Để làm được điềunày, việc hướng dẫn học sinh định hướng để xây dựng, củng cố và khắc sâu kiếnthức một cách hệ thống bằng sơ đồ được xem là một hình thức mới trong việcđổi mới phương pháp
Trang 1PHÒNG GD - ĐT TAM DƯƠNG TRƯỜNG THCS HOÀNG LÂU
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy – học Hóa học THCS
Tác giả sáng kiến: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Hoàng Lâu
Trang 2
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Ngày nay trong thực tiễn dạy học Hóa học, người ta ngày càng chú ý tăngcường đổi mới phương pháp học tập vì chúng đóng vai trò quan trọng trong dạyhọc và giáo dục học sinh
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tích cực hóa hoạtđộng học tập của học sinh.Tích cực hóa hoạt động học tập là quá trình làm chongười học trở thành chủ thể tích cực trong hoạt động học tập của mình
Để phát huy tính tích cực của học sinh, cần tạo điều kiện để HS được suynghĩ nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn, được phát biểu quan điểm của mình,được đưa ra những nhận xét về vấn đề đang bàn luận, được tham gia vào quátrình học tập để tự chiếm lĩnh kiến thức
Đổi mới PPDH đó là một đòi hỏi cấp bách, một xu hướng tất yếu của cáctrường học Tùy vào từng bộ môn và kinh nghiệm của bản thân mà mỗi giáoviên cần tìm tòi, áp dụng phương pháp mới vào giảng dạy nhằm giúp học sinhhứng thú và chủ động hơn trong học tập Đồng thời, nâng cao hơn nữa chấtlượng đào tạo của nhà trường, góp phần vào việc hình thành nhân cách, pháttriển toàn diện của học sinh
Trong thực tế việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huytính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh Bên cạnh việc đổi mới trongphương pháp dạy thì việc đổi mới phương pháp học của học sinh cũng rất quantrọng, nó góp phần làm cho tiết học trên lớp đạt hiệu quả hơn Để làm được điềunày, việc hướng dẫn học sinh định hướng để xây dựng, củng cố và khắc sâu kiếnthức một cách hệ thống bằng sơ đồ được xem là một hình thức mới trong việcđổi mới phương pháp dạy - học trong giai đoạn hiện nay
Một trong những hướng để đổi mới phương pháp dạy - học là đổi mới
Trang 3bằng hình thức tự luận vẫn rất được coi trọng Đây là cách để nhằm nâng caokhả năng tư duy, khả năng lập luận và kĩ năng trình bày của học sinh Với lượngkiến thức rất phong phú với nhiều mảng kiến thức như trong chương trình Hóahọc lớp 8 về Chất – Nguyên tử - Phân tử; Phản ứng hóa học; Mol – Tính toánhóa học; O xi – Không khí; Hi đro – Nước; Dung dịch và ở lớp 9 về Các loạihợp chất vô cơ, Kim loại, Phi kim- Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học,Hiđro cacbon- Nhiên liêu, Dẫn xuất của hiđro cacbon– polime để học sinh cóthể nắm vững đầy đủ kiến thức là rất khó, nên việc hướng dẫn học sinh có thể hệthống kiến thức bằng sơ đồ, qua đó học sinh sẽ có cái nhìn tổng thể kiến thứcmột cách ngắn gọn, đầy đủ, súc tích, rút ngắn được thời gian ôn tập củng cố vàghi nhớ bài nhanh hơn.
Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư duy(SĐTD) là hình thức ghi chép nhằmtìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung,
hệ thống hóa kiến thức một chủ đề bằng cách kết hợp việc sử dụng đường nét,màu sắc chữ viết phù hợp với cấu trúc hoạt động và chức năng của bộ não giúpcon người khai thác tiềm năng kiến thức vô tận
Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy - học Hóa học THCS"nhằm tìm ra các phương pháp hướng
dẫn học sinh có được cách học hiệu quả nhất đồng thời nắm được kiến thứcnhanh hơn và hiểu sâu kiến thức hơn Từ đó nâng cao được chất lượng bộ mônHóa học và biết vận dụng vào thực tế
2 Tên sáng kiến.
"Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy - học Hóa học THCS"
3.Tên tác giả sáng kiến:
Ho và tên: Nguyễn Thị Phương Hoa
- Dịa chỉ: Trường THCS Hoàng Lâu – Tam dương – Vĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0398193677
- Email: nguyenthphuonghoa.c2hoanglau@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Phương Hoa.
