PHÒNG GD & ĐT VĨNH TƯỜNG TRƯỜNG THCS THƯỢNG TRƯNG Tên sáng kiến: MỘT VÀI SUY NGHĨ GIẢNG DẠY CÁC BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG MÔN NGỮ VĂN THCS Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Vĩnh Mã sáng
Trang 1PHÒNG GD & ĐT VĨNH TƯỜNG TRƯỜNG THCS THƯỢNG TRƯNG
Tên sáng kiến:
MỘT VÀI SUY NGHĨ GIẢNG DẠY CÁC BÀI CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA PHƯƠNG MÔN NGỮ VĂN THCS
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Vĩnh
Mã sáng kiến: 27
Vĩnh Tường, tháng2 năm 2018
Trang 27.1 Khái quát chương trình địa phương trong môn ngữ văn THCS 7
7.3 Khảo sát trực trạng trước khi nghiên cứu 8
9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 27
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã
tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu, kể cả áp dụng thử theo các nội
dung
27
10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp
dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân
28
11 Danh sách những tổ chức, cá nhân đã tham gia áp dụng thử
hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu
28
Trang 3CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
1 THCS – Trung học cơ sở
2 GD&ĐT – Giáo dục và đào tạo
3 BGH – Ban giám hiệu
4 SKKN – Sáng kiến kinh nghiệm
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Một trong những điểm mới của chương trình Ngữ văn cấp THCS là: ngoàinhững nội dung cứng do Bộ GD& ĐT ban hành, chương trình đã dành một sốtiết cho văn học địa phương với mục đích gắn kết những kiến thức học sinhđược học trong nhà trường với những vấn đề đang đặt ra cho cộng đồng (dântộc và nhân loại) cũng như cho mỗi địa phương Khai thác, bổ sung và phát huyvốn hiểu biết về văn học địa phương, làm phong phú và làm sáng tỏ thêmchương trình chính khóa Từ đó giúp học sinh hiểu biết và hòa nhập hơn với môitrường mà mình đang sống, có ý thức tìm hiểu, góp phần giữ gìn và bảo vệ cácgiá trị văn hóa của quê hương Đồng thời giáo dục lòng tự hào về quê hương, xứ
sở của mình Những sự kiện, hiện tượng, con người cụ thể, chứa đựng những giátrị văn hóa bên trong hết sức gần gũi, sống động, hiện hữu ngay trên mảnh đấtquê hương của các em cũng là những yếu tố cần thiết, quan trọng góp phần giáodục, hình thành tri thức, nhân cách, đạo đức, tình cảm cho mỗi học sinh Đồngthời đáp ứng với yêu cầu phát triển của đất nước, xu thế tất yếu của thời đại
Có thể nói, chương trình địa phương dành cho phần tiếng Việt và tập làmvăn không gặp nhiều trở ngại trong quá trình tổ chức dạy và học bởi vấn đềđược đặt ra ở đây được gắn kết khá chặt chẽ với nội dung kiến thức trongchương trình chính khóa Thế nhưng chương trình văn học địa phương gặp rấtnhiều khó khăn khi thiếu tư liệu hỗ trợ và chưa hội đủ các điều kiện để tổ chứccác hoạt động ngoại khoá văn học
Ở nước ta, vấn đề dạy học ngữ văn địa phương ở các trường phổ thônghiện nay đã được chú ý nhiều hơn trước Tuy nhiên, hiệu quả đạt được từ nhữngtiết dạy này còn hạn chế Giáo viên nắm kiến thức ngữ văn địa phương chưa sâu,chưa rộng, chưa thường xuyên cập nhật đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượnghọc tập của học sinh Do đó, kiến thức ngữ văn địa phương của học sinh thường
Trang 5nghèo nàn, việc cung cấp và bổ sung kiến thức ngữ văn địa phương cho học sinhcòn nhiều hạn chế, đây là vấn đề cần khắc phục.
