Nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo hiện nay là phải đào tạo ra một lớp người “Vừa hồng, vừa chuyên” để xây dựng và bảo vệ đất nước.Và nghị quyết hội nghị lần thứ tám BCH Trung ương khóa XI
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Một trong các nguồn lực quan trọng để tiến hành thành công sự nghiệp này chính là con người. Nhận thức đúng đắn về vấn đề này, Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu rõ: “Cùng với khoa học và công nghệ , giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nghị quyết Trung ương II khóa VIII cũng đã khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển Giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững”. Giáo dục nhằm tạo ra một thế hệ mới có đủ điều kiện để tiếp nhận nền khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Như Bác Hồ đã nhấn mạnh: “Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Con người mới xã hội chủ nghĩa theo yêu cầu của thời đại hiện nay là con người có đạo đức tốt, sức khỏe tốt và hiểu biết khoa học kỹ thuật. Nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo hiện nay là phải đào tạo ra một lớp người “Vừa hồng, vừa chuyên” để xây dựng và bảo vệ đất nước.Và nghị quyết hội nghị lần thứ tám BCH Trung ương khóa XI đã đưa ra vấn đề “ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
Thực hiện tốt các cuộc vận động, chỉ thị của ngành chính là để nâng cao chất lượng giáo dục. Nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những hoạt động cần thiết với người làm nghề dạy học. Nâng cao chất lượng dạy học chính là
để đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc thực hiện nghị quyết Trung ương II - khóaVIII của Đảng. Giáo dục và Đào tạo trở thành nhân tố quyết định vị thế của mỗi quốc gia và sự thành đạt của mỗi con người trong cuộc sống.
Hoạt động chuyên môn của trường là thực hiện hầu hết các nhiệm vụ trọng tâm của năm học, hoạt động chuyên môn có tốt, có mạnh thì chất lượng giáo dục của nhà trường mới cao, chất lượng giáo dục của một trường
là thước đo năng lực quản lý của Ban giám hiệu nhà trường và trình độ, năng lực giảng dạy của giáo viên trường đó. Xong thực tế trong những năm qua chất lượng dạy và học của trường có cao nhưng chưa ổn định, còn nhiều bất cập. Bởi tác động mặt xấu của thời kì hội nhập, của mạng Intenet. Những mặt xấu của xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến những học sinh thiếu động
cơ thái độ học tập dẫn đến kết quả học tập yếu, kém, bỏ học .
Trang 2Đặc điểm của trường THCS Hợp Thịnh:
*Thuận lợi:
Đội ngũ cán bộ GV đều được chuẩn hóa, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Nhiều GV có trình
độ chuyên môn tốt có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, say sưa tấm huyết với sự nghiệp trồng người.
Lãnh đạo nhà trường có tầm nhìn chiến lược sâu sắc nên việc phân công công việc cho từng GV- CNV phù hợp khả năng của từng người, phát huy tối đa khả năng của GV- CNV nhà trường trong công việc.
Nhà trường được Phòng GD&ĐT Tam Dương trực tiếp chỉ đạo, tạo điều kiện giúp đỡ động viên để nhà trường phấn đấu về mọi mặt. Được sự quan tâm giúp đỡ của các ban ngành đoàn thể địa phương, đặc biệt là hội phụ huynh học sinh đã tin tưởng và ủng hộ nhiệt tình cho sự nghiệp giáo dục của nhà trường.
*Khó khăn:
Nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông, đời sống một số gia đình còn gặp nhiều khó khăn, do đó việc quan tâm đến việc học tập của con em bị hạn chế dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư thời gian, vật chất, tinh thần cho con em học tập, nên ảnh hưởng phần nào đến kết quả học tập và rèn luyện của một số học sinh và kết quả phấn đấu của nhà trường.
Do đội ngũ phần lớn đều là nữ giới nên thời gian gắn bó công việc ở trường còn hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng chuyên môn chung của nhà trường.