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Trang 4Giáo viên dạy môn Hóa học và học sinh các khối 8,9 Trường THCSHoàng Lâu – huyện Tam Dương – tỉnh Vĩnh Phúc.
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử.
Từ ngày 01 tháng 02 năm 2018
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
1.Lý do chọn đề tài:
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là
một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắcphù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khaithác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óchướng tới lối suy nghĩ mạch lạc
Giáo viên dạy bộ môn là người trực tiếp tạo ra “luồng gió” mạnh nhấttrong đổi mới PPDH Không có nhận thức đúng thì người thầy khó có thể đủquyết tâm để đổi mới PPDH trong hoàn cảnh hiện nay Trước hết, GV dạy bộmôn phải có nhu cầu thay đổi phương pháp soạn giảng, biết loại bỏ những cáchdạy học lạc hậu không còn phù hợp với nội dung chương trình giảng dạy Mộthướng đang được quan tâm trong lý luận dạy học là nghiên cứu sâu hơn về hoạtđộng học của HS rồi dựa trên thiết kế hoạt động học của trò mà thiết kế hoạtđộng dạy của GV Điều này khác với các PPDH truyền thống là chỉ tập trungnghiên cứu kĩ nội dung dạy để thiết kế cách truyền đạt kiến thức của người dạy Trong hướng đổi mới PPDH hiện nay là tập trung thiết kế các hoạt độngcủa HS sao cho các em có thể tự lực khám phá, chiếm lĩnh các tri thức mới dưới
sự chỉ đạo của GV, bởi một đặc điểm cơ bản của hoạt động học là người họchướng vào việc cải biến chính mình, nếu người học không chủ động tự giác,không có phương pháp học tốt thì mọi nỗ lực của người dạy chỉ đem lại nhữngkết quả hạn chế
2.Cơ sở chọn đề tài:
Hóa học là môn học khoa học tự nhiên đòi hỏi khả năng tư duy logic cao để suyluận và vận dụng giải thích các hiện tượng thực tiễn, kiến thức môn học đa dạngphong phú, đặc biệt là các quá trình về oxi hóa khử, các cơ chế của quá trìnhphản ứng hóa học, tính chất hóa học của các chất cụ thể, viết PTHH của phản
Trang 5hóa họctương đối khó và phức tạp Như vậy, trong quá trình dạy - học chúng ta
sẽ thường gặp một số khó khăn:
2.1: Việc đổi mới PPDH cùng với sự hỗ trợ đắc lực của các phương tiện kĩ
thuật đã và đang đạt được những kết quả nhất định Đặc biệt là phương pháp tổchức hoạt động nhóm của HS dưới sự hướng dẫn củaGV, dạy học bằng giáo ánđiện tử, ứng dụng các phần mềm công nghệ thông tin vào giảng dạy,liên hệ cáckiến thức thực tế,vận dụng kiến thức liên môn học Tuy nhiên, các phươngpháp này đòi hỏi rất nhiều thời gian, trong khi một tiết học trên lớp chỉ có 45phút thì không đủ thời gian cho các hoạt động có hiệu quả cao nhất
2.2: HS sẽ chỉ tập trung ghi bài mà không tham gia thảo luận nhóm, hoặc
chỉ tập trung thảo luận nhóm, trao đổi và quan sát hình ảnh mà không ghi bài.Như vậy HS không thể nắm được ý chính của bài học để định hướng học tập
2.3: Phần lớn HS chưa rèn được phương pháp học tập khoa học, cách ghi
kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc,thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổibật” trong bài học, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liênquan với nhau,vận dụng linh hoạt vào từng bài cụ thể
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớlâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ củamình Vì vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy- học sẽ dần hìnhthành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cáchnhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học, tất cả HS tham gia xây dựng bài mộtcách hào hứng, giúp HS học tập một cách chủ động, tích cực, huy động tối đatiềm năng của bộ não, việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạocủa mỗi người
Chính từ thực tế này, GV và HS phối hợp chăt chẽ hoạt động dạy và học theophương pháp xây dựng SĐTD là điều cần thiết
3.Áp dụng vào thực tế:
3.1
3.2 Phương pháp lập sơ đồ tư duy
a)Các bước lập sơ đồ tư duy
- Bước 1: Chọn từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, hay có thể với một từ
khóa được viết in hoa, viết đậm
- Bước 2: Luôn sử dụng màu sắc vì mỗi màu sắc đều có tác dụng phâncấp
Trang 6- Bước 3: Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một,… bằng các đường kẻ, đường cong vớimàu sắc khác nhau
Chú ý: Mỗi nhánh chính dùng 1 màu, nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3 phải cùngmàu với nhánh chính
- Bước 4: Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
hay đường cong
- Bước 5: Tạo ra một kiểu sơ đồ riêng cho mình (Kiểu đường kẻ, màu sắc,
…
- Bước 6: Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm.