Vĩnh Phúc là mảnh đất địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra biết bao nhà thơ,nhà văn và các bậc anh hùng, hào kiệt, những danh lam thắng cảnh, di tích lịch
sử, những câu ca dao, tục ngữ đặc sắc…đưa vào chương trình ngữ văn địaphương là hết sức cần thiết
Qua thưc tế giảng dạy, thăm lớp và dự giờ các đồng nghiệp tôi mạnh dạn
đóng góp một vài ý kiến nhỏ của mình qua đề tài SKKN ‘‘Một vài suy nghĩ
giảng dạy các bài chương trình địa phương môn ngữ văn THCS ”
+ Các tác phẩm của các nhà thơ, nhà văn Vĩnh Phúc
+ Cách dùng từ ngữ địa phương trong mối quan hệ với các từ ngữ toàn dân vàcác địa phương khác
+ Những danh lam thắng cảnh,di tích lịch sử, vùng đất và con người VĩnhPhúc…
Trang 6Trong quá trình nghiên cứu do có nhiều điều kiện hạn chế (về thời gian,tài chính…) nên sáng kiến chỉ giới hạn ở phạm vi đưa ra một vài suy nghĩ vềnội dung kiến thức ngữ văn địa phương vào dạy học chương trình ngữ văn nóichung và lấy ví dụ minh họa ở tỉnh Vĩnh Phúc.
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Tháng 8 năm 2016
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ triển khai nghiên cứu đề tài ởnăm học 2016 - 2017 và học kì I năm học 2017-2018
Bắt đầu từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 01 năm 2018
Trang 77 Mô tả bản chất của sáng kiến
7.1 Khái quát chương trình địa phương trong môn ngữ văn ở THCS:
7.1.1 Khái niệm.
Chương trình địa phương trong môn ngữ văn được hiểu theo nghĩa rộng làtoàn bộ những sáng tác dân gian và hiện đại, những giá trị cộng đồng có chứađựng những yếu tố văn hóa mang bản sắc của một vùng, miền, địa phương nhấtđịnh Địa phương là thôn xã cụ thể, nhưng cũng có thể là huyện , thị tỉnh thànhphố, thậm chí là các vùng, miền lớn hơn
7.1.2 Vai trò, vị trí của chương trình ngữ văn địa phương trong dạy học ngữ văn:
Trên thực tế theo phân phối chương trình của bộ chương trình ngữ văn địaphương chiếm số lượng 16 tiết từ lớp 6 đến lớp 9 Vì vậy, nó giữ vai trò kháquan trọng trong hệ thống chương trình Với mục đích phục vụ giáo dục, nộidung ngữ văn địa phương xuất phát từ những yêu cầu giảng dạy và học tập ởtrường phổ thông, gắn liền với chương trình và thời gian quy định Ngữ văn địaphương giúp các em phải có được những kiến thức văn học tối thiểu về địaphương mình đang sinh sống, có khả năng nhận biết, giải thích và phân tích,cảm nhận được những tác phẩm văn học của địa phương Nắm được cơ bảnnhững di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, các vấn đề hiện tại của địa phương…
Đồng thời, khi giáo viên biết lồng ghép, tích hợp kiến thức ngữ văn địaphương vào trong bài giảng ngữ văn sẽ gây được sự hứng thú, tính tự giác, tíchcực học tập của học sinh Bên cạnh đó, những kiến thức văn học địa phương mànhà trường trang bị cho học sinh giúp các em thêm tự hào về quê hương mìnhđang sinh sống, tạo động lực thúc đẩy và phấn đấu trong học tập và rèn luyện.Như vậy, có thể thấy vai trò của chương trình địa phương trong môn ngữ văn làkhông hề nhỏ, nếu không muốn nói là quan trọng