Cơ sở vất chất nhà trường được bổ sung thường xuyên, tuy nhiên diện tích sân chơi bãi tập và các phòng học chức năng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH hiện nay.
Từ thực tế nhà trường còn nhiều yếu kém và bất cập về chất lượng chuyên môn, tỉ lệ HS yếu kém, lưu ban của các năm trước luôn cao so với các trường có cùng điều kiện, các tiêu chí đạt chuẩn Quốc gia đang bị bấp bênh ngấp nghé mất chuẩn chính vì vậy việc lựa chọn hướng đi, các giải pháp phù hợp với đặc điểm của đơn vị là suy nghĩ và trăn trở đầu tiên cuả tôi tại trường THCS Hợp Thịnh : “Làm thế nào để nâng chất lượng chuyên môn của một đơn vị còn nhiều khó khăn?”. Từ thực trạng như vậy tôi mạnh dạn đề cập, nghiên cứu áp dụng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học ở trường THCS đó chính là lý do lựa chọn đề tài “Quản lý chuyên môn nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS Hợp Thịnh”.
2 Tên sáng kiến: “Quản lý chuyên môn nâng cao chất lượng giáo dục
ở trường THCS Hợp Thịnh”.
Trang 33 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Phan Mạnh Hùng
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THCS Hợp Thịnh- Tam Dương- Vĩnh Phúc
- Số điện thoại:0971 928 111
- Email: phanmanhhung.c2hopthinh@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phan Mạnh Hùng
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Lĩnh vực quản lý giáo dục
- Áp dụng trong quản lý chuyên môn nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục trong nhà trường.
- Phạm vi áp dụng: Cấp trường THCS Hợp Thịnh- Tam Dương- Vĩnh Phúc
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu/ áp dụng thử: Tháng 3 năm
2018.
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1.Về nội dung của sáng kiến:
* Các khái niệm về quản lý giáo dục:
- Khái niệm về quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là công việc rất quan trọng trong chiến lược đào tạo nguồn nhân lực, nhằm chuẩn bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng để trở thành người công dân tốt sau này. Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả cao nhất. Quản lý giáo dục
ở trường THCS được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường và thực hiện nhiệm vụ giáo dục.
- Khái niệm về giáo dục: Giáo dục là hoạt động hướng tới con người, bằng những biện pháp hướng tới truyền thụ: Tri thức và khái niệm, kỹ năng và lối sống, tư tưởng và đạo đức. Từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu, hoạt động lao động, sản xuất và lối sống xã hội.
- Quản lý chuyên môn: Là hoạt động của chuyên môn nhằm tập hợp, tổ chức, huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học trong nhà trường.
* Nội dung của quản lý chuyên môn:
- Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm của năm học để xây dựng kế hoạch chuyên môn. Kế hoạch năm, kế hoạch học kỳ, kế hoạch học tháng, kế hoạch tuần phù
Trang 4hợp với đặc điểm tình hình của trường của địa phương, thực hiện và chỉ đạo thực hiện kế hoạch.
- Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Xây dựng chỉ tiêu và biện pháp phát triển số lượng và duy trì sĩ số.
- Xây dựng chỉ tiêu và biện pháp nâng cao chất lượng đại trà.
- Xây dựng chỉ tiêu và biện pháp nâng cao chất lượng mũi nhọn.
- Xây dựng kế hoạch, thực hiện và chỉ đạo thực hiện kiểm tra đánh giá.
* Yêu cầu của việc quản lý chuyên môn:
- Nắm được cơ sở lý luận, thực tiễn của công tác chuyên môn trong nhà trường.
- Hiểu rõ nhiệm vụ năm học và các thông tư hướng dẫn thực hiện năm học, các phương pháp giáo dục, chương trình giáo dục THCS để tổ chức dạy, học
có hiệu quả nhất.
- Biết huy động, xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực của nhà trường, cộng đồng, xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục.
