Bởi vậy, việc đưa chương trình Tiếng Anh vào dạy trong chương trình tiểu học đã được thực hiện trong nhiều năm qua để tạo nền tảng cho học sinh, trang bị cho các em vốn kiến thức ngoại n
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu:
Như chúng ta đã biết ngoại ngữ rất quan trọng đối với chúng ta trong thời đại công nghiệp hóa- hiện đại hóa đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập Nó được
ví như chiếc chìa khóa giúp chúng ta mở mang tầm nhìn và có thể đi khắp mọi nơi trên thế giới, vươn tới mọi lĩnh vực trong cuộc sống mà ngôn ngữ chung cho toàn thế giới là tiếng Anh Đất nước ta ngày càng phát triển đỏi hỏi chúng ta phải nhanh chóng bắt kịp với những thay đổi, những xu hướng chung của thời đại công nghệ thông tin.
Hiện nay, giáo dục tiểu học đang thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh nhằm phát triển nhân cách của con người đáp ứng với những yêu cầu của thời đại Các môn học của chương trình tiểu học đều mang những nội dung cụ thể nhằm hình thành nhân cách, phát triển trí tuệ của học sinh một cách toàn diện Trong đó bộ môn Tiếng Anh góp phần không nhỏ nhằm phát triển trí tuệ và năng lực tư duy, sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu biết xã hội của học sinh Bởi vậy, việc đưa chương trình Tiếng Anh vào dạy trong chương trình tiểu học đã được thực hiện trong nhiều năm qua để tạo nền tảng cho học sinh, trang bị cho các em vốn kiến thức ngoại ngữ, có gốc ngay từ ban đầu, để nắm bắt với xu thế của thời đại và tạo đà phát triển cho các em sau này.
Hầu hết trẻ em trên cả nước từ thành thị đến nông thôn, phần lớn đều được làm quen với bộ môn Tiếng Anh từ rất sớm thông qua việc giảng dạy trong các trường phổ thông Bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết được diễn ra một cách đồng thời trong quá trình dạy và học ngoại ngữ Đối với học sinh cấp tiểu học, các em mới bước đầu làm quen với chương trình Tiếng Anh nên các em còn hạn chế trong cách giao tiếp dù các em vẫn hiểu bài nắm được cấu trúc câu nhưng muốn diễn đạt ý còn gặp nhiều khó khăn, ngại ngùng, lúng túng khi nói Để đáp ứng được yêu cầu học sinh phải sử dụng được ngữ liệu đã học vào hoạt động giao tiếp một cách hiệu quả Qua nhiều năm giảng dạy tiếng Anh ở bậc tiểu học và tích lũy kinh nghiệm của bản thân, cũng như học hỏi đồng nghiệp tôi đã vận dụng một số phương pháp rèn kỹ năng nói cho học sinh tiểu học nhằm tạo cho các em hứng thú và tự tin trong giao tiếp Xuất phát từ ý tưởng nêu trên tôi đã viết ra sáng kiến kinh nghiệm với tên gọi:
“Một vài thủ thuật dạy nói Tiếng Anh ở bậc Tiểu học’’
2 Tên sáng kiến: Một vài thủ thuật dạy nói Tiếng Anh ở bậc Tiểu học 3.Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Ngô Ngọc Phan.
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường tiểu học Lãng Công, Sông Lô, Vĩnh Phúc.
Trang 2- Số điện thoại: 0964345588.
- Email: ngongocphan.c1langcong@vinhphuc.edu.vn
(hoặc: phannn0188@gmail.com)
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Ngô Ngọc Phan.
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
- Áp dụng trong giảng dạy môn Tiếng Anh trên lớp;
- Để bồi dưỡng học sinh năng khiếu qua các sân chơi trí tuệ môn Tiếng Anh cũng như giúp tất cả các em học sinh cải thiện khả năng diễn đạt nói và giao tiếp;
- Để cùng đồng nghiệp trao đổi, hỗ trợ, giúp đỡ nhau nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Anh.
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: từ
06/9/2019 năm học 2019-2020
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1.Về nội dung của sáng kiến:
7.1.1.Về nội dung yêu cầu cơ bản :
+ Bước đầu hình thành cho học sinh kĩ năng giao tiếp cơ bản, đơn giản bằng Tiếng Anh trong giao tiếp hằng ngày ở nhà trường và gia đình qua các kỹ năng nghe - nói -đọc -viết, trong đó nhấn mạnh hai kĩ năng nghe và nói.