7.1.3 Bảng thống kê các tiết dạy chương trình địa phương trong môn ngữ văn.
Trang 8Lớp Tiết theo phân phối chương trình Số lượng tiết
7.2 Thực trạng trước khi nghiên cứu:
7.2.1.Về phía giáo viên:
Hầu hết thầy cô giáo đã ý thức được tầm quan trọng và nắm được dụng ýcủa Bộ giáo dục trong việc phân phối các tiết của chương trình địa phương, đãdành thời gian và tâm huyết cho việc chuẩn bị, đổi mới phương pháp trong quátrình dạy, làm cho những tiết học sinh động và bước đầu gây được hứng thú chohọc sinh Song, việc dạy học chương trình ngữ văn địa phương trong một bộ
phận thầy cô giáo vẫn chưa được coi trọng đúng mức Giáo viên còn hết sức
lúng túng khi soạn giảng những tiết chương trình địa phương ( do thiếu tài liệu ).Trong khi đó, những kiến thức này rất quan trọng, có liên quan, ảnh hưởng đến
sự hiểu biết của học sinh về quê hương mình Đây chính là một điểm yếu trongdạy học ngữ văn địa phương mà chúng ta cần khắc phục
Qua thực tế thực hiện nhiều năm nay, chương trình địa phương môn ngữvăn ở bậc học THCS gặp không ít khó khăn, thách thức, hiệu quả đem lại cònchưa được như mong muốn
7.2.2.Về phía học sinh:
Các em chưa thực sự hào hứng đón nhận và hứng thú với các tiết họcchương trình địa phương trong môn ngữ văn Tâm lí các em cho rằng đây lànhững tiết học nội dung kiến thức không trọng tâm
Tư liệu tham khảo cho các em sưu tầm còn hạn chế chưa phong phú vàđầy đủ
7.3 Khảo sát thực trạng trước khi nghiên cứu:
Trang 97.3.1 Hình thức khảo sát:
Yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi vào phiếu học tập
Câu 1: Em hãy kể tên những nhà văn, nhà thơ của tỉnh Vĩnh Phúc vàhuyện Vĩnh Tường mà em biết ?
Câu 2: Hãy đọc một vài câu ca dao, tục ngữ nói về địa phương VĩnhPhúc ?
Câu 3 : Hãy kể tên một vài danh lam thắng cảnh,di tích lịch sử ở địaphương em ?
7.3.2 Kết quả khảo sát như sau:
Câu Số HS khảo sát Số trả lời đúng
Số trả lời khôngđúng
Trang 10Hướng dẫn học sinh cách sưu tầm những câu cao dao, dân ca, tục ngữ,truyện dân gian của Vĩnh phúc Các em hỏi ông, bà, cha mẹ và những người caotuổi ở thôn xóm địa phương Sau đó ghi chép lại vào sổ tay văn học.
Bản thân mỗi giáo viên cũng tiến hành sưu tầm văn hóa,văn học dân gian
ở nhiều kênh khác nhau: Hỏi những người cao tuổi, tìm hiểu trên sách báo địaphương, các phương tiện thông tin đại chúng, Internet…Bên cạnh đó, giáo viêncần tham khảo các tài liệu về văn hoá, ngôn ngữ, tác phẩm văn học sáng tác về
đề tài địa phương hoặc tác giả người địa phương
Sau khi sưu tầm xong học sinh tiến hành lập bảng sưu tầm theo vầnA,B,C
7.4.1.2 Nội dung tư liệu đã sưu tầm.
7.4.1.2.1 Tục ngữ và ca dao
Những câu ca dao, tục ngữ, nói về vẻ đẹp của quê hương.
Vĩnh Phúc có một kho tàng tục ngữ, ca dao phong phú Bên cạnh nộidung phản ánh và giá trị nghệ thuật giống tục ngữ, ca dao nói chung của cảnước, có nhiều câu tục ngữ ca dao mang sắc thái địa phương rõ nét Đó là nhữngcâu tục ngữ, ca dao nói lên đặc điểm hoặc cái hay, vẻ đẹp tiêu biểu của một vùng
đất, một miền quê; chẳng hạn: "Yên Lạc tứ Cẩm, ngũ Yên”
Huyện Yên Lạc xưa có 4 làng Cẩm và 5 làng Yên 4 làng Cẩm là: CẩmKhê,Cẩm La, Cẩm Trạch, Cẩm Viên; nay phân tán về 2 xã Hồng Châu và Đại
Tự 5 làng Yên là: Yên Tâm, Yên Nghiệp (nay thuộc xã Yên Đồng), Yên Quán(xã Bình Định), Yên Lạc (xã Đồng Văn), Yên Thư (xã Yên Phương)
Nam chân, Bắc Dũng, Đông Kỳ, Tây Lạc
Thời Nguyễn, có 4 huyện được coi là trù phú nhất: Tỉnh Nam Định, có huyện Chân Định, tỉnh Bắc Ninh có huyện Yên Dũng, tỉnh Hải Dương có huyện
Tứ Kỳ, tỉnh Sơn Tây có huyện Yên Lạc
Nhất cao là núi Ba Vì Thứ ba Tam Đảo, thứ nhì Độc Tôn.
