Hiện nay, ở nước ta sự nghiệp cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra yêu cầungày càng cao đối với việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong giáodục và đào tạo vì ng
Trang 1CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm
2 GD-ĐT: Giáo dục đào tạo
3 THPT: Trung học phổ thông
4 UBND: Ủy ban nhân dân
5 ĐH-CĐ: Đại học-Cao đẳng
6 GDCD: Giáo dục công dân
7 KTCN: Kỹ thuật công nghiệp
8 KTNN: Kỹ thuật nông nghiệp
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu của mọi quốc gia nhằmphát triển kinh tế - xã hội Để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải huyđộng mọi nguồn lực cần thiết (trong nước và từ nước ngoài), bao gồm: nguồn nhânlực, nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ, nguồn lực tài nguyên, các ưu thế và lợithế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, …) Trong các nguồn này thì nguồn nhânlực là quan trọng, quyết định các nguồn lực khác
Hiện nay, ở nước ta sự nghiệp cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đặt ra yêu cầungày càng cao đối với việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong giáodục và đào tạo (vì nguồn nhân lực GD - ĐT là cái quyết định chất lượng nguồn nhân lựcnói chung của đất nước), đòi hỏi một đội ngũ lao động trí tuệ có trình độ quản lý, chuyênmôn và kỹ thuật cao, có ý thức kỷ luật, lòng yêu nước, có thể lực, để có thể đảm đươngnhiệm vụ GD - ĐT, cung cấp nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trên thực tế, trong những năm qua và hiện nay mặc dù nguồn nhân lực GD- ĐT
đã tăng cả về số lượng, chất lượng và sự thay đổi về cơ cấu v.v…Tuy nhiên với yêucầu cao của phát triển kinh tế và quá trình hội nhập đang đặt ra thì nguồn nhân lựctrong GD - ĐT còn nhiều bất cập: chất lượng nguồn nhân lực GD - ĐT còn chưa cao
so với đòi hỏi của phát triển kinh tế – xã hội, cơ cấu nguồn nhân lực GD - ĐT cònthiếu cân đối giữa các bậc học giữa các vùng/miền; cơ chế, chính sách sử dụng, sắpxếp, bố trí nguồn nhân lực (nhất là sử dụng nhân tài trong lĩnh vực này) còn chưa phùhợp, chưa thoả đáng, việc đầu tư cho nguồn nhân lực GD-ĐT còn thấp, chưa xứngđáng với vai trò và vị thế của đội ngũ Chính vì vậy việc phát triển nguồn nhân lựctrong GD - ĐT đang đặt ra là hết sức quan trọng và cần thiết Nghị quyết đại hội Đảnglần thứ IX đã định hướng cho phát triển nguồn nhân lực Việt Nam “Người trực tiếpgiảng dạy có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạobồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn với một nền khoa học-công nghệ và hiện đại’’
Như vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực GD - ĐT phải đặt trongchiến lược phát triển, kinh tế - xã hội, phải đặt ở vị trí trung tâm, chiến lược của mọichiến lược phát triển kinh tế – xã hội Chiến lược phát triển nguồn nhân lực GD-ĐTcủa nước ta phải đặt trên cơ sở phân tích thế mạnh và những yếu điểm của nó, để từ
đó có chính sách khuyến khích, phát huy thế mạnh ấy, đồng thời cần có những giảipháp tích cực, hạn chế những mặt yếu kém trong việc phát triển nguồn nhân lực trong
GD - ĐT Có như vậy chúng ta mới có được nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứngyêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
2 Tên sáng kiến: Phát triển nguồn nhân lực ở trường THPT Ngô Gia Tự trong giai đoạn hiện nay Thực trạng và giải pháp.
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Trần Văn Hải
Trang 3- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Ngô Gia Tự huyện Lập Thạch, tỉnhVĩnh Phúc.
- Số điện thoại: 0982124928 E_mail: tranhai.tran@gmail.com
4 Chủ đầu tư sáng kiến:
Trần Văn Hải – Phó hiệu trưởng trường THPT Ngô Gia Tự
+ Đưa ra những quan điểm và một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồnnhân lực trong những năm tiếp theo
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 05 tháng 9 năm 2010
Trang 47 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN 7.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
7.1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG.