+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, đơn giản về Tiếng Anh, giúp học sinh bước đầu có những hiểu biết về đất nước, con người, nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh.
+ Góp phần hình thành cho học sinh thái độ tích cực đối với tiếng Anh, thông qua việc học tiếng Anh học sinh có thêm hiểu biết và tình yêu đối với tiếng Việt Việc dạy học môn tiếng Anh cũng góp phần hình thành phương pháp học tập và phát triển nhân cách, trí tuệ của học sinh.
- Một số phương pháp giảng dạy :
+ Hoạt động dạy học phải coi học sinh là chủ thể, là trung tâm của quá trình học tập, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, điều chỉnh hoạt động học của học sinh
+ Việc giảng dạy môn Tiếng Anh theo nguyên tắc cơ bản của việc dạy học tiếng nước ngoài, nhấn mạnh vào kỹ năng giao tiếp, khuyến khích học sinh giao tiếp trong nhóm nhỏ, cặp đôi và cả lớp thông qua các chủ điểm, tình huống giao tiếp hấp dẫn cả về nội dung và hình thức đặc biệt sử dụng hợp
Trang 3lí,có hiệu quả tiếng Việt để phát huy những chuyển dịch tính tích cực của tiếng Việt đối với tiếng Anh
- Giáo viên có thể sử dụng một số phương pháp cơ bản sau đây :
* Phương pháp làm mẫu (model, action , talk-MAT ) nhấn mạnh vào việc sử dụng hành động và làm mẫu,luyện kĩ năng, giúp học sinh hình thành kỹ năng
sử dụng tiếng Anh trong một lượng thời gian tối thiểu.
* Phương pháp "phản ứng tự nhiên" (total physical response –TPR) dựa trên
sự liên kết ngôn ngữ và hành động tự nhiên, cách làm này giúp học sinh lưu giữ được sự kiện
* Phương pháp chức năng ( functional approach –FA ) nhấn mạnh khả năng
sử dụng ngôn ngữ trong tình huống thích hợp
* Phương pháp giao tiếp ( communicative approach – CM ) dựa trên quan điểm cho rằng ngôn ngữ sử dụng trong lớp học phải được sử dụng để trao đổi ý tưởng và tình cảm có ý nghĩa đối với học sinh.
* Phương pháp nghe nói (audio –lingual approach –ALA ) nhấn mạnh vào khả năng phát âm và cú pháp của ngôn ngữ.
* Phương pháp ngữ pháp /cấu trúc ( grammatical structural approach ) nhấn mạnh vào sự tiếp thu một hệ thống ngữ pháp
- Về mặt kiến thức:
Chúng ta đã biết, bên cạnh kiến thức về ngữ âm, từ vựng và mẫu câu là hai yếu tố rất quan trọng trong quá trình học tập cũng như trong giao tiếp, sinh hoạt Muốn rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết điều trước tiên là học sinh phải nắm vững từ vựng và mẫu câu Chính vì thế mà trong nhiều năm qua, tôi đã tìm ra nhiều sáng kiến, nhiều cách đổi mới phương pháp nhằm giúp các em nhớ nhanh và nhớ lâu Việc cung cấp cấu trúc mẫu câu cho học sinh mới có thể nói là một trong những phần quan trọng nhất trong một bài học Giáo viên dạy mẫu câu có hiệu quả thì học sinh có thể nói và viết thành câu Việc này đòi hỏi một sự nỗ lực lớn của những người thầy dạy bộ môn Anh văn, và nhất là đối với các em học sinh ở bậc tiểu học, ngày càng quan trọng hơn Ngay từ ban đầu, các em trang bị những kiến thức vững chắc và thấu hiểu các dạng mẫu câu thì sau này các em mới dễ dàng để tiến đến bậc học cao hơn Là người trực tiếp dạy môn tiếng Anh cho học sinh tiểu học, tôi nhận thấy nếu tạo cho các em một môi trường học, giờ học tốt thì các em sẽ tiếp thu lĩnh hội được kiến thức tốt hơn Nên tôi đã vận dụng các kỹ thuật dạy nói, cùng các hoạt động, các thủ thuật trò chơi trong tiết học để các em có hứng thú và lĩnh hội kiến thức được tốt hơn.