Trang 11Núi Ba Vì là núi Tản Viên huyện Ba Vì (Hà Tây) Tam Đảo là dãy núi lớnđứng giữa vùng trung du có khu du lịch và nghỉ mát thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.Độc Tôn là một ngọn núi hiểm trở đứng riêng ra ở phía đông Tam Đảo sau núiThiên Thị; thủ lĩnh nông dân khởi nghĩa thời Lê Mạt và Nguyễn Danh Phươngtức Quận Hẻo đã lập căn cứ ở đây…
Ca dao - tục ngữ về con người chủ yếu phản ánh những cá nhân, dòng họ… đã
có công với dân, với nước về nhiều mặt, được dân thừa nhận Ví như:
Họ Dương lập làng, họ Hoàng đào giếng
Nói về việc lập làng Gẩu (thị xã Vĩnh Yên) Họ Dương về đây cư trú đầutiên, lập ra làng, họ Hoàng về sau vận động nhân dân đào giếng lấy nước ăn Hai
họ đều có công với làng
Bảy làng kẻ Đám, tám làng kẻ He.
Không đánh nổi giặc què ở núi Thanh Tước.
Phản ánh cuộc khởi nghĩa nông dân do Nguyễn Danh Phương cầm đầuchống triều đình Lê - Trịnh mục nát thời Cảnh Hưng Nhân dân gọi NguyễnDanh Phương là Quận Hẻo vì là người làng Hẻo (Tiên Hội, nay thuộc phườngHội Hợp, thị xã Vĩnh Yên) Quân triều đình gọi ông là "Giặc què" vì ông đi tậptễnh Nguyễn Danh Phương đóng tại đồn ở núi Độc Tôn và thung lũng ThanhLanh, Ngọc Bội; tiền đồn đặt ở núi Thanh Tước (nay thuộc Mê Linh) Quântriều đình thúc ép các làng Đám (xã Tiên Châu), làng He (xã Phúc Thắng, huyện
Mê Linh) đi đánh quận Hẻo
Nhưng dân không nghe nên không đánh nổi.
Tuần Giang, Nho Hứa bán chúa lập công.
Vào năm Canh Ngọ (1780), Đoan Nam Vương Trịnh Khải bị NguyễnHữu Chỉnh theo Tây Sơn đánh bại, chạy khỏi thành Thăng Long, qua huyện YênLãng (nay là Mê Linh) gặp tiến sĩ Lý Trần Quán Quán đón Khải về nhà ở HạLôi giao cho học trò là Tuần Giang đưa đi trốn Giang mưu cùng Nho Hứa đemTrịnh Khải nộp cho quân Tây Sơn Lý Trần Quán tự vẫn để tỏ lòng trung thànhvới chúa Trịnh
Trang 12Một số mặt khác của đời sống lao động cũng được phản ánh trong ca daotục ngữ.
Những câu ca dao,tục ngữ, nói về sản xuất nông nghiệp
Về thời tiết có câu:
Tam Đảo đội mũ nước lũ sẽ về.