* Nguyên tắc quản lý chuyên môn:
Quản lý chuyên môn dựa trên các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc chính trị xã hội: Tính đảng, tính giai cấp, sự kết hợp Nhà nước -Nhân dân; tập trung dân chủ; pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Nguyên tắc tổ chức quản lý giáo dục: Sự thống nhất của hệ thống các bộ phận; kết hợp lãnh đạo tập thể trách nhiệm cá nhân.
- Nguyên tắc về hoạt động quản lý giáo dục: kết hợp hài hoà các lợi ích; chuyên môn hoá; sử dụng các phương pháp giáo dục.
Mục tiêu của giáo dục phổ thông:
1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2. Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Trang 51. Nội dung giáo dục phổ thông phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống; gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học .Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, đảm bảo cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về Tiếng việt, Toán, Lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về
kỹ thuật và hướng nghiệp
2. Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.
Chương trình giáo dục phổ thông, sách giáo khoa
1. Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông.
2. Sách giáo khoa cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp học của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông
3. Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa.
- Điều lệ trường Trung học ban hành theo quyết định số 23/2000/QĐ - BGD & ĐT.
- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Mục tiêu và kế hoạch dạy học của trường THCS ban hành theo quyết định số 03/2002/QĐ - BGĐ& ĐT.
- Chương trình THCS ban hành theo quyết định số 03/2002/QĐ - Bộ GD & ĐT.
- Sách giáo khoa và hướng dẫn giảng dạy của môn học.
- QĐ số 04/2005/QĐ - BGD & ĐT, ngày 16 tháng 2 năm 2005 của Bộ trưởng
Bộ GD và Đào tạo về ban hành đánh giá, xếp loại học sinh THCS.
Trang 6Những công việc đã làm trong công tác chỉ đạo chuyên môn.
Hoạt động chuyên môn của nhà trường bao gồm hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS. Chất lượng chuyên môn của nhà trường phụ thuộc vào
cả hai hoạt động này, một trong hai hoạt động không tốt đều dẫn tới kết quả không tốt của nhà trường. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường cần phải thực hiện tốt cả khâu dạy của thầy và khâu học của tṛò. Để đảm bảo chất lượng dạy và học của nhà đồng thời nâng cao chất lượng mũi nhọn HSG nhà trường đã làm tốt các công việc sau:
Một là, về nhận thức: Nhà trường xác định để có kết quả học tập tốt học sinh phải được thể hiện ở hai yếu tố đó là phẩm chất đạo đức tốt và năng lực học tập tốt. Phẩm chất đạo đức của học sinh bao gồm thái độ, động cơ học tập, lòng say mê ham học, tính kiên trì cần cù, không dấu dốt và cầu tiến. Năng lực học tập thể hiện ở trí thông minh, khả năng ghi nhớ, tái hiện kiến thức, khả năng phân tích, tổng hợp kiến thức. Năng lực học của HS còn thể hiện ở phương pháp học tập, khả năng tư duy sáng tạo, thích khám phá tìm tòi cái mới. Đây là yêu cầu cần có của mỗi học sinh hiện nay.
Khác với nhiệm vụ bồi dưỡng HSG là chính của những trường chất lượng cao, GV và HS nhà trường xác định nhiệm vụ chính của nhà trường là nâng cao chất lượng toàn diện trong đó chú trọng chất lượng đầu vào THPT, đồng thời ưu tiên BDHSG các môn nhà trường có thế mạnh như Địa, Sinh, Ngữ Văn.
Hai là, khâu phân loại học sinh.
Ngay từ khi được tuyển vào trường, học sinh được làm bài khảo sát đối với hai môn Toán, T.Việt. Căn cứ kết quả nhà trường chọn ra các học sinh có khả năng trội hơn tập trung vào một lớp. Số HS còn lại được chia đều cho các lớp. Với mục đích, với học sinh khá hơn các em có điều kiện để thể hiện đầy
đủ năng lực của mình thông qua học ở thầy và trao đổi thảo luận với bạn có khả năng tốt hơn các em sẽ tự tin và yên tâm học tập. Với các em còn lại, các
em có môi trường học tập đồng đều hơn phù hợp khả năng của mình các em
sẽ không tự ti, cố gắng vươn lên để theo kịp các bạn. Qua việc phân loại HS giúp phụ huynh học sinh có con em học khá hơn nhưng chưa có điều kiện cho con học ở trường chất lượng cao của Huyện yên tâm về môi trường học tập của con mình, từ đó tin tưởng ủng hộ chủ trương chung của nhà trường.
