợn hoặc thịt bò
Ngoài ra người Mông còn có một món ăn trong các phiên chợ, ngày hội, đó là món thắng cố, là món thịt thái to, cả xương, lòng gia súc gồm: thịt dê hoặc thịt bò hầm nhừ trong chảo, dùng ăn nóng
Nhà ở của người Mông khá khang trang: Nhà gỗ lợp tranh, lá, phên vách hoặc nhà trình tường lợp ngói âm - dương
+ Tết cổ truyền: Tết cổ truyền của người Mông tổ chức vào tháng 12
dương lịch Trong 3 ngày tết, họ không ăn rau xanh Nam nữ thanh niên vui xuân thường thổi khèn gọi bạn
+ Lễ hội Gầu Tào: Khi một gia đình người Mông không có con, ít con hoặc
sinh con một bề hay có người ốm đau hoặc làm ăn không tốt …, họ sẽ lên đồi Gầu Tào khấn xin thần linh ban cho con cái, cầu xin sức khỏe hay làm ăn thuận lợi Khi lời cầu khấn trở thành hiện thực, họ làm lễ Gầu Tào để tạ ơn thần linh
* Theo tiếng Mông, Gầu Tào có nghĩa là “địa điểm chơi”.
- Tín ngưỡng, tôn giáo:
+ Tín ngưỡng liên quan đến chu kỳ đời người
+ Tín ngưỡng thờ cúng nông nghiệp
Trang 16Khi nhà có người chết, chủ nhân báo tin cho hàng xóm, anh em họ mạc, bằng cách bắn 3 phát súng kíp lên trời
Đám ma người Mông không buồn bã, thê thảm như một số dân tộc khác, đám
ma người Mông có hơi hướng hội Những người đến dự đám ma, khi thầy trống, thầy khèn múa thì tất cả có thể nhảy múa theo
- Phương thức sản xuất
Nghề dệt vải lanh là một trong những hoạt động sản xuất đặc sắc của người H’mông Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng; làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân
Trang 17III Thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta
Đại đoàn kết toàn dân tộc là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam:
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc Việt Nam Truyền thống đó được hun đúc, hình thành và phát triển bởi tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, tự chủ của dân tộc ta hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng mọi thiên tai, địch họa, để xây dựng nên Tổ quốc Việt Nam ngày càng cường thịnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ,
to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và lũ cướp nước”.
1 Thuận lợi
- Bản sắc văn hóa dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của nền văn hóa, thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đoàn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển
- Có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, và ở một khía cạnh nhất định, văn hóa chính là sự chia sẻ những giá trị, biểu tượng, truyền thống, phong tục tập quán, lịch
sử và truyền thuyết… chung của một cộng đồng, dân tộc, quốc gia Như vậy, khi chúng
ta nói về văn hóa Việt Nam, điều này hàm nghĩa rằng các cộng đồng đang chia sẻ những điểm chung đó Điều quan trọng ở đây là, qua việc chia sẻ những giá trị, biểu tượng, lịch
sử và truyền thuyết… chung, các cộng đồng xác lập tình đoàn kết, yêu thương và chia
sẻ Đây chính là cội nguồn sức mạnh của tinh thần yêu nước nói riêng, của đất nước nói chung Truyền thuyết về quả bầu, nơi các dân tộc anh em được sinh ra để hình thành