7.2 Một vài thủ thuật dạy nói :
Trang 47.2.1.Tập cho học sinh cách phản xạ nhanh bằng Tiếng Anh
- Giáo viên nên tăng cường nói Tiếng Anh trên lớp, thường là các câu mệnh lệnh đơn giản, hoặc những câu hỏi theo bài học kết hợp với động tác, điệu bộ Nhìn chung, lúc đầu học sinh còn ngơ ngác nhưng dần dần qua các tiết các
em cũng đều hiểu và làm theo đúng mệnh lệnh của giáo viên Sau khi các em
đã học được mẫu câu mới thì chúng ta nên sử dụng thường xuyên trong lớp học để các em có điều kiện phản xạ tốt như những câu hỏi về bản thân: What’s your name ? , How are you ?; những câu hỏi về đồ vật, sử dụng các đồ vật thật có trong lớp học (bàn, ghế, thước, vở ) như các mẫu câu: What’s this ?, What are these ?
- Tập cho học sinh không nên hiểu ngầm Tiếng Việt rồi mới dịch sang Tiếng Anh Bằng cách cho học sinh thường xuyên luyện tập hỏi đáp về các câu thoại, các câu lệnh, câu hỏi lấy thông tin ngay trong lớp học.
Ví dụ: Hướng dẫn các em cách trả lời câu hỏi Yes /No như:
Are you tired? – yes, I am
Do you like this game? – No, I don’t
Have you finished? - Yes…
Các câu hỏi với WH- question, phải trả lời đầy đủ thông tin:
Who is your English teacher?- She is Miss Lam
What time do you do homeworks? – I do my homeworks at 8 p.m….
Yêu cầu các em về nhà tự mình tập luyện nói thực hành kiến thức mới học với bạn bè người thân, hoặc tự tập nói trước gương để tạo lập phản xạ nói Tiếng Anh tự nhiên.
7.2.2 Rèn luyện cách phát âm cho học sinh
Trong quá trình giao tiếp bằng tiếng Anh muốn người khác hiểu nội dung mình nói gì học sinh cần phải phát âm từ và câu một cách rõ ràng Vì vậy khi giới thiệu ngữ liệu, mẫu câu giáo viên cần phải đọc chuẩn về cả ngữ âm, ngữ điệu có trọng âm để các em làm theo vì đây là yếu tố cơ bản trong việc dạy nghe- nói Tất nhiên không thể chuẩn như người bản xứ nói Tiếng Anh nhưng
để có một kết quả phát âm chuẩn xác nhất thì chúng ta nên chịu khó nghe băng đĩa của người bản địa Giáo viên nên kiên trì luyện phát âm cho học sinh
để tạo cho các em có thói quen phát âm đúng Bởi lẽ, các em mới bước đầu học Tiếng Anh nhưng phát âm không đúng sẽ thành thói quen ảnh hưởng không tốt trong quá trình học và giao tiếp sau này.
- Cần chú ý luyện tập cho hs phát âm có các âm cuối như : bag /bæg/, book /buk/
Trang 5- Tập cho học sinh có thói quen đọc nối.
Ví dụ : stand-up /’stænd^p/ , look-at /lukæt/
It’s a pencil /itsəpensl/
It is a desk /itizədesk/
- Đối với hình thức số nhiều cần luyện tập cho học sinh cách phát âm trong việc nhấn mạnh đuôi số nhiều :
+ Phát âm /s/ đứng sau phụ âm vô thanh /t/, /p/, /k/, /s/, /f/, /θ/
Ví dụ : cassettes, books,
+ Phát âm là /z/ khi đứng sau nguyên âm hoặc phụ âm hữu thanh /b/, /d/, /g/, /v/, /ð/, /m/, /n/, /Ŋ/, /l/, /r/.