Ba là, việc bố trí đội ngũ GV.
Mỗi GV của trường đều có khả năng nhất định về một mảng kiến thức, một sở trường phù hợp. Để phát huy khả năng một cách tốt nhất cho công việc giảng dạy và bồi dưỡng học sinh thì việc bố trí hợp lý là rất cần thiết.
Trang 7Trên cơ sở chuyên môn đào tạo, nhà trường bố trí GV phù hợp trình độ chuyên môn là chính. Tiếp đó căn cứ khả năng cụ thể của từng người có thể phân công mảng công việc cho GV phụ trách ví dụ bồi dưỡng HSG, phụ trách phòng học bộ môn, kiêm nhiệm công tác chủ nhiệm…Coi trọng khả năng cá nhân, kích thích lòng nhiệt tình trách nhiệm trong công việc để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao đối với tập thể đó chính là phương châm bố trí công việc cho GV của nhà trường.
Tạo điều kiện tốt nhất để từng GV bộc lộ khả năng của mình qua phân công công việc của ban giám hiệu. Giao việc cho GV một cách mạnh dạn, tạo cơ hội cho GV phấn đấu trở thành GVG, GV có HSG với mục tiêu không có giáo viên yếu mà chỉ có những GV chưa phấn đấu hoặc chưa có cơ hội phấn đấu, không
có giáo viên giỏi mà chưa được thể hiện.
Bốn là, chỉ đạo dạy của GV.
Người thầy trong giai đoạn hiện nay không chỉ đơn thuần là người truyền đạt kiến thức cho HS mà còn là người bạn gần gũi thân mật của HS. Thầy phải biết cách tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của HS qua các giờ lên lớp, động viên chia sẻ với các em những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Đối với giờ lên lớp, GV phải chuẩn bị chu đáo bài soạn, các đồ dùng dạy học cần thiết. Sử dụng đúng và linh hoạt phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng từng lớp. Khai thác triệt để đồ dùng học tập làm cho bài giảng sinh động hơn kích thích óc tư duy sáng tạo của học sinh. Người thầy luôn chủ động kiến thức
để làm trọng tài trong khi học sinh trao đổi tranh luận tìm ra kiến thức mới đồng thời là cầu nối kiến thức lý thuyết với thực tế cuộc sống để học sinh tiếp bước.
Học sinh thường nhanh hiểu nhưng dễ quên chính vì vậy GV luôn chú ý rèn cho học sinh phương pháp học tập, khả năng ghi nhớ, kỹ năng trình bày để có kết quả học tập cao nhất.
Đối với kiến thức, GV xác định rõ đối tượng học sinh nào thì cung cấp kiến thức đó song vẫn đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng của môn học. Nội dung kiến thức rõ ràng, chính xác và luôn mới trong tư duy của học sinh. Kiến thức cung cấp cho HS cũng phải logic dễ hiểu và thường bắt đầu từ những cái học sinh đã biết, những vấn đề gần gũi để khái quát nên cái mới hơn tiến bộ hơn Năm là, chỉ đạo việc học của HS.
Tổ chức cho học sinh học tập nội quy, quy định của nhà trường, thảo luận các nhiệm vụ của học sinh,tìm hiểu truyền thống nhà trường, căn cứ để HS xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng đắn.