b)Cách ghi chép trên sơ đồ tư duy
- Liên kết các ý nên dùng nét đứt, mũi tên, màu sắc biểu diễn
* Điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy
- Chép lại nguyên cả nội dung kiến thức bài học dài dòng
- Ghi chép chi tiết nhiều ý vụn vặt không cần thiết
- Đầu tư quá nhiều thời gian để ghi chép trên sơ đồ
3.3 Thuận lợi và khó khăn khi sử dụng sơ đồ tư duy
Trang 7- Đa số các GV đã được tập huấn đổi mới PPDH về sử dụng SĐTD tronggiảng dạy.
- Xã hội hiện nay nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho con người (GV
và HS) có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khácnhau
- Khi sử dụng SĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh lý lứatuổi HS cấp THCS khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy họctruyền thống Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tíchcực
b) Khó khăn
- Sử dụng SĐTD trong dạy – học là một trong những PPDH mới, nên GV và HSkhông tránh khỏi lúng túng trong một số kĩ năng như sử dụng phần mềm SĐTD,
sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý thông tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung chương trình môn Hóa học THCS, đặc biệt là Hóa học lớp 9mới, khó, các kiến thức liên quan chặt chẽ với nhau… nên GV khó dạy, HS khóhọc
- Sử dụng SĐTD đòi hỏi mỗi người GV phải có nhiều kĩ năng khác ngoài
4 Sử dụng SĐTD trong dạy Hóa học lớp 8,9.
Để thiết kế một sơ đồ tư duy đối với một bài học, chúng ta có thể thiết kếbằng vẽ trên giấy, hoặc hệ thống kiến thức bằng sơ đồ trên bảng, hoặc dùngphần mềm Mindmap Với phần mềm này, giáo viên có thể xây dựng thành mộtgiáo án điện tử với kiến thức được xây dựng thành một sơ đồ, qua đó có thể kếthợp để trình chiếu những nội dung cần lưu ý hay những đoạn phim có liên quan
được liên kết với sơ đồ Trong quá trình thực hiện, phải nhấn mạnh rằng “SĐTD
Trang 8là một công cụ phối hợp các phương pháp khác đã thực hiện thêm phần hiệu quả, không phải là một giải pháp thay thế tất cả các phương pháp khác” Dưới
đây là một số SĐTD minh họa được sử dụng trong chương trình Hóa học THCS
đã áp dụng có hiệu quả khi giảng dạy ở trường THCS Cao Minh
4.1 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc xây dựng một đơn vị kiến thức.
Hóa học là một bộ môn khoa học nghiên cứu thực nghiệm để phát triểncác năng lực nhận thức cho HS Tùy theo mỗi tiết học và tùy theo từng yêu cầu
về kiểm tra kiến thức, kỹ năng mà GV có thể áp dụng thêm cách hình thành kiếnthức, kỹ năng cho HS bằng cách sử dụng SĐTD Sử dụng SĐTD vừa giúp GVkiểm tra được phần nhận biết và phần thông hiểu của HS đối với bài học Dothời gian trong một tiết học chỉ 45 phút, nên các SĐTD thường sử dụng ở dạngthiếu thông tin, yêu cầu HS điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét vềmối quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm
Ví dụ 1: Bài 18: “Nhôm” - Hóa 9
Từ tính chất vật lý và hóa học chung của kim loại, GV hướng dẫn HS dựatrên cơ sở đó vẽ SĐTD tính chất hóa học của nhôm
Sơ đồ 1:
Trang 10TÍNH CHẤT
VẬT LÝ
CỦA KIM
LOẠI
Trang 12*SĐTD tính chất hóa học của nhôm.