Về mùa mưa, nhìn lên các đỉnh Tam Đảo, thấy mây đen phủ dày đặc, sẽ có mưa
to kéo dài, sẽ có lũ tràn về ngập các đồng trũng bắc Yên Lạc - nam Bình Xuyên
Sản vật nổi tiếng:
Lúa đồng Oai, khoai đồng Bầu
Các cánh đồng của thị xã Vĩnh Yên: Đồng Oai ở xóm Đậu, ruộng cao hơn mặt ngòi, có nước tát không sợ cạn; khoai sọ đồng Bầu phường Liên Bảo có tiếng là ngọn
Nhất Sậu quả, nhì Gả Gối.
Sậu là xã Hoàng Thượng, Quả là Hạ Chuế thuộc xã Kim Xá Gả và Gối nay là
xã An Hoà (Tam Dương), các làng trên là những nơi có nhiều thóc gạo
Cỗ chín lợn mười trâu không bằng tép dầu Đầm Vạc.
Đầm Vạc thuộc thị xã Vĩnh Yên có cá tép dầu được xếp vào hàng đặc sản
Chợ Cói thuộc phường Hội Hợp (thị xã Vĩnh Yên)
Dứa Hướng Đạo, gạo Long Trì.
Long Trì thuộc xã Đạo Tú, xã Hướng Đạo đều thuộc huyện Tam Dương
Dứa Hướng Đạo, gạo Làng Chùa.
Làng Chùa là một thôn của xã Hướng Đạo
Những câu ca dao,tục ngữ, nói về lễ hội đình chùa:
Bơi Me, vật Triệu, hát làng Dần
Làng Me hay Diệm Xuân thuộc xã Yên Lập (Vĩnh Tường) có hội đua chảivào tháng năm Xã Triệu Đề (Lập Thạch) có lò vật nổi tiếng và làng Dần tức Dữu Lân (Việt Trì) nổi tiếng về ví giao duyên
Trang 13Rau gác Hạc bơi, Hạc gác Me bơi, Me gác Đức Bác bơi.
Tráng Việt có tiệc đi mò ăn đêm.
Đông Cao thuộc xã Tráng Việt (Mê Linh) thờ bà Hồ Đề, tướng của Hai BàTrưng, hội làng mồng 6 tháng Giêng có tiệc bánh dầy, khi giã bánh dầy, khi giã bánh lấy mo cau bó đầu chày Tráng Việt (Mê Linh) cũng thờ tướng của Hai Bà
là bà Ả Lã, ngày tiệc nửa đêm mới cúng lễ và ăn cỗ với ý nghĩa quân bà Ả Lã quyết chiến, tới nửa đêm đánh tan giặc mới ngồi nghỉ ăn
7.4.1.2.2 Các nhà thơ, nhà văn quê Vĩnh Phúc.
NGÔ VĂN PHÚ
Sinh ngày 8-4-1937 Quê quán : Nam Viêm, Mê Linh, Vĩnh Phúc Tốtnghiệp khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, làm biên tập viên báo Vănhọc, báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ Quân đội Hiện là giám đốc Nhà xuất bảnHội Nhà văn
Đã xuất bản :
Tháng năm mùa gặt ( 1978 ); Ngọn giáo búp đa ( 1991 ); Đi ngang đồi cọ ( 1986 ); Cỏ bùa mê ( 1988 ); Đừng khóc ( 1991 ); Âm thầm ( 1992 ); Mặt trái xoan ( 1993 ); Mắt mùa thu ( 1994 ); Hoa trắng tình yêu ( 1995 )
NGÂN VỊNH
Sinh ngày 14-2-1942 Quê quán : Thạch Đà, Mê Linh, Vĩnh Phúc
Vào bộ đội năm 1963, đi chiến trường Quân khu V, làm biên tập viên báo tạpchí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ Tham gia trận đánh Ba Gia -Vạn Tường năm 1965 Năm 1984, về nghỉ hưu
Đã xuất bản : Tình yêu nhận từ đất ( in chung, 1977 ); Bóng rừng trong mưa ( 1984 ); Ếch con và hoa sen ( thơ thiếu nhi, 1966 ); Hoàng hôn mây bay
Trang 14( 1991 ); Tiếng đàn của dế ( thơ thiếu nhi, 1996 ); Ngày thường đam mê ( 1996 ).