7.1.1.1 Một số khái niệm và nhận thức chung về nguồn nhân lực.
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triểnlinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trongcác nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết địnhtrong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Mộtnước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưngkhông có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thìkhó có khả năng có thể đạt được sự
phát triển như mong muốn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộchội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khảnăng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan
trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên HợpQuốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực
và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đấtnước” Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người baogồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồnlực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốntiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên Theo tổ
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thểhiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng laođộng xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động
Trang 5sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất
và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai
của đất nước
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', mộtnguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triểnNguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển cácnguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sựphồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tinhchiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
7.1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người Chủ nghĩa xã hội do con người
và vì von người Do vậy, hình thành mới quan hệ đúng đắn về con người về vai tròcủa con người trong sự phát triển xã hội nói chung, trong xã hội chủ nghĩa nói riêng làmột vấn đề không thể thiếu được của thế giới quan Mác - Lênin
Để khẳng định cho tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người là sự thaythế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội, Mác đã nói tới việc lấy sự phát triểntoàn diện của con người làm thước đo chung cho sự phát triển xã hội, Mác cho rằng
xu hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi sự phát triển củalực lượng sản xuất xã hội bao gồm con người và những công cụ lao động do conngười tạo ra, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, tự nó đã nói lên trình độ pháttriển của xã hội qua việc con người đã chiếm lĩnh xã hội và sử dụng ngày càng nhiềulực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho hoạt động sống của chính conngười và quyết định quan hệ giữa người với người trong sản xuất Sản xuất ngày càngphát triển tính chất xã hội hoá ngày cnàg tăng Việc tiến hành sản xuất tập thể bằnglực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nó mang lại sẽ cầnđến những con người hoàn toàn mới Những con người có năng lực phát triển toàndiện và đến lượt nó, nền sản xuất sẽ tạo nên những con người mới, sẽ làm nên nhữngthành viên trong xã hội có khả năng sử dụng một cách toàn diện năng lực phát triểncủa mình theo Mác "phát triển sản xuất vì sự phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốtđẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn diện
là một quá trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội" để sản xuất ranhững con người phát triển toàn diện hơn nữa, Mác coi sự kết hợ chặt chẽ giữa pháttriển sản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh mẽ để cảibiến xã hội
7.1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một bước phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin,được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn giải phóng dân tộc và xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam Điều cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộcgắn liền với giải quyết xã hội và giải phóng con người Trong đó, vấn đề con người làvấn đề lớn, được đặt lên hàng đầu và là vấn đề trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ nộidung tư tưởng của Người
Quan niệm về con người, coi con người là một thực thể thống nhất của "cái cánhân" và "cái xã hội", con người tồn tại trong mối quan hệ biện chứng giữa cá nhânvới cộng đồng, dân tộc, giai cấp, nhân loại; yêu thương con người, tin tưởng tuyệt đối
Trang 6ở con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng
xã hội và giải phóng chính bản thân con người, đó chính là những luận điểm cơ bảntrong tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh Xuất phát từ những luận điểm đúngđắn đó, trong khi lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dântộc và xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh luôn tin ở dân, hết lòng thương yêu, quý trọngnhân dân, biết tổ chức và phát huy sức mạnh của nhân dân Tư tưởng về con ngườicủa Người thông qua thực tiễn cách mạng của Người thông qua thực tiễn cách mạng
đã trở thành một sức mạnh vật chất to lớn và là nhân tố quyết định thắng lợi của chính
về sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cơ sở vật chất –kỹ thuật, trình độ khoa họccông nghệ…Nên sự nghiệp công nghiệp hoá lại càng khó khăn và đòi hỏi chúng taphải phát huy mọi tiềm năng vốn có của đất nước để đi vào công nghiệp hoá, hiện đạihoá trong tiềm năng con người phải được khơi dậy Tức là phải bằng mọi cách pháthuy vai trò tích cực của con người Việt Nam cho sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước.Điều đó có nghĩa là phải tìm những giải pháp tốt nhất nhằm phát huy nhân tố conngười –chủ thể của toàn bộ tiến trình đó Nhận thức được tầm quan trọng của nhân tố
đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã quán triệt một trong những quanđiểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá là “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làmyếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Động viên toàn dân cần kiệm xâydựng đất nước…”
Các Đại hội IX và X của Đảng đều tiếp tục phát triển đường lối đó Tại Đại hội
XI, Đảng ta khẳng định ba đột phá chiến lược của thời kỳ mới trong đó đặc biệt độtphá về phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tậptrung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽphát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ Văn kiệnĐại hội XI đã chỉ rõ: “Coi trọng mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người,coi con người là chủ thể nguồn nhân lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển xãhội, phát triển đất nước“ Như vậy, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhânlực chất lượng cao, ở nước ta cần được xem là trung tâm của sự chú ý, vì vai trò rấtlớn của nó trong giải quyết những vấn đề bất cập nảy sinh từ đời sống chính trị, kinh
tế, văn hóa của Việt nam hiện nay Xây dựng nguồn nhân lực phải là tư tưởng xuyênsuốt trong thực hiện các chiến lược kinh tế- xã hội, quốc phòng – an ninh, đốingoại, Nguồn nhân lực này là lực lượng xung kích trong khắc phục sự tụt hậu củanền kinh tế đất nước
Trang 7Các quốc gia hiện nay đi vào nền kinh tế tri thức trước bối cảnh toàn cầu hoáđều xác định chiến lược con người, chiến lược nguồn lực con người Chiến lược nàyphải bắt đầu từ chiến lược toàn diện Đất nước chúng ta rất may mắn trong khi thựchiện chiến lược này chúng ta đã có di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Nhữnggợi ý và những lời dạy của Người chính là kim chỉ nam cho chúng ta thực hiện chiếnlược này Chiến lược con người Việt Nam mới mà Hồ Chủ tịch đã vạch ra, đặt trênnền tảng giá trị đạo làm người Hệ giá trị này kết tinh từ đạo lý của dân tộc và cập nhậtcác quan điểm, nhân cách của thời đại mới.
Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt được nhiều thànhtựu quan trọng Quy mô giáo dục ngày càng được mở rộng, trình độ dân trí được nânglên rõ rệt Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, những học sinh dự Olimpicquốc tế đều được giải cao, thế hệ trẻ đã cập nhật được các tiến bộ khoa học kỹ thuậttiên tiến trên thế giới
Ban Bí thư có Chỉ thị số 40 về xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục Từ chỉ thị này, ngày 11/01/2005 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số09/2005/QĐ - TTg về việc phê duyệt đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010, với mục tiêu tổng quát là:
"Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, nângcao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nângcao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độchuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dụctrong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước."
Trong các nhiệm vụ nêu ra đã lưu ý việc: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đểtiếp tục xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, tráchnhiệm của nhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục
có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tuỵ vớinghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài."
Sứ mệnh của giáo viên, đội ngũ giáo viên có ý nghĩa cao cả đặc biệt Họ là bộphận lao động, tinh hoa của đất nước Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy
sự phát triển của đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững
Trong những năm gần đây đội ngũ nhà giáo đã trưởng thành cả về số lượng vàchất lượng Đa số các nhà giáo đều yên tâm công tác mặc dù xã hội chịu ảnh hưởnglớn của cơ chế thị trường nhưng đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn có lập trường kiên địnhtrong công cuộc trồng người của mình
Trang 8Đội ngũ cán bộ giáo viên ngày càng đủ về cơ cấu, chuyên sâu bộ môn, trình độ
lý luận và đặc biệt trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao Đa số nhà giáoluôn có đạo đức tốt, xứng đáng để nhân dân và học sinh học tập Phần lớn các nhàgiáo đều có tinh thần đoàn kết, nhất trí, quyết tâm đào tạo thế hệ con người Việt Nam
có đủ phẩm chất và năng lực khoa học kỹ thuật tiên tiến xứng đáng là chủ nhân đấtnước sau này
Trang 97 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂNNGUỒN NHÂN
LỰC Ở TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ
kể từ ngày 23 tháng 12 năm 2008) và thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ Hiện nayhuyện Lập Thạch có diện tích đất tự nhiên là 32.302,2 ha, 123.664 người với mật độ714,4 người/km² Huyện Lập Thạch hiện có 20 đơn vị hành chính phụ thuộc:
02 thị trấn: Thị trấn Lập Thạch (huyện lỵ), thị trấn Hoa Sơn
18 xã: Bàn Giản, Bắc Bình, Đình Chu, Đồng Ích, Hợp Lý, Liên Hòa, Liễn Sơn,Ngọc Mỹ, Quang Sơn, Sơn Đông, Tiên Lữ, Thái Hòa, Triệu Đề, Tử Du, Văn Quán,Vân Trục, Xuân Hòa, Xuân Lôi
Nền kinh tế huyện Lập Thạch đang từng bước phá thế độc canh, song tỷ trọngthu nhập chủ yếu vẫn từ kinh tế nông nghiệp Ngoài ra, các cây lương thực, câynguyên liệu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, đậu tương, mía vẫn được duy trì vàphát triển Một số cây công nghiệp dài ngày đang dần được thu hẹp về diện tích đểnhường chỗ cho các giống cây ăn quả có giá trị kinh tế cao như thanh long ruột
đỏ, nhãn, vải, hồng, xoài
Bên cạnh những nỗ lực tìm hướng đi trong việc phát triển tối ưu cây trồng trênđất nông nghiệp, lâm nghiệp của huyện, các vùng chiêm trũng ven sông, các hồ tronghuyện đang được chú trọng phát triển chăn thả thủy sản, chủ yếu là cá Với phong tràocải tạo đồng chiêm trũng nuôi thả cá vụ, những năm gần đây Lập Thạch luôn duy trì ởmức ±1.200 ha mặt nước Ngoài gia súc, gia cầm là vật nuôi truyền thống, một sốđộng vật nuôi mới đã được đưa vào sản xuất với quy mô tương đối rộng như bòsữa, dê, ong mật Phát triển đa dạng sản phẩm hàng hóa và quy mô sản xuất, quy mô
hộ gia đình và nhóm hộ gia đình gắn với nông nghiệp nông thôn Khôi phục và đầu tưchiều sâu các ngành nghề truyền thống, ưu tiên phát triển sản xuất vật liệu xây dựng,
sơ chế, chế biến nông lâm sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sửa chữa cơ khí, điện, điện tử
là những mục tiêu ưu tiên của chính quyền huyện
Những mặt hàng truyền thống về mây, tre đan ở Triệu Đề sẽ là một trong nhữngthế mạnh của huyện nếu có được thị trường ổn định và sự quan tâm đầu tư đúng mức.Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển hạ tầng điện – đường - trường - trạm
đã mang lại cho giáo dục huyện nhà nhiều sự quan tâm, đổi mới
Trang 107.2.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ.
Nhằm giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng và nêu gương những ngườicộng sản đầu tiên, năm 1962, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Vĩnh Phú (1997 tỉnh Vĩnh Phútách thành tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ) quyết định thành lập trường cấp III Ngô Gia
Tự (nay là trường THPT Ngô gia Tự) Kể từ đó đến nay, sau hơn 46 năm xây dựng vàtrưởng thành, đã có hàng vạn học sinh tốt nghiệp từ mái trường này và tiếp tục học tập
để trở thành những Giáo sư, Tiến sĩ, những nhà khoa học, những nhà quản lý, anhhùng lực lượng vũ trang, cử nhân khoa học, công nhân kỹ thuật lành nghề, trong đó
có những tên tuổi như: Giáo sư- Tiến sĩ khoa học Nguyễn Kế Hào, GS.TS NguyễnVăn Học, Thiếu tướng –GS-TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Nguyễn Văn Hữu, Trungtướng - Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Xuân Tấu, Triệu Xuân Hoà,…Trong nhữngnăm qua, chất lượng giáo dục của nhà trường đã có sự chuyển biến tích cực 100% cán