Trang 8Cho học sinh đăng ký thi đua ngay từ đầu năm học theo đơn vị lớp, hàng tháng, hàng kỳ có sơ kết đánh giá hiệu quả học tập của học sinh. Chỉ đạo GV làm tốt công tác hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa để chuẩn bị bài mới và ôn tập kiến thức đã học. Biết chọn ra kiến thức trọng tâm cơ bản để ghi nhớ và vận dụng. Biết cách khai thác công nghệ thông tin phục vụ việc học. Động viên học sinh học ở mọi nơi, mọi lúc và mọi đối tượng.
* Giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng giáo dục.
Mục tiêu:
Giữ vững trường THCS Hợp Thịnh đạt trường chuẩn Quốc gia với chất lượng giáo dục toàn diện như sau:
Về quản lý tổ chức:
- 100% cán bộ quản lý được học nghiệp vụ quản lý của ngành.
- Các tổ chức đoàn thể hoạt động đều và có hiệu quả.
Về đội ngũ giáo viên:
- 100% Giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, 60% GV tích cực nghiên cứu khoa học có đề tài sáng kiến kinh nghiệm được cấp trên công nhận.
-100% GV nắm vững chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy theo đặc trưng bộ môn; tỉ lệ GV dạy giỏi cấp trường đạt 75%.
- 100% GV sử dụng thành thạo máy vi tính và soạn giáo án điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin trong khai thác sử dụng nguồn tài liệu điện tử phục vụ công tác giảng dạy.
- Các danh hiệu cá nhân đạt được trong mỗi năm học:
+ Chiến sỹ thi đua cơ sở 16, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh 02.
+ 100% CB-GV đạt danh hiệu lao động tiến tiến.
Cơ sở vật chất:
- 100% phòng học kiên cố, có phòng học đa năng, có khu giáo dục thể chất và các cơ sở vật chất đáp ứng tiêu chuẩn trường chuẩn Quốc gia.
Chất lượng giáo dục:
+Hạnh kiểm:
98% HS xếp loại hạnh kiểm khá, tốt. Không có HS xếp hạnh kiểm yếu
+Học lực: - Xếp loại giỏi:3-5 %, loại khá: 30-45%, loại yếu: dưới 5%
- Học sinh giỏi huyện: 30 em, Học sinh giỏi tỉnh: 7 em.
Trang 9+Thi vào THPT hàng năm số học sinh đạt điểm TB trở lên ba môn thi đạt 65,2% trở lên.
Nội dung và cách thức thực hiện các biện pháp, giải pháp:
-Các biện pháp giáo dục đạo đức tưởng cho học sinh:
Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã dạy: “Có tài mà không có đức là người vô dụng”. Giáo dục đạo đức cho học sinh là vô cùng quan trọng đối với học sinh ở bậc THCS. Các em đang ở tuổi quá độ chưa ý thức được hành vi, việc làm của mình, thích gì làm nấy, ham chơi, đua đòi, Nếu giáo dục đạo đức không tốt thì các mục tiêu giáo dục khác bị hạn chế. Xác định được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức cho các em nên BGH nhà trường đặc biệt quan tâm Với mục đích giáo dục đạo đức làm cho các em chăm ngoan, chấp hành tốt nội quy, quy định của nhà trường, biết vâng lời cha mẹ, thầy cô giáo, đi học đúng giờ, chuyên cần đầy đủ; sống có kỷ cương, nề nếp.
Bằng các phương pháp:
- Tác động vào nhận thức tình cảm: Đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn.
- Tổ chức các hoạt động thực tiễn: Giao việc, rèn luyện, tập thói quen,
- Kích thích tình cảm và hành vi: Thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt
- Gắn kết các hoạt động trên lớp và ngoài giờ lên lớp.