Ví dụ : crayons, tables, markers
+ Phát âm là /iz/ khi đứng sau những phụ âm rít cụ thể các phụ âm như : /z/, /s/, /ʤ/, / tʃ /, / ʃ /, /ʓ/
Ví dụ : pencil cases, oranges, nurses
7.2.3 Rèn cho học sinh sử dụng ngữ điệu :
Ngữ điệu (Intonation) được hiểu đơn giản là sự lên và xuống của giọng nói Người nghe có thể hiểu nhầm hoặc hiểu sai hoàn toàn ý của người nói nếu như người nói sử dụng sai ngữ điệu, bởi ngữ điệu được so sánh như là hồn của câu.
*Ngữ điệu xuống được thể hiện bằng cách hạ âm điệu giọng nói xuống thấp
ở trong các trường hợp sau:
- Dùng trong câu chào hỏi:
Good morning! ↓
- Dùng trong câu đề nghị:
Come here! ↓
- Dùng trong câu hỏi bắt đầu bằng từ để hỏi (who, whose, whom, which, what, when, where, why, và how)
What are these? ↓
- Dùng trong yêu cầu hoặc mệnh lệnh: Open your book ↓
*Ngữ điệu lên được thể hiện bằng cách tăng âm điệu giọng nói lên cao ở
trong các trường hợp sau:
- Dùng trong các câu hỏi nghi vấn “có…không”
Trang 6Is this a book ?↑
- Dùng trong câu xác định nhưng hàm ý câu hỏi:
You are Mai? ↑
7.2.4 Các loại hình thức luyện tập được sử dụng cho việc phát triển kỹ năng nói:
a) Yes/No question : Câu hỏi đoán thông tin
+ Giáo viên đưa ra tiêu đề để học sinh luyện tập.
+ Giáo viên cung cấp một số từ gợi ý, kiến thức nền, giáo viên làm mẫu rồi cho học sinh nói tự do.
Hình thức này áp dụng khi dạy phần Point and say, phần Let’s talk Luyện cách hỏi đoán về đồ vật
b) Ask and answer : đặt câu hỏi và trả lời
+ Học sinh có thể tự thực hành theo cặp.
+ Nếu thực hành theo nhóm thì nhóm trưởng đặt một số câu hỏi, các thành viên khác của nhóm có nhiệm vụ trả lời.
+ Giáo viên có thể tổ chức như một cuộc thi: Các câu trả lời được tính điểm dựa trên độ chính xác về ngôn ngữ, cũng như các thông tin.
Bài tập này được áp dụng khi dạy, luyện cách và trả lời về đồ vật
7.2.5 Các bước luyện nói cho học sinh
Tùy theo mỗi bài học mà chúng ta áp dụng phương pháp dạy học khác nhau.
Về cơ bản trong quá trình luyện nói phải tuân thủ theo các qui trình sau :
1 Chuẩn bị nói (Pre-Speaking)
Giáo viên giới thiệu ngữ liệu mới, ngữ pháp mới Ở hoạt động này học sinh nghe hoặc viết, giáo viên giới thiệu mẫu câu Hoạt động nói của học sinh chủ yếu là trả lời câu hỏi.
1 Luyện nói có kiểm soát (Controled Practice)
Hoạt động này học sinh được luyện nói nhiều hơn giáo viên Phần này học sinh luyện tập theo nhóm, cá nhân dưới sự điều khiển của giáo viên
và học sinh thấy tự tin hào hứng khi nói tạo cơ hội cho các em phát triển
kỹ năng nói
2 Luyện nói tự do ( Free Practice/ Production)
Trang 7Giáo viên yêu cầu học sinh luyện nói mẫu câu mới mà các em vừa được học với những ngôn ngữ riêng của mình không cần sự hỗ trợ của giáo viên.
Những hoạt động của phần này thường là trò chơi, đóng vai Phần này các
em có thể sử dụng thêm những ngữ pháp hoặc vốn từ vựng mà các em biết nhằm nâng cao kỹ năng nói cho các em Giáo viên hỗ trợ khi học sinh cần.
7.3 Một số kỹ thuật, hoạt động và các trò chơi hỗ trợ dạy nói trên lớp: 7.3.1/ Passing game:
Giáo viên chuẩn bị vài tấm thẻ hình hoặc một số vật thật Học sinh nghe nhạc chuyền nhau các vật hay thẻ Dừng nhạc học sinh đang cầm vật (thẻ ) sẽ nói
về vật đó Có thể các bạn trong lớp đưa ra câu hỏi về về vật đó.