HỮU THỈNH
Sinh ngày 15-2-1942 Quê quán : Phú Vinh, Duy Phiên, Tam Dương,Vĩnh Phúc.Tốt nghiệp phổ thông, vào bộ đội Tăng - Thiết giáp Nhiều năm thamgia chiến đấu tại các chiến trường Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên và chiếndịch Hồ Chí Minh Sau 1975, học Đại học Văn hoá ( Trường Viết văn Nguyễn
Du khoá I ) Cán bộ biên tập, Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội.Chuyển ngành làm Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ, Phó Tổng thư kí thườngtrực Hội Nhà văn Việt Nam
Đã xuất bản : Âm vang chiến hào ( in chung ); Đường tới thành phố( trường
ca ); Từ chiến hào tới thành phố ( trường ca, thơ ngắn ); Khi bé Hoa ra đời ( thơ thiếu nhi, in chung ); Thư mùa đông, Trường ca Biển ( 1997 ).
tế, vào loại có học vấn khá, từng dịch thơ Victor Hugo, văn O.Balzac Ông làcon trai lớn nên khi mới 11 tuổi đã phải lấy vợ là Lê Thị Vịnh
Do ảnh hưởng thơ văn thời "Tự lực văn đoàn", năm 15 tuổi còn đang
Trang 15Lương Hữu Ca (quê Khách Nhi, Vĩnh Phúc, vợ con chết đói, ra Hà Nội đạp xíchlô) cưu mang Lê Gia Hợp Sau 3 năm vừa tròn 18 tuổi ông xin phép ông Ca chovào Vệ Quốc Đoàn (Bộ đội Cụ Hồ) Ông tự đặt cho mình cái tên Cẩm Giang vàlấy họ của cha nuôi là họ Lương
Tháng 2-1950 ông làm y tá ở F.335 Thời kỳ này ông bắt đầu sáng tác thơvăn với bút danh Cẩm Giang (một địa danh ở quê Thanh Hoá) nhưng do sơ xuất
cô đánh máy đánh nhầm là Cầm Giang (vì ở Tây Bắc chỉ có họ Cầm, chứ không
có ai mang họ Cẩm cả) Còn một lý do nữa mà bây giờ nói ra nghe khó tin là hồi
ấy buổi đầu cách mạng báo chí rất kỵ kiểu thơ tình "anh anh em em" lãng mạn,lại với lý lịch địa chủ, học trường Pháp cùng ảnh hưởng thơ mới, nếu sáng tác kýtên Lê Gia Hợp thì rất khó in, mặt khác những bài thơ như "Em tắm", "Nhớvợ" với những chi tiết nude "vớ vẩn" ở thời điểm ấy là không thích hợp Vớigiải pháp lấy họ tên dân tộc thiểu số (một kiểu "lừa" ban biên tập ở mãi nơi xaxôi khó mà hỏi ra được) để BBT họ cho là: dân tộc họ viết như thế mà, chân thậtchất phác cần ưu tiên châm chước cho "Pi no ọng" Và quả nhiên, các bài thơ
ấy dưới cái "lốt" Cầm Giang, Cầm Vĩnh Ui, Bạc Văn Ùi được in ra đời Năm
1958 ông xuất ngũ về quê bố nuôi lây vợ là Nguyễn Thị Kiên Năm 1962 ôngmới về Thanh Hoá làm thủ tục ly dị với vợ cũ là Lê Thị Vịnh Cầm Giang là một nhà thơ lãng mạn cách mạng trữ tình độc đáo thấm đẫmhồn quê Xứ Thái (Tây Bắc) đã để lại 3 bài thơ tình độc đáo ít ai có được
BÙI VĂN DUNG
Bùi Văn Dung sinh năm 1941 (Tân Tỵ), quê và chỗ ở hiện nay đều là xã
Thượng Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Trước 1975 ông đi bộ độitrong chiến trường miền Nam Các bài thơ của ông thẫm đẫm chất nhạc, có lẽchính vì thế mà đã có rất nhiều nhạc sĩ đã phổ nhạc những bài thơ của ông