bộ giáo viên và học sinh có phẩm chất đạo đức tốt, có nhiều cố gắng vươn lên trongcông tác giảng dạy và học tập Tập thể nhà trường là một khối đoàn kết thống nhất,gương mẫu chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Tỷ lệ họcsinh xếp loại hạnh kiểm khá tốt hàng năm đạt 95% trở lên, tỷ lệ học sinh lên lớp hàngnăm bình quân đạt 99%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT trung bình đạt 99% trở lênnăm học 2016-2017 tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 100%, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào cáctrường ĐH, CĐ là 88%
7.2.2.1 Đặc điểm chức năng
Trường THPT Ngô Gia Tự thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo Vĩnh Phúc quản lý
Là trường hạng một với quy mô hàng năm từ 28 đến 30 lớp, chủ yếu là con em 20 xã,thị trấn Trong những năm qua, trường có cơ sở vật chất khá khang trang và đầy đủtrang thiết bị, đồ dùng dạy và học Chất lượng đào tạo của nhà trường khá ổn định,chất lượng hoàn thành chương trình Trong nhiều năm gần đây trường luôn đạt danhhiệu Tập thể lao động tiên tiến xuất sắc
Trường THPT Ngô Gia Tự cũng như các trường Trung học phổ thông khác củanước ta, nằm trong hệ thống giáo dục với chức năng đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàndiện, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồidưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Trang 11- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của
cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
7.2.2.3 Về tổ chức, cơ cấu, bộ máy và định biên cán bộ giáo viên
Năm học 2018-2019: Trường THPT Ngô Gia Tự gồm 83 cán bộ giáo viên, giáoviên được chia thành các tổ cụ thể như sau:
- Lãnh đạo trường : Có 05 đ/c (1 hiệu trưởng và 4 hiệu phó)
- Hành chính: Có 05 đ/c (01 kế toán, 01 văn thư, 01 thư viện, 02 nhân viênkhác)
-Giáo viên: Tổng số 73; chia ra trong 05 tổ chuyên môn, cụ thể:
1.Tổ Toán-Tin : Có 14 đ/c (trong đó có 01 tổ trưởng)
2 Tổ Hoá-Sinh-KTNN : Có 14 đ/c (trong đó có 01 tổ trưởng)
3 Tổ Văn -Ngoại ngữ : Có 18 đ/c (trong đó có 01 tổ trưởng)
4 Tổ Sử-Địa -GDCD : Có 13 đ/c (trong đó có 01 tổ trưởng)
5.Tổ TD-Lý-KTCN : Có 14 đ/c (trong đó có 01 tổ trưởng)
7.2.2.4 Mối quan hệ công tác
7.2.2.4.1 Với cấp trên trực tiếp chỉ đạo
Trường THPT Ngô Gia Tự chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của SởGD&ĐT Vĩnh Phúc và sự chỉ đạo của Huyện uỷ - UBND huyện Lập Thạch
7.2.2.4.2 Với các trường THPT và các ban ngành đoàn thể trong huyện
Trường THPT Ngô Gia Tự có mối quan hệ tốt với các ban ngành đoàn thể tronghuyện để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ nhất là nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ tronghuyện
7.2.2.5 Những thuận lợi và khó khăn cơ bản của nhà trường.
7.2.2.5.1 Những thuận lợi
+/ Được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sở GD&ĐT, trongnhững năm qua nguồn nhân lực của nhà trường ngày càng được tăng cường về sốlượng cũng như chất lượng
+/ Tình hình Chính trị - Kinh tế - Xã hội của tỉnh và huyện ổn định và trên đàphát triển mạnh mẽ đã tạo thuận lợi cho công tác giáo dục của nhà trường
+/ Cơ sở vật chất, thiết bị, điều kiện làm việc được củng cố và được quan tâmthường xuyên, cơ bản đã đảm bảo cho dạy và học
+/ Chất lượng chuyên môn của giáo viên chưa đồng đều
Trang 12+/ Cơ sở vật chất, thiết bị có được đầu tư nhưng chưa đồng bộ, một số đã xuốngcấp, lạc hậu nên có ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.
7.2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở TRƯỜNG THPT NGÔ GIA TỰ.
7.2.3 . 1 Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở trường THPT Ngô Gia Tự
Để phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực, ta khảo sát bảng sau:
Bảng 7.2.3.1.1 Số lượng nguồn nhân lực trong 10 năm (từ năm học 2010-2011
đến năm học 2019-2020)
Năm học Tổng số
Số lượng GV
Tỷ lệ % GV/01 lớp
2,68
Trong học kỳ I năm học 2018-2019 và đầu học kỳ II năm học 2018-2019 SởGD&ĐT Vĩnh Phúc đã điều động 08 GV của nhà trường đi biệt phái 01năm học và 01học kỳ II Vậy nhà trường chỉ còn 65 và khi đó tỉ lệ GV trên một lớp còn 2,40
Nhận xét: Nhìn vào bảng trên ta thấy số lớp của nhà trường giảm từ 36 lớp xuống 27lớp (Do giảm dân số tự nhiên) theo hướng chuẩn quốc gia Tuy vậy số lượng nguồnnhân lực của nhà trường tăng (tính theo tỷ lệ %), nhưng chưa cập đến số biên chếđược giao Điều này đã làm cho nhà trường gặp nhiều khó khăn khi phải tìm nguồngiáo viên hợp đồng cho những bộ môn còn thiếu Mặt khác, tuy số lượng nguồn nhânlực có tăng (theo tỷ lệ %) chua cập đến chỉ tiêu biên chế nhưng có hiện tượng chưađồng đều giữa các bộ môn dẫn đến có môn thừa (như môn Văn) lại có môn thiếu (nhưmôn Lý, Hóa, Tin )