Giáo viên có nhận xét các bạn trả lời sau đó trao phần thưởng cho các bạn trả lời xuất sắc.
Ví dụ : Trong bài học: My classroom
Trong phần kiểm tra bài học trước giáo viên đưa ra trò chơi Pasing Game Cách chơi: Giáo viên chuẩn bị một số đồ đùng học tập có trong lớp học như: sách, thước, bút chì ngắn, cục tẩy nhỏ
Giáo viên đặt những vật đó ở các em học sinh Yêu cầu học sinh nghe nhạc nhanh tay chuyền vật đó cho bạn mình nếu nhạc dừng bạn nào đang giữ vật
sẽ nói về vật đó trước lớp.
Học sinh đưa ra các nhận xét về vật (This is my book It is small )
Cả lớp đưa ra câu hỏi : Is it big?
Học sinh trả lời : No,it isn't
Giáo viên nhận xét ghi điểm hoặc trao phần thưởng cho học sinh trả đúng
7.3.2/ Reflex Game.
Để kết thúc bài học, chúng ta thường tổ chức trò chơi "Reflex Game" Trò chơi đòi hỏi, học sinh ứng dụng nhanh Cả lớp cùng quan sát và tham gia nên
sẽ đạt hiệu quả cao.
Cách chơi:
- Giáo viên chia lớp ra thành nhiều nhóm Đại diện của nhóm 1 làm điệu bộ Đại diện nhóm 2 thực hiện, sau đó đổi vai, đại diện nhóm 2 làm điệu bộ, đại diện nhóm 1 ra lệnh, nhóm 1 thực hiện Mỗi hành động đúng giáo viên ghi 10 điểm.
- Nhóm nào nhiều điểm nhóm đó chiến thắng.
Trang 87.3.3) Answer and question :
Trong trò chơi này giúp học sinh nhớ lâu bài hội thoại mình được học Giáo viên cũng có thể sử dụng trò chơi “Answer and question” để ôn lại các mẫu được học
Ví dụ : How are you ? - I’m fine Thank you
What’s your name ? - My name’s Truong
Where do you live ? - I live in Vinh Yen city
What’s your telephone number? My telephone number is 02113892006
- Giáo viên viết một số câu hỏi và trả lời lên thẻ Phát thẻ sao cho xáo xộn trong lớp học Khoảng 10 thẻ trong đó có 5 thẻ câu hỏi (có đánh số câu) và 5 thẻ là câu trả lời (không đánh số câu ).
- Giáo viên đọc số câu Học sinh đọc câu hỏi và học sinh giữ thẻ trả lời đứng lên trả lời.
- Yêu cầu của trò chơi này học sinh phải nhanh và trả lời đúng câu hỏi của bạn mình Nếu trong thời gian 30 giây mà học sinh chưa đáp lại câu hỏi thì học sinh đang giữ thẻ của câu trả lời đó sẽ phải làm theo một yêu cầu do các bạn trong lớp đưa ra
7.3.4) Bingo :
- Học sinh nhắc lại 10-15 từ các em đã học Giáo viên viết các từ đó lên bảng
- Mỗi học sinh chọn bất kỳ 5 từ trên bảng.
- Giáo viên đọc các từ lên bảng nhưng không theo thứ tự
- Học sinh đánh dấu (v) vào từ đã chọn và học sinh hô to “Bingo” Kỹ năng này tôi thường sử dụng để áp dụng cho học sinh như là một trò chơi thường được sử dụng nhiều trong phần “ Revision” để củng cố từ vựng cho các em vào bài mới
- Cách khác để kết thúc bài học, ta cũng có thể tổ chúc trò chơi này Giáo viên chuẩn bị một con thú bông, một đồng hồ báo thức Giáo viên hẹn thời gian trên đồng hồ Học sinh chuyền nhau con thú bông Hỏi và trả lời mẫu câu đã học trong tiết đó Đồng hồ báo thức reo, học sinh đang giữ con thú bông hô to
“ BINGO”
7.3.5)Who’s the luckiest?
- Để học sinh rèn luyện kỹ năng giao tiếp thông qua hoạt động nói tôi thường
tổ chức trò chơi “Who’s the luckiest ?” nhằm củng cố mẫu câu.