- Các biện pháp phát triển số lượng và duy trì sĩ số:
Trường ở xã nghèo như trường Hợp Thịnh thì công tác phát triển và duy trì sĩ số là vô cùng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phát triển số lượng và duy trì sĩ
số BGH nhà trường đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đề ra nhiều biện pháp để phát triển số lượng và duy trì sĩ số cụ thể như sau:
Biện pháp phát triển số lượng:
Hàng năm vào đầu tháng 6 sau khi nhận được kế hoạch tuyển sinh của PGD&ĐT. Nhà trường lên kế hoạch, gửi thông báo tuyển sinh về các khu, đồng thời phân công giáo viên xuống các khu tuyên truyền vận động phụ huynh có con em đã hoàn thành chương trình tiểu học, mang hồ sơ của con
em về trường nhập học. Huy động hết số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6. Chính vì vậy mà năm nào nhà trường cũng đạt và vượt kế hoạch tuyển sinh của phòng đề ra.
Biện pháp duy trì sĩ số:
Trang 10Công tác duy trì sĩ số là công tác hết sức quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hai mặt. Nhà trường đã áp dụng nhiều biện pháp để tăng tỉ lệ chuyên cần, giảm thiểu tình trạng học sinh bỏ học như:
- Công tác tư tưởng: Tăng cường quán triệt đầy đủ quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng đến tập thể sư phạm nhà trường và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về công tác xã hội hoá giáo dục và phổ cập THCS.
- Tăng cường các hoạt động Đoàn - Đội và các hoạt động tập thể: Nắm bắt tâm lý học sinh bậc THCS thích hoạt động tập thể, nhà trường luôn coi trọng các hoạt động thập thể. Tăng cường các hoạt động Đoàn - Đội, các hoạt động ngoài giờ lên lớp, thực hiện có hiệu quả sinh hoạt 15 phút đầu giờ và tiết sinh hoạt lớp cuối tuần, đa dạng hóa các hình thức tổ chức hoạt động như thi văn nghệ, thể thao, thi an toàn giao thông, thi chúng em kể chuyện Bác Hồ, các trò chơi dân gian, thi nét đẹp đội viên, Kết quả mỗi khi trường tổ chức vui chơi, văn nghệ, thể thao thì tỉ lệ chuyên cần hàng buổi cao, có em đã nghỉ học lại tiếp tục đến trường, tỉ lệ học sinh bỏ học giảm.
- Nâng cao tinh thần trách nhiệm: Để nâng cao tinh thần trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, hàng năm vào đầu năm học nhà trường tổ chức bàn giao lớp và khoán sĩ số đến tận GVCN, GV bộ môn và đưa vào chỉ tiêu xếp loại thi đua.
- Nâng cao uy tín CBGV: Nhà trường khuyến khích và tạo điều kiện cho CBGV theo học các lớp nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao tay nghề để truyền thụ và thuyết phục có hiệu quả cao. Mỗi thầy giáo, cô giáo, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy, ân cần, niềm nở, nói năng nhẹ nhàng, thường xuyên trò chuyện với học sinh, làm cho học sinh cảm thấy ở thầy, cô giáo của mình có kiến thức sâu rộng, có hiểu biết nhiều mặt tạo cho học sinh niềm tin yêu, kính phục, đồng thời là người mẹ hiền khi cần được che chở, người bạn tốt khi cần tâm sự, tạo cho các em cảm thấy tin tưởng, thoải mái hứng thú đến trường, để mỗi ngày đến trường của các em thật sự là một ngày vui.
- Tăng cường vận động: Khi có học sinh nghỉ học trước hết GVCN trực tiếp gặp gia đình, bạn bè tìm hiểu nguyên nhân, bàn cách động viên con em, đồng thời tổ chức cho nhóm bạn thân gặp trực tiếp học sinh làm công tác tư tưởng rồi rủ rê, lôi kéo bạn đến trường, nếu không được thì GVCN trực tiếp gặp học sinh trò chuyện tâm tình chia sẻ những vướng mắc, kiên trì động viên học sinh đến trường, không để tình trạng học sinh nghỉ học kéo dài, lây lan
Các biện pháp nâng cao chất lương đại trà:
Đây là nhiệm vụ cơ bản và trọng tâm của năm học. Nếu chất lượng đại trà thấp coi như không hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chính vì vậy mà BGH đầu