Tính chất hóa học của
nhôm
Với oxi Với clo
Oxit kim loại Muối
Tác dụng với dung
dịch axit
Muối Khí hiđro
Tác dụng với dung dịch muối
Muối mới
Kim loại mới
Tác dụng với dung dịch kiềm
Khí hiđro
Tác dụng với phi
kim
Trang 13Với kiểu dạy bài học như vậy, để hoàn thành trọn vẹn thì GV phải thườngxuyên hướng dẫn HS cách lập sơ đồ, cách ghi chép, cùng HS hoàn thiện nhữngnội dung kiến thức đã học bằng SĐTD nhằm đưa ra đúng, đủ những tri thức mà
HS cần nắm vững Sau đó, HS phải trình bày được những nội dung đó, HS dướilớp nhận xét, bổ sung và GV là người chốt lại kiến thức
4.2 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc củng cố kiến thức
Trong những năm học gần đây, theo định hướng của ngành về vấn đềchống đọc chép, GV đã giới thiệu đến HS các kiểu ghi chép theo kiểu đề mục,kiểu luận đề, kiểu tự do Thông thường ở trường, HS thường được GV hướngdẫn ghi chép bài theo kiểu đề cương, trích dẫn và luận đề còn cách ghi chép theokiểu tự do dành cho việc học chuyên đề hay dự hội thảo… Nhưng điều đángquan tâm là các kiểu ghi chép trên nếu được kết hợp với việc hệ thống kiến thứcbài học theo kiểu SĐTD sẽ giúp HS ghi nhớ lâu hơn, gây hứng thú và niềm đam
mê học tập hơn cho HS
Để sử dụng SĐTD trong khi củng cố kiến thức, tổ chức các hình thức hoạtđộng dạy học trên lớp cho HS:
+ Hoạt động1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân với sự gợi ý của
GV
+ Hoạt động 2: Đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập
+ Hoạt động 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về
kiến thức của bài học GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnhSĐTD
+ Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị
sẵn hoặc một SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, cho HS lêntrình bày, thuyết minh về kiến thức đó
Sử dụng SĐTD trong dạy học củng cố kiến thức giúp HS học tập mộtcách chủ động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài mộtcách hào hứng Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng HSkhông chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên SĐTD), khả năng hội họa (hình thức trìnhbày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học quasách vở vào cuộc sống
Trang 14Ví dụ: Bài “ Etylen”.
Khi dạy bài này GV nên lựa chọn phương pháp vấn đáp gợi mở kết hợp với vẽ SĐTD thực hiện trong phần củng cốbài học
Có 1 liên kết đôi trong phân tử
Trang 15Cho dù có thực hiện theo cách nào, quan trọng nhất là sau đó HS phải lêntrình bày, thuyết trình thông qua SĐTD mà HS hoặc nhóm đã hoàn thành, các
HS hoặc nhóm khác nhận xét, bổ sung, GV là người cố vấn, trọng tài giúp HShoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến những kiến thức trọng tâm của bài
4.3 Sử dụng sơ đồ tư duy trong việc hướng dẫn HS giải một số dạng bài tập hóa học
Mục tiêu chung của môn Hóa học trong nhà trường phổ thông là HS tiếpthu kiến thức, tri thức khoa học cơ bản quan trọng trong tự nhiên và đời sống.Trên cơ sở hình thành và phát triển nhân cách của một công dân, phát triển cáctiềm năng, các năng lực sẵn có và các năng lực chuyên biệt của môn hóa họcnhư : Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực thực hành hóa học, năng lựcphát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tính toán, năng lực vận dụng kiến thứchóa học vào cuộc sống Bài tập hóa học ở THCS có rất nhiều dạng khác nhau,dưới đây là một số dạng sơ đồ tư duy vậ dụng vào hướng dẫn giải bài tập
Trang 16*Dạng sơ đồ bài tập thứ nhất:
Tính theo CTHH
Biết CTHH, tính thành phần % theo khối lượng các nguyên tố
Biết thành phần % các nguyên tố, xác định CTHH
Tính n mỗi nguyên tố
Tính thành phần % theo m mỗi nguyên tố
Tính m của mỗi nguyên tố trong
1 mol hợp chất
Tính n nguyên tử của mỗi nguyên tố
Viết CTHH
Tính m mỗi nguyên tố Tính M
hợp chất
Trang 17*Dạng sơ đồ bài tập thứ hai
Tính theo PTHH
Tính n của chất mà đầu bài đã cho
Viết PTHH
Tính n của chất cần tìm dựa vào PTHH và n đã biết.
Tìm đại lượng của bài
yêu cầu
m
V(chất khí, dung dịch) Nồng độ dung
dịch
n = m : M
n = V : 22,4
n = C M x V