- Ví dụ : Unit 2 My friend’s house: Let’s talk
Trang 9- Patterns :- Where do you live ?- I live in Tokyo
- What’s your address ?- It’s 16 North Street
- What’s your telephone number ?- It’s 798-2043
- Here your card - Thank you
(*)Cách chơi :
Giáo viên chuẩn bị tám thẻ, trên thẻ ghi và đánh số thứ tự 8 câu trong bài hội thoại trên
Giáo viên bật nhạc Học sinh chuyền nhau các tấm thẻ Dừng nhạc Học sinh đọc các câu ghi trên tấm thẻ theo thứ tự từ 1- 8
Tiếp tục lặp lại 1-2 lần.Cuối cùng, giáo viên trao phần thưởng cho học sinh
có hình bông hoa màu hồng phía sau tấm thẻ.
7.3.6) Brainstorming :
- Đây là hoạt động lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên có thể sử dụng kỹ thuật này để thiết lập tình huống và giới thiệu chủ điểm của bài học
- Ví dụ : Để giới thiệu bài “My day”
- Giáo viên yêu cầu học sinh liệt kê những hoạt động hằng ngày của các em Nếu dùng các hoạt động này cho giai đoạn Production, học sinh làm theo từng nhóm Mỗi nhóm cử một thư ký ghi lại ý kiến của nhóm sau đó viết tên lên poster
- Dán các poster lên tường Các nhóm so sánh kết quả nhóm nào viết đầy đủ nhóm đó chiến thắng.
7.3.7) Chain game :
- Ta chia lớp thành 3 nhóm từ 8-10 em học sinh ngồi quay mặt lại với nhau.
Em đầu tiên trong các nhóm nói lặp lại câu của giáo viên và thêm một câu tiếp theo liên kết ý với câu trước Học sinh thứ hai lặp lại câu của học sinh thứ nhất và thêm vào ý khác Học sinh thứ 3 lặp lại câu học sinh thứ nhất, thứ hai và thêm một ý khác và tiếp tục như vậy cho đến khi trở lại với học sinh thứ nhất trong nhóm
- Eg : Giáo viên : I’m a student
- Học sinh 1 : I’m a student I’m 10 years old
- Học sinh 2 : I’m I’m 10 years old I’m in 4/ 4 I’m from Vinh Phuc
- Nếu đối tượng là các em học sinh khá, giỏi : Có thể cho học sinh làm thêm vòng hai
Trang 107.3.8) Find some one who :
Giáo viên kẻ biểu sau lên bảng,học sinh kẻ vào vở
Yêu cầu học sinh đặt các câu hỏi dạng yes/no cho những từ cột dọc.
Ví dụ : Can you swim ?
- Làm mẫu với một học sinh Hỏi một câu hỏi bất kỳ trong bảng Nếu học sinh trả lời “yes” ghi tên của học sinh vào một “name” Lưu ý học sinh rằng các em phải điền vào cột name các tên khác nhau.
- Yêu cầu học sinh đứng dậy đi quanh lớp và hỏi các bạn mình Học sinh nào điền đủ tên vào cột “name” trước là người chiến thắng.
7.3.9) Guess from context :
- Đây là thủ thuật thường dùng trong phần Pre -teach, thường hay dùng thủ thuật này để dạy từ vựng, những từ khó hay có quá nhiều từ cần phải dạy trước.
- Giáo viên chia lớp ra làm hai nhóm Nhóm nào đoán được nhiều thì nhóm đó chiến thắng.
- Giáo viên yêu cầu học sinh tự đoán nghĩa bằng cách.
+ Nhìn vào các tranh ảnh, ngữ cảnh, các từ xung quanh.
+ Xem xem các từ mới có được sử dụng hơn một lần trong bài khoá này hay không và việc sử dụng từ nhiều lần này có làm cho nghĩa rõ ràng hơn không + Chú ý đến từ loại của từ mới (động từ , danh từ ,tính từ ).
- Với thông tin này học sinh dịch sang Tiếng Việt và xem nghĩa của từ có logic với bài khoá này không.
- Giáo viên nói ra vài gợi ý mang tính dẫn dắt nếu học sinh đoán sai
- Giáo viên sẽ nhận xét về số từ học sinh